Giáo viên mầm non được xem là người thầyđầu tiên đặt nền móng cho việc đào tạo nhân cách con người mới cho xã hội chủnghĩa tùy theo độ tuổi mà giáo dục khác nhau tuổi mầm non trẻ mới bắt
Trang 17 2.1.Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 3
9 2.3 Các biện pháp thực hiện sáng kiến kinh nghiệm 7
10 2.4.Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm 16
Trang 21.Mở đầu
1.1 Lý do chọn đề tài:
Trong thực tế chúng ta đã biết nhiệm vụ giáo dục mầm non là khâu đầu tiêncủa hệ thống giáo dục quốc dân Giáo viên mầm non được xem là người thầyđầu tiên đặt nền móng cho việc đào tạo nhân cách con người mới cho xã hội chủnghĩa tùy theo độ tuổi mà giáo dục khác nhau tuổi mầm non trẻ mới bắt đầutrong quá trình học nói chính vì vậy mà cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ đặc biệt
là dân tộc thiểu số là vô cùng quan trọng bởi vì các cháu dân tộc thiểu số thườnghay dùng tiếng mẹ đẻ, nên khó khăn trong việc tiếp nhận Tiếng Việt dẫn đếncháu khó tiếp thu lời giảng của cô bằng ngôn ngữ Tiếng Việt, hay còn gọi cáchkhác là tiếng phổ thông
Chính vì vậy việc cung cấp Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số là vấn đềcần quan tâm nhằm hình thành kỹ năng cần thiết cho việc học Tiếng Việt ở cácbậc học theo ý nghĩa đặc biệt quan trọng Ngôn ngữ Tiếng Việt của trẻ dân tộcphát triển tốt sẽ giúp cho trẻ nhận thức và giao tiếp tốt Việc phát triển ngôn ngữTiếng Việt cho trẻ trong giao tiếp sẽ giúp trẻ dễ dàng tiếp cận với các môn họchàng ngày trên lớp
Như chúng ta đã biết ngôn ngữ là thứ công cụ thiết yếu để trẻ giao tiếp, đểliên hệ với người khác qua giao lưu trao đổi ngôn ngữ, để diễn đạt ý kiến, bày tỏtình cảm của mình….vv Ngôn ngữ còn là công cụ, là sản phẩm của hoạt độngtrí óc khi suy nghĩ, tưởng tượng, sáng tạo Ngoài những hình ảnh “ chụp ” được
từ các sự vật hiện tượng xung quanh người ta còn phải tự nói thầm, trong nhữngtrường hợp đó ngôn ngữ được phát ra thành lời nói để diễn đạt những suy nghĩcủa mình Nhưng những âm, những tiếng của câu nói phát ra có chuẩn xác haykhông ta còn phải rèn luyện kỹ năng nói chuẩn xác Tiếng Việt cho trẻ, ngay từtrường Mầm non để cung cấp thêm vốn từ cho trẻ
Ngôn ngữ càng phong phú thì việc hoà nhập với cuộc sống xã hội cũng nhưviệc học hành nghiên cứu diễn ra càng thuận lợi hơn Việc sử dụng ngôn ngữ đểtrao đổi được thực hiện trong xuốt quá trình học tập và đời sống sinh hoạt hàngngày
Năm học 2017-2018 nhà trường phân công tôi đứng lớp 4-5 tuổi với 100%trẻ là người dân tộc thiểu số (dân tộc mường) khả năng giao tiếp và sử dụngTiếng Việt của trẻ còn hạn chế, môi trường Tiếng Việt của trẻ chỉ thu gọn trongtrường lớp mầm non vì vậy để chuẩn bị tốt khả năng sử dụng Tiếng Việt cho trẻgiúp trẻ phát âm thành thạo lưu loát thì cần chuẩn bị tốt Tiếng Việt ban đầu chotrẻ bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau phù hợp với đặc điểm tâmsinh lý của trẻ, phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo ở trẻ bằng cácphương pháp giáo dục như: Qua trò chuyện, quan sát đàm thoại, kể chuyện, đọccho trẻ nghe, qua dạo chơi ngoài, qua chơi hoạt động góc, qua hoạt động vuichơi mọi lúc mọi nơi giúp trẻ học tập có hiệu quả thông qua các thủ thuật lôicuốn, gây hứng thú trẻ, lôi cuốn trẻ đảm bảo cho trẻ tự tin không lo lắng khi họcTiếng Việt
Trang 3Chuẩn bị Tiếng Việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu số là một vấn đề rất thiếtthực trong giảng dạy trẻ mầm non vùng dân tộc thiểu số hiện nay nói chung vàlớp mẫu giáo 4-5 tuổi (Thôn Muốt) Trường Mầm Non Cẩm Thành nói riêng.Chính vì vậy muốn nâng cao khả năng nhận thức cho trẻ cần phải chuẩn bị tốtTiếng Việt cho trẻ ngay từ lứa tuổi mầm non.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc chuẩn bị Tiếng Việt cho trẻ dântộc thiểu số 4-5 tuổi có nguồn Tiếng Việt tốt để bước vào lớp lớn và các lớp học
sau này tôi đã lựa chọn đề tài: “ Một số biện pháp tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số 4-5 tuổi”
1.2 Mục đích nghên cứu:
Bản thân nghiên cứu đề tài này với mục đích tăng cường Tiếng Việt chotrẻ dân tộc thiểu số Việc làm hết sức cần thiết, tưởng chừng như rất dễ nhưngthực tế lại rất khó, mà nó đòi hỏi cả một quá trình, phải có sự kiên trì của cả giáoviên và trẻ Dạy trẻ làm quen với Tiếng Việt là dạy cái gì? dạy như thế nào? Trẻlàm quen với Tiếng Việt với tư cách là bộ môn khoa học hay với tư cách là mộtcông cụ, một phương tiện giao tiếp Cách trả lời những câu hỏi trên sẽ liên quantới việc lựa chọn nội dung, phương pháp cho trẻ dân tộc tiếp cận, làm quen dầnvới Tiếng Việt
Bởi việc dạy trẻ biết nói Tiếng Việt là nội dung hết sức quan trọng trongnội dung giáo dục mầm non Phát triển ngôn ngữ là một trong 5 lĩnh vực củagiáo dục: phát triển thể chất, phát triển quan hệ tình cảm xã hội, phát triển nhậnthức, phát triển thẩm mỹ và phát triển ngôn ngữ Vì vậy từ khi trẻ học ở trườngmầm non giáo viên phải có nhiệm vụ xây dựng vốn ngôn ngữ ban đầu cho trẻ Tôi nhận thức rõ sự khác nhau về khả năng diễn đạt ngôn ngữ giữa trẻ nàyvới trẻ khác để khi rèn luyện ngôn ngữ cho trẻ dân tộc đạt kết quả tốt nhất, tậpcho trẻ nói đúng Tiếng Việt giáo viên phải có những phương pháp phù hợp vớitừng độ tuổi, từng trường, từng vùng địa phương Khi nghiên cứu đề tài này tôithực sự muốn trao dồi về ngôn ngữ và khả năng nói Tiếng Việt thành thạo, lưuloát cho trẻ để giúp trẻ phát triển toàn diện
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Tổng hợp một số biện pháp tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số4-5 tuổi Nhằm tăng cường nguồn Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số, để trẻ cóthể học tập và giao lưu, giao tiếp hằng ngày lưu loát bằng Tiếng Việt thứ tiếngchung của quốc gia
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: Phương pháp này bảnthân đã dựa vào tài liệu tham khảo để làm cơ sở lý thuyết để nghiên cứu
Phương pháp điều tra khảo sát thực tế: Khi nghiên cứu đề tài này bản thân
đã điều tra và khảo sát thực tế về đối tượng trẻ và thực tế lớp đang trực tiếpgiảng dạy
Trang 4Phương pháp thu thập thông tin: Đối với phương pháp này bản thân đã thuthập mọi thông tin, có liên quan đến nội dung đề tài như tài liệu nghiên cứu,trông tin về lớp, về trẻ, về các hoạt động trong của trẻ
Phương pháp thống kê: Từ những phương pháp trên tôi đã thống kê và mô
tả lại thực trạng, đưa ra hướng giải quyết vấn đề trong qua trình nghiên cứu
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
Ngày 2 tháng 6 năm 2016, Thủ tướng chính phủ phê duyệt quyết định số1008/QĐ-TTg về đề ắn tăng cường Tiếng Việt cho trẻ mầm non và học sinh tiểuhọc vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020, định hướng đến 2025” Thựchiện Quyết định số 1682/QĐ-UBND ngày 23/5/2017 của Chủ tịch UBND tỉnhphê duyệt Kế hoạch thực hiện Đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non,học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020, định hướng đến2025” Phòng Giáo dục đã tham mưu QĐ số 900 ngày 22 tháng 06 năm 2016kèm theo kế hoạch thực hiện giai đoạn 2016-2020, định hướng đến 2025” đếntừng địa phương để thực hiện và nhà trường đã cụ thể hóa QĐ theo giai đoạn vàtừng năm học cụ thể tại nhà trường
Qua quá trình nghiên cứu về ngôn ngữ của trẻ dân tộc thiểu số, cho thấyviệc làm quen Tiếng Việt và chuẩn bị Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số có tácđộng rất lớn đối với sự phát triển toàn diện nhân cách trẻ sau này
Việc học Tiếng Việt của trẻ dân tộc thiểu số phụ thuộc rất nhiều vào giáoviên, vì trong mỗi chủ đề chủ điểm giáo viên sẽ dạy trẻ cái gì và cần dạy như thếnào để trẻ dễ hiểu, dễ nhớ, hứng thú tham gia vào các hoạt động, phát huy đượctính tích cực chủ động sáng tạo ở trẻ
Ngôn ngữ cho trẻ giao tiếp là một chủ thể tích cực, là tiền đề để trẻ tích cựcgiao tiếp với bạn bè và chủ động trong giao tiếp Trong cuộc sống hằng ngày,con người sử dụng lời nói để trò chuyện, đàm thoại, thảo luận, trình bày hiểubiết suy nghĩ, giải thích vấn đề nào đó trong cuộc sống như: Kể lại được sự việc,câu chuyện đã đươc nghe, được chứng kiến, hay tự mình nghĩ ra, sáng tạo ra.Trẻ cần tập nghe, hiểu lời nói của cô của những người của những người xungquanh Sau đó tập trình bày suy nghĩ và sự hiểu biết của mình theo ngôn ngữTiếng Việt
