Nhiệm vụ chính trị trọng tâm trong nhà trường là hoạt động dạy và học,người quyết định chất lượng giờ dạy chính là GV đứng lớp, vì vậy mọi hoạtđộng chuyên môn cũng như các hoạt động khác
Trang 1A MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chúng ta đã biết “ Giáo dục &Đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nângcao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”; [1] và “ Phát huy nguồn lựccon người là khâu đột phá để tiến vào thời kỳ mới” [ 2]; bởi vì con người lànguồn lực quý báu nhất có vai trò đặc biệt cho thắng lợi nước nhà về tạo nguồnlực tài chính và nguồn lực vật chất cho xây dựng đất nước Con người là chủ thểcủa mọi sự sáng tạo Chính vì vậy Đảng ta tiếp tục đề ra chiến lượng phát triển
GD “ Đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo, đáp ứng yêu cầu côngnghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, [3] vì vậy nhiệm vụ của GD &ĐT trong giaiđoạn mới vô cùng quan trọng nhưng cũng rất nặng nề Trước tình hình đó GD phải xác định được rõ vị trí, vai trò, nhiệm vụ và trách nhiệm của mình; GDphải nhận thức được “ Nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò đặc biệtquan trọng đối với nước ta khi nguồn lực tài chính và vật chất còn hạn hẹp” [1 ]
Để thực hiện mục tiêu này, hành lang pháp lý của GD phải liên tục chấn chỉnhtình hình trường, lớp, thầy, trò, người quản lý GD để tạo dựng nhân cách conngười mới trong môi trường GD hiện đại
Nhiệm vụ chính trị trọng tâm trong nhà trường là hoạt động dạy và học,người quyết định chất lượng giờ dạy chính là GV đứng lớp, vì vậy mọi hoạtđộng chuyên môn cũng như các hoạt động khác trong trường học phải đượcngười quản lý thường xuyên kiểm tra, đánh giá Đặc biệt kiểm tra đánh giá giờdạy hay còn gọi là kiểm tra đánh giá giờ lên lớp (KTĐGGLL) có vai trò vô cùngquan trọng Thông qua việc KTĐGGLL giúp cho người quản lý nắm được nănglực, phẩm chất, tính cách của từng GV để kịp thời bồi dưỡng những phần khiếmkhuyết trong chuyên môn về kiến thức, về cách sử dụng đồ dùng trang thiết bịdạy học, về phương pháp dạy học đổi mới Đồng thời biểu dương nhân rộngkịp thời các GV có tay nghề vững vàng Qua đó giúp người cán bộ quản lý có kếhoạch sử dụng, bố trí, sắp xếp GV phù hợp với trình độ năng lực sư phạm Trên
cơ sở KTĐGGLL tạo được những thôn tin mới đáp ứng quá trình quản lý tiếptheo Bài lên lớp cung cấp kiến thức cơ bản về tự nhiên và xã hội cho trẻ, làmphát triển quá trình nhận thức như: Cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy và tưởngtượng phát triển trí tuệ cho trẻ như: Phát triển khả năng nhận biết, phân tích, sosánh, tổng hợp, khái quát Hình thành các kỹ năng, kỹ xảo Bài lên lớp còn hìnhthành niềm tin đạo đức cho trẻ về thế giới quan biện chứng, giúp trẻ hiểu đượccác chuẩn mực đạo đức xã hội đòi hỏi như: Thế nào là ngoan- hư, tốt -xấu; đúng
- sai; sạch- bẩn; thiện-ác giúp cho trẻ yêu đời hơn, tin tưởng hơn vào cuộcsống, biết làm điều thiện, không làm điều ác, biết sống hòa mình vào tập thể,quan tâm, chia sẻ với mọi người; biết yêu quê hương, làng xóm, yêu ông bà, cha
mẹ, thầy cô giáo, anh chị em, bạn bè, yêu vườn rau, ao cá, yêu những con đườngthân quen Nhà Giáo dục XcatsKin đã viết: “Mọi mặt của quá trình giáo dụcđược phản ánh trong một giờ lên lớp như hình ảnh mặt trời thu gọn trong một
Trang 2giọt nước” Bài lên lớp có vị trí vô cùng quan trọng như vậy nên việcKTĐGGLL là việc phải làm thường xuyên, liên tục của người quản lý trườnghọc.Trên thực tế công tác KTĐGGLL đã được Phòng GD&ĐT huyện Như Xuân
đặc biệt quan tâm, chỉ đạo sâu sát Định kỳ hoặc đột xuất Phòng GD&ĐT đã tổ
chức các đoàn thanh kiểm tra, tiến hành kiểm tra nội bộ trường học vàKTĐGGLL để nắm bắt tình hình chất lượng dạy và học của các trường, của GV,các khối lớp, các môn từ đó có sự chỉ đạo, điều hành trực tiếp cho từng trường,từng GV, mục đích là để nâng cao chất lượng GD&ĐT Về phía các trường học
