Xuất phát từ thực tế trên, để góp phần khắc phục những hạn chế, yếu kém trong công tác thu hồi đất nói chung và thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỒ THỊ MINH NGUYỆT
THU HỒI ĐẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
VÌ LỢI ÍCH QUỐC GIA, CÔNG CỘNG THEO LUẬT ĐẤT ĐAI 2013 TỪ THỰC TIỄN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN,
TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỒ THỊ MINH NGUYỆT
THU HỒI ĐẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
VÌ LỢI ÍCH QUỐC GIA, CÔNG CỘNG THEO LUẬT ĐẤT ĐAI 2013 TỪ THỰC TIỄN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN,
TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số : 838.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ NGA
HÀ NỘI, năm 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, cho phép tôi trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Nga đã giúp
đỡ, hướng dẫn tôi rất nhiều về mặt khoa học, về tình cảm và sự tận tâm chỉ bảo rất chu đáo để hoàn thành bản luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn quý thầy, cô giáo là lãnh đạo, những giảng viên tận tâm, những nhà khoa học, những nhà quản lý của Học viện Khoa học xã hội đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ 02 năm qua để tôi có được kết quả học tập như hôm nay
Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và CBCC cơ quan Thanh tra Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam đã hỗ trợ, tạo điều kiện giúp đỡ tôi để có được những kết quả
về thực trạng sinh động, có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoàn thành luận văn
Cảm ơn những người thân, bạn bè đồng nghiệp, anh chị em học viên cùng khóa, cùng lớp đã giúp đỡ, chia sẽ, động viên tôi những lúc khó khăn để hoàn thành luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của PGS, TS Nguyễn Thị Nga Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình
Tác giả luận văn
Hồ Thị Minh Nguyệt
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT THU HỒI ĐẤT
ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÌ LỢI ÍCH QUỐC GIA, CÔNG CỘNG THEO LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2013 9
1.1 Lý luận về thu hồi đất để triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo Luật Đất đai 2013 9 1.2 Lợi ích trong quan hệ thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng 23
1.3 Lý luận pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia,
công cộng 25
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT THU HỒI ĐẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÌ LỢI ÍCH QUỐC GIA, CÔNG CỘNG VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI THỊ XÃ ĐIỆN BÀN TỪ KHI LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM
2013 CÓ HIỆU LỰC ĐẾN NAY 33
2.1 Thực trạng pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh phát triển kinh tế - xã hội
vì lợi ích quốc gia, công cộng 33 2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam 43
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT
ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÌ LỢI ÍCH QUỐC GIA, CÔNG CỘNG 59
3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội
vì lợi ích quốc gia, công cộng 59 3.2 Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng 61 3.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng 63
KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiêt của đề tài
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là nguồn lực cơ bản để phát triển an ninh quốc phòng, phát triển kinh tế Đặc biệt là đối với Việt Nam, quốc gia đất chật người đông, với trên 70% dân số sinh sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp thì đất đai càng trở nên quan trọng, nhạy cảm Bên cạnh đó, sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những kết quả vô cùng quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Tốc
độ đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ ở khắp các địa phương, quy mô sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, du lịch tăng trưởng rất nhanh, do đó đất đai ngày càng trở nên có giá trị và thu hút sự quan tâm của toàn xã hội Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi phải có mặt bằng cho các dự án Muốn tạo ra quỹ đất, Nhà nước phải thực hiện công tác thu hồi đất
Trên thực tế, thời gian qua công tác thu hồi đất đã đạt được nhiều kết quả to lớn, đã tạo ra quỹ đất đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nhưng đồng thời đã và đang đặt ra nhiều vấn đề mang tính thời sự nóng bỏng như
an ninh lương thực, đảm bảo an ninh trật tự, an sinh xã hội, sự đồng thuận trong nhân dân Bên cạnh đó, việc thu hồi đất cũng để lại những hệ lụy rất lớn, ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Một số phần tử cơ hội chính trị đã lợi dụng vấn đề khiếu kiện đất đai để kích động chống đối với mục đích chính trị; việc thu hồi đất có lúc, có nơi không chỉ thiếu công bằng mà còn thiếu hiệu quả Nhiều địa phương xảy ra tình trạng lãng phí hàng trăm ha đất được giải phóng mặt bằng cho các dự án rồi bị bỏ hoang Hàng năm, số vụ khiếu kiện về đất đai ngày càng gia tăng, theo thống kê số liệu của ngành thanh tra cho thấy, tình hình khiếu nại, tố cáo liên quan đến lĩnh vực đất đai chiếm trên 70% các loại khiếu kiện, tố cáo Trong số đó, đa phần là khiếu kiện về giá bồi thường khi nhà nước thu hồi đất; hầu hết tại các dự án có thu hồi đất đều nảy sinh khiếu kiện
Trang 8Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những tồn tại, hạn chế bất cập nêu trên, ngoài trách nhiệm của các cơ quan chức năng, cán bộ có thẩm quyền còn có nguyên nhân
từ sự bất cập trong các quy định pháp luật đất đai hiện hành Trong thu hồi đất, người dân luôn ở vào vị trí yếu thế, trong nhiều trường hợp không tự bảo vệ được quyền lợi của mình Cơ chế thu hồi đất nói chung và thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội nói riêng tuy đã được sửa đổi, hoàn thiện nhưng thực tiễn áp dụng vẫn cho thấy thiếu đồng bộ, bất cập và vẫn đang chứa đựng mâu thuẫn dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của người bị thu hồi đất chưa được bảo đảm Bên cạnh đó đất đai được thu hồi chưa được đưa vào sử dụng một cách hiệu quả, trái lại còn bị lạm dụng quy định của pháp luật để biến thành các dự án kinh tế đơn thuần để mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư hoặc lợi ích nhóm
Đối với thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, địa phương có diện tích tự nhiên chỉ vào khoảng 215Km2 nhưng có số dân xấp xỉ 230.000 người, với khu công nghiệp tập trung Điện Nam - Điện Ngọc và 20 cụm công nghiệp được quy hoạch Cùng với đó, trên địa bàn thị xã đã hình thành khu đô thị mới Điện Nam - Điện Ngọc và hàng trăm dự án xây dựng khu đô thị, khu dân cư, đường giao thông đã, đang được triển khai và theo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thị xã giai đoạn 2015-2020 và tầm nhìn đến năm 2030 theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã lần XXII, những năm tới Điện Bàn sẽ tiếp tục thực hiện nhiều dự án phát triển đô thị, khu dân cư nông thôn kiểu mẫu, khu du lịch, thiết chế văn hóa, hệ thống cơ sở hạ tầng Đứng trước yêu cầu đó, trong thời gian qua các cơ quan có thẩm quyền của tỉnh Quảng Nam và thị xã Điện Bàn đã thực hiện nhiều dự án thu hồi đất trên địa bàn thị xã Nhìn chung, công tác thu hồi đất cơ bản đáp ứng cho việc phát triển của địa phương
