Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế thị trường theo xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tếquốc tế, cạnh tranh đang ngày càng diễn ra gay gắt Trong điều kiện đó,năng lực cạnh tranh thể hiện sức chiến đấu trong quá trình tồn tại và pháttriển của các sản phẩm, doanh nghiệp và của quốc gia
Nếu như năng lực cạnh tranh của nền kinh tế thể hiện bằng năng lựctham gia vào quá trình phân công lao động và hợp tác quốc tế của nền kinhtế quốc gia, khẳng định vị thế của mình trong nền kinh tế thế giới thì nănglực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện khả năng của doanh nghiệp trongviệc duy trì lợi thế cạnh tranh,mở rộng thị phần, thu lợi nhuận Năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp là cơ sở của năng lực cạnh tranh của nền kinh tế
Do năng lực cạnh tranh có vai trò và ý nghĩa to lớn như vậy nên hầuhết các quốc gia đều khuyến khích cạnh tranh, tạo môi trường thúc đẩycạnh tranh trong nước, quốc tế và rất chú trọng nâng cao năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN theo
xu hướng mở cửa nền kinh tế và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế hiệnnay, cạnh tranh trong nước và quốc tế ngày càng trở nên gay gắt, yêu cầuvề nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng và toàn bộ nềnkinh tế đặt ra bức xúc: Làm thế nào và bằng cách nào để nâng cao năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam, góp phần nâng cao vị thế của ViệtNam trên trường quốc tế? Chính vì vậy, Đại Hội X của Đảng nhấn mạnh:
“Chúng ta chủ trương xây dựng và thực hiện chiến lược quốc gia và phát triển doanh nghiệp, xây dựng một hệ thống doanh nghiệp Việt Nam có sức cạnh tranh cao…”
Trang 2Đó là lí do em chọn đề tài: “ Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”làm đề
án của mình
Trong phạm vi của đề án môn học, em xin trình bày một cách ngắngọn ý kiến của mình, hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ vào việc nâng caonăng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp hiện nay
Em xin chân thành cảm ơn Th.S Vũ Anh Trọng đã tận tình hướng dẫn
em trong suốt quá trình làm đề án Em xin chân thành cảm ơn những ý kiếnđóng góp quý giá của thầy đã giúp em hoàn thành đề án của mình
Trang 3CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH
TẾ QUỐC TẾ HIỆN NAY
1 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay
1.1 Khái lược về lý thuyết cạnh tranh của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là hiện tượng phổ biến và cóý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế ở quốc gia Việcnghiên cứu hiện tượng cạnh tranh đã có từ lâu và lý thuyết cạnh tranh cũngxuất hiện từ sớm với các trường phái nổi tiếng: lý thuyết cạnh tranh cổđiển, lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển và lý thuyết cạnh tranh hiện đại
Lý thuyết cạnh tranh cổ điển
Lý thuyết cạnh tranh cổ điển ra đời gắn với sự hình thành của chủnghĩa tự do kinh tế cổ điển vào thế kỉ XVII ở Anh, với các đại biểu xuất sắclà: Adam Smith(1723-1790), John Stuart Mill( 1806-1873) và các nhà kinhđiển như: C.Mac, Ph.Anghen Trong lý thuyết cạnh tranh của mình, AdamSmith chủ trương tự do cạnh tranh và coi cạnh tranh có vai trò quan trọngtrong điều tiết cung-cầu, cạnh tranh là động lực của sự phát triển kinh tế nóichung cũng như từng mặt cụ thể như lao động, tư bản…
Lý thuyết cạnh tranh của C.Mac gắn với học thuyết giá trị thặng dư đặttrong điều kiện kinh tế tư bản chủ nghĩa thời kì tự do cạnh tranh Trong lýluận cạnh tranh của mình, C.Mac chỉ ra rằng, cạnh tranh kinh tế là sảnphẩm của kinh tế hàng hóa và cạnh tranh là một quy luật cùng tác động vớiquy luật giá trị thặng dư, lấy quy luật giá trị làm tiền đề Ông chỉ ra rằng,cạnh tranh có hai mặt: tích cực và tiêu cực Về mặt tích cực, cạnh tranh cótác dụng điều tiết, phân phối các yếu tố sản xuất, kích thích lực lượng sảnxuất phát triển, cạnh tranh là sức mạnh thúc đẩy gia tăng giá trị thặng dưtương đối, thúc đẩy quá trình lưu thông các yếu tố sản xuất, là cơ chế điềutiết, phân phối lợi nhuận Về mặt tiêu cực, cạnh tranh trong điều kiện kinhtế tư bản tự do vô chính phủ có thể dẫn tới phân phối lao động và các yếutố sản xuất bất hợp lý
Trang 4 Lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển
Lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển gắn với kinh tế học tân cổ điển ở cácnước phương Tây cuối thế kỉ XIX, chủ yếu nghiên cứu các hành vi kinh tế,lý thuyết sản xuất và phân phối ở cấp độ vi mô trong điều kiện chủ nghĩa tự
do kinh tế chiếm ưu thế áp đảo Lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển gắn vớicác tên tuổi nổi tiếng như: W.S.Jeios, A.Cournot… Lý thuyết cạnh tranhdựa trên cơ sở thị trường tự do và cạnh tranh hoàn hảo Trong điều kiện đó,sản xuất được điều khiển bởi nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng thôngqua thị trường, người sản xuất điều chỉnh quy mô sản xuất tới điểm tối ưu,tại đó doanh thu cận biên ngang bằng chi phí cận biên Lý thuyết này phântích phân phối nguồn lực ở trạng thái tĩnh, không làm rõ được các vấn đềtrong điều kiện cạnh tranh không hoàn hảo( có độc quyền)
Lý thuyết cạnh tranh hiện đại
Lý thuyết cạnh tranh hiện đại hình thành giữa thế kỉ XX và tồn tại đếnnay, gắn với các tên tuổi: R.Boyer, M.Aglieta, Micheal Porter… Lý thuyếtcạnh tranh hiện đại gắn liền với kinh tế thị trường hiện đại
Một số nội dung cơ bản về lý thuyết cạnh tranh trong điều kiện kinh tếthị trường hiện đại như sau:
- Cạnh tranh là hiện tượng phổ biến mang tính tất yếu, là quy luật cơbản trong kinh tế thị trường
- Cạnh tranh có tính chất hai mặt Cạnh tranh là động lực mạnh mẽthúc đẩy các chủ thể kinh doanh hoạt động hiệu quả hơn trên cơ sở nângcao năng suất, chất lượng, hiệu quả vì sự sống còn và phát triển của mình.Tuy nhiên, cạnh tranh cũng dẫn đến tranh giành, khống chế lẫn nhau, tạonguy cơ rối loạn thậm chí làm đổ vỡ lớn Để phát huy mặt tích cực, hạn chếmặt tiêu cực phải duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp, kiểmsoát độc quyền, xử lý cạnh tranh không lành mạnh giữa các chủ thể
- Trong điều kiện hiện nay, cạnh tranh chuyển từ đối kháng sang cạnhtranh trên cơ sở hợp tác, cạnh tranh bằng mẫu mã, chất lượng, giá cả và cácdịch vụ hỗ trợ Bởi lẽ, khi đối thủ cạnh tranh quá nhiều thì việc tiêu diệt cácđối thủ khác là vấn đề không đơn giản