đa số các trường cũng đã quan tâm việc kiểm tra đánh giá giờ lên lớp Nhiềutrường đã tổ chức công tác KTĐGGLL khá chặt chẽ do vậy đã thúc đẩy việcnâng cao chất lượng dạy và học của trường ngày càng mạnh mẽ Hàng năm họcmột số trường liên tục có giáo viên giỏi, học sinh giỏi các cấp, số lượng và thứhạng năm sau cao hơn năm trước, làm cho công tác GD huyện nhà có nhiềuphần khởi sắc, điển hình đó là năm học 2016-2017 kết quả thi học sinh giỏi cấptỉnh, GD Như Xuân được xếp thứ hạng 19/27, năm học 2017-2018 được xếp thứhạng 15/27 huyện thị toàn tỉnh, đó là kết quả vô rất ấn tượng của GD Như Xuânsau một thời gian khá dài im hơi lặng tiếng trong công tác giáo dục mũi nhọn,từng bước đem lại niềm tin và sự hy vọng rất lớn của các cấp ủy Đảng, chínhquyền, nhân dân trong huyện nhà Song bên cạnh đó có không ít hiệu trưởngnhận thức về công tác KTĐGGLL chưa đúng mức như: Ít tổ chức KTĐGGLL,
có khi vẫn KTĐGGLL nhưng làm đối phó hoặc thiếu phương pháp làm việckhoa học dẫn đến năng lực của GV, chất lượng GD của trường không đượcnâng lên Một mặt mỗi trường có sự quan tâm, thực hiện ở mức độ, phươngpháp, hình thức khác nhau dẫn đến chất lượng dạy và học không đồng đều, tạo
ra sự chênh lệch rõ nét giữa các trường trường huyện, chất lượng GD&ĐThuyện nhà chưa đáp ứng được tốt yêu cầu xã hội đặt ra, điều đó đang làm nhiềunhà lãnh đạo, quản lý trong huyện lo lắng, trăn trở
Trường MN Bãi Trành tuy đã đạt chuẩn quốc gia mức độ 1 nhưng cũngkhông tránh khỏi một trong những tình trạng chung của đa số trường trên dẫnđến tỷ lệ GV dạy giỏi mới đạt trên 30 %, trong khi CBGV có trình độ trênchuẩn 82,4 % Vấn đề đặt ra là quản lý như thế nào để giờ dạy của GV đạt hiệuquả cao nhất, đây cũng là vấn đề cấp thiết để đánh giá đúng trình độ, năng lựcchuyên môn của GV đứng lớp từ đó đề ra kế hoạch dài hơi để xây dựng đội ngũ
và nâng cao chất lượng GD đáp ứng yêu cầu xã hội đặt ra Đặc biệt đối với nhàtrường mầm non Bãi Trành đang trong lộ trình xây dựng trường đạt chuẩn quốcgia mức độ 2 Chính vì vậy tôi chọn “Kinh nghiệm quản lý, chỉ đạo nâng caochất lượng kiểm tra đánh giá giờ lên lớp” để làm đề tài nghiên cứu với mục đíchtìm ra cách quản lý, chỉ đạo công tác KTĐGGLL đạt hiệu quả cao nhất, vớimong muốn làm tốt hơn nữa trách nhiệm của người quản lý trường học, từngbước góp phần nâng cao trình độ tay nghề cho GV, làm đòn bẩy nâng cao chấtlượng giáo dục trong nhà trường, nhằm hoàn thành tốt kế hoạch Xây dựngtrường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2, góp phần thực hiện tốt mục tiêu “đổi mớicăn bản, toàn diện chất lượng GD&ĐT” như NQ 29 BCHTW khóa XI đề ra
Trang 3II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mục đích của việc nghiên cứu là tìm ra những giải pháp hữu hiệu trongquản lý, chỉ đạo, tổ thực hiện công tác kiểm tra đánh giá giờ lên lớp của giáoviên nhằm nâng cao chất lượng chuyên môn cho GV, đáp ứng yêu cầu đổi mớiphương pháp GD theo quan điểm “ Lấy trẻ làm trung tâm” để nâng cao chấtlượng chăm sóc GD trẻ toàn diện, đáp ứng yêu cầu xã hội đặt ra
III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là BGH, tổ trưởng, tổ phó chuyên môn, GV, họcsinh trường MN Bãi Trành, Như Xuân trong việc “ Kiểm tra đánh giá giờ lênlớp” năm học 2016-2017; 2017-2018; một số giải pháp trong thực hiện nhiệm vụKTĐGGLL của người quản lý trường MN
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Đọc nghiên cứu tài liệu liên quan
- Điều tra - quan sát
- Trao đổi - phỏng vấn
- Đàm thoại
- Kiểm tra, khảo sát
- Thực nghiệm đánh giá giờ lên lớp
- Thống kê, phân tích, so sánh kết quả
B NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.Những vấn đề về giờ học và bài lên lớp
Theo Giáo sư Hà Thế Ngữ bài lên lớp có một số đặc điểm như sau:
a) Hoạt động được tiến hành chung cho lớp bao gồm một số học sinh nhấtđịnh phù hợp với khả năng bao quát của GV, những học sinh này thuộc cùngmột lứa tuổi, có trình độ nhận thức gần như nhau, đảm bảo cho hoạt động giảngdạy được tiến hành phù hợp với năng lực chung của cả lớp