Tuy nhiên, giống như các địa phương khác, trong quá trình triển khai việc thu hồi đất tại thị xã Điện Bàn cũng gặp khá nhiều khó khăn, vướng mắc như: Sự chống đối của người bị thu hồi đất; đơn thư khiếu kiện đông người, vượt cấp liên quan đến công tác thu hồi đất ngày càng tăng; đất được thu hồi giao cho nhà đầu tư nhưng chậm triển khai thực hiện gây lãng phí và bức xúc trong nhân dân Mặc dù
Trang 9đã đề ra nhiều biện pháp, giải pháp khắc phục những tồn tại, hạn chế trong công tác thu hồi đất, nhưng thực tế cho thấy vẫn còn khá nhiều vấn đề vướng mắc trong công tác thu hồi đất trên địa bàn thị xã trong thời gian qua Bên cạnh đó, theo dự báo mức
độ phức tạp của nó sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới do quỹ đất ngày càng bị thu hẹp, giá trị kinh tế do đất đai mang lại ngày càng cao
Xuất phát từ thực tế trên, để góp phần khắc phục những hạn chế, yếu kém trong công tác thu hồi đất nói chung và thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng nói riêng trong thời gian tới, đồng thời góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trên sở đánh giá một cách toàn diện, khách quan cả về lý
luận và thực tiễn, tác giả chọn nghiên cứu đề tài "Thu hồi đất để phát triển kinh tế -
xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo Luật Đất đai 2013 từ thực tiễn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” làm luận văn thạc sỹ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Thu hồi đất nói chung và thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng có ý nghĩa và tầm quan trọng rất lớn đối với thị xã Điện Bàn nói riêng và cả nước nói chung, nhất là trong giai đoạn chúng ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Việc thu hồi đất trực tiếp đụng chạm đến lợi ích người bị thu hồi đất, lợi ích của nhà nước, lợi ích của chủ đầu tư … nên thời gian qua đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả Qua tìm hiểu, tác giả nhận thấy thời gian vừa qua đã
có một số công trình, sách báo pháp lý nghiên cứu về lĩnh vực pháp luật này dưới khía cạnh lý luận và thực tiễn về các nội dung có liên quan đến luận văn; tiêu biểu
là các công trình nghiên cứu của các tác giả: Đinh Thị Huê, “Thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở tỉnh Hà Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ năm 2011; Đỗ Quang Dương, “Thực hiện pháp luật về bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất giải phóng mặt bằng ở quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội” Luận văn thạc sĩ (năm 2013); Nguyễn Thị Phương Thảo,
“Pháp luật về bồi thường về đất khi thực hiện các dự án kinh tế và thực tiễn áp dụng
Trang 10tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An”, Luận văn thạc sĩ (2012); Nguyễn Văn Diện,
“Pháp luật về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất”, Luận văn thạc sĩ (năm 2006); Hoàng Thị Nga, “Pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng
ở Việt Nam hiện nay” Luận văn thạc sĩ (năm 2011); Nguyễn Minh Tuấn, “Thu hồi đất vì mục đích kinh tế ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ (năm 2013); Ts Nguyễn Thị Nga, “Pháp luật về trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng và những vướng mắc nảy sinh trong quá trình áp dụng ”; Phạm Thu Thùy
"Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam" Luận văn tiến sỹ (năm 2014); "Cơ chế Nhà nước thu hồi đất và chuyển dịch đất đai tự nguyện tại Việt Nam", Báo cáo nghiên cứu Ngân hàng thế giới tại Việt Nam (năm 2011); TS Nguyễn Thị Nga (2010), “Pháp luật về trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường và giải phóng mặt bằng và những vướng mắc nảy sinh trong quá trình áp dụng”, Tạp chí Luật học; TS Nguyễn Thị Nga (2011) “Những tồn tại, vướng mắc phát sinh trong quá trình áp dụng bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất”, Tạp chí Luật học; TS Nguyễn Thị Nga (2013), “Pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất - thực trạng và hướng hoàn thiện”- Đề tài khoa học cấp Trường - Trường Đại học Luật Hà Nội; "Bản chất và nguyên tắc của việc thu hồi đất và bồi thường trong thu hồi đất"- Bài viết của TS Đinh Văn Minh Viện trưởng Viện Khoa học Thanh tra (năm 2016)
Với phạm vi truy cập và nghiên cứu còn hạn hẹp của em, song với các công trình nêu trên cho thấy, đây là vấn đề được nhiều tác giả, các nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chủ yếu tập trung ở thời điểm trước khi Luật Đất đai 2013 có hiệu lực Các vấn đề nghiên cứu thường tập trung ở nội dung bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Sau khi Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 2013 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2014) và Luật Đất đai 2013 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2014), vấn đề thu hồi đất đã được hiến định trong Hiến pháp, đây là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử lập hiến của Việt Nam, bởi đây là cơ sở hiến định đầu tiên ghi nhận việc thu hồi đất có bồi thường, vì lý do quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Việc ghi nhận quy
Trang 11định này là một bước tiến lớn, thật sự cần thiết; đòi hỏi phải được tổ chức triển khai một cách nghiêm túc, có hiệu quả
Tuy nhiên, thực tế triển khai trong những năm vừa qua thì chính quyền các cấp vẫn gặp nhiều vướng mắc, pháp luật thực định dường như vẫn chưa định ra nguyên tắc nhằm giải quyết các vướng mắc trong công tác thu hồi đất mà các chủ thể thực thi pháp luật phải đối mặt trong giai đoạn hiện nay Ranh giới giữa đất phát triển kinh tế, xã hội với đất cho các mục đích kinh doanh khác chưa thực sự có tiêu chí rõ ràng Quy trình, thủ tục còn nhiều sai phạm, quá trình tổ chức việc thu hồi đất còn chưa đảm tính khách quan, dân chủ và công khai, còn gặp nhiều sự bất bình của người dân có đất bị thu hồi Nhiều ý kiến trái chiều và hồ nghi về tính công bằng, bình đẳng về điều tiết lợi ích Nhà nước - nhà đầu tư - người bị thu hồi đất Với những vấn đề đặt ra trên đây cho thấy, thu hồi đất nói chung và thu hồi đất cho mục đích phát triển kinh tế, xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng vẫn đang được tiếp tục tranh luận và có nhiều quan điểm khác nhau cần được đào sâu nghiên cứu về vấn đề
này Đó cũng là lý do em chọn đề tài: "Thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng" Qua sự nghiên cứu này, tác giả khẳng định rằng, đề tài do
học viên lựa chọn là một vấn đề có tính thời sự, tính khoa học và tính thực tiễn cao
