1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguyên tắc toàn diện được vận dụng trong thực tiễn của thời kỳ đổi mới ở nước ta hiện nay như thế nào

21 855 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 112 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm về mối liên hệ phổ biến Khái niệm về mối liên hệ phổ biến: Trong phép biện chứng duy vật,mối liên hệ phổ biến dùng để khái quát mối liên hệ, sự tác động qua lại,chuyển hóa lẫn

Trang 1

Bài thảo luận triết học nâng cao

Nhóm 2 lớp 18B-KT

Đề tài 2: Nguyên tắc toàn diện được vận dụng trong thực tiễn của thời kỳ đổi

mới ở nước ta hiện nay như thế nào ?

I Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện.

1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến - cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là cơ sở lý luận của nguyên tắctoàn diện

a Khái niệm về mối liên hệ phổ biến

Khái niệm về mối liên hệ phổ biến: Trong phép biện chứng duy vật,mối liên hệ phổ biến dùng để khái quát mối liên hệ, sự tác động qua lại,chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt, các giaiđoạn phát triển của một sự vật, hiện tượng

b Các tính chất của mối liên hệ phổ biến

 Tính khách quan: Mọi mối liên hệ của các sự vật hiện tượng làkhách quan, là vốn có của mọi sự vật hiện tượng Ngay cả những vật vô tri

vô giác cũng đang ngày hàng ngày, hàng giờ chịu sự tác động của các sự vậthiện tượng khác nhau (như ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm…) tự nhiên, dù muốnhay không, cũng luôn luôn bị tác động bởi các sự vật hiện tượng khác

 Ngoài ra, mối liên hệ vốn có tính phổ biến Tính phổ biến của mốiliên hệ thể hiện:

Thứ nhất, bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật hiệntượng khác, không có sự vật hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ Trongthời đại ngày nàykhông có một quốc gia nào không có quan hệ, liên hệ vớicác quốc gia khác về mọi mặt của đời sống xã hội và ngay cả Việt Nam ta

Trang 2

khi tham gia tích cực vào các tổ chức như ASEAN, hay sắp tới đây là WTOcũng không ngoài mục đích là quan hệ, liên hệ, giao lưu với nhiều nước trênthế giới.

Thứ hai, mối liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt cụ thểtuỳ theo điều kiện nhất định Song, dù dưới hình thức nào chúng cũng chỉ làbiểu hiện của mối liên hệ phổ biến nhất, chung nhất

 Tính đa dạng, phong phú, muôn vẻ: Có nhiều mối liên hệ Có mối liên hệ

về mặt không gian và cũng có mối liên hệ về mặt thời gian giữa các sự vật,hiện tượng Có mối liên hệ chung tác động lên toàn bộ hay trong những lĩnhvực rộng lớn của thế giới Có mối liên hệ riêng chỉ tác động trong từng lĩnhvực, từng sự vật và hiện tượng cụ thể Có mối liên hệ trực tiếp giữa nhiều sựvật, hiện tượng, nhưng cũng có những mối liên hệ gián tiếp Có mối liên hệtất nhiên, cũng có mối liên hệ ngẫu nhiên Có mối liên hệ bản chất cũng cómối liên hệ chỉ đóng vai trò phụ thuộc (không bản chất) Có mối liên hệ chủyếu và có mối liên hệ thứ yếu v.v chúng giữ những vai trò khác nhau quyđịnh sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Do vậy, nguyên lý vềmối liên hệ phổ biến khái quát được toàn cảnh thế giới trong những mối liên

hệ chằng chịt giữa các sự vật, hiện tượng của nó

2 Nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và thực tiễn

Từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, rút ra nguyên tắc toàndiện trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn

Nguyên tắc toàn diện trong hoạt động nhận thức và thực tiễn - mộtnguyên tắc phương pháp luận cơ bản của Phép biện chứng duy vật - là mộttrong những nguyên tắc cơ bản, quan trọng của phép biện chứng duy vật