1.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đề cập lần đầutiên ở Mỹ vào đầu những năm 1980 Tuy nhiên, khái niệm năng lực cạnh
Trang 5tranh đến nay vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất, có nhiều cách quanniệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp:
Một là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và
mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp Đây là cách quan niệmkhá phổ biến hiện nay, theo đó, năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụhàng hóa, dịch vụ so với các đối thủ và khả năng “ thu lợi” của doanhnghiệp
Hai là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịu
trước sự tấn công của các doanh nghiệp khác Theo đó, năng lực cạnh tranhlà năng lực của một doanh nghiệp “không bị doanh nghiệp khác đánh bạivề năng lực kinh tế” Quan niệm về năng lực cạnh tranh như vậy chỉ mangtính tương đối, khó định lượng được
Ba là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động Theo tổ
chức hợp tác và phát triển kinh tế(OECD), năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếutố sản xuất có hiệu quả làm cho doanh nghiệp phát triển bền vững trongđiều kiện cạnh tranh quốc tế Quan niệm này chưa gắn với việc thực hiệncác mục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp
Bốn là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với việc duy trì và nâng cao
lợi thế cạnh tranh Như vậy, cho đến nay, quan niệm về năng lực cạnh tranhvẫn chưa được hiểu thống nhất Đối với Việt Nam hiện nay, với trình độphát triển kinh tế còn thấp nhưng lại đặt ra trong bối cảnh hội nhập kinh tếquốc tế - cạnh tranh gay gắt, việc đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh chophù hợp với bối cảnh hiện nay là không hề đơn giản vì:
- Năng lực cạnh tranh cần thể hiện khả năng tranh đua, tranh giànhgiữa các doanh nghiệp không chỉ về năng lực thu hút và sử dụng các yếu tốsản xuất, khả năng tiêu thụ hàng hóa mà cả khả năng mở rộng khả năngsinh tồn của sản phẩm, khả năng tạo sản phẩm mới
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần thể hiện được phươngthức cạnh tranh cho phù hợp, bao gồm những phương thức truyền thống vàphương thức hiện đại, không chỉ dựa vào lợi thế so sánh mà dựa vào lợi thếcạnh tranh, quy chế
Từ những yêu cầu trên, có thể đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp như sau: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là
Trang 6khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt được lợi ích kinh tế cao và bền vững.”
2 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
2.1Khả năng thu hút nguồn lực
Khả năng thu hút các nguồn lực không chỉ nhằm đảm bảo các điềukiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh tiến hành bình thường mà còn thểhiện năng lực cạnh tranh thu hút đầu vào của doanh nghiệp Nhờ việc thuhút các đầu vào của doanh nghiệp có chất lượng cao như trình độ côngnghệ cao, công nghệ hiện đại, vật tư nguyên vật liệu, nguồn vốn… màdoanh nghiệp có thể nâng cao chất lượng, năng suất lao động, hiệu quả sảnxuất kinh doanh Đây là tiền đề nhằm đảm bảo nâng cao năng lực cạnhtranh trong dài hạn
2.2 Năng suất các yếu tố sản xuất
Năng suất các yếu tố sản xuất thể hiện ở các chỉ tiêu như: chỉ tiêu năngsuất lao động, hiệu quả sử dụng vốn, sử dụng khoa học máy móc kĩ thuật.Năng suất phản ánh lượng các yếu tố đầu ra so với các yếu tố đầu vào, làchỉ tiêu phản ánh năng lực khai thác, sử dụng các yếu tố sản xuất của doanhnghiệp Đồng thời chỉ tiêu này phản ánh năng lực đáp ứng nhu cầu kếhoạch chi phí trên đơn vị sản phẩm và đơn vị thời gian Do đó, năng suấtmặt lượng của năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện: năng suấtlao động, hiệu quả sử dụng vốn, sử dụng tài sản cố định
2.3 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp Do nhiệm vụ cơ bản của doanh nghiệplà sản xuất kinh doanh nên nếu sản phẩm của doanh nghiệp có sức cạnhtranh thấp thì sức cạnh tranh của doanh nghiệp không thể cao được Nănglực cạnh tranh của sản phẩm thể hiện ở các yếu tố: chất lượng sản phẩm,giá cả hợp lý, mẫu mã phù hợp đáp ứng nhu cầu khách hàng Chất lượngsản phẩm là một chỉ tiêu tổng hợp gồm nhóm các chỉ tiêu thành phần là cácchỉ tiêu kinh tế( chi phí sản xuất, chi phí đảm bảo chất lượng…), chỉ tiêu kĩthuật( công dụng, thẩm mĩ…) Phần lớn các chỉ tiêu này được so sánh vớitiêu chuẩn của ngành, kinh tế, quốc tế Ngoài ra, giá cả vẫn là chỉ tiêu quantrọng trong cấu thành năng lực cạnh tranh của sản phẩm Nếu có cùng chất
Trang 7lượng như nhau thì hàng hóa nào có giá thấp hơn sẽ có lợi thế cạnh tranhhơn Điều này không xảy ra ở những nước phát triển mà chỉ ở những nướcđang phát triển.
2.4 Năng lực quản lý và điều hành của các doanh nghiệp
Năng lực điều hành quản lý của các doanh nghiệp vừa và nhỏ thể hiệnở tỷ lệ số người được đào tạo bài bản trình độ quản lý, trình độ học vấn,trình độ đào tạo nghề Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý được thể hiệnbằng những kiến thức cần thiết để điều hành thực hiện các công việc đốinội và đối ngoại của doanh nghiệp, qua việc hoạch định và thực hiện chiếnlược, lựa chọn phương pháp quản lý, tạo động lực cho lao động; thể hiện ởviệc sắp xếp, bố trí cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và phân định rõ ràngchức năng, nhiệm vụ của các bộ phận Việc hình thành tổ chức bộ máyquản lý theo hướng tinh, nhanh, gọn và hiệu quả cao sẽ giảm được chi phínhờ đó mà nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
3 Các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được thể hiện thông qua khảnăng xây dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo lợi thế cạnh tranh của doanhnghiệp nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu, khách hàng (so với đối thủ cạnhtranh) và đạt được các mục tiêu doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranhtrong nước và quốc tế
Với các tiếp cận này, khi nghiên cứu các giải pháp nâng cao năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp không thể không nghiên cứu các yếu tố bêntrong và bên ngoài tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp baogồm: các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
3.1 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp.