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Phân tích đánh giá thực trạng về công tác thu hồi đất, những bất cập và nguyên nhân, làm sáng tỏ những vấn đề thực tiễn và lý luận đang đặt ra, đề xuất giải pháp để hoàn thiện pháp luật thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì mục đích quốc gia, công cộng theo Điều 62 Luật Đất đai 2013 trong thời gian tới một cách hiệu quả, đảm bảo hài hòa lợi ích của người sử dụng đất, Nhà nước và chủ đầu tư
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm
Trang 12triển kinh tế - xã hội vì mục đích quốc gia, công cộng từ khi Luật Đất đai năm 2013
có hiệu lực đến nay; chỉ ra những yếu kém, khó khăn, bất cập, yêu cầu và đòi hỏi từ thực tiễn
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế -
xã hội vì mục đích quốc gia, công cộng trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Về đối tượng nghiên cứu:
- Hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì mục đích quốc gia, công cộng
- Các văn bản quy phạm pháp luật thực định về thu hồi đất để phát triển kinh
tế - xã hội vì mục đích quốc gia, công cộng, trong đó tập trung phân tích, đánh giá thực trạng về pháp luật thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế; nêu những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế ở nước ta thời gian qua
- Thực trạng thực hiện pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội
vì mục đích quốc gia, công cộng tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các quy phạm pháp luật có liên quan về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì mục đích quốc gia, công cộng Thời gian nghiên cứu từ khi có Luật Đất đai 2013 đến nay, trên phạm vi thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp lý luận của Chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước và pháp luật trong thời kỳ đổi mới; về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy Nhà nước đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, yêu cầu phát triển bền vững đất nước và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trang 13Mác-5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của triết học duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử Mác – Lênin
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích, bình luận, so sánh… được sử dụng trong Chương 1 tìm hiểu về một số vấn đề lý luận về Pháp luật thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế;
- Phương pháp đánh giá, đối chiếu, diễn giải, tổng hợp, quy nạp được sử dụng tại Chương 2 và Chương 3 để tìm hiểu về pháp luật thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì mục đích quốc gia, công cộng ở Việt Nam hiện nay, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì mục đích quốc gia, công cộng
Đồng thời, tác giải kết hợp lý luận và thực tiễn, đối chiếu để làm nổi bật những vấn đề hiện tại với nội dung các quy định pháp luật được nghiên cứu Việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu, xem xét các vấn đề lý luận gắn với thực tiễn cho phép nhìn nhận, đánh giá vấn đề một cách toàn diện, khách quan, biện chứng trong các mối quan hệ qua lại, gắn bó, tác động với nhau trong những hoàn cảnh, điều kiện cụ thể nhất định đối với vấn đề nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Làm rõ mối quan hệ, lợi ích trong việc thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội
vì mục đích quốc gia, công cộng theo Luật Đất đai năm 2013 Nhận diện, phân tích những bất cập của quy định trong Luật Đất đai hiện hành và các văn bản pháp luật liên quan Từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật đất đai về cơ chế thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì mục đích quốc gia, công cộng, đảm bảo quyền lợi cho các bên có liên quan đến việc thu hồi đất Đồng thời, góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho các cơ quan đưa ra những quyết sách đảm bảo cho pháp luật về thu hồi đất được thực hiện đầy đủ, nghiêm chỉnh
Trang 146.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nội dung luận văn có tác dụng làm tư liệu tham khảo đối với các cơ quan hữu quan trong việc nghiên cứu nhằm hoàn thiện pháp luật; làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu, giảng dạy và đào tạo tại các cơ sở nghiên cứu và đào tạo luật học
7 Cơ cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương sau đây:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật thu hồi đất để phát triển kinh
tế - xã hội vì mục đích quốc gia, công cộng theo Luật Đất đai năm 2013
Chương 2: Thực trạng pháp luật thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì
mục đích quốc gia, công cộng và thực tiễn thi hành tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực đến nay
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế
- xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
Trang 15CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT THU HỒI ĐẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÌ LỢI ÍCH QUỐC GIA,
CÔNG CỘNG THEO LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2013
1.1 Lý luận về thu hồi đất để triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo Luật Đất đai 2013
1.1.1 Khái niệm chung về thu hồi đất
1.1.1.1 Khái niệm thu hồi đất
Để làm cơ sở cho việc tìm hiểu khái niệm về thu hồi đất, trước hết ta phải
biết thế nào là thu hồi Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông định nghĩa: “Thu hồi là việc thu về lại, lấy lại cái trước đó đã đưa ra, đã cấp phát hoặc bị mất vào tay kẻ khác” [18]
Thu hồi đất được quy định ngay từ trước khi chế độ sở hữu toàn dân đối với toàn bộ đất đai được xác lập Luật Đất đai qua các thời kỳ, kể từ khi Hiến pháp
1980 được ban hành đến nay đều quy định về hoạt động thu hồi đất như là một công
cụ quản lý nhà nước và cũng nhằm để thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu của nhà nước đối với đất đai Trong điều kiện kinh tế thị trường, thu hồi đất còn được xem như là một khâu của quá trình điều phối đất đai Cùng với quá trình phát triển của pháp luật đất đai, chế định thu hồi đất cũng dần được hoàn thiện
Mặc dù được quy định và áp dụng từ khá lâu nhưng mãi đến khi Luật Đất
đai 2003, thu hồi đất mới được định nghĩa chính thức:“Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân (UBND) xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này” Khái niệm này cho thấy, phạm vi, giới hạn và mục đích của việc thu
hồi đất của Nhà nước đối với người sử dụng đất không được rõ ràng, theo đó, chúng thể hiện quyền lực của Nhà nước là quá lớn trong việc thu hồi đất, không chế định
rõ được trong trường hợp nào Nhà nước thu hồi đất để phục vụ cho lợi ích của nhà
Trang 16nước, khi nào Nhà nước thu hồi đất mà nguyên nhân do lỗi của người sử dụng đất gây ra hoặc những nguyên nhân khách quan khác Do vậy, sự tùy tiện, sự lạm quyền trong việc thu hồi đất là rất dễ xảy ra