b) Hoạt động dạy học được tiến hành theo tiết học, thời gian của mỗi tiếthọc được thay đổi từ lớp dưới lên lớp trên, các tiết học được sắp xếp khoa họcthành thời khóa biểu Tất cả những quy định đó xuất phát từ đặc điểm nhận thức,sức tập trung, chú ý của học sinh trong nhà trường
c) Giáo viên trực tiếp điều khiển, tổ chức hoạt động nhận thức của họcsinh cả lớp đồng thời chú ý đến những đặc điểm riêng của từng học sinh
Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang “ Bài học là hình thức tổ chức cơ bảncủa quá trình dạy học, ở đây theo một khoảng thời gian xác định( tiết học), giáoviên tổ chức hoạt động nhận thức của một tập thể học sinh có sĩ số nhất định, cóchú ý đến đặc điểm từng em nhằm làm cho tất cả học sinh nắm vững trực tiếpngay trong quá trình dạy học những cơ sở của tài liệu dạy học đồng thời qua đó
mà phát triển những năng lực nhận thức và giáo dục đạo đức cho các em” Ởđây Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang nhìn nhận “ Bài lên lớp” dưới góc độ hìnhthức tổ chức việc dạy học
Trang 4Qua các định nghĩa trên, chúng ta thấy rằng “ Bài lên lớp” là hình thức tổchức cơ bản của việc dạy học, bị hạn chế về thời gian, trong đó có thành phầnhọc sinh xác định, dưới sự hướng dẫn của GV để đạt được mục đích đặt ra làgiáo dục toàn diện cho học sinh Bài lên lớp vừa là hiện thân của quá trình dạyhọc vừa là hình thức tổ chức dạy học cơ bản, là đơn vị cơ sở linh hoạt và pháttriển của quá trình dạy học bị hạn chế về thời gian, trong đó có một nhóm họcsinh xác định, có cùng độ tuổi và trình độ phát triển ban đầu, tự lĩnh hội kháiniệm, kỹ năng dưới sự tổ chức điều khiển của GV nhằm đạt được mục đích dạyhọc Bài lên lớp giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong các hình thức tổ chức dạyhọc, là hình thức dạy học không thể thiếu được trong nhà trường Bởi vì chấtlượng GD&ĐT phụ thuộc trước hết và phần lớn vào chất lượng bài lên lớp màbài lên lớp thực hiện 3 nhiệm vụ cơ bản của quá trình dạy học là: Trí dục, giáodục và phát triển.
2 Những vấn đề cơ bản về công tác kiểm tra đánh giá giờ lên lớp
Theo Nguyễn Hoàng Mạc: “Kiểm tra nội bộ trường học là một chức năngquản lý của người của người hiệu trưởng nhằm kiểm tra, theo dõi, xem xét, đánhgiá các hoạt động sư phạm trong nội bộ một nhà trường, xác định kết quả giáodục có phù hợp với mục tiêu kế hoạch, nội dung, quy chế đã đề ra hay không.Đánh giá toàn bộ các hoạt động dạy học trong nội bộ nhà trường, xác định sơ
hở, nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý, đưa nhà trường tiếp cận với mụctiêu giáo dục Hiệu trưởng nhà trường là người ra quyết định tổ chức và chỉ đạokiểm tra đánh giá, đưa hoạt động kiểm tra đạt hiệu quả cao nhất Hiệu trưởngkiểm tra trong nhà trường cũng chính là tự kiểm tra hoạt động quản lý của mình”
Theo RaChenco: “ Làm Hiệu trưởng phải làm tốt công tác kiểm tra, đó làmột chức năng quản lý, không kiểm tra không phải là nhà quản lý, không kiểmtra xem như không làm Ông chỉ ra rằng phải quan sát các tác động sư phạm để
so sánh, đối chiếu với các yêu cầu sư phạm, so sánh chủ yếu với các kiến thứctâm lý, giáo dục học xem giáo viên đó đã thực hiện đạt bao nhiêu phần trăm sovới yêu cầu.”
Theo Nguyễn Hoàng Mạc: “Người quản lý kiểm tra nội bộ trường họccòn là để kiểm tra chính mình nữa, nếu quyết định của mình ra mọi người thựchiện tốt thì khẳng định rằng quyết định đó đúng, nếu kết quả thực hiện cha tốtthì người hiệu trưởng cũng biết để tự điều chỉnh quyết định quản lý của mình ”
Trong nhà trường KTĐGGLL là một khoa học, không phải ai cũng làmđược Bởi vì giờ lên lớp là một đặc thù của trường học; chính vì vậy KTĐGGLLlớp có vai trò đặc biệt quan trọng, KTĐGGLL trước hết là phát huy ưu điểm,khắc phục nhược điểm về chuyên môn, xử lý các thắc mắc, các mâu thuẫn, cáckhiếu nại, các tố cáo, khắc phục những chỗ hở trong quản lý, khắc phục bệnhquan liêu đối với lãnh đạo nhằm đưa nhà trường đi vào nề nếp, có hiệu quả caotrong công tác chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ
Khi KTĐGGLL phải thực hiện theo quy trình 8 bước như sau:
Bước 1:Yêu cầu dự giờ: Dự giờ ai ? Lớp nào? Mục đích là gì ? Thời giannào? Hoạt động nào?