Trình độ và năng lực tổ chức, quản lý doanh nghiệp
Năng lực tổ chức, quản lý doanh nghiệp được coi là nhân tố có tínhquyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói chung cũng nhưnăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng Trình độ tổ chức, quản lýcủa doanh nghiệp được thể hiện trên các mặt:
Trang 8- Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý: được thể hiện bằng những kiếnthức cần thiết để quản lý và điều hành, thể hiện các công việc đối nội vàđối ngoại của doanh nghiệp.
- Trình độ tổ chức và quản lý của doanh nghiệp: thể hiện ở việc sắpxếp, bố chí cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và phân định rõ chức năng,nhiệm vụ của các bộ phận Việc hình thành tổ chức bộ máy quản lý củadoanh nghiệp theo hướng tinh, gọn, nhẹ và hiệu lực cao có ý nghĩa quantrọng không chỉ đảm bảo hiệu quả quản lý cao, ra quyết định nhanh chóng,chính xác mà còn làm giảm tương đối chi phí quản lý của doanh nghiệp.Nhờ đó mà nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Trình độ, năng lực quản lý của doanh nghiệp còn thể hiện trong việchoạch định chiến lược kinh doanh, lập kế hoạch, điều hành tác nghiệp…điều này có ý nghĩa đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanhnghiệp trong ngắn hạn và dài hạn và do có có tác động mạnh đến việc nângcao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Trình độ thiết bị, công nghệ
Trình độ thiết bị, công nghệ có ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp Công nghệ phù hợp cho phép rút ngắn thời gian sảnxuất, giảm mức tiêu hao năng lượng, tăng năng suất ,hạ giá thành sảnphẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo lợi thế quan trọng đối với sảnphẩm của doanh nghiệp cần có thông tin về công nghệ, chuyển giao côngnghệ, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, đầu tư đổi mới công nghệđồng thời cần đào tạo nâng cao trình độ tay nghề để sử dụng có hiệu quả
Trình độ lao động trong doanh nghiệp
Lao động là yếu tố quyết định của lực lượng sản xuất, có vai trò quantrọng trong sản xuất xã hội nói chung và trong cạnh tranh kinh tế hiện nay.Trong doanh nghiệp, lao động vừa là yếu tố đầu vào, vừa là hiện tượng trựctiếp sử dụng phương tiện thiết bị để sản xuất sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ
Do vậy, trình độ của lực lượng lao động là yếu tố tác động trực tiếp đếnnăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Để nâng cao năng lực cạnh tranh,doanh nghiệp cần chú trọng đảm bảo cả chất lượng và số lượng lao động,nâng cao tay nghề của người lao động
Năng lực tài chính của doanh nghiệp
- Năng lực tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở quy mô vốn, khảnăng huy động và sử dụng vốn có hiệu quả, năng lực quản lý tổ chức…
Trang 9trong doanh nghiệp Việc sử dụng vốn có hiệu quả, quay vòng vốn nhanh
…có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giảm chi phí vốn, giảm giá thành sảnphẩm
- Năng lực tài chính của doanh nghiệp phản ánh sức mạnh kinh tế củadoanh nghiệp, là yêu cầu đầu tiên bắt buộc các doanh nghiệp phải có nếumuốn doanh nghiệp thành công trong kinh doanh và nâng cao năng lựccạnh tranh Do vậy, để nâng cao năng lực tài chính, doanh nghiệp phảicủng cố và phát triển nguồn vốn, tăng vốn tự có, mở rộng vốn vay dướinhiều hình thức, phải sử dụng có nhiệu quả các nguồn vốn, hoạt động kinhdoanh có hiệu quả để tạo uy tín đối với khách hàng, ngân hàng và ngườicho vay
Năng lực marketing
Năng lực marketing của doanh nghiệp là khả năng nắm bắt nhu cầu thịtrường, khả năng thực hiện chiến lược 4P (giá, sản phẩm, phân phối và xúctiến) Khả năng marketing tác động trực tiếp đến sản xuất và tiêu thụ sảnphẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, góp phần tăng doanh thu, tăng thịphần, nâng cao vị thế doanh nghiệp
Năng lực nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp
Là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố cấu thành như năng lực nghiêncứu, thiết bị, tài chính, cho hoạt động nghiên cứu và phát triển Năng lựcnghiên cứu và phát triển có vai trò quan trọng trong việc cải tiến côngnghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, thay đổi mẫu mã Nghiên cứu và pháttriển là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng mạnh mẽ tới năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp
3.2 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp.
Thị trường
Thị trường là môi trường kinh doanh rất quan trọng của doanh nghiệp.Thị trường vừa là nơi tiêu thụ sản phẩm, tìm kiếm đầu vào thông qua hoạtđộng mua bán hàng hóa, dịch vụ đầu ra và các yếu tố đầu vào Thị trườngđồng thời còn là công cụ định hướng, hướng dẫn hoạt động của doanhnghiệp, thông qua mức cầu, giá cả, lợi nhuận…để đảm bảo hướng chiếnlược kế hoạch hóa kinh doanh Như vậy, sự ổn định của thị trường có ýnghĩa rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh doanh nghiệp nói chungvà nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng Điều quan trọng làtạo lập môi trường cạnh tranh tích cực, tăng sức ép đổi mới quản lý, cải tiến
Trang 10quá trình sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới đa dạng hóa sảnphẩm…tạo động lực doanh nghiệp vươn lên.