- Trong nhận thức: Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi, xem xét sự vật, hiệntượng: trong chỉnh thể thống nhất của tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu

tố, các thuộc tính cùng các mối liên hệ của chúng; trong mối liên hệ giữa sự

Trang 3

vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác và với môi trường xungquanh, kể cả các mặt của các mối liên hệ trung gian, gián tiếp; trong khônggian, thời gian nhất định, nghĩa là phải nghiên cứu quá trình vận động của sựvật, hiện tượng trong quá khứ, hiện tại và phán đoán cả tương lai của nó.Nguyên tắc toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện chỉ thấy mặt này màkhông thấy các mặt khác; hoặc chú ý đến nhiều mặt nhưng lại xem xét trànlan, dàn đều, không thấy được mặt bản chất của sự vật, hiện tượng rơi vàothuật nguỵ biện và chủ nghĩa chiết trung.

- Trong thực tiễn: Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi, muốn đạt hiệu quảcao, phải giải quyết đồng bộ các nhiệm vụ của thực tiễn; tức là phải áp dụngđồng bộ một hệ thống các biện pháp, các phương tiện khác nhau…để cải tạo

sự vật, hiện tượng Song trong từng bước phải phải xác định được khâutrong điểm, trọng tâm, tránh bình quân, dàn đều

II NGUYÊN TẮC TOÀN DIỆN ĐƯỢC VẬN DỤNG TRONG THỰC TIỄN THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1 Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên tắc toàn diện

Với tư cách là những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản cuả phépduy vật biện chứng, quan điểm toàn diện góp phần định hướng, chỉ đạo hoạtđộng nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực Song để thực hiệnđược quan điểm toàn diện, chúng ta cần nắm chắc cơ sở lý luận của chúng -nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, biết vận dụng chúng một cách sáng tạotrong hoạt động của mình

Trong đời sống xã hội, nguyên tắc toàn diện có vai trò cực kỳ quantrọng Nó đòi hỏi chúng ta không chỉ liên hệ nhận thức với nhận thức mà cầnphải liên hệ nhậnthức với thực tiễn cuộc sống, phải chú ý đến lợi ích của cácchủ thể (các cá nhân hay các giai tầng) khác nhau trong xã hội và biết phân

Trang 4

huy hay hạn chế mọi tiềm năng hay nguồn lực từ khắp các lĩnh vực hoạtđộng xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa…) từ các thành phần kinh tế, từ các tổchức chính trị - xã hội… để có thái độ, biện pháp, đối sách hành động thích hợp màkhông sa vào chủ nghĩa bình quân, quan điểm dàn đều, không thấy đượctrọng tâm, trọng điểm, điều cốt lõi của vấn đề.

Nắm chắc quan điểm toàn diện để xem xét sự vật hiện tượng từ nhiềukhía cạnh, từ mối liên hệ của nó với sự vật hiện tượng khác sẽ giúp conngười có nhận thức sâu sắc, toàn diện về sự vật và hiện tượng đó tránh đượcquan điểm phiến diện về sự vật và hiện tượng chúng ta nghiên cứu Từ đó cóthể kết luận về bản chất qui luật chung của chúng để đề ra những biện pháp

kế hoạch có phương pháp tác động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả caonhất

2 VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC TOÀN DIỆN TRONG THỰC TIỄN THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Thực trạng Việt Nam những năm trước đổi mới

Trước những năm 1986, do nhận thức và vận dụng sai lầm lý luậncủa chủ nghĩa Mác –Lênin vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đãdẫn đến những thất bại to lớn như sự sụp đổ của hệ thống các nướcXHCN ở Liên xô và các nước Đông Âu, còn ở Việt nam do nhận thức vàvận dụng sai lầm đã dẫn đến tụt hậu về kinh tế và khủng hoảng về chínhtrị

- Về kinh tế: Sau khi đất nước được giải phóng và thống nhất năm(1976) Mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung ở miền Bắc được áp dụngtrên phạm vi cả nước Mặc dù có nỗ lực rất lớn trong xây dựng và phát triểnkinh tế, Nhà nước đã đầu tư khá lớn nhưng vì trong chính sách có nhiềuđiểm duy ý chí nên trong 5 năm đầu (1976 - 1980) tốc độ tăng trưởng kinh tế