Muốn phát triển kỹ năng, hiểu và nói được ngôn ngữ Tiếng Việt theo cô,trước hết phải cuốn hút trẻ tham gia vào hoạt động phát triển ngôn ngữ qua tròchuyện, đàm thoại, kể chuyện, đọc cho trẻ nghe, qua chơi hoạt động góc, chơingoài trời, hoạt động vui chơi mọi lúc, mọi nơi Là vô cùng quan trọng nhưnghình thành như thế nào đây mới thật là điều không phải dễ
Trẻ em mẫu giáo dân tộc thiểu bắt đầu học Tiếng Việt trên cơ sở kinhnghiệm tiếng mẹ đẻ không phải là Tiếng Việt Môi trường giáo tiếp Tiếng Việtcho trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số thu hẹp cả về mặt không gian lẫn thời gian
Trang 5(trong phạm vi trường lớp mầm non) Việc học Tiếng Việt của trẻ mẫu giáo dântộc thiểu số chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ thứ nhất là sự giáo thoa ngôn ngữgiữa tiếng mẹ đẻ với Tiếng Việt
Sự khác biệt về văn hóa giữa các dân tộc, trong đó có khía cạnh ngôn ngữ cũngảnh hưởng tới việc học Tiếng Việt của trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số Sự khác biệt
về điều kiện sống của các dân tộc thiểu số có tác động nhất định đối với việc họcTiếng Việt của trẻ em mẫu giáo dân tộc thiểu số
Một số dân tộc sống ở khu vực gần nơi có nhiều người Kinh sinh sống,Tiếng Việt trở thành ngôn ngữ giao tiếp chung giữa các dân tộc trong cộng đồng
đó nên việc học Tiếng Việt của trẻ có nhiều thuận lợi Một số dân tộc sống ởvùng sâu, điều kiện sống tách biệt, hoặc khu vực chỉ có một dân tộc thuần túy,không có nhu cầu giao tiếp giữa các dân tộc với nhau và Tiếng Việt không phải
là ngôn ngữ giao tiếp chung trong cộng đồng, chỉ sử dụng tiếng mẹ đẻ để giaotiếp nên trẻ em ở môi trường này chỉ có duy nhất kinh nghiệm ngôn ngữ trongphạm vi tiếng mẹ đẻ
Ngoài ra, do đời sống kinh tế còn khó khăn, đại bộ phận các gia đình đồngbào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa còn thiếu các phương tiện thông tinnhư máy thu thanh, vô tuyến truyền hình, sách báo trình độ văn hóa của cácbậc cha mẹ còn thấp, một bộ phận không biết đọc, biết viết nên khi ở nhà trẻ em
ít có cơ hội giao tiếp với những người thân trong gia đình và cộng đồng bằngTiếng Việt Phần lớn trẻ em dân tộc thiểu số trước khi tới trường, lớp mầm nonđều sống trong môi trường tiếng mẹ đẻ không phải là Tiếng Việt, ít có môitrường giao tiếp bằng Tiếng Việt
Khi đến trường, trẻ em thích trao đổi với nhau bằng tiếng mẹ đẻ và có thóiquen giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ trong hoạt động chơi, trò chuyện hàng ngày vàthậm chí ngay cả trong môi trường học tập Do đó, trẻ em dân tộc thiểu số sẽkhông có vốn Tiếng Việt ban đầu cần thiết để học tập bằng Tiếng Việt ở trườngphổ thông nếu không được chuẩn bị Tiếng Việt
Tiếng Việt rất qua trọng đối với người dân Việt Nam Đặc biệt đối với trẻdân tộc thiểu số Song thực tế hiện nay đa số trẻ vúng sâu, vùng xa, vùng dân tộcthiểu số, trước khi đến trường chỉ sống trong gia đình, ở trong thôn bản nhỏtrong môi trường tiếng mẹ đẻ do vậy trẻ chỉ nắm được tiếng mẹ đẻ ở dạng khẩungữ, trẻ biết rất ít hoặc thậm chí không biết Tiếng Việt và cơ sở giáo dục khác
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.2.1.Thuận lợi
Được sự quan tâm của sở giáo dục và phòng giáo dục tổ chức lớp tập huấnchuyên đề “ Hướng dẫn tăng cường Tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu
số trong cơ sở giáo dục mầm non”
Dưới sự quan tâm giúp đỡ của ban giám hiệu nhà trường về chuyên môn,xây dựng phương pháp đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục mầm nontạo mọi điều kiện giúp tôi những tài liệu dạy học, nguyên vật liệu làm đồ dùng,
đồ chơi dạy học
Trang 6Được sự quan tâm của lãnh đạo địa phương đến giáo dục mầm non đã từngbước chăm lo cho cơ sở vật chất nhà trường, cho lớp học tai địa phương.