Thể chế, chính sách
Thể chế chính sách là tiền đề quan trọng cho hoạt động của doanhnghiệp Nội dung của thể chế , chính sách bao gồm các quy đinh của luậtpháp, các biện pháp hạn chế hay khuyến khích đầu tư kinh doanh đối vớihàng hóa, dịch vụ, ngành nghề… Thể chế, chính sách bao gồm pháp luật,chính sách về đầu tư tài chính, tiền tệ, đất đai, công nghệ, nghĩa là các biệnpháp điều tiết cả đầu vào và đầu ra cũng như toàn bộ quá trình hoạt độngcủa doanh nghiệp Do vậy đây là nhóm yếu tố quan trọng và bao quát nhiềuvấn đề liên quan tới hoạt động của doanh nghiệp nói chung và nâng cao sứccạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng
Kết cấu hạ tầng gồm hạ tầng vật chất- kỹ thuật và hạ tầng xã hội, baogồm hệ thống giao thông, mạng lưới điện, hệ thống thông tin, hệ thống giáodục đào tạo…đều ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh, tới năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp Doanh nghiệp ở khu vực có cơ sở hạ tầng pháttriển có dân cư đông đúc, trình độ dân trí cao, được chăm sóc sức khỏe đầysẽ có nhiều lợi thế cạnh tranh, bởi vậy mà nhiều doanh nghiệp FDI đềuthích dầu tư vào những vùng có hệ thống giao thông, thông tin phát triển vàtrình độ dân trí cao Và đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động bình thườngvà nâng cao năng lực cạnh tranh cần có hệ thống kết cấu hạ tầng đa dạng,chất lượng tốt Điều đó đòi hỏi sự đầu tư đúng mức để phát triển kết cấu hạtầng- xã hội
Trình độ nguồn nhân lựcTrình độ nguồn nhân lực của quốc gia nói chung có vai trò rất quantrọng đối với sự phát triển của các doanh nghiệp Trong nền sản xuất hiệnđại, đặc biệt là trong xu hướng chuyển sang nền kinh tế tri thức thì chấtlượng nguồn nhân lực quốc gia hay của một vùng lãnh thổ là một yếu tốđược quan tâm nhất Khi các doanh nghiệp lựa chọn đầu tư, trình độ, trìnhđộ và các điều kiện nguồn nhân lực thể hiện ở kỹ năng của nguồn nhân lực,mức lương, hệ thống lương, điều kiện làm việc, sức khỏe, an toàn, đầu tưcho đào tạo, vai trò công đoàn Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cầnchú trọng giai đoạn đào tạo, tạo điều kiện để các cơ sở đào tạo, các hoạtđộng đào tạo phát triển thông qua cơ chế chính sách và biện pháp khác củanhà nước
Trang 114 Hội nhập kinh tế quốc tế và yêu cầu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam
4.1 Hội nhập kinh tế quốc tế và những tác dộng đối với những
doanh nghiệp Việt Nam
4.1.1 Hội nhập kinh tế quốc tế là gì?
Hội nhập kinh tế quốc là sự gắn kết nền kinh tế của một nước vào cáctổ chức quốc tế khu vực toàn cầu trong đó các thành viên quan hệ với nhautheo những quy định chung
4.1.2 Sự cần thiết phải hội nhập
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế khách quan cảuthời đại, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, vừa thúc đẩy hợp tác,vừa tăng cường sức ép cạnh tranh và tùy thuộc lẫn nhau giữa các nền kinhtế
Việc hội nhập kinh tế quốc tế có ỹ nghĩa quan trọng đối với các nướcđang phát triển, nhất là đối với Việt Nam, khi xây dựng nền kinh tế thịtrường đinh hướng xã hội chủ nghĩa Tính đinh hướng xã hộ chủ nghĩa củanền kinh tế thị trường mà chúng ta đang theo đuổi thể hiện ở mục tiêu xâydựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ vàcông bằng xã hội, đồng thời phải đảm bảo được vai trò định hướng và điềutiết nền kinh tế của nhà nước xã hội chủ nghĩa
Nếu nói không sai, thì trên thực tế Việt Nam đã hội nhập kinh tế thếgiới từ lâu, nhưng vẫn ở trình độ thấp, sơ khai Hiện nay, tuy kinh tế ViệtNam tham gia vào AFTA, ASEAN nhưng sự tham gia đó vẫn dừng ở phạm
vi hẹp, hiện đại hóa đất nước trước yêu cầu của phát triển kinh tế thị trườngtheo đinh hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta không thể không đầy nhanh tốcđộ, quy mô hội nhập kinh tế quốc tế Bởi vậy, Nghị quyết Đại hội Đảng lầnthứ VIII, IX và X đều khẳng định phải “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinhtế khu vực và trên thế giới”, với quy mô rộng hơn và trình độ sâu hơn.Chỉ khi hội nhập kinh tế có hiệu quả thì chúng ta mới tạo ra được thếđứng mới trên thương trường quốc tế, mới hạn chế được những đối xửkhông công bằng Hiện nay Tổ chức thương mại thế giới WTO đã thaotúng tới 95% kim ngạch buôn bán thế giới, nhưng nếu chúng ta còn đứngngoài tổ chức này thì tất nhiên sẽ rất yếu trong giao thương
Trang 12Chỉ có hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả thì chúng ta mới tranh thủđược nguồn vốn, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến để đáp ứng với yêu cầu côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Chỉ có hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta mới mở rộng được thị trườngxuất nhập khẩu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm Mở cửahội nhập do đó, không chỉ là để các doanh nghiệp của ta vươn ra, mà cònđể các doanh nghiệp nước ngoài đi vào sản xuất và kinh doanh ỏ nước ta.Rõ ràng, hội nhập kinh tế quốc tế là nhu cầu nội sinh của bản thân nềnkinh tế nước ta, chứ không phải do chúng ta bị o ép, bị bắt buộc Thời cơđang đến, yêu cầu của chính bản thân đòi hỏi , không còn sự lựa chọn ưuviệt nào hơn Vấn đề đặt ra là chúng ta lựa chọn thế nào để vừa hội nhậpphát triển mà vẫn bảo toàn trọn vẹn độc lập tực chủ, vẫn hội nhập màkhông đánh mất truyền thống, hội nhập mà an ninh trật tự xã hội được bảođảm, hội nhập mà xã hội lành mạnh và phát triển