Trang 5

chậm chạp chỉ đạt 0,4%/năm (kế hoạch là 13 - 14%/năm) thậm chí có xuhướng giảm sút và rơi vào khủng hoảng Phân phối lưu thông bị rối ren Thịtrường tài chính, tiền tệ không ổn định Năm 1976, trên phạm vi cả nước,lạm phát đã xuất hiện và ngày càng nghiêm trọng giá cả tăng nhanh Ngânsách Nhà nước liên tục bị bội chi và ngày càng lớn năm 1980 là 18,1%, 1985

là 36,6% dẫn đến bội chi tiền mặt

- Về Chính trị: chúng ta đã mắc những sai lầm nghiêm trọng và kéodài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chứcthực hiện Cụ thể là sự lạc hậu về nhận thức lý luận và vận dụng các quy luậtđang hoạt động trong thời kỳ quá độ; mắc bệnh chủ quan duy ý chí, giản đơnhóa, muốn thực hiện nhanh chóng nhiều mục tiêu của CNXH trong điều kiệnnước ta mới ở chặng đường đầu tiên; chưa thật sự thừa nhận những quy luậtcủa sản xuất hàng hóa đang tồn tại khách quan

- Đời sống văn hóa xã hội của nhân dân ngày càng khó khăn, tiêu cực

và bất công xã hội tăng lên Trật tự xã hội bị giảm sút

Trong giai đoạn này nước ta bị khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội.Trước tình hình đó, Đảng cộng sản Việt Nam đã khởi xướng lãnh đạo thựchiện công cuộc đổi mới

2.2 VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC TOÀN DIỆN TRONG THỰC TIỄN THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trong quá trình đổi mới, Đảng ta quán triệt nguyên tắc “Giải quyếtđồng bộ” các nhiệm vụ của thực tiễn đất nước: một mặt nhấn mạnh tính tấtyếu của việc đổi mới toàn diện mọi mặt kinh tế, chính trị và văn hóa xã hội;

Trang 6

Một mặt xác định nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng làthen chốt

2.2.1 Về kinh tế

Năm 1986 trở về trước nền kinh tế nước ta là nền kinh tế sản xuất nhỏ,mang tính tự cung tự cấp vận hành theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp.Mặt khác do những sai lầm trong nhận thức về mô hình kinh tế xã hội chủnghĩa Nền kinh tế nước ta ngày càng tụt hậu, khủng hoảng trầm trọng kéodài, mức sống nhân dân thấp

Đứng trước bối cảnh đó con đường đúng đắn duy nhất để đổi mới đấtnước là đổi mới kinh tế Từ 1986, vận dụng quan điểm toàn diện của chủnghĩa duy vật biện chứng Mác Lênin và nhận thức rõ về thực trạng đất nướcĐảng ta đã có những chủ chương đúng đắn thể hiện trong các văn kiện đạihội Đảng từ đại hội Đảng VI đến đại hội Đảng IX làm kim chỉ nam cho sựnghiệp giải phóng xã hội, phát triển con người xây dựng thành công chủnghĩa xã hội trên đất nước ta Đảng đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, sâusắc, trong đó có đổi mới tư duy về kinh tế, đột phá khẩu cho đổi mới các lĩnh

vực tiếp theo

Đổi mới trên lĩnh vực kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm mục đích là giảiphóng mọi năng lực SX hiện có, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphân theo định hướng XHCN trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạocùng với kinh tế tập thể làm nền tảng cho nền kinh tế quốc dân lấy phân phốitheo hiệu quả lao động làm nguyên tắc phân phối cao nhất là phân phốihưởng thụ , cải tạo đi lên và và sử dụng phát huy hiệu quả các thành phầnkinh tế , coi đây là nhiệm vụ thường xuyên liên tục của một thời kỳ quá độnhằm làm cho quan hệ SX phù hợp với tính hất và trình độ lực lượng SX cóhướng thúc đẩy SX đi lên

- Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần

Trang 7

Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần là nét đặc trưng có tính quy luậtcủa nền kinh tế quá độ lên XHCN ở nước ta Đảng ta đã xác định duy trì vàphát triển chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủnghĩa có ý nghĩa chiến lựơc lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ lên sảnxuất lớn, có tác dụng to lớn trong việc động viên nhân dân xây dựng kinh tếphát triển lực lợng sản xuất.Tại đại hội Đảng VI (tháng 12/1986) đã xem lạimột cách căn bản về vấn đề cải tạo XHCN và đưa ra quan điểm về xây dựngnền kinh tế nhiều thành phần và coi nó là nhiệm vụ cơ bản cho quá trình đổimới toàn diện nền kinh tế và đưa ra quan điểm mới về nền kinh tế nhiềuthành phần: “Đi đôi với việc phát triển kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể,tăng cường nguồn tích lũy tập trung của Nhà nước và tranh thủ vốn nướcngoài cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tếkhác”

Quan điểm của Đảng về xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần và xuấtphát từ thực trạng kinh tế nền kinh tế Việt Nam Nó cho phép có nhiều hìnhthức sản xuất kinh doanh theo qui mô thích hợp với từng khâu của quá trìnhtái sản xuất và lưu thong nhằm khai thác mọi khả năng của các thành phầnkinh tế Đảng coi đây là giải pháp có ý nghĩa chiến lược để giải phóng sứcsản xuất và xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý

+ Đổi mới doanh nghiệp Nhà nước

Là thành phần nắm giữ một khối lượng lớn tài sản cố định và vốn lưuđộng, với gần 3 triệu lao động tạo ra khoảng 35-40% tổng sản phẩm xã hội

và đóng góp trên 50% ngân sách Nhà nước Trong nhiều ngành công nghiệp,các xí nghiệp quốc doanh chiếm khoảng từ 70 -100% sản lượng Tuy nhiêncác xí nghiệp quốc doanh gặp rất nhiều khó khắn, nhiều cơ sở kinh doanhyếu kém và không có hiệu quả thua lỗ hoặc không có lãi Vì vậy đổi mới các

Trang 8

xí nghiệp quốc doanh là một trong những nội dung quan trọng trong quátrình đổi mới và được thực hiện từng bước.

+ Đổi mới kinh tế hợp tác

Kinh tế hợp tác chủ yếu dưới các hình thức: Tổ hợp tái tập đoàn sảnxuất, hợp tác xã được hình thành trong quá trình cải tạo XHCN đối vớinhững người sản xuất nhỏ cá thể trong nông nghiệp thủ công nghiệp, thươngnghiệp và dịch vụ Trong kinh tế hợp tác sở hữu tập thể kiểu chung chung,không phân định rõ trách nhiệm thêm vào đó là những yếu kém trong quản

lý, nên đã bộc lộ nhiều hạn chế đặc biệt mô hình hợp tã xã nông nghiệp đãrơi vào khủng hoảng sâu sắc Nhiều hợp tác xã tồn tại trên hình thức

+ Phát triển kinh tế cá thể, tư nhân và các loại hình sở hữu hỗn hợp

Trước khi đổi mới khu vực kinh tế tư nhân và cá thể vẫn còn tồn tại ởnước ta, chiếm tới 21,9% trong tổng sản phẩm xã hội Nhưng chủ trương củaNhà nước là hạn chế, cải tạo nên khu vực này từng bước được khôi phục vàphát triển theo chủ trương cải cách của Nhà nước

Hiến pháp năm 1992 qui định mọi công dân được tự do kinh doanh theopháp luật không hạn chế qui mô vốn là số lao động sử dụng Sau đó hệ thốngluật pháp tiếp tục được hoàn chỉnh và nhiều chính sách mới được ban hànhnhằm khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân và kinh tế cá thể

+ Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hóa

Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu cơ

sở vật chất kỹ thuật thấp kém, trình độ của lực lượng sản xuất chưa pháttriển, quan hệ sản xuất XHCN mới được thiết lập, chưa hoàn thiện vì vậy,quá trình công nghiệp hóa là quá trình xây dựng cơ sở vật chất cho nền kinhtế