Khắc phục tình trạng trên, Luật Đất đai 2013 đưa ra khái niệm: “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai” [16] Khái niệm này có rõ hơn so với khái niệm được quy
định trong Luật Đất đai 2003 Theo đó, thu hồi đất được đặt ra với hai giới hạn rõ ràng: Thu hồi lại đất mà đất đó do Nhà nước trao quyền hoặc thu lại đất do người sử dụng đất do vi phạm pháp luật của người sử dụng đất Tuy nhiên, đây vẫn là một khái niệm mang tính nguyên tắc và khái quát, phạm vi, ranh giới, mục đích và nguyên nhân của việc thu hồi đất của Nhà nước đối với người đang sử dụng đất vẫn chưa thực sự được cụ thể, rõ ràng Nội hàm của quy định: "Nhà nước trao quyền sử dụng đất” là một khái niệm vô cùng rộng lớn và có diễn biến phức tạp trong thực tiễn quản lý và sử dụng đất đai Vì vậy, việc nhận diện rõ việc thu hồi đất của Nhà nước đặt ra khi nào, trong những trường hợp nào, lý do của việc thu hồi đất thì cần phải nghiên cứu các quy định của pháp luật cụ thể
Tuy nhiên, với khái niệm trên, có thể hiểu thu hồi đất là việc Nhà nước lấy lại đất đã giao, đã cho thuê hoặc lấy lại đất đai của một tổ chức, cá nhân nào đó đang nắm giữ, quản lý, sử dụng, vì một mục đích nào đó của Nhà nước Thu hồi đất thể hiện tính chất quyền lực của nhà nước với tư cách là người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai; đồng thời nó cũng thể hiện tính mệnh lệnh, hành chính, bắt buộc đối với người đang chiếm giữ, sử dụng đất
Như vậy, để làm rõ khái niệm thu hồi đất, chúng ta cần đề cặp đến những trường hợp Nhà nước đứng ra thu hồi đất
1.1.1.2 Các trường hợp Nhà nước thu hồi đất
Với khái niệm chỉ mang tính nguyên tắc nêu trên về thu hồi đất sẽ không thể nhận diện được một cách chính xác về quyền của Nhà nước trong việc thu hồi đất của những người đang trực tiếp khai thác và sử dụng đất được đặt ra trong những
Trang 17trường hợp nào? Cơ sở, điều kiện nào để quyền của Nhà nước được thực hiện một cách khách quan, minh bạch và đúng pháp luật? Trả lời cho vấn đề này, sự cần thiết khách quan phải nhận diện rõ các trường hợp Nhà nước có quyền thu hồi đất
Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:
- Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; (Điều 61)
- Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; (Điều 62)
- Nhà nước thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai; (Điều 64)
- Nhà nước thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự
nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người (Điều 65)
Với các trường hợp nêu trên cho phép các cơ quan thực thi nhiệm vụ, quyền hạn về quản lý nhà nước đối với đất đai, các chủ thể sử dụng đất và các chủ thể khác có liên quan nhận thấy rõ được mục đính, lý do của việc thu hồi đất, phạm vi
và giới hạn của việc thu hồi đất Đây cũng là cơ sở, căn cứ để xác định quyền hạn
và trách nhiệm của Nhà nước đối với người có đất bị thu hồi; cũng là xác định quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất Đến đây, bản chất của việc thu hồi đất như được rõ ràng hơn Theo đó có thể hiểu một cách
cụ thể hơn thu hồi đất như sau: Thu hồi đất là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính để thu lại đất hoặc quyền sử dụng đất đã trao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân Việc thu hồi đất xuất phát từ nhu cầu phát triển của Nhà nước và xã hội; áp dụng các chế tài nhằm xử lý các hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng, quản lý đất đai hoặc tránh nguy cơ đe dọa tính mạng con người do các yếu tố ngoại cảnh tác động
1.1.1.3 Đặc điểm thu hồi đất
Thu hồi đất, về bản chất là sự chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai giữa 1 bên
là Nhà nước - đại diện chủ sở hữu toàn dân và bên kia là cá nhân, hộ gia đình, tổ chức sử dụng đất Nó đồng thời chấm dứt hiệu lực của các quyết định hành chính giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước ban
Trang 18hành từ trước cho người bị thu hồi Tất cả các quyền, nghĩa vụ phát sinh của chủ thể
sử dụng đất đã được ghi nhận sau khi được giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền
sử dụng đất cũng chính thức chấm dứt kể từ thời điểm có quyết định thu hồi đất Với những hệ quả pháp lý nêu trên, thu hồi đất có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Một là, thu hồi đất phải do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành bằng
quyết định hành chính Trong đó, xác định rõ chủ thể bị thu hồi, lý do thu hồi, diện tích thu hồi, mục đích thu hồi Đây là căn cứ làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai giữa Nhà nước và người sử dụng đất Đây cũng là cơ sở để xác định giới hạn trách nhiệm của Nhà nước đối với người có đất bị thu hồi ở mỗi trường hợp cụ thể Cùng với đó, quyết định thu hồi đất cũng là cơ sở để xác định thời điểm Nhà nước cần phải bù đắp những tổn thất về lợi ích cho người sử dụng đất trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất sử dụng cho mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế, xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Trong trường hợp thu hồi đất do các lỗi sai phạm của người sử dụng đất gây ra trong quá trình sử dụng đất thì quyết định thu hồi đất là
cơ sở để người sử dụng chấp hành, thực hiện việc trả lại đất cho Nhà nước
Hai là, thu hồi đất được thực hiện theo trình tự thủ tục nhất định Hệ quả
pháp lý của quyết định thu hồi đất như đã phân tích ở trên là chấm dứt quyền và lợi ích của những người đang trực tiếp khai thác và sử dụng đất Vì vậy, để đảm bảo việc thu hồi đất là có cơ sở, có căn cứ chính đáng, tránh sự tùy tiện, lạm quyền từ phía Nhà nước trong những trường hợp thu hồi đất vì mục tiêu phát triển kinh tế, đồng thời, đảm bảo việc thực thi pháp luật trên thực tế về thu hồi đất được thực hiện một cách ổn định, trật tự, có kế hoạch cụ thể, đảm bảo tính khách quan, công bằng, dân chủ và chính xác, minh bạch và công khai thì sự cần thiết phải tuân thủ nghiêm minh quy trình và thủ tục theo quy định của pháp luật
Ba là, tính hành chính mệnh lệnh, bắt buộc thực hiện giữa một bên là Nhà
nước và bên kia là người chiếm giữ, quản lý sử dụng đất từng diện tích đất cụ thể
Phương pháp mệnh lệnh là phương pháp được dùng chính trong mọi trường hợp thu hồi đất Đây là quan hệ giữa hai chủ thể không có sự bình đẳng về mặt pháp lý: Một bên là người sử dụng đất và một bên là Nhà nước Tuy nhiên, bên cạnh phương
Trang 19pháp mệnh lệnh hành chính là phương pháp giáo dục, thuyết phục cũng được sử dụng khi thu hồi đất để phục vụ mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia
Bốn là, thu hồi đất là một biện pháp pháp lý quan trọng nhằm thể hiện quyền
sở hữu toàn dân đối với đất đai mà nhà nước là người đại diện chủ sở hữu Để thực hiện nội dung này, quyền lực nhà nước được thể hiện nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước, xã hội và lập lại kỷ cương của Nhà nước trong trường hợp vi phạm luật đất đai
* So sánh khái niệm thu hồi đất và trưng dụng đất:
Cùng thể hiện là quyền lực nhà nước trong các quyết định hành chính của mình, song giữa quyết định hành chính về thu hồi đất với quyết định hành chính về trưng dụng đất có sự khác nhau cơ bản cần phải được nhận diện một cách rõ ràng, làm cơ sở xác định trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ nêu
trên Theo Luật Đất đai năm 2013, trưng dụng đất được định nghĩa là: “Nhà nước trưng dụng đất có thời hạn trong trường hợp có nhu cầu khẩn cấp của chiến tranh, thiên tai hoặc trong tình trạng khẩn cấp khác Hết thời hạn trưng dụng đất hoặc đã thực hiện xong mục đích trưng dụng đất, Nhà nước trả lại đất và bồi thường thiệt hại cho người bị trưng dụng đất do việc trưng dụng đất gây ra”
Từ khái niệm thu hồi đất và trưng dụng đất, ta thấy mặc dù giữa hai khái
niệm này có một số điểm giống nhau như: Đều do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện bằng hình thức quyết định hành chính; đều có sự chuyển giao quyền sử dụng đất Tuy nhiên, sau khi phân tích kỹ sẽ thấy giữa khái niệm thu hồi đất và
trưng dụng đất có khá nhiều điểm khác nhau, đó là:
Về mục đích: Thu hồi đất nhằm phục vụ lợi ích quốc gia công cộng, quốc
phòng an ninh, do sử dụng không đúng mục đích, không hiệu quả, cố tình hủy hoại đất, đất lấn chiếm, giao đất không đúng đối tượng, không đúng thẩm quyền, do vi
phạm pháp luật, do sạt lở, ô nhiễm môi trường Trưng dụng đất chỉ nhằm mục đích
bảo vệ quốc phòng, an ninh trong tình trạng chiến tranh hoặc phòng tránh thiên tai trong trường hợp khẩn cấp
Trang 20Về chuyển giao quyền sử dụng: Với thu hồi đất, đó là sự chấm dứt hoàn toàn
quyền sử dụng đất cả về mặt pháp lý và thực tế của một chủ thể sử dụng đất đối với một diện tích đất nhất định, để xác lập quyền sử dụng đất đó cho một chủ thể mới Song, trưng dụng đất là sự chấm dứt tạm thời về mặt thực tế quyền quản lý, khai thác và sử dụng đất trong một khoảng thời gian nhất định Hết thời hạn cần trưng dụng, quyền sử dụng đất lại khôi phục cho chủ thể ban đầu
Về bồi thường: Thu hồi đất thì có trường hợp được bồi thường, có trường hợp
không được bồi thường; trong trường hợp được bồi thường thì giá trị của bồi thường được tính trên cơ sở giá trị của diện tích đất bị thu hồi tại thời điểm có quyết định thu hồi đất Song, đối với trường hợp trưng dụng đất, chỉ được bồi thường khi
có thiệt hại xảy ra và thiệt hại đó được tính trong khoảng thời gian Nhà nước trung dụng đất mà thôi
Về hậu quả pháp lý: Thu hồi đất làm chấm dứt quyền của người sử dụng đất;
trưng dụng đất chỉ làm chấm dứt tạm thời quyền của người sử dụng đất Khi kết thúc thời hạn trưng dụng, cơ quan trưng dụng sẽ trả lại quyền sử dụng cho người sử dụng đất
1.1.1.3 Cơ sở và sự cần thiết khách quan của việc thu hồi đất
Thu hồi đất dựa trên cơ sở và sự cần thiết khách quan sau đây:
Thứ nhất, dựa trên chế độ sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước với vai
trò là chủ sở hữu đại diện và thống nhất quản lý
Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, chế độ sở hữu này được xây dựng dựa trên những nền tảng lý luận khá vững chắc
và cơ sở thực tiễn phù hợp với điều kiện hoàn cảnh đất nước ta Điều này đã trở thành nguyên tắc cơ bản nhất của quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp LĐĐ từ Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 đến Hiến pháp năm 2013 và Luật Đất đai năm 2013 hiện nay
Theo quy định tại Điều 53 Hiến pháp năm 2013: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý, là tài sản công thuộc sở hữu toàn
Trang 21dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”[15] Việc thực hiện sở
hữu toàn dân về đất đai, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu nhằm đảm bảo cho Nhà nước chủ động trong khai thác, sử dụng tài nguyên đất đai phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng; phục vụ yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Bên cạnh đó, đất đai là thành quả do công sức, xương máu của bao thế hệ người Việt Nam khai phá, gìn giữ, cải tạo Việc tiếp tục quy định sở hữu toàn dân đối với đất đai trong giai đoạn hiện nay nhằm bảo đảm ổn định trong quản lý, sử dụng đất đai và ổn định xã hội Đất đai với ý nghĩa là nguồn lực quan trọng cần được khai thác sử dụng hiệu quả nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, với tư cách đại diện chủ sở hữu đối với đất đai, Nhà nước có quyền định đoạt đất đai, miễn là sự định đoạt đó không trái với nguyên tắc hiến định và không đi ngược lại mong muốn và quyền lợi của nhân dân, mà nhằm khai thác tốt nhất tiềm năng đất đai, đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người
sử dụng đất Nhà nước có quyền điều chỉnh, phân bổ đất đai (thông qua giao đất, thu hồi đất) cho phù hợp với những mục tiêu kinh tế, xã hội của đất nước trong từng thời kỳ Như vậy, xét về mặt lý luận, Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai chỉ giao quyền sử dụng đất chứ không giao quyền sở hữu đất đai cho người sử dụng đất Do đó, khi cần thực thi quyền đại diện chủ sở hữu hoặc khi có nhu cầu sử dụng đất cho mục đích chung của xã hội hay các mục tiêu chiến lược của đất nước, thì Nhà nước có quyền thu hồi Có thể nói, quyền đại diện sở hữu của Nhà nước đối với đất đai là cơ sở, là nền tảng pháp lý cho Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất Vấn đề đặt ra là, Nhà nước được thu hồi đất trong những trường hợp nào và Nhà nước phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc thu hồi đất ra sao, điều này cần có sự ghi nhận chặt chẽ và rõ ràng trong pháp luật đất đai
Thứ hai, chức năng quản lý nhà nước về đất đai
Các quan hệ đất đai là các quan hệ xã hội trong lĩnh vực kinh tế, bao gồm: quan hệ về sở hữu đất đai, quan hệ về sử dụng đất đai, quan hệ về phân phối các sản
phẩm do sử dụng đất mà có
Khi nghiên cứu về quan hệ đất đai, ta thấy có các quyền năng của sở hữu nhà
Trang 22nước về đất đai bao gồm: Quyền chiếm hữu đất đai, quyền sử dụng đất đai, quyền định đoạt đất đai Các quyền năng này được Nhà nước thực hiện trực tiếp bằng việc xác lập các chế độ pháp lý về quản lý và sử dụng đất đai Nhà nước không trực tiếp thực hiện các quyền năng này mà thông qua hệ thống các cơ quan nhà nước do Nhà nước thành lập ra và thông qua các tổ chức, cá nhân sử dụng đất theo những quy định và theo sự giám sát của Nhà nước Hoạt động trên thực tế của các cơ quan nhà nước nhằm bảo vệ và thực hiện quyền sở hữu nhà nước về đất đai rất phong phú và
đa dạng, bao gồm: hoạt động nắm chắc tình hình đất đai, phân phối và phân phối lại đất đai và thanh tra, giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất Trong các hoạt động