Chúng ta có nhiều lợi thế để bước vào hội nhập Nếu biết vận dụngđúng lợi thế, chúng ta có thể mạng về con người, về lao động với trí thôngminh, nhanh nhẹn, chăm chỉ, cần cù Đất nước ta nằm ở vị trí chiến lượctrong bản đồ phát triển kinh tế thế giới và khu vực Nằm ở vùng trung tâmcủa biển Thái Bình Dương, nơi hội tụ các luồng vận tải biển quốc tế, nơigiao thoa của các dòng chảy thương mại Âu – Á, Mỹ – Á, Đại Dương - Ávà Phi – Á Mặt khác tài nguyên của nước ta rất đa dạng, phong phú và trữlượng ở dạng tiềm năng lớn Do vậy xét trên tổng thể, nếu chúng ta vạch rađược một lộ trình hội nhập hợp lý và tổ chức thực hiện tốt lộ trình đó, tấtyếu những lợi thế trên sẽ được phát huy tối đa giúp ta có thể vượt qua khókhăn để tạo ra năng lực cạnh tranh trong hoàn cảnh mới, để từ đó có chỗđứng vững chắc trên thị trượng quốc tế
4.2 Cơ hội và thách thức trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Ngày nay, toàn cầu hóa đang là một trong những xu thế phát triển tấtyếu của quan hệ quốc tế hiện đại Đại diện cho xu thế toàn cầu hóa này làsự ra đời và phát triển của Tổ chứng Thương mại (WTO) Tham gia vào Tổchức thương mại thế giới, nước ta đang đứng trước những cơ hội lớn nhưsau:
Trang 13Một là, được tiếp cận thị trường hàng hóa và dịch vụ ở tất cả các nước
thành viên với mức thuế nhập khẩu đã được cắt giảm và các ngành dịch vụmà các nước mở cửa theo các Nghị định thư gia nhập của các nước này,không bị phân biệt đối xử Điều đó, tạo điều kiện cho chúng ta mở rộngxuất khẩu và trong tương lai- với sự lớn mạnh của doanh nghiệp và nềnkinh tế nước ta- mở rộng kinh doanh dịch vụ ra biên giới quốc gia Với mộtnền kinh tế có độ mở lớn như nền kinh tế nước ta, kim ngạch xuất khẩuluôn chiếm trên 60% GDP thì điều này là đặc biệt quan trọng, là yếu tố đểđảm bảo tăng trưởng
Hai là, với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế theo cơ chế thị
trường định hướng XHCN và thực hiện công khai minh bạch các thiết chếquản lý theo quy định của WTO, môi trường kinh doanh ngày càng đượccải thiện Đây là tiền đề rất quan trọng để không những phát huy tiềm năngcủa các thành phần kinh tế trong nước mà còn thu hút mạnh đầu tư nướcngoài, qua đó tiếp nhận vốn, công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý, thúcđẩy chuyển dịch cơ cấu lao động, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước, bảo đảm tốc độ tăng trưởng và rút ngắn khoảng cách phát triển
Ba là, gia nhập WTO, chúng ta có được những lợi thế bình đẳng như
các thành viên khác trong việc hoạch định chính sách thương mại toàn cầu,có cơ hội để đấu tranh nhằm thiết lập một trật tự kinh tế mới công bằnghơn, hợp lý hơn, có điều kiện để bảo vệ lợi ích của đất nước, của doanhnghiệp Đương nhiên kết quả đấu tranh còn tùy thuộc vào thế lực của ta,vào khả năng tập hợp lực lượng và năng lực quản lý của ta
Bốn là, mặc dù chủ trương của ta là chủ động đổi mới, cải cách thể chế
kinh tế ở trong nước để phát huy nội lực và hội nhập với bên ngoài nhưngchính việc gia nhập WTO, hội nhập với nền kinh tế thế giới cũng như tiếntrình cải cách trong nước, bảo đảm cho tiến trình cải cách của ta đồng bộhơn, có hiệu quả hơn
Năm là, cùng với những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử sau 20
năm đổi mới, việc gia nhập WTO sẽ nâng cao vị thế của ta trên trườngquốc tế, tạo điều kiện cho ta triển khai có hiệu quả đường lối đối ngoại theophương châm: VIỆT NAM mong muốn là bạn, là đối tác tin cậy của cácnước trong cộng đồng thế giới vì hòa bình, hợp tác và phát triển
Trang 14Trong khi nhận thức rõ những cơ hội có được do việc gia nhập WTOmang lại, cần thấy hết những thách thức mà chúng ta phải đối đầu, nhất làtrong điều kiện nước ta là một nước đang phát triển ở trình độ thấp, quản lýNhà nước còn yếu kém và bất cập, doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhâncòn nhỏ bé Những thách thức này bắt nguồn từ sự chênh lệch giữa nănglực nội sinh của đất nước với yêu cầu hội nhấp, từ những tác động tiêu cựctiềm tàng của chính quá trình hội nhập.
Một là, cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn, với nhiều đối thủ hơn, trên
bình diện rộng hơn, sâu hơn Đây là sự cạnh tranh giữa sản phẩm của ta vớisản phẩm của các nước khác, giữa doanh nghiệp nước ta với doanh nghiệpcác nước, không chỉ trên thị trường thế giới mà ngay trên thị trường nước ta
do thuế nhập khẩu phải cắt giảm từ mức trung bình 17.4% hiện nay xuốngmức trung bình 13.4% trong vòng 3-5 năm tới, nhiều mặt hàng còn giảmmạnh hơn
Cạnh tranh không chỉ diễn ra ở cấp độ sản phẩm với sản phẩm, doanhnghiệp với doanh nghiệp Cạnh tranh còn diễn ra giữa Nhà nước và Nhànước trong việc hoạch định chính sách quản lý và chiến lược phát triểnnhằm phát huy nội lực và thu hút đầu tư từ bên ngoài Chiến lược phát triểncó phát huy được lợi thế so sánh hay không, có thể hiện được khả năng “phản ánh vượt trước” trong một thế giới biến đổi nhanh chóng hay không?Chính sách quản lý có tạo được chi phí giao dịch xã hội thấp nhất chosản xuất kinh doanh hay không, có tạo dựng được môi trường kinh doanh,đầu tư thông thoáng, thuận lợi hay không?.vv Tổng hợp các yếu tố cạnhtranh trên đây sẽ tạo được sức cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế, sức cạnhtranh quốc gia
Hai là, trên thế giới, sự “ phân phối” lợi ích của toàn cầu hóa là không
đồng đều Những nước có nền kinh tế phát triển thấp được hưởng lợi íthơn Ở mỗi quốc gia, sự phân phối lợi ích cũng không đồng đều Một bộphận dân cư được hưởng lợi ít hơn, thậm chí còn bị tác động tiêu cực củatoàn cầu hóa, nguy cơ phá sản của một bộ phận doanh nghiệp và nguy cơthất nghiệp sẽ tăng lên, phân hóa giàu nghèo sẽ mạnh hơn Điều đó đòi hỏiphải có chính sách phúc lợi và an ninh xã hội đúng đắn, phải quán triệt vàthực hiện tốt chủ trương của Đảng: “ Tăng trưởng kinh tế đi đôi với xóa đói
Trang 15giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bướcphát triển”.