Trang 5Bước 2: Chuẩn bị: Nắm được mục đích yêu cầu của bài dạy, bài đó cóđúng kế hoạch giáo dục đã được duyệt không, nội dung cần truyền đạt nhữngkiến thức gì? Kiến thức đó được vận hành trong tiết học như thế nào?
Bước 3: Dự giờ lên lớp: Quan sát và ghi chép diễn biến giờ dạy; ghi chépnhững sự việc diễn ra trong mối tương tác giữa cô với trẻ và đồ dùng dạy học,ghi chép các tình huống sư phạm diễn ra, cách ứng xử của giáo viên
Bước 4: Phân tích so sánh: Căn cứ vào nội dung, yêu cầu của bài, vào cáctiêu chí khoa học để phân tích sự thành công hoặc thiếu sót trên ba mặt: Kiếnthức, kỹ năng và thái độ
Bước 5: Đánh giá: Hiệu trưởng phải cho giáo viên tự đánh giá giờ dạytrước; Hiệu trưởng và người đi cùng trao đổi với nhau về giờ dạy và trao đổi vớingười dạy Hiệu trưởng đưa ra kết luận
Bước 6: Động viên, phê phán: Phải đưa ra những quan điểm của mình,khen, chê một cách rõ ràng, đúng mức để động viên mọi người phấn đấu
Bước 7: Kiến nghị: Đưa ra cho giáo viên những ý kiến; những ý kiến đó
là những quyết định quản lý Có hai loại kiến nghị:
Những kiến nghị chiến thuật là những ý kiến nhỏ về một vấn đề nào đó.Những kiến nghị chiến lược có tính chất khái quát cả bài dạy
Bước 8: Lưu hồ sơ và yêu cầu kiểm tra lại
Đứng về góc độ người quản lý kiểm tra đánh giờ lên lớp sẽ đánh giá đượcnhiều mặt: Đối với giáo viên, thông qua kiểm tra đánh giá giờ lên lớp ngườiquản lý sẽ nắm bắt được trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực, kiến thức củagiáo viên, khả năng chuyên sâu, năng lực chuyên biệt về một môn học hay mộtvấn đề nào đó trong chuyên môn; qua đó người quản lý cũng đánh giá đượcphẩm chất đạo đức của giáo viên; đó là tinh thần trách nhiệm của giáo viên đốivới công việc, tình thương yêu của GV đối với trẻ, xem GV đó có chuẩn bị chuđáo những điều kiện cần thiết cho giờ học hay không, có tạo điều kiện cho trẻhoạt động, trải nghiệm không ? Đã quan tâm công bằng với mọi trẻ hay chưa, đãthông cảm chia sẻ với trẻ hay chưa
Về Học sinh: Qua kiểm tra đánh giá giờ lên lớp người quản lý sẽ nắmchắc được tình hình của học sinh về sức khỏe, tâm lý, không khí học tập, chấtlượng học tập, khả năng vận dụng kiến thức học được vào cuộc sống
Về cơ sở vật chất: Qua kiểm tra giờ lên lớp sẽ nắm bắt được tình hình cơ
sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi của lớp, tình trạng lớp học
Khi kiểm tra đánh giá giờ lên lớp, người quản lý sẽ nắm bắt được sự phốihợp giữa các tổ, các bộ phận trong nhà trường thông qua sự nắm bắt toàn diệnnày sẽ giúp hiệu trưởng nắm bắt được thông tin đầy đủ, chính xác và chủ độngđưa ra những quyết định đúng lúc, kịp thời trong công tác quản lý trường họcnói chung và quản lý chuyên môn nói riêng
II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ GIỜ LÊN LỚP
1 Thực trạng về công tác kiểm tra đánh giá giờ lên lớp của trường
MN Bãi Trành trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Trang 61.1 Tình hình địa phương
Trường MN Bãi Trành đóng trên địa bàn xã Bãi Trành, huyện Như Xuân,
là xã miền núi thuộc chương trình 30 A của Chính phủ, có 4 dân tộc Thái, Thổ,Mường, Kinh cùng sinh sống, văn hóa đa bản sắc, kinh tế phát triển chậm, dântrí không đồng đều, giao thông đi lại một số thôn bản còn rất khó khăn, địa bànrộng, từ trung tâm xã đi đến các thôn, các khu lẻ nơi xa nhất 8 km Từ trung tâm
xã đến trung tâm huyện 33 km
1.2.Tình hình Nhà trường
Đặc điểm chung: Trường có 19 nhóm lớp với 03 điểm, một điểm chính vàhai điểm lẻ Học sinh của trường năm ít nhất trên 350 cháu, năm học 2017-2018