đó, hoạt động phân phối và phân phối lại đất đai là hoạt động cơ bản, diễn ra thường xuyên nhất Nhà nước thực hiện việc phân phối và phân phối lại đất đai theo quy hoạch và kế hoạch chung thống nhất Trong quá trình phát triển của đất nước, ở từng giai đoạn cụ thể, nhu cầu sử dụng đất đai của các ngành, các cơ quan, tổ chức cũng khác nhau, Nhà nước với vai trò chủ quản lý đất đai thực hiện phân phối đất đai cho các chủ sử dụng; theo quá trình phát triển của xã hội, Nhà nước còn thực hiện phân phối lại quỹ đất đai cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử cụ thể Để thực hiện việc phân phối và phân phối lại đất đai, Nhà nước đã thực hiện việc chuyển giao quyền sử dụng đất giữa các chủ thể khác nhau, thực hiện việc điều chỉnh giữa các loại đất, giữa các vùng kinh tế Hơn nữa, Nhà nước thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, cho phép chuyển quyền sử dụng đất và thu hồi đất Như vậy, thu hồi đất là một trong những chức năng, nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước trong quá trình thực hiện quản lý nhà nước về đất đai
Thứ ba, vì sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
Đất nước ta đang trong quá trình phát triển và hội nhập, vì vậy đô thị hóa, công nghiệp hóa là một xu thế tất yếu, gắn liền với những biến đổi về kinh tế - xã hội Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mở ra không chỉ vì bản thân
sự phát triển tất yếu của nền kinh tế mà còn xuất phát từ mục tiêu, con đường đi tới chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đã lựa chọn
Trang 23Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặt ra yêu cầu Nhà nước phải dành một quỹ đất để xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật; xây dựng các khu công nghiệp, khu kinh
tế, khu công nghệ cao v.v Tuy nhiên, do tính đặc thù của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu: Nhà nước không trực tiếp chiếm hữu,
sử dụng đất đai mà giao đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài (gọi chung là người sử dụng đất) Khi Nhà nước có nhu cầu sử dụng đất vào mục đích chung như sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng … thì Nhà nước phải thu hồi đất của người sử dụng đất Việc thu hồi đất do nhu cầu của Nhà nước sẽ là hợp lí, hợp quy luật và chính đáng nếu đất đó được khai thác và sử dụng có hiệu quả cho các mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và vì mục tiêu phát triển kinh tế Việc thu hồi đất cũng sẽ là tất yếu và nhận được sự đồng lòng, nhất trí cao của người có đất bị thu hồi nếu đất đó được sử dụng đích thực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, đô thị hóa đất nước và đi kèm với đó là chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người có đất bị thu hồi một cách thỏa đáng, hơn thế nữa là sự bố trí việc làm gắn liền với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách hợp lí, cân bằng
Thứ năm, đảm bảo tính pháp chế trong quản lý và sử dụng đất đai Chính
sách đất đai có thực sự đảm bảo sự hài hòa về quyền và lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng đất hay không, có đảm bảo sự công bằng và bình đẳng giữa các chủ thể sử dụng đất hay không, đất đai được trao cho các chủ thể có đảm bảo được khai thác và sử dụng có hiệu quả, đúng mục đích hay không thì đòi hỏi khách quan là các chủ thể được trao quyền sử dụng đất phải tuân thủ tuyệt đối các nghĩa vụ của mình trong quá trình sử dụng đất Sự tuân thủ này mới là điều kiện, là
cơ sở để Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể trong quá trình
sử dụng đất Ngược lại, bất kỳ một hành vi nào không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ của người sử dụng đất đều là những hành vi trái pháp luật, không tôn trọng pháp chế xã hội chủ nghĩa, theo đó, nguy cơ mất quyền sử dụng đất
là khó tránh khỏi Theo đó, quyết định thu hồi đất còn hướng tới nhằm đảm bảo tính
pháp chế trong quản lý và sử dụng đất đai [20]
Trang 241.1.1.4 Nguyên tắc thu hồi đất
Các nguyên tắc thu hồi đất cũng là một trong các nội dung nhằm đảm bảo cho việc thu hồi đất được thực hiện đúng pháp luật, nghiêm minh và hướng tới bảo
vệ lợi ích nhà nước, của người có đất bị thu hồi và lợi ích chung của xã hội Với mục đích trên, thu hồi đất được thực hiện dựa trên các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc thứ nhất: Về hình thức, thu hồi đất là hành vi hành chính do cơ
quan nhà nước thực hiện thông qua hình thức ban hành văn bản hành chính Vì vậy, thu hồi đất trong mọi trường hợp đều mang tính quyền lực nhà nước và chỉ có thể thực hiện bởi một cơ quan nhà nước do pháp luật quy định, không được phép uỷ quyền
Nguyên tắc thứ hai: Về nội dung, thu hồi đất phải được thực hiện dựa trên
lợi ích chung, lợi ích công cộng Ngoài căn cứ vi phạm pháp luật đất đai hay việc chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người thì lợi ích chung và lợi ích công cộng được xem là những căn
cứ cơ bản và quan trọng nhất của hành vi thu hồi đất
Nguyên tắc thứ ba: Thu hồi đất phải có lý do rõ ràng, chính đáng; đúng qui
hoạch do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
Nguyên tắc thứ tư: Việc thu hồi đất phải được tiến hành dân chủ, minh bạch,
công khai, kịp thời; trình tự, thủ tục thu hồi đất đất phải tuân thủ đúng theo qui định của pháp luật
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của thu hồi đất để phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
1.1.2.1 Khái niệm thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc
gia, công cộng
Dựa trên khái niệm về thu hồi, thu hồi đất nói chung, cùng với đó là việc nghiên cứu các trường hợp thu hồi đất (phân loại các trường hợp thu hồi đất) theo quy định của pháp luật hiện hành cho thấy, thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội
vì lợi ích quốc gia, công cộng là một trong những trường hợp thu hồi đất do Nhu cầu của Nhà nước, của xã hội Theo đó, vì mục tiêu và yêu cầu đầu đặt ra của nhiệm
Trang 25vụ phát triển kinh tế, xã hội trong từng giai đoạn mà Nhà nước bằng quyền lực và vai trò của mình có quyền điều tiết, phân phối lại đất đai để hiện thực hóa mục tiêu đặt ra Thu hồi đất đặt ra trong trường hợp này chính là biểu hiện của nội dung đó
Như vậy có thể hiểu: Thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng là hành vi Nhà nước dùng quyền lực của mình thông qua các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thu hồi đất nhằm sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế - xã hội phục vụ cho lợi ích quốc gia, công cộng Việc thu hồi đất được thực hiện bằng biện pháp mệnh lệnh hành chính
1.1.2.2 Đặc điểm thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
Thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng ngoài các đặc điểm như thu hồi đất nói chung bắt buộc thì nó còn có một số đặc điểm riêng như sau:
Thứ nhất, phạm vi thu hồi đất tương đối hẹp, chỉ được thực hiện đối với các
loại dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư, các dự án
do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư và các dự án do HĐND cấp tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư Đây là đặc điểm quan trọng cho phép phân định phạm vi và giới hạn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc ra các quyết định hành chính thu hồi đất sao cho đảm bảo điều tiết đất đai một cách có hiệu quả nhằm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phục vụ tốt hơn các lợi ích công cộng chung của xã hội Đồng thời, đặc điểm này cũng cho phép phân biệt các quyết định thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư, kinh doanh ở các lĩnh vực khác nhau mà không thuộc trường hợp nêu trên Điều này