Ba là, hội nhập kinh tế trong một thế giới toàn cầu hóa, tính tùy thuộc
lẫn nhau giữa các nước sẽ tăng lên Sự biến động trên thị trường các nướcsẽ tác động mạnh đến thị trường trong nước, đòi hỏi chúng ta phải có chínhsách kinh tế vĩ mô đúng đắn, có năng lực dự báo và phân tích tình hình, cơchế quản lý phải tạo cơ sở để nền kinh tế phải có khả năng phản ứng tíchcực, hạn chế được ảnh hưởng tiêu cực trước những biến động trên thịtrường thế giới Trong điều kiện tiềm lực đất nước có hạn, hệ thống phápluật chưa hoàn thiện, kinh nghiệm vận hành nền kinh tế thị trường chưanhiều thì đây là khó khăn không nhỏ, đòi hỏi chúng ta phải vươn lên mạnhmẽ
Bốn là, hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra những vấn đề mới trong việc
bảo vệ môi trường, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa vàtruyền thống tốt đẹp của dân tộc, chống lại lối sống thực dụng, chạy theođồng tiền
Như vậy, việc gia nhập WTO, hội nhập kinh tế quốc tế vừa có cơ hộilớn, vừa phải đối đầu với những thách thức không nhỏ Cơ hội tự nó khôngbiến thành lực lượng vật chất trên thị trường mà phụ thuộc vào khả năngtận dụng cơ hội của chúng ta Thách thức tuy là sức ép trực tiếp nhưng tácđộng của nó đến đâu còn tùy thuộc vào nỗ lực vươn lên của chúng ta
Cơ hội và thách thức không phải “ nhất thành bất biến” mà luôn vậnđộng, chuyển hóa và thách thức đối với ngành này có thể là cơ hội chongành khác phát triển Tận dụng cơ hội sẽ tạo ra thế và lực mới để vượt quavà đẩy lùi thách thức, tạo ra cơ hội mới lớn hơn Ngược lại, không tận dụngđược cơ hội, thách thức sẽ lấn át, cơ hội sẽ mất đi, thách thức sẽ chuyểnthành những khó khăn dài hạn rất khó khắc phục Ở đây, nhân tố chủ quan,nội lực của đất nước, tinh thần tự lực tự cường của toàn dân tộc là quyếtđịnh nhất
Trang 16CHƯƠNG II THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH
NGHIỆP VIỆT NAM
1 Thực trạng của doanh nghiệp Việt Nam
1.1 Số lượng, quy mô và ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp
Số lượng doanh nghiệp tăng nhanh và ngày càng chiếmvị trí quan trọng hơn trong nền kinh tế
Theo tổng cục thống kê, số lượng doanh nghiệp thực tế đang hoạtđộng trong cả nước theo loại hình doanh nghiệp trong những năm gần đâytăng nhanh Chỉ tính đến các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có tư cáchpháp nhân đang hoạt động ( không tính các chi nhánh doanh nghiệp, cácdoanh nghiệp đã cấp phép nhưng chưa đi vào hoạt động, các doanh nghiệpđã giải thể, phá sản) có đến ngày 31/12 hàng năm như bảng sau:
Bảng 1: Số doanh nghiệp thực tế hoạt động trong cả nước
- Kết quả tổng điều tra sơ bộ từ năm 2002 đến nay cho thấy, trong 5năm qua số cơ sở sản xuất kinh doanh đã lên tới 3.935.078, tăng 44.7% Sốlượng các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc doanh nghiệp là 182.888, tăng83.4% đáng chú ý là sau 5 năm, số lượng các cơ sở sản xuất kinh doanhthuộc DNNN đã giảm 12.3%, số lao động giảm 8.3% trong khi các cơ sởsản xuất kinh doanh thuộc doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng mạnh so vớicác số liệu tương ứng là 140.3% và 166.3%; các doanh nghiệp có vốn FDIđạt 7075, tăng 98.3% thu hút thêm 1 triệu lao động
- Về loại hình doanh nghiệp, lao động, vốn như bảng 2 dưới đây Nếuxét về số lượng doanh nghiệp,DNTN và Cty TNHH chiếm tỷ trọng lớnnhất với 77.3% cả 2 loại; xét về lao động, DNNN và Cty TNHH, doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thu hút nhiều lao động nhất, chiếm tỷtrọng tương ứng là 32.7%, 25.6%, 19.6% Xét về vốn và tài sản, doanhnghiệp có vốn nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn nhất tương ứng là 54.1% và19.7%
- Theo báo cáo từ các Sở Kế Hoạch và Đầu tư, trong năm 2007,cảnước có trên 58.916 doanh nghiệp đăng kí thành lập mới với số vốn đăng kíhơn 494 ngàn tỷ đồng, trong đó có 10.013 DNTN, 25.756 Cty TNHH 2thành viên trở lên, 14.733 CTCP, 8.404 Cty TNHH 1 thành viên Như vậy,
Trang 17trong 8 năm 2000-2007, toàn quốc có 265.950 doanh nghiệp đăng ký kinhdoanh, tổng số vốn đăng kí gần 970 ngàn tỷ đồng.
Bảng 2: số lượng doanh nghiệp đăng kí kinh doanh giai đoạn 2000-2007
Năm nghiệp Số doanh Vốn đăng kí (tỷ đồng)
Vốn trung bình 1 doanh nghiệp (triệu
đồng) Trước
Nguồn: Bộ kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê 2007
Số lượng các DNNVV được thành lập ngày càng đông, chỉ trong vòng
5 năm trở lại đây kể từ khi Luật Doanh nghiệp được ban hành, đã có trên200.000 doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ được thành lập và trong giaiđoạn 2006-2010 theo kế hoạch phát triển DNNVV được Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt sẽ có khoảng 320.000 doanh nghiệp có quy mô tương tự rađời
Quy mô của doanh nghiệp còn nhỏ, trình độ kỹ thuật và công nghệthấp
Cũng theo kết quả cuộc điều tra nói trên thì năm 2005, số DNNVVchiếm tới 96.81% tổng số doanh nghiệp của cả nước( theo tiêu chí: có từ
300 lao động trở xuống và vốn dưới 10 tỷ đồng là thuộc DNNVV) Trongđó số doanh nghiệp có dưới 10 lao động chiếm tới 51.3% tổng số và sốdoanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng chiếm 41.8% Bình quân 1 doanhnghiệp chỉ có 55 lao động và 23.7% tỷ đồng vốn, trong đó DNNN là 499lao động và 355 tỷ đồng; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 330 laođộng và gần 100 tỷ đồng Tỷ trọng doanh nghiệp nhỏ theo vốn khá ổn định,trong khi đó, tỷ trọng doanh nghiệp nhỏ theo lao động lại có xu hướng tănglên
Trang 18Quy mô doanh nghiệp cũng có sự khác biệt theo loại hình doanhnghiệp Theo kết quả điều tra của Tổng cục thống kê, năm 2005 cả nước có64.4% DNNN, 98.7% HTX, 99.6%DNTN, 98.4% công ty TNHH, 95.7%CTCP có quy mô nhỏ và vừa Như vậy, phần lớn các doanh nghiệp ngoàiquốc doanh có quy mô nhỏ và vừa.