Được sự ủng hộ từ phụ huynh nhận thức được tầm quan trọng của bậc họcmầm non nên luôn quan tâm đến việc chăm sóc giáo dục trẻ Đã quan tâm trongviệc phối hợp với nhà trường, giáo viên để chăm sóc con em mình Luôn giúp
đỡ tạo điều kiện để hỗ trợ cô giáo như: Ủng hộ cao các khoản đóng góp xã hộihóa giáo dục; tham gia làm đồ chơi cùng; sưu tầm đóng góp phế liệu để làm đồdùng đồ chơi như: vải vụn, bông , chai lọ… để làm đồ chơi phục vụ cho mônhọc từ đó quá trình phát triển ngôn ngữ của được nâng lên
Đặc điểm của lớp tôi được phân công phụ trách:
Lớp mẫu giáo 4-5 tuổi của tôi phụ trách tại thôn Muốt xã Cẩm thành Thuộcđiểm lẻ của trường mầm non Cẩm Thành Lớp học ở tại khu trung tâm thônMuốt nên thuận lợi cho việc đưa đón trẻ đến lớp
Bản thân luôn tâm huyết với nghề, yêu trẻ như con của mình
2.2.2 Khó khăn
Cẩm Thành là một xã vùng cao đời sống kinh tế xa hội còn gặp nhiều khókhăn và đặc biệt là lớp tôi trực tiếp giảng dạy là một lớp điểm lẻ Địa bàn sinhsống của toàn người dân tộc Mường và đặc biệt lớp tôi phụ trách 100% trẻ làngười dân tộc Mường vì vậy khả năng truyền thụ bài học bằng ngôn ngữ TiếngViệt cho trẻ là một điều đặc biệt khó khăn
Ngay cả người lớn cũng vậy việc phát âm chuẩn tiếng phổ thông cũng gặpnhững khó khăn Ví dụ: Cán bộ thôn, bản là người dân tộc mường trong cáccuộc họp đang triển khai bằng tiếng phổ thông là tiếng kinh cho mọi người nghenhưng có những đoạn khó diễn đạt thì ông cán bộ đó lại sử dụng bằng tiếng địaphương của mình là tiếng mường Hay có những người dân tộc đang giao tiếpbằng tiếng phổ thông lại nói lẫn cả tiếng dân tộc
Vì đa số chưa phát âm chuẩn tiếng phổ thông dẫn đến phát âm lẫn lộn, chưa
rõ ràng làm cho người nghe hiểu sai lệch về nội dung diễn đạt Điều này làm ảnhhưởng đến cách diễn đạt ý của trẻ, vì thế cần rèn luyện khả năng phát âm chuẩn,nói đúng Tiếng Việt - tiếng phổ thông cho trẻ từ độ tuổi mẫu giáo là việc làm hếtsức cần thiết
2.2.3 Kết quả thực trạng như sau
Từ những nguyên nhân hạn chế trên trên tôi thấy việc rèn luyện kỹ năngnói đúng Tiếng Việt - tiếng phổ thông cho trẻ còn hạn chế Trẻ chưa thực sựhứng thú với hoạt động do giáo viên tổ chức vì trẻ còn ngại giao tiếp
Các Trẻ dân tộc mường chưa nói rõ tiếng kinh, khi đến trường đến lớpgiao tiếp cùng cô giáo, cùng bạn bè bằng tiếng phổ thông vẫn bị lẫn những câubằng tiếng mường Trẻ giao tiếp bằng tiếng phổ thông chủ yếu bằng mấy câu xãgiao còn những điều cần diễn đạt hơi khó một chút trẻ lại sử dụng bằng tiếng địaphương của mình
Trang 7Ví dụ: Điện sáng trẻ nói “điện cháy” Thịt gà - trẻ gọi - “canh” Con trẻ gọi con tru… Khi nói không những trẻ sử dụng tiếng địa phương mà khiphát âm trẻ còn phát âm ngọng, phát âm sai, ví dụ: Cô Thảo - trẻ gọi - Cô sảo;
Trâu-Cô Thơm - trẻ gọi – Trâu-Cô Sơm Bên cạnh đó trong quá trình học tập vui chơi vàgiao tiếp với mọi người trẻ thường nói lẫn dấu hỏi (?) sang dấu ngã (~), hoặcdấu (~) sang dấu (?), chữ S thành chữ Th, ví dụ: Con thỏ - trẻ gọi - Con sỏ; ConLợn - trẻ gọi - Con cùn…vv Có nhiều cháu muốn nói lên ý kiến của mình cháuthường lúng túng trong khi diễn đạt ý của mình
Đấy chỉ là một trong một trong số rất nhiều ví dụ mà tôi muốn đưa ra Cụthể hơn tôi đã khảo sát thực trạng sử dụng Tiếng Việt và hiểu Tiếng Việt lớp tôiphụ trách như sau:
Kết quả khảo sát
Tổng số trẻ
Tiếng Việt thường
xuyên trong giao
tiếp
13 2 =15,4% 3= 23,1% 4=30,8% 4=30,8%
Qua thực trạng khảo sát trên bản thân tôi thấy ngôn ngữ có vai trò hết sứcquan trọng trong việc phát triển toàn diện cho trẻ Nó không chỉ ảnh hưởngtrong học tập về nhận thức cho trẻ mà còn ảnh hưởng trong quan hệ xã hội tácđộng đến trẻ rất nhiều Ngôn ngữ Tiếng Việt còn là phương tiện thể hiện tìnhcảm, thái độ ước mơ và nhu cầu giao tiếp của trẻ Nhu cầu giao tiếp, mong muốnđược nói chuyện với người xung quanh ở trẻ có từ rất sớm, vì vậy giáo viên phảikhuyến khích trẻ thực hiện những mong muốn đó Chỉ có ở trường mầm non trẻmới được những chuẩn mực về ngôn ngữ mà cô giáo cũng là người trực tiếpcung cấp các vốn từ và uốn nắn cho trẻ chuẩn mực trong phát âm Tiếng Việt
Để khắc phục vấn đề còn vướng mắc trong thực hiện kỹ năng nói đúngTiếng Việt trong hoạt động đạt hiệu quả tốt hơn tôi đã mạnh dạn trao đổi cùngcác bạn đồng nghiệp một số nội dung, phương pháp nói đúng Tiếng Việt cho trẻ
Trang 8Tôi dựa vào chuyên đề hướng dẫn xây dựng kế hoạch giáo dục tăngcường Tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số Tôi luôn chú ý đến khảnăng nghe nói Tiếng Việt đối với nhóm lớp.