là 428 cháu Trường đã tổ chức bán trú 3/3 điểm
Tổng số cán bộ giáo viên = 34.Trong đó: BGH = 03; 01 Hiệu trưởng, 02Phó hiệu trưởng; Giáo viên đứng lớp = 29.Nhân viên = 02 Trình độ chuyênmôn Đại học = 28/34 tỷ lệ 82,4 % Trung cấp 6/34 tỷ lệ 17,6 % CBGV Biênchế 26 tỷ lệ 76,5 %; hợp đồng 08 tỷ lệ 23,5 % 100 % cán bộ GV đều là nữ
* Thuận lợi: CBGV đủ về số lượng, đa số trẻ, khỏe, đoàn kết, tâm huyếtvới nghề, 100 % CBGV có trình độ chuẩn trở lên, tỷ lệ trên chuẩn cao Cán bộquản lý là những đồng chí có nhiều năm công tác, thời gian quản lý trường họctrên 10 năm Trường đã đạt chuẩn quốc gia mức độ 1; về CSVC-TTB cơ bảnđáp ứng được theo quy định tối tiểu của Bộ GD&ĐT
* Khó Khăn: Trường nhiều điểm lẻ, đi lại khó khăn, quản lý và đầu tư cơ
sở vật chất - trang thiết bị nhiều bất cập 72,5 % CBGV được đào tạo theo hìnhthức tại chức, vừa học vừa làm trình độ tuy cao nhưng chất lượng có nhiềuphần chưa ngang tầm với trình độ bằng cấp Trên 66,6 % GV trẻ đang độ tuổisinh và nuôi con nhỏ, việc tham gia ngày công làm việc thường không liên tục,việc điều phối chuyên môn nhiều khi ách tắc, nhân viên văn thư - hành chínhkhông có, số việc BGH phải kiêm nhiệm khá nhiều, nhiều khi BGH phải đứnglớp thay thế khi có GV nghỉ ốm, nghỉ con ốm, nghỉ vì lý do bất khả kháng
2 Thực trạng công tác KTĐGGLL của trường MN Bãi Trành
Chúng ta đã biết KTĐGGLL là một khoa học, đòi hỏi sự tỷ mỉ, chính xáccao Với cương vị là Hiệu trưởng tôi đã nhận thức rất đầy đủ, sâu sắc và quản lý,chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác KTĐGGLL khá nghiêm túc, từng bước thúcđẩy việc nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường Song bên cạnh đó vẫn
có lúc công tác KTĐGGLL chưa thường xuyên; đôi khi thiếu khoa học; có lúchình thức kiểm tra chưa phong phú; đôi khi đánh giá xếp loại giờ dạy chưa chínhxác, có lúc còn chạy theo thành tích; còn nể nang dẫn đến chất lượng chuyênmôn của đội ngũ GV chưa có sự tiến bộ rõ nét Có nhiều nguyên nhân dẫn đếntồn tại trên, nổi cộm là các nguyên nhân cơ bản sau:
- Lực lượng KTĐGGLL gồm nhiều người, năng lực và quan điểm đánhgiá giờ dạy khác nhau; GV thường có tâm lý rất ngại khi được dự giờ(KTĐGGLL) nên lực lượng KTĐGGLL không hứng thú việc đi dự giờ, hoặc đicho có để báo cáo với Hiệu trưởng, để đạt kế hoạch đề ra về mặt số lượng, đôilúc nhận thức chưa sâu sắc về công tác KTĐGLL, cho rằng KTĐGGLL là gây
Trang 7áp lực cho GV ( bởi GV phải đi làm cả ngày quá vất vả) vì vậy chưa chú trọng
đúng mức, đôi khi xuất hiện tư tưởng dự giờ nhiều sẽ bị GV ghét, có lúc không
đủ thời gian để thực hiện KTĐGGLL một cách thường xuyên Đôi khi còn có
những mặt hạn chế trong năng lực chỉ đạo chuyên môn, dự giờ góp ý khôngthuyết phục được GV, dẫn đến thiếu tự tin, mặc cảm, có lúc dè dặt trong nhữngmối quan hệ cá nhân, ngại va chạm, mất lòng nhau, có khi ngại khó, ngại khổ vìviệc này đòi hỏi phải tiến hành tỷ mỉ và phức tạp, có khi đi KTĐGGLL chạytheo theo thành tích, khi đánh giá xếp lọai giờ nâng kết quả để lấy thành tích ảo,
để lấy lòng GV, làm cho chất lượng chuyên môn của GV không được nâng lên.Nhìn chung cả số lượng và chất lượng công tác KTĐGGLL đều chưa thuyếtphục, chưa ngang tầm với yêu cầu đặt ra, việc này ảnh hưởng trực tiếp đến chấtlượng giờ dạy của giáo viên như sau:
Năm học 2016-2017 tổng số giờ dạy được kiểm tra đánh giá: 342, trong
đó kiểm tra định kỳ =294, Kiểm tra đột xuất + Kiểm tra theo chuyên đề = 48