Trang 9

Trong xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa về kinh té dâng phát triển mạnh

mẽ, khoa học kỹ thuật và công nghiệp hiện đại phát triển rất nhanh chóng,những thuận lợi và khó khăn về khách quan và chủ quan, có nhiều thời cơ vàthách thức, nền kinh tế của chúng ta đan xen với nhau, tác động lẫn nhau Vìvậy, đất nước chúng ta phải chủ động, sang tạo nắm lấy thời cơ, phát huynhững thuận lợi để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa tạo ra thế và lựcmới để vượt qua những khó khăn, đẩy lùi nguy cơ, đưa nền kinh tế tăngtrưởng phát triển bền vững

+ Những nội dung cơ bản của CNH-HĐH ở Việt Nam

Phát triển lực lượng sản xuất- cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xãhội trên cơ sở thực hiện cơ khí hóa nền sản xuất xã hội và áp dụng nhữngthành tựu khoa học công nghệ hiện đại

Chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hóa hợp lý và hiệu quảcao Cơ cấu kinh tế được gọi là hợp lý khi nó đáp ứng đủ các điều kiện sauđây:

. Nông nghiệp phải giảm dần tỉ trọng, công nghiệp, xây dựng và dịch vụphải tăng về tỉ trọng

. Trình độ kỹ thuật của nền kinh tế không ngừng tiến bộ, phù hợp với xuhướng tiến bộ khoa học và công nghệ đã và đang diễn ra như vũ bão trên thếgiới

.Cho phép khai thác tối đa mọi tiềm năng của đất nước, của các ngành cácđịa phương, các thành phần kinh tế

.Thực hiện sự phân công và hợp tác quốc tế theo xu hướng toàn cầu hóakinh tế, do vậy cơ cấu kinh tế được tạo dựng phải là cơ cấu

+ Phát triển đồng bộ các loại thị trường ở Việt Nam

Trang 10

Sự phát triển đồng bộ các loại thị trường là sự ăn khớp giữa các thị trường

và loại hình, trình độ phát triển và quy mô tạo nên một sự hoạt động nhịpnhàng của hệ thống thị trường và nền kinh tế quốc dân Sự ra đời của các loạithị trường và khả năng đồng bộ của chúng do trình độ và yêu cầu sản xuất xãhội quyết định Nói một cách khác là nó mang tính khách quan Nhà nướctạo môi trường và điều kiện để phát triển sản xuất hàng hóa và tạo cơ sở chothị trường phát triển Nhà nước điều tiết, điều chỉnh thị trường bằng cáccông cụ quản lý vĩ mô Không thể chủ quan "nặn ra" thị trường và khuônranh giới cho thị trường Mọi sự tác động duy ý chí sẽ tạo ra thị trườngngầm, Nhà nước không quản lý được

+ Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại

Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại đa dạng hoá , đaphương hoá quan hệ kinh tế đồng thời tăng cường sự hợp tác và phân cônglao động quốc tế Đại hội VI đã chỉ rõ: “Cùng với việc mở rộng xuất nhậpkhẩu tranh thủ vốn viện trợ và vay dài hạn cần vận dụng nhiều hình thức đadạng để phát triển kinh tế đối ngoại” Thực hiện chủ trương đó, Nhà nước đãban hành chính sách mở cửa để thu hút vốn và kỹ thuật nước ngoài, từngbước gắn nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới, thị trường trong nướcvới thị trường quốc tế trên nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi, đảm bảođộc lập, chủ quyền dân tộc và an ninh quốc gia

.Về ngoại thương: cải cách ngoại thương được thực hiện theo hương từngbước mở của và hội nhập quốc tế

.Tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài

Năm 1987, Nhà nước ban hành luật đầu tư nước ngoài, sau đó được bổ sung

và sửa đổi nhiều lần nhằm hấp dẫn các nhà đầu tư

Ngày đăng: 06/06/2018, 14:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w