Khả năng nghe của trẻ
Nghe các từ chỉ sự vật, hiện tượng, đặc điểm, tính chất, hoạt động các từchỉ biểu cảm, từ chỉ khái quát
Nghe lời nói trong giao tiếp hằng ngày
Nghe kể chuyện, đọc thơ, ca dao, đồng dao phù hợp với độ tuổi
Khả năng Nói:
Phát âm rõ các tiếng trong Tiếng Việt
Bày tỏ nhu cầu, tình cảm và hiểu biết của bản thân bằng các kiểu câu khácnhau
Sử dụng đúng từ ngữ trong câu giao tiếp hằng ngày Trả lời và đặt câu hỏi.Đọc thơ, ca dao, đồng dao và kể chuyện
Lễ phép và tự tin trong giao tiếp
Nội dung tăng cường Tiếng Việt cho trẻ bản thân đã dựa vào kế hoạch giáodục tháng hoặc chủ đề được lựa chọn trên cơ sở các nội dung giáo dục theo độtuổi chương trình GDMN, phù hợp với khả năng Tiếng Việt của trẻ
Nội dung tăng cường Tiếng Việt được tích hợp phù hợp với các nội dunggiáo dục của các lĩnh vực phát triển
Nội dung tăng cường Tiếng Việt cho trẻ có thể có nội dung được thực hiệntrong một hoặc một số tháng hoặc chủ đề nhưng với những nội dung khuyếnkhích cho trẻ nghe, nói đúng ngữ pháp, các kiểu câu diễn đạt cảm xúc phù hợpcần chú ý trong tổ chức thực hiện theo hướng tích hợp thông qua các hoạt độnggiáo dục trong kế hoạch tất cả các chủ đề trong năm học
Hiểu rõ tầm quan trọng của bộ môn tăng cường Tiếng Việt chính là rènluyện kỹ năng nghe và nói đúng Tiếng Việt cho trẻ Mầm non, nên Ban GiámHiệu nhà trường đã đặc biệt quan tâm cho giáo viên đi tham quan dự giờ dạymẫu ở các trường bạn, tạo điều kiện để giáo viên được tham gia gia đầy đủ cácchuyên đề đặc biệt là chuyên đề “ cho trẻ làm quen Tiếng Việt”… để tham khảothêm một số phương pháp, biện pháp rèn luyện cho trẻ kỹ năng nói đúng TiếngViệt - tiếng phổ thông theo hướng đổi mới hình thức giáo dục
Trang 92.3.2 Biện pháp 2: Tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số bằng cách trò chuyện với trẻ
Nhận thức được tầm quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng nói đúng TiếngViệt cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi, trẻ nói chưa chuẩn Tiếng Việt, diễn đạt câu cònvụng về, thiếu ý để chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp mẫu giáo lớn và các cấp họcđược tốt Là người giáo viên chủ nhiệm trực tiếp đứng lớp 4-5 tuổi tôi luôn trăntrở suy nghĩ sau khi tìm hiểu thực trạng và trên cở sở lý thuyết tôi đã thử nghiệmmột số thực trạng trên như sau: Cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ bằng cách trựctiếp trò chuyện với trẻ để tạo cho trẻ sự gần gũi thân thiết Thực tế cho ta thấyrằng bất đồng ngôn ngữ là rất khó khăn trong giao tiếp, vì vậy ngay từ nhữngbuổi đầu trẻ đến lớp cô luôn ân cần gần gũi trò chuyện giao tiếp hỏi trẻ các câuhỏi hàng ngày trẻ thường va chạm hoặc cho trẻ quan sát các hình ảnh, đồ dùng,