- Đối với giờ dạy được kiểm tra định kỳ: Số giờ đạt giỏi 106/294 tỷ lệ36,1 % Số giờ khá đạt 132/294 tỷ lệ 44,9 % Số giờ đạt trung bình 56/294 tỷ lệ
19 %.( Cụ thể từng GV kèm theo phụ lục 01 )
- Đối với số giờ dạy được kiểm tra đột xuất + kiểm tra theo chuyên đề:
Số giờ đạt giỏi 10/48 tỷ lệ 20,8 % Số giờ khá đạt 25/48 tỷ lệ 52,1 % Số giờđạt trung bình 13/48 tỷ lệ 27,1 % ( Cụ thể từng GV kèm theo phụ lục 01 )
Kết quả chung ba hình thức KT :Giờ dạy đạt giỏi = 116/342 tỷ lệ 33,9 %; Giờ dạy khá 157/342 tỷ lệ 45,9 %,
Giờ dạy trung bình 69/342 tỷ lệ 20,2 %
( Có kết quả giờ dạy từng GV theo phụ lục 01 đính kèm)
Chất lượng dạy học của GV là một tiêu chí rất quan trọng để đánh giá CNN, từ chất lượng giờ dạy trên đã cho kết quả đánh giá GV theo CNN nămhọc 2016-2017 như sau:
Tổng số GV được đánh giá chuẩn nghề nghiệp = 27/29 đồng chí.( 02 GVmới ra trường dưới 3 tháng chưa đánh giá)
GV đạt loại xuất sắc 09 tỷ lệ 33,3 %; GV đạt loại khá 12 tỷ lệ 44,5 %; GVđạt loại trung bình 6 tỷ lệ 22,2 %
Nhìn vào thực tế chất lượng GV theo chuẩn nghề nghiệp đạt được ở trênrất đáng trăn trở, lý do trường đã công nhận trường đạt chuẩn quốc gia mức độ
1, đang trên lộ trình xây dựng trường chuẩn quốc gia mức độ 2 Tiêu chuẩntrường đạtchuẩn quốc gia mức độ 2, ở tiêu chí chất lượng chuyên môn yêu cầu
tỷ lệ GV giỏi phải đạt tối thiểu 50 % Từ chất lượng đội ngũ nói trên đã cho kếtquả thực hiện nhiệm vụ chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục các cháu như sau:
Kết quả chăm sóc giáo dục trẻ năm học 2016-2017
Kết quả giáo dục Kết quả chăm sóc
Năm học
Đạt chuẩn kiến thức
Đạt chuẩn kiến thức
Đạt Đạt
Về cân nặng Về chiều cao
Trang 8theo
độ tuổi
mức
độ tốt
chuẩn kiến thức mức
độ khá
chuẩn kiến thức mức trung bình
Kênh bình thường
Kênh suy Dinh dưỡng
Kênh Bình thường
Kênh thấp còi
Tỷ lệ % 100 28,7 35,3 36,0 91,2 8,8 90,7 9,3
Qua bảng số liệu trên bản thân tôi tự nhận thấy: Với một nhà trường đạtchuẩn quốc gia mức độ 1, trình độ CBGV trên chuẩn rất cao mà tỷ lệ GV có giờdạy giỏi, GV được đánh giá chuẩn nghề nghiệp loại xuất sắc, chất lượng chămsóc giáo dục trẻ còn khá khiêm tốn, chưa tương xứng với trình độ GV, điều kiệnhiện có và yêu cầu xã hội mong đợi Chính vì vậy tôi đã mạnh dạn áp dụng một
số giải pháp sau để nâng cao chất lượng chuyên môn cho giáo viên
III MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KTĐGGLL Ở TRƯỜNG MN BÃI TRÀNH
1 Giải pháp thứ nhất: Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục tư tưởng cho GV về việc kiểm tra đánh giá giờ lên lớp
Nắm bắt được tâm lý chung của đa số GV rất ngại khi phải kiểm tra giờdạy, họ cho rằng khi bị kiểm tra là phải chuẩn bị kỹ lưỡng hơn tất cả các việcliên quan đến giờ dạy, bản thân họ sẽ vất vả hơn những ngày khác, bị kiểm tra làđồng nghĩa với việc những hạn chế, tồn tại cá nhân sẽ bị Ban giám hiệu, tổ khốinói ra trước hội đồng sư phạm, trước tổ sẽ mất mặt, chạm đến sĩ diện cá nhântrước mọi người, ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, thành tích Vì vậy BGH đã rấtquân tâm đến vấn đề giải quyết khâu tư tưởng cho GV, thông qua hội nghị, cácbuổi sinh hoạt chuyên môn, những lúc giải lao, tâm sự, chia sẻ BGH, tổ trưởng
tổ chuyên môn tuyên truyền về mục đích của việc KTĐGGLL nhằm đánh giákết quả đã đạt được so với tiêu chuẩn, định mức, chỉ tiêu đã quy định xem cái gì
đã làm được, vấn đề gì chưa được ( về kiến thức hay phương pháp ) Kiểm tra