là cơ sở quan trọng để xác định cơ chế thu hồi đất, cơ chế bồi thường và giải phóng mặt bằng
Thứ hai, thu hồi đất phải dựa trên kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp
huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và tiến độ sử dụng đất thực hiện dự án Đây là đặc điểm có ý nghĩa quan trọng nhằm hạn chế sự tùy tiện và lạm quyền thu hồi đất một cách tràn lan trên thực tế của cán bộ có thẩm quyền, ngăn
Trang 26ngừa lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ xảy ra trong thu hồi đất Theo đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất của người đang sử dụng đất để giao cho các tổ chức, cá nhân khác sử dụng phải dựa trên "kế hoạch sử dụng đất hàng năm" mà không được tùy tiện chuyển mục đích sử dụng đất vì lợi ích của nhà đầu tư thông qua việc thu hồi đất Bên cạnh đó, nhà đầu tư muốn có được đất mà Nhà nước thu hồi của người sử dụng để giao cho mình thì điều kiện tiên quyết là phải cam kết dự
án đầu tư phải thực hiện đúng tiến độ
* Sự khác nhau giữa thu hồi đất để phát riển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo Điều 62 và thu hồi đất các mục đích khác theo Luật Đất đai năm 2013
So với Luật Đất đai năm 2003, việc quy định về thu hồi đất của Luật Đất Đai năm 2013 có những tiến bộ rất lớn Theo đó, Luật đã xác định rõ các trường hợp Nhà nước thu hồi đất và những trường hợp được bồi thường đất theo giá Nhà nước quy định theo Điều 61, 62, 64, 65 Bên cạnh đó, Điều 73 Luật Đất đai 2013 cũng quy định việc nhà đầu tư có thể thỏa thuận với người sử dụng đất để nhận quyền sử dụng đất thông qua việc nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất nhằm thực hiện dự án, công trình sản xuất kinh doanh không thuộc trường hợp thu hồi đất theo Điều 61, 62 nhằm tách bạch đâu là thu hồi đất để thực hiện phát triển kinh tế - xã hội vì mục đích quốc gia, công cộng, đâu là
dự án sử dụng đất vào mục đích kinh tế thuần túy
Căn cứ các qui định của Luật thì Điều 62 và 73 có những những nội dung khác nhau căn bản sau đây:
Về mục đích: Nhà nước thu hồi đất theo Điều 62 nhằm mục đích phát triển
kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, còn việc nhận chuyển nhượng, thuê, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện các dự án sản xuất, kinh doanh theo Điều 73 là nhằm mục đích kinh tế đơn thuần
Về cơ chế thu hồi đất: Nếu như Điều 62 quy định việc Nhà nước thu hồi đất
đối với các dự án sử dụng đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng để nhằm cụ thể quy định tại Điều 54 của Hiến pháp năm 2013, các dự án này
Trang 27được quy định chi tiết theo hướng kiểm soát chặt chẽ hơn và thu hẹp hơn các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Cụ thể là: Nhà nước chỉ thu hồi đất đối với các dự án đã được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư; dự án được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư và một số trường hợp được Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh xem xét thông qua chủ trương thu hồi đất, thì đối với Điều 73, Nhà nước không thực hiện việc thu hồi đất mà chủ đầu tư và người sử dụng đất tự thỏa thuận việc sử dụng đất để sản xuất, kinh doanh thông qua hình thức nhận chuyển nhượng, thuê, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất
Về cơ chế bồi thường: Đối với các trường hợp đáp ứng đầy đủ điều kiện của
Luật Đất đai, khi Nhà nước thu hồi đất đối với các dự án sử dụng đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thông qua việc bồi thường về đất theo phương thức đất đổi đất hoặc theo giá đất do Nhà nước quy định Đối với việc nhận chuyển nhượng, thuê, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện các dự án sản xuất, kinh doanh thì chủ đầu tư phải thỏa thuận với người sử dụng đất về giá bồi thường, góp vốn, thuê
Về trình tự, thủ tục thu hồi đất: Việc thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội
vì lợi ích quốc gia, công cộng được thực hiện theo trình tự thủ tục rất chặt chẽ theo Điều 69, 70, 71 Đặc biệt trong đó là trình tự cưỡng chế kiểm đếm để lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, trình tự cưỡng chế thu hồi đất Đối với việc nhận chuyển nhượng, thuê, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện các dự án sản xuất, kinh doanh thì trình tự, thủ tục khá đơn giản chỉ cần chủ đầu tư và những người bị thu hồi đất thỏa thuận bằng văn bản thống nhất về phương án bồi thường
về đất và tài sản gắn liền với đất hoặc khu đất thu hồi không phải giải phóng mặt bằng thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất, giao đất hoặc cho thuê đất
Tóm lại: Với việc quy định tách bạch các trường hợp phải thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng và thu hồi đất để thực hiện các dự án sản xuất, kinh doanh đã góp phần đảm bảo công khai, minh bạch và dân
Trang 28chủ, giảm khiếu kiện phát sinh từ cơ chế sử dụng đất để sản xuất, kinh doanh; đặc biệt là từ quy định này, Luật Đất đai năm 2013 làm rõ những trường hợp Nhà nước thu hồi đất thì người sử dụng đất được bồi thường theo giá đất do Nhà nước xác định, còn những trường hợp còn lại (Nhà nước không thu hồi đất) thì người sử dụng
đất được chủ đầu tư trả tiền theo giá đất do các bên thỏa thuận
1.1.2.3 Sự cần thiết phải thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
Cùng với việc chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường và sự đổi mới
cơ chế quản lý đất đai, đất đai đã được trở thành một loại tài sản có giá Để đảm bảo cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nhà nước phải có một quỹ đất lớn cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, các khu công nghiệp, khu kinh tế cao và đô thị hóa…vì vậy, việc thu hồi đất này để chuyển sang mục đích khác là tất yếu Hiến
pháp năm 2013 quy định: "Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật" Lần đầu tiên, vấn đề
thu hồi đất và yêu cầu của việc thu hồi đất, đặt biệt là thu hồi đất cho mục đích phát triển kinh tế, xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng được Hiến pháp ghi nhận và trở thành định hướng chỉ đạo, là cơ sở gốc cho Luật Đất đai xây dựng cơ sở pháp lý và
cơ chế vận hành phù hợp Sự ghi nhận này trong Hiến Pháp cho thấy tính chất và tầm quan trọng của công tác này Theo đó, thu hồi đất để phục vụ cho các mục đích quốc gia, công công là tất yếu, song lấy đất của người dân đang trực tiếp khai thác,