đồ chơi trong lớp để rèn Tiếng Việt cho trẻ Như chúng ta đã biết khả năng tiếpthu của trẻ dân tộc thiểu số rất chậm, mau quên nhưng khi đã nhớ được thì lạinhớ rất lâu nên tôi tiến hành cho trẻ tiếp xúc với vốn Tiếng Việt bằng phươngchâm " Mưa dầm thấm lâu" cho nên việc cung cấp ngôn ngữ Tiếng Việt ở mọilúc, mọi nơi vô cùng hiệu quả,
Ví dụ: Giáo viên luôn vui vẻ, thương yêu trẻ, sửa sang quần áo, chải tóccho trẻ và không quên kèm theo một số câu hỏi giao lưu như: Con mặc quần áođẹp quá Con ăn cơm chưa? Ăn bao nhiêu cơm? Ăn với thức ăn gì? Con ăn cóngon không? Hay tôi hỏi về gia đình trẻ: Nhà con có bao nhiêu người? Con có
em bé không? Mẹ con làm nghề gì? Qua trò chuyện với trẻ như vậy Giáo viênnắm được khả năng phát âm của mỗi trẻ để có biện pháp và giành nhiều thờigian hơn giúp trẻ phát âm đúng, phát âm chuẩn Tiếng Việt Giờ chơi tự do tôihay dẫn trẻ đến các góc trò chuyện và phát âm các từ có trong tranh, từ ở cácgóc, giáo viên cần dạy trẻ phát âm nhiều lần và cho trẻ chỉ phát hình ảnh cótrong tranh con vật, hoa, cây quả, các phương tiện giao thông…Trẻ đọc quanhiều lần như vậy Từ đó trẻ dân tộc lớp tôi phụ trách, phát âm chuẩn hơn vàmạnh dạn hơn trong giao tiếp với cô, với bạn, biết chỉ cho bạn chưa Tạo khôngkhí thân thiện, gần gũi giữa cô giáo và trẻ, vấn đề này đặc biệt cần thiết vàkhông thể thiếu được đối với trẻ dân tộc thiểu số
Qua những việc làm đó thấy các cháu tiến bộ rất nhiều trong phát âmTiếng Việt Đối với những trẻ người dân tộc Mường chưa nói thạo tiếng phổthông qua giao tiếp hàng ngày trò chuyện với trẻ đôi lúc tôi cũng phải dùngtiếng địa phương trao đổi với trẻ những từ khó mà trẻ chưa phát âm được khi trẻ
và cô đã có sự gần gũi cởi mở tôi dùng tiếng phổ thông để giao tiếp với trẻ Cónhiều câu từ tôi phải nói tiếng địa phương sau đó dịch ra tiếng phổ thông Ví dụ:Con Ngan tiếng Mường gọi là con Xiêm, rau trẻ thường phát âm râu, bông hoathì nói là bông hoa, cây thì bảo cân… Cứ dần dần như vậy trẻ biết sử dụng tiếngphổ thông một cách thông dụng Ngoài việc dạy trẻ nói tiếng phổ thông ởtrường, lớp tôi còn thường xuyên trao đổi với phụ huynh khi ở nhà nên nóichuyện với con em mình bằng tiếng phổ thông, để khi đến trường trẻ hoà nhậpgiao lưu với bạn bè nhiều hơn Ví dụ: Bố, mẹ có thể hỏi trẻ những con vật, đồvật trong gia đình mình…vv khi nói tiếng phổ thông thì nói như thế nào, hoặc
Trang 10cho, mẹ đọc truyện thiếu nhi cho trẻ nghe trước khi đi ngủ Cô cũng sưu tầmmột số loại truyện cho trẻ mượn về cho bố mẹ đọc, mai đến lớp lại trao đổitruyện khác với bạn khác….vv.
Qua việc làm này tôi thấy các cháu có tiến bộ rất nhiều, khi đến lớp cáccháu ít sử dụng tiếng địa phương hơn, nói tiếng phổ thông lưu loát hơn và đặcbiệt các cháu hoà đồng với bạn bè nhiều hơn không còn nhút nhát rụt rè nhưtrước
Ngoài ra tôi cho trẻ tiếp xúc với các đồ chơi, đồ dùng trong lớp chỉ vào cáchình ảnh để trẻ nói khi trẻ nói cô chú ý hướng dẫn trẻ nói bằng Tiếng Việt