để thúc đẩy việc thực hiện chuyên môn có chiều sâu, tạo đà nâng cao chất lượngchăm sóc giáo dục trẻ, lúc sinh thời khi bàn về công tác kiểm tra bác Hồ đã nói “ Kiểm soát khéo léo bao nhiêu thì về sau khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểmsoát khéo léo bao nhiêu thì về sau khuyết điểm nhất định sẽ bớt đi”
Đối với Ban giáo hiệu KTĐGGLL là một nhiệm vụ bắt buộc trong côngtác quản lý, “Làm lãnh đạo nhất thiết phải kiểm tra, không kiểm tra xem nhưkhông làm lãnh đạo”, qua kiểm tra nắm được chất lượng chất lượng chuyên môn
cụ thể của từng GV, có những mặt mạnh nào? Giỏi ở môn nào, lĩnh vực nào?Nguyên nhân dẫn đến sự thành công trong các môn dạy giỏi là gì ? ở đâu? Từ
đó khích lệ động viên GV làm tốt hơn và nhân rộng trước tập thể cho đồngnghiệp học hỏi Qua đó cũng nắm bặt được điểm yếu của từng GV, yếu ở mônnào ? Lĩnh vực nào? Nguyên nhân của điểm yếu để GV được kiểm tra rút kinhnghiệm cho những lần dạy sau và cho các GV khác cùng rút kinh nghiệm; qua
Trang 9đó giúp Ban giám hiệu, tổ khối chuyên môn có điều chỉnh phù hợp trong quátrình quản lý chỉ đạo, trong quyết định quản lý và trong cách lập kế hoạch bồidưỡng phù hợp nhằm nâng cao chất lượng tay nghề cho đội ngũ GV, kiểm tra đểgiúp đỡ GV tiến bộ nên sẽ KTĐGGLL ở tất cả GV, tất cả các hoạt động chămsóc giáo dục trẻ chứ không phải chỉ KTĐGGLL ở một số GV, hay chọn những
môn khó, nội dung khó để kiểm tra đánh giá; bằng việc này nhà trường đã khắc
phục được tâm lý của đa số GV có trình độ chuyên môn chưa cao như cô Vũ ThịQuang; Nguyễn Thị Hương; Đỗ Thị Nguyên Khắc phục được 100 % tình trạng
GV khi thấy BGH, tổ chuyên môn đến dự giờ là lo lắng, mất bình tĩnh, là khôngvui làm cho giờ dạy càng không có kết quả cao như bình thường
2.Giải pháp thứ hai: Làm tốt công tác kế hoạch kiểm tra đánh giá giờ lên lớp
Đầu tiên khi xây dựng kế hoạch KTĐGGLL là việc chuẩn bị lực lượngkiểm tra, Hiệu trường ra quyết định về việc thành lập ban kiểm tra bao gồm:Hiệu trưởng, các phó Hiệu trưởng, tổ trưởng, tổ phó chuyên môn nhà trẻ, mẫugiáo, một vài GV có nhiều thành tích cao, có uy tín trong chuyên môn củatrường
Việc KTĐGGLL đã được nhà trường lập kế hoạch cụ thể và cụ thể hóabằng kế hoạch năm học, học kỳ, tháng, tuần, cá nhân, kế hoạch của tổ chuyênmôn, của khối, từng môn Trong kế hoạch nhà trường đã xây dựng số giờ dạy( hoạt động) phải dự của mỗi GV trung bình từ 12-15 giờ/ năm học, bình quân 2giờ/tháng Đối với GV chuyên môn chưa tốt có thể dự tăng 4-6 giờ/ năm họcnhư cô: Nguyễn Thị Hương, Đỗ Thị Nguyên, Vũ Thị Quang
Riêng Hiệu trưởng hàng tuần dự giờ từ 2-3 tiết Mỗi năm từ 70- 105 tiết
2 Phó hiệu trưởng mỗi tuần dự giờ từ 3-4 tiết Mỗi năm từ 105- 140 tiếtCác tổ trưởng + tổ phó chuyên môn dự giờ từ 1-2 tiết Mỗi năm từ 35-70tiết, ngoài ra còn dự các tiết bồi dưỡng chuyên môn tập trung, thao giảng thi
GV giỏi Trường phân công cho 2 Phó hiệu trưởng cùng tổ chuyên môn, GVthảo luận xây dựng và thống nhất nội dung giáo dục( trên cơ sở chương trìnhkhung, chương trình gợi ý của Bộ GD&ĐT ban hành), kế hoạch GD, BGH trựctiếp duyệt kế hoạch GD- giảng dạy trước khi thực hiện ít nhất 3 ngày
Nội dung, đối tượng dự giờ được họp bàn, thống nhất trong lực lượngkiểm tra theo thứ tự ưu tiên là: Những vấn đề nào đang bức xúc, nổi cộm, đangyếu nhất trong chuyên môn thì được quan tâm dự giờ trước; trong số GV cùngyếu về một vấn đề nào đó trong chuyên môn thì dự giờ GV yếu nhất trước nhằmkịp thời giúp đỡ GV, cùng GV tháo gỡ khó khăn, động viên GV cố gắng vươnlên cho bằng đồng nghiệp khác, giảm thiểu nhanh nhất ảnh hưởng không tốt đếnchất lượng GD/ trẻ