sử dụng và hưởng lợi cho các công trình, các dự án vì mục đích chung như thế nào cho hợp lý, có hiệu quả, đảm bảo sự công bằng, nhận được sự đồng thuận cao từ phía người dân thì cần thiết phải có chính sách, pháp luật rõ ràng, cụ thể, có cơ chế thực thi thích hợp, công tâm, khách quan và minh bạch Thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thực chất là việc xử lý mối quan hệ lợi ích giữa 03 chủ thể: Nhà nước – người dân có đất bị thu hồi – nhà đầu tư Có lúc, có nơi, lợi ích của các chủ thể không thống nhất, không được giải quyết hài hòa, thậm
Trang 29chí đối lập nhau nên dẫn đến tranh chấp, khiếu kiện mà là tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, phức tạp, gây mất ổn định trật tự, xã hội, làm giảm lòng tin của người dân đối với Đảng và Nhà nước Vì vậy, bằng pháp luật, vấn đề thu hồi đất nói chung, thu hồi đất để phát triển kinh tế, xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng cần phải được ghi nhận và đảm bảo đảm thực thi bằng pháp luật Thông qua hoạt động thu hồi đất, quyền lực Nhà nước được thể hiện nhằm mục đích đảm bảo lợi ích của Nhà nước, của xã hội, thiết lập kỷ cương trong quản lý nhà nước về đất đai
1.2 Lợi ích trong quan hệ thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
Các mối quan hệ trong xã hội nói chung cũng như quan hệ pháp luật, suy cho cùng đều hướng vào một mục đích cụ thể nào đó Những lợi ích này nhằm làm thỏa mãn các chủ thể tham gia quan hệ đó, như lợi ích tinh thần, lợi ích vật chất, lợi ích kinh
tế Trong quan hệ thu hồi đất vì lợi ích quốc gia, công cộng mà nó hướng đến chính là phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước hoặc cộng đồng dân cư
1.2.1 Lợi ích của Nhà nước
Nhà nước có vai trò chi phối tất cả các hoạt động trong quản lý xã hội, vì thế khi thực hiện bất kỳ hoạt động nào Nhà nước cũng đều đề ra mục đích, mục tiêu để hướng đến nhằm mang lại lợi ích nhất định nào đó Lợi ích của Nhà nước trong quan hệ thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng là tạo lập được quỹ đất để giao cho các chủ đầu tư thực hiện các dự án phát triển kinh tế -
xã hội phục vụ cho lợi ích quốc gia, công cộng theo quy hoạch, kế hoạch của mình Bên cạnh đó còn thu được các khoản kinh phí từ việc giao đất và đấu thầu các công trình trên diện tích đã thu hồi để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
1.2.2 Lợi ích của chủ đầu tư
Chủ đầu tư đối với các dự án được Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế
- xã hội vì mục đích quốc gia công công là các doanh nghệp Vì vậy khi đầu tư vào các dự án mục đích đầu tiên họ nhắm đến là lợi nhuận Trên thực tế, khi đầu tư vào các dự án phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia công công từ đất được nhà nước thu hồi giao cho, nhà đầu tư luôn thực hiện theo các yêu cầu của nhà nước đưa
Trang 30ra, nhưng bên cạnh đó họ cũng tạo ra lợi nhuận rất lớn cho mình thông qua nhiều hoạt động như xây dựng công trình, khai thác quỹ đất Vì lẽ đó, trong các quan hệ thu hồi đất đều không thể vắng bóng các nhà đầu tư và có thể khẳng định rằng trong thời điểm hiện tại chưa có loại hình sản xuất, kinh doanh nào mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư bằng lợi nhuận khi được Nhà nước giao đất để thực hiện các dự án, bất kể dự án đó vì mục đích gì
1.2.3 Lợi ích của người sử dụng đất
Người sử dụng đất trong quan hệ pháp luật thu hồi đất để phát triển kinh tế -
xã hội vì mục đích quốc gia, công cộng mặc dù có một bộ phận bị thiệt thòi về quyền lợi, nhưng nhìn chung đa phần là người được hưởng lợi từ việc giao lại đất cho nhà nước: Chất lượng cuộc sống được nâng lên cả về vật chất lẫn tinh thần từ việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, khu dân cư, khu đô thị; được nhận đền bù, hỗ trợ tái định cư và một số cơ chế khác do các địa phương quy định trên cơ sở pháp luật… Ngoài ra, người sử dụng đất cũng được hưởng lợi từ các dự án như được hỗ trợ tạo điều kiện về chuyển đổi nghề nghiệp, được tạo công ăn việc làm
1.2.4 Căn cứ đảm bảo lợi ích các bên
Để đảm bảo lợi ích của các bên trong quan hệ thu hồi đất để phát triển kinh tế
-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, cần xác định rõ quyền, lợi ích của các bên Hiện nay, việc bảo đảm lợi ích đó được xác định thông qua cơ chế bồi thường về đất và tài sản gắn liền trên đất Theo đó, vệc bồi thường được thực hiện thông qua các hình thức là: Giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi hoặc nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu
hồi do UBND cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi [7] Bên cạnh cơ
chế bảo đảm chính là bồi thường thiệt hại thì Nhà nước còn đưa ra một số cơ chế mang tính bổ trợ như: Hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề cho lao động nông nghiệp bị mất đất sản xuất; miễn, giảm các khoản đóng góp cho các gia đình bị thu hồi đất
Tóm lại, trong quan hệ thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, các chủ thể đều hướng đến những lợi ích cụ thể và nhà nước đã ban
Trang 31hành nhiều cơ chế để bảo đảm quyền lợi của các bên trong quan hệ thu hồi đất Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy các cơ chế liên quan đến bảo đảm lợi ích của các bên trong quan hệ thu hồi đất hiện nay còn bất cập, người dân luôn bị thiệt thòi Chính một số cơ chế này hiện nay đang làm phát sinh tiêu cực, tham nhũng dẫn đến việc lợi dụng để chạy dự án, khiếu kiện vì bất công bằng trong giải quyết lợi ích khi thu hồi đất luôn là vấn đề căng thẳng
1.3 Lý luận pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế-xã hội vì lợi
ích quốc gia, công cộng
1.3.1 Khái niệm và đặc điểm của pháp luât về thu hồi đất để phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
Pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng là một bộ phận hoặc một lĩnh vực của pháp luật đất đai Nó bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thu hồi đất
Đi sâu tìm hiểu pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, tác giả nhận thấy lĩnh vực pháp luật này có một số đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc
gia, công cộng thuộc nhóm pháp luật công Nó bao gồm các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh những quan hệ xã hội giữa một bên là cơ quan nhà nước có thẩm quyền với bên kia là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân với tư cách là người sử dụng đất bị thu hồi đất Đây là nhóm quan hệ xã hội thể hiện sự bất bình đẳng về địa vị pháp lý giữa các bên Tính quyền uy - phục tùng được thể hiện rõ nét; theo đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền ban hành mệnh lệnh và người sử dụng đất có nghĩa vụ chấp hành mệnh lệnh đó Hay nói cách khác, việc thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng phụ thuộc phần lớn vào
ý chí chủ quan của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Điều này có nghĩa, khi Nhà nước có nhu cầu cần một diện tích đất để phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
Trang 32các văn bản hành chính liên quan đến việc thu hồi đất và người sử dụng đất phải
có nghĩa vụ chấp hành
Thứ hai, pháp luật thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc
gia, công cộng