2.3.3 Biện pháp 3: Cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ thông qua bộ môn văn học.
Bộ môn văn học đối với trẻ mẫu giáo là một loại hình gần gũi với trẻ ở độ
tuổi mẫu giáo và đặc không thể thiếu được đối với trẻ Nó có tầm quan trọng đốivới trẻ mầm non Văn học luôn gắn bó với trẻ qua các câu chuyện, bài thơ, quacác thể loại như thơ ca hò vè, là món ăn tinh thần cho trẻ nó cũng như dòng sưa
mẹ để nuôi dưỡng và phát triển tâm hồn trẻ truyền cho các con vẻ đẹp truyềnthống của cha ông Cho trẻ làm quen tác phẩm văn học góp phần giáo dục pháttriển toàn diện nhân cách trẻ Đặc biệt nó gần gũi với trẻ thơ, từ thời thơ ấu trẻ
đã biết sống chan hòa, trong không khí đầy tình yêu thương của người lớn quarời u ầu ơ ngọt ngào của bà của mẹ Từ đó là cánh cửa mở ra chân trời nhậnthức cho trẻ Từ đó trẻ được hình thành kinh nghiệm sống
Trẻ hiểu được một số hiện tượng quy luật tự nhiên, mối quan hệ bên ngoàicủa sự vật hiện tượng, hiểu được các mối quann hệ xã hội, gia đình, thông quatác phẩm văn học trẻ thấy được các mối quan hệ đa dạng phức tạp
Luôn tạo ra tình huống vui nhộn để lôi cuốn trẻ vào giờ học bằng mộtgiọng nói lúc trầm lúc bổng để gây sự chú ý, khơi gợi tính tò mò của trẻ, đã tạođược tâm thế cho trẻ trước khi vào học tôi tiến hành đi vào giờ học chính bằngngôn ngữ giới thiệu hấp dẫn từ ngữ thật gần gũi, thật dễ hiểu đối với trẻ, giáoviên đọc thơ hay kể chuyện với giọng thật truyền cảm, phối hợp các động tácminh học phù hợp, để lôi cuốn trẻ chăm chú lắng nghe, để lĩnh hội từng câu,từng lời của cô, tiếp đến tôi giảng nội dung câu chuyện, bài thơ một cách ngắngọn để giúp trẻ dễ hiểu, tôi tiến hành cho trẻ đọc thơ theo tôi từng câu, tôi luônđổi cách cho trẻ đọc thơ theo tổ, nhóm, lớp, cá nhân, hay bạn nam và bạn nữ thiđua nhằm tạo khí thế cho trẻ tự nói chuyện tự hỏi nhau bằng Tiếng Việt
Khi dạy thơ, kể chuyện, điều đầu tiên tôi chú ý đến đó là lựa chon nội dungcủa câu chuyện và bài thơ phù hợp có nội dung gần gũi với tuổi thơ trẻ Và đặcbiệt trẻ là người dân tộc nên khi tham gia vào hoạt động trẻ chưa hứng thú nếunhư nội dung xa lạ Quá trình dạy bản thân đã nắm được tâm lý trẻ vì sự tậptrung chú ý của trẻ là rất ngắn nên bản thân luôn tạo ra tình huống vui vẻ thoảimái lúc trầm lúc bổng tạo sự chú ý, khơi gợi tính tò mò của trẻ
Trang 11Ví dụ: Đối với môn kể chuyện thì cần kể vài lần và trò chuyện với trẻ vềnội dung câu chuyện khi thấy khả năng hiểu truyện và khả năng ngôn ngữ củatrẻ đã phát triển tốt, giáo viên khuyến khích trẻ kể lại chuyện.
Kể chuyện theo tranh: Sau khi trò chuyện với trẻ theo nội dung bức tranhgiáo viên cho trẻ tập kể theo nội dung tranh hoặc theo bộ tranh
Kể về sự việc đã xảy ra: Trước hết giáo viên trò chuyện với trẻ theo sự kiện
đã xảy ra và trẻ chứng kiến giáo viên cho trẻ kể lại trình tự sự việc đã xảy ranhằm nhằm buộc trẻ tập trình bày suy nghĩ của bản thân bằng lời nói của mình
Kể theo từng đoạn và kêt thúc chuyện: Giáo viên bắt đầu câu chuyện, sau
đó cho trẻ lần lượt kể tiếp theo câu chuyện cho đến hết
Kể chuyện theo nhân vật cho trước: Giáo viên có thể đạt ra một vài nhânvật sau đó trò chuyện với trẻ Sau đó tập cho trẻ liên kết các nhân vật và tưởngtượng sự kiện để kể thành câu chuyện
Kể chuyện theo chủ đề: khi kết thúc chủ đề cô gợi ra các câu hỏi để trẻ kểchuyện
Kể chuyện sáng tạo là giáo viên cho trẻ kể hoàn toàn theo sự sáng tạo màtrẻ thích
Ví dụ : Khi cho trẻ làm quen câu chuyện “ Chú Dê đen” Tôi có thể dùnghình thức giới thiệu tên chuyện qua hình ảnh của “Chú Dê đen” con vật này cóthể đối với trẻ dân tộc thiểu số không có gì là xa lạ trẻ có thể trả lời bằng tiếng
mẹ đẻ “ Con Tê dầm” khi nghe trẻ nói cô cần sửa sai lại cho trẻ và cho trẻ phát
âm lại nhiều lần qua hình ảnh “ Chú Dê đen” Trong quá trình kể chuyện tôi cóthể kể lại nhiều lần và đặc biết là nhấn mạnh qua tính cách các nhân vật để trẻhiểu sâu hon về nội dung truyện, hỏi các câu hỏi đàm thoại về tên các nhân vật,tính cách các nhân vật Sau đó tôi cho trẻ kể chuyện theo cô chú ý sủa sai cho trẻ
và đạc biệt là đối với cháu là người dân tộc cô cần chú ý rèn Tiếng Việt cho trẻ Khi cung cấp từ mới từ khó phát âm tôi luôn chú ý cho trẻ phát âm nhiều lầnnếu cháu nào phát âm sai cô sửa sai luôn cho trẻ Khi trẻ không nhớ được từ mớithì cô đọc lại từ đó cho trẻ nghe, kết hợp với xem tranh minh hoạ, nếu trẻ khônghiểu tôi dịch bằng tiếng địa phương cho trẻ hiểu sau đó dạy từ mới cho trẻ
Giờ kể chuyện để khắc sâu hơn về hình ảnh các nhân vật cô có thể cho trẻchơi trò chơi găn tên các nhân vật theo nội dung chuyện ở “Góc văn học kểchuyện cùng bé yêu” Đối với trẻ dân tộc đây là quá trình học bổ ích vì quahình ảnh sẽ khắc sâu được khả năng sử dụng Tiếng Việt qua hình ảnh
Đây chính là biện pháp giúp trẻ dân tộc thiểu số học ngôn ngữ, nói tốtTiếng Việt và sử dụng tốt Tiếng Việt trong học tập cũng như cuộc sống Bảnthân tôi thấy trước hết phải dạy trẻ những kỹ năng chú ý nghe và phát âm thôngqua môn văn học là hết sức cần thiết
Trang 12Hình ảnh trẻ chơi trò chơi gắn hình ảnh các nhân vật trong giờ kể chuyện
Quá trình cho trẻ làm quen tác phẩm văn học bản thân có thể nhận thấy rõ
về khả năng nói Tiếng Việt của trẻ và khả năng nói lưu loát của trẻ, không conrụt rè tự tin hon trong học tập và giáo tiếp với cô giáo, bạn bè