Nhìn chung, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam có quy mô vốn vàlao động rất hạn chế Đây là một bất lợi khi nền kinh tế hội nhập sâu hơnvào khu vực quốc tế
Trình độ kỹ thuật, công nghệ được xem xét qua việc trang bị tài sản cốđịnh của doanh nghiệp cũng ở mức khá thấp Năm 2005, bình quân 1 laođộng chỉ đạt 152.7 triệu đồng giá trị tài sản cố định và đầu tư dài hạn, trongđó DNNN là 66 triệu đồng, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 221triệu đồng Số doanh nghiệp có giá trị tài sản cố định dưới 5 tỷ đồng chiếmtới 86% tổng số doanh nghiệp
Về ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp
Xét theo số lượng doanh nghiệp, có tới 81.7% doanh nghiệp tập trungvào 5 ngành trong tổng số 21 ngành của cả nước: thương mại (39.3%);công nghiệp chế biến (22.9%); xây dựng (13.4%); kinh doanh tài sản vàvận tải(6.7%)
Xét theo số lao động, các doanh nghiệp tập trung vào 5 ngành: côngnghệ chế biến( 50.1%); xây dựng( 16.3%); tài chính(12.7%); thươngnghiệp(10.3%); vận tải(7.4%)
Xét theo vốn kinh doanh, các doanh nghiệp tập trung vào: tài tín dụng(33.8%); công nghệ chế biến(25%); thương nghiệp (10.3%); xâydựng(8.2%); vận tải(6%)
chính-Xét theo vốn cố định, có 5 ngành hàng đầu: công nghệ chế biến, điện,tài chính, vận tải, công nghệ khai thác
Nhìn chung, các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động chủ yếu trongnghành nghề truyền thống Tỷ trọng doanh nghiệp hoạt động trong ngành,lĩnh vực hiện đại chưa có nhiều Đó chính là sự lạc hậu trong cơ cấu ngànhcủa các doanh nghiệp Việt Nam
Trang 191.2 Số lượng về vốn, lao động của các doanh nghiệp Việt Nam
Lao động và vốn là những đầu vào rất quan trọng của doanh nghiệp, làchỉ tiêu thực hiện quy mô, năng lực kinh doanh của doanh nghiệp
Về nguồn vốn: Nguồn vốn gồm vốn chủ sở hữu và vốn cho vay Tổngnguồn vốn sản xuất kinh doanh là 50.112 tỷ đồng, tăng 21.7% so với cuốinăm 2006, bình quân từ 2004-2006 tăng 25.6%/năm Tỷ lệ vốn chủ sở hữukhông cao, có xu hướng giảm Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp tăngsử dụng vốn vay, đó là xu hướng bình thường trong nền kinh tế thị trường.Khi các doanh nghiệp hoạt động chủ yếu dựa vào vốn vay thì rủi ro cao,phải trả lãi suất ngân hàng, do đó các doanh nghiệp có nguy cơ lệ thuộc vào
mô trường bên ngoài
Về lao động: số lao động trong các doanh nghiệp tăng nhanh Năm2004: 5.426.485 người, đến năm 2005: 6.243.540 người và đến năm 2006là 6.722.224 người, tốc độ tăng bình quân là 12.8%/năm Lao động bìnhquân 1 doanh nghiệp khá thấp Năm 2005 là 55 người/DN; năm 2006 là51.18 người/ DN Ngoài ra, số lao động trong doanh nghiệp hiện nay chiếmtỷ trọng chưa cao trong tổng số lực lượng lao động cả nước khoảng 35 triệungười
1.3 Một số kết quả hoạt động
Kết quả hoạt động của doanh nghiệp thể hiện trong chỉ tiêu cơ bản củadoanh nghiệp: doanh thu thuần, lợi nhuận, nộp ngân sách Nhà nước Tuynhiên, doanh thu bình quân 1 doanh nghiệp khá thấp: 19 tỷ/ DN Điều đóthể hiện năng lực sản xuất của các doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế.Nộp ngân sách gồm thuế và các khoản phải nộp khác Tổng số nộp ngânsách Nhà nước của doanh nghiệp năm 2004 là 138.709 tỷ đồng; năm 2005là 158.659 tỷ đồng và đến năm 2006 là 192.709 tỷ đồng với mức bình quânlà 9.6%/ năm( chưa tính yếu tố lạm phát), bình quân 1 doanh nghiệp nộpngân sách từ 1.7-2.2 tỷ đồng
Nhìn tổng thể, các kết quả đạt được của các doanh nghiệp là kháchquan và có xu hướng tích cực, mức tăng trưởng các chỉ tiêu cơ bản là khácao Tuy nhiên, các chỉ số bình quân trên 1 doanh nghiệp lại khá thấp phảnánh năng lực và hiệu quả của doanh nghiệp chưa cao
Trang 202. Thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam
2.1 Thực trạng các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
2.1.1 Tình hình thực hiện các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam
Thị phần và năng lực chiếm lĩnh thị phần
Thị phần là một trong những chỉ tiêu quan trọng hàng đầu của nănglực cạnh tranh của doanh nghiệp Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốctế, thị phần và năng lực chiếm lĩnh thị phần trong nước, quốc tế của nhiềudoanh nghiệp Việt Nam đã tăng lên rất lớn
Trên thị trường nội địa, 1 số ít thương hiệu nổi tiếng như: Cao su SaoVàng, Casumina… đã cạnh tranh thắng lợi đối với hàng Trung Quốc vàchiếm 70% thị phần trong nước Sản phẩm động cơ nhỏ, nhựa, bánh kẹo,bia, pin… của doanh nghiệp đã chiếm lĩnh gần như hoàn toàn thị trườngtrong nước
Trên thị trường quốc tế, Việt Nam có quan hệ thương mại với >160nước trên thế giới Hàng hóa đã thâm nhập vào các thị trường khó tính nhưMỹ, EU, Đức, Nhật Bản… Tuy nhiên, đến nay, kim ngạch xuất khẩu củaViệt Nam còn nhỏ bé so với khu vực và trên thế giới Kim ngạch xuất khẩuhàng hóa đã tăng từ 2.4 tỷ USD trong năm 1990 lên đến 5.4 tỷ USD năm1995,lên gần 14.5 tỷ USD năm 2000, lên gần 32.5 tỷ USD năm 2005, lêntrên 39.8 tỷ USD trong năm 2006 và 47.5 tỷ USD trong năm 2007
Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam còn hạn chế, xuất khẩu sảnphẩm thô, sản phẩm sơ chế và nguyên vật liệu thô chiếm tỷ trọng lớn Cácmặt hàng đòi hỏi công nghệ phức tạp hơn như điện tử, phụ tùng, dây điện,cáp điện chỉ chiếm 6-7% Thị phần hàng xuất khẩu của doanh nghiệp ViệtNam tại 1 số thị trường còn nhỏ bé Số doanh nghiệp có khả năng xuấtkhẩu của Việt Nam còn ít Các doanh nghiệp trong nước chiếm tỷ trọng lớntrong nền kinh tế cả về số lượng và quy mô nhưng chỉ tạo ra 49.6% tổnggiá trị kim ngạch xuất khẩu và chủ yếu tập trung ở các ngành có công nghệthấp
Từ đó, có thể thấy, thị phần và năng lực chiếm lĩnh thị phần của doanhnghiệp Việt Nam còn thấp, điều đó phản ánh khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp Việt Nam còn thấp Nguyên nhân là do:
Trang 21- Do sản phẩm của hầu hết các doanh nghiệp đều có giá thành cao,chất lượng không ổn định, mẫu mã chủng loại nghèo nàn, bao bì kém hấpdẫn, khả năng giao hàng không chắc chắn.
- Chiến lược thị trường thiếu chủ động ở tầm vĩ mô và doanh nghiệpthiếu tầm nhìn dài hạn, chủ yếu chỉ là sự thích ứng và thay đổi đột biến củatình hình
- Môi trường kinh doanh trong và ngoài nước có nhiều biến động, bộmáy quản lý của Nhà nước và doanh nghiệp khá thụ động và trì trệ, khôngthích ứng kịp
Nguyên nhân từ phía các doanh nghiệp
- Chưa chú trọng đúng mức hoạt động nghiên cứu thị trường, đội ngũcán bộ Marketing còn hạn chế
- Thiếu hiểu biết, chậm ứng biến với những thay đổi của chính sách,quyết định của nước ngoài
- Các doanh nghiệp đầu tư cho hoạt động nghiên cứu thị trường chưanhiều Kênh phân phối của sản phẩm trên thị trường quốc tế của doanhnghiệp chủ yếu mới trực tiếp đến nhà nhỏ lẻ ở thị trường cuối cùng, chưaxây dựng được mạng lưới phân phối đến tận người tiêu dùng Vì vậy,doanh nghiệp không kiểm soát được quá trình phân phối và tiêu thụ sảnphẩm
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là một chỉ tiêu cơ bản của năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp Sản xuất ra sản phẩm có khả năng cạnh tranhvừa là mục tiêu trung gian của doanh nghiệp, vừa là để chiếm lĩnh thịtrường, nâng cao cạnh tranh của sản phẩm thể hiện qua giá cả, chất lượngvà thương hiệu Thực tế, năng lực cạnh tranh của sản phẩm của các doanhnghiệp Việt Nam cho thấy: giá thành sản phẩm của các doanh nghiệp trongnhững năm gần đây có nhiều cải thiện Các sản phẩm Việt Nam có khảnăng cạnh tranh được hiện nay thì hoặc là dựa vào lợi thế tài nguyên hoặcdựa vào lợi thế giá cả Thực tế các vụ kiện bán phá giá của Việt Nam vàocác nước như: gạo Việt Nam vào Colombia(1994), giày dép và mì chínhvào EU(1998), tôm Mỹ(2003) Cho thấy giá cả hàng hóa Việt Nam thấphơn nhiều so với các nước khác
Trang 22Bảng số liệu 3: trị giá xuất khẩu hàng hóa phân theo khu vực kinh tế
theo nhóm hàng của Việt Nam
Nguồn: Tổng cục Thống kê niên giám Thống kê 2007
Chất lượng hàng hóa đa dạng hơn, mẫu mã kiểu dáng đẹp hơn Rấtnhiều sản phẩm Việt Nam giành được chỗ đứng trên thị trường nội địa nhưVăn phòng phẩm, bánh kẹo, bia rượu, nước giải khát… Một số sản phẩmcó chất lượng cao và được người tiêu dùng ưa chuộng đến mức bị đánh cắpthương hiệu ở nước ngoài, một số sản phẩm của doanh nghiệp Việt Namđược chứng nhận quốc tế: Năm 2005, công ty Vàng bạc đá quý Bảo Tín-Minh Châu và công ty gạch ốp lát Thái Bình đã nhận giải thưởng quốc tếvề chất lượng do tổ chức Định hướng sáng kiến doanh nghiệp( BID) có trụsở ở Madrit(TBN) tặng Tuy vậy, những sản phẩm như vậy chưa nhiều,hiện có rất ít sản phẩm Việt Nam thực sự có ưu thế
Năng suất các yếu tố
Năng suất các yếu tố sản xuất thể hiện ở hiệu quả sử dụng các nguồnvốn, sử dụng tài sản cố định
Trang 23Bảng 4: Mức độ trang bị vốn trung bình của doanh nghiệp nhỏ và vừa
năm 2005
Chỉ tiêu Tổng số DNvừa và nhỏ
DN vừa và nhỏ theo khu vực kinh tế
DN Nhà
nước
DN ngoàiquốc doanh
DN có vốnđầu tư nướcngoài
Tổng số vốn (tỷ
Vốn/doanh
Tài sản cố
Nguồn: theo số liệu của Tổng cục Thống kê 2006
Trong toàn bộ DNNVV cả nước, hệ số trang bị tài sản cố định cho mộtlao động là 209,2 triệu đồng Hệ số trạng bị vốn cố định của các doanhnghiệp quy mô nhỏ và vừa khu vực Nhà nước là 139,6 triệu đồng Như vậy,mức trang bị tài sản cố định cho một lao động trong các doanh nghiệpngoài quốc doanh là khá thấp Điều đó cho thấy, các doanh nghiệp nhỏ vàvừa khu vực ngoài quốc doanh vẫn chủ yếu dựa trên lao động, trang thiết bịvốn thấp, năng lực hạn chế Các doanh nghiệp trong nước chủ yếu kinhdoanh bằng vốn lưu động và đầu tư ngắn hạn, vay vốn ngắn hạn để đầu tưdài hạn
Khả năng thu hút nguồn nhân lực
Theo nhận xét chung của các chuyên gia, hầu hết các doanh nghiệpViệt Nam còn yếu 6M( thiếu vốn, công nghệ lạc hậu, chi phí nguyên vậtliệu cao, trình độ lao động thấp, năng lực quản lý còn hạn chế, khả năngtiếp cận thị trường còn nhiều bất cập)
Bất cập đầu tiên là ở chỗ quy mô vốn còn quá nhỏ bé, khả năng huyđộng nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh còn hạn chế Theo mộtcuộc điều tra cảu Cục phát triển DNNVV( Bộ Kế hoạch và Đầu tư) với hơn