Hàng tháng, hàng tuần Hiệu trường xây dựng kế hoạch chi tiết việcKTĐGGLL cho từng người, cụ thể như: Hiệu phó chuyên môn, tổ trưởng, tổphó chuyên môn phụ trách khối lớp nào thì dự giờ khối lớp đó Phó hiệu trưởngcùng tổ trưởng tổ phó chuyên môn chủ động đi dự giờ, thăm lớp theo kế hoạch,Năm, học kỳ, tháng, tuần Hiệu trưởng có thể đi cùng hoặc đi riêng để kết hợp
Trang 10nắm bắt tình hình khác liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ của GV Tuynhiên trong tuần nhất thiết tôi sẽ dự giờ ít nhất 2 tiết, trong tháng dự ít nhất là 8tiết Ngoài cách chọn đối tượng, nội dung dự giờ như trên tôi đã dự giờ ở tất cảcác điểm trường, các GV, các môn học, trong từng môn tôi đã bố trí dự ở tất cảcác loại tiết nhờ cách làm này mà công tác KTĐGGLL được tiến hành mộtcách nhịp nhàng, chủ động, linh hoạt, không bị chồng chéo và khi có tình huốngđột xuất xảy ra về thời gian thì việc dự giờ vẫn được tiến hành theo đúng kếhoạch do nhà trường đã chủ động điều chỉnh kế hoạch trước
3 Giải pháp thứ ba: Thống nhất nội dung, hình thức, quy trình dự giờ trong lực lượng KTĐGGLL.
Xác định muốn cho GV tiến bộ thực sự, đảm bảo được yêu cầu đổi mớiphương pháp GD hiện đại, chất lượng GD được nâng lên thì phải thường xuyênKTĐGGLL Khi đánh giá phải thực hiện đúng nguyên tắc về tính chính xác, tínhkhách quan, công bằng, tính thiết thực, tính hiệu quả và tính công khai, loại trừhoàn toàn các quan hệ cá nhân trong khi đi dự giờ
Dự giờ kiểm tra tất cả các bộ môn, nếu môn nào có nhiều loại tiết thìkiểm tra tất cả các loại tiết, kiểm tra tất cả các nhóm lớp, các GV
Dự giờ kiểm tra các GV dạy ở lớp cùng độ tuổi, cùng bài, cùng chủ đề để
so sánh đánh giá năng lực chuyên môn của từng người, rút ra ưu nhược điểmchính của từng GV, chọn được phương pháp đổi mới đặc trưng nhất cho từngmôn học, từng loại bài, từnng lĩnh vực phát triển KTĐGGLL có nhiều hìnhthức, mỗi hình thức có những ưu nhược điểm riêng nên cần phải luân phiên cáchình thức dự giờ để đánh giá giờ dạy khách quan như: Dự giờ định kỳ, đột xuất,trực tiếp, gián tiếp Dự giờ theo chuyên đề để nắm chắc năng lược tiếp thu, vậndụng chuyên đề của GV để rút ra kinh nghiệm về nội dung hay phương phápmới cần thực hiện Làm được như vậy kết quả chất lượng chuyên đề sẽ tốt hơn
Để KTĐGGLL cần nắm vững quy trình bao gồm các giai đoạn kế tiếpnhau: Chuẩn bị- Dự giờ- Phân tích- Trao đổi- Đánh giá- Kiến nghị
4.Giải pháp thứ tư: Tăng cường kiểm tra đánh giá giờ lên lớp định kỳ theo phiếu dự giờ ( Kèm phiếu dự giờ - phụ lục 02)
Trước khi dự giờ KTĐGGLL bao giờ ban giám hiệu cũng báo trước vềthời gian, địa điểm, về đối tượng, về môn học, loại bài, loại tiết học giúp GV có
sự chủ động trước về tâm lý, chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết cho giờ dạy.
Năm học 2017-2018: Trường đã dự được dự được 399 tiết trên tất cả GVđang dạy( trừ GV đang nghỉ sinh ), trong đó dự tất cả các môn học như làm quenvới toán, làm quen với văn học - Chữ cái; giáo dục âm nhạc, tạo hình, khám phákhoa học, thể dục, làm quen với tiếng Việt, hoạt động vui chơi các loại bài,loại tiêt, hoạt động giáo dục trong lớp, hoạt động ngoài trời, hoạt động chung,hoạt động góc( còn gọi là hoạt động vui chơi) đạt 100 % kế hoạch
Số giờ dạy giỏi đạt 221/399 tiết, tỷ lệ 55,4 %
Số giờ dạy khá đạt 136/399 tiết, tỷ lệ 34,1%
Số giờ dạy trung bình 42/399 tiết, tỷ lệ 10,5 %