2.3.4 Biện pháp 4: Tăng cường Tiếng Việt cho trẻ thông qua hoạt động chơi ngoài trời.
Tôi thường tổ chức cho trẻ tham gia các hoạt động chơi dạo chơi ngoài trờithăm quan trong sân trường và các khu vực gần trường trong giò chơi ngoài trời.Tôi cho trẻ ôn lại kiến thức đã học qua các hoạt động quan sát có mục đích, quatrò chuyện, đọc thơ, kể chuyện, qua các trò chơi dân gian, cho trẻ đọc đồng dao,
ca dao Trong hoạt động này giúp trẻ dân tộc thiểu số phát âm thành thạo hơn,lưu loát hơn Tôi thường tổ chức cho trẻ đi dạo chơi thăm quan tìm hiểu về thếgiới xung quanh trẻ
Ví dụ : Thăm quan, quan sát các loại cây, hoa, các con vật, thăm quan các
lễ hội địa phương như lẽ hội khai hạ truyền thống của làng
Qua các buổi dạo chơi ngoài trời tôi luôn tạo tình huống đưa ra các câu hỏi
để trò chuyện với trẻ, Trong quá trình trò chuyện tôi luôn chú ý sửa sai chonhững trẻ dân tộc chưa nói chuẩn Tôi hỏi trẻ các con đang quan sát gi? Trẻ trảlời “ Con Kha con , con Cà tìn rạc hoặc con Cua cua ” tôi có thể nói lại là con
Gà con , con Cá dưới nước Tôi trò chuyện và sửa sai cho trẻ sau đó cho trẻnhắc lại câu trả lời chính xác
Bằng sự quan tâm sát sao và sửa sai cho trẻ đúng lúc, kịp thơi khi trẻ cònphát âm chưa chuẩn hay nói Tiếng Việt chưa đúng thì tôi thấy trẻ dân tộc lớp tôiphụ trách giờ đã biết dùng từ để diễn đạt thành câu có nghĩa trong giao tiếp với
Trang 13Hình ảnh tổ chức cho trẻ chơi dạo chơi ngoài trời 2.3.5 Biện pháp 5: Tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số thông qua chơi hoạt động góc.
Thông qua việc cho trẻ chơi ở hoạt động góc giúp cho trẻ cỏ thể làm một sốcông việc hàng ngày trong cuộc sống, tái hiện lại trong trẻ sự việc xẩy ra và từ
đó trẻ được tắm mình vào môi trường Tiếng Việt sẽ có tác dụng tích cực, giúptrẻ giao tiếp bằng Tiếng Việt Vậy nên bản thân tôi luôn tạo mọi điều kiện xâydựng các góc để trẻ được tham gia và có thể bố trí thêm cho lớp học có trẻ dântộc thiểu số thêm góc địa phương ở ngoài lớp học để nâng cao chất lượng dạyhọc, rèn Tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số, Từ đó tăng cường khảnăng Tiếng Việt cho các trẻ
Thông qua góc phân vai tôi cho trẻ đóng các vai khác nhau, trẻ được giaolưu trao đổi mua bán và thể hiện hết vai chơi của mình, bên cạnh đó tôi luôntheo sát trẻ để kịp thời sửa sai uốn nắn mỗi khi trẻ hỏi hoặc trả lời không cótrọng tâm hay trẻ dùng tiếng mẹ đẻ
Với hoạt động góc cô cho trẻ tự nhiên giao lưu Tiếng Việt với nhau thôngqua các trò chơi kể chuyện đọc thơ, đóng vai, nói tên các đồ chơi đò dùng trêncác góc bằng cach một trẻ hỏi và một trẻ trả lời, đóng các vai như nấu ăn, bánhàng Ở góc địa phương ngoài lớp học giáo viên có thể tổ chức như chợ quê ởđịa phương, nơi được trưng bày các sản phẩm ở địa phương và bán hàng Cô cóthể tổ chức cho trẻ đóng vai người bán hàng, người mua hàng
Ở đây tôi thường tập cho trẻ phân loại các mặt hàng ở địa phương như Ngô,Khoai, Sắn Tập cho trẻ nói Tiếng Việt Vì các loại thực phẩm này trẻ chỉ đượcnói tiếng mẹ đẻ nên khi tham gia chơi co cháu nói “ Cô ơi bán cho cháu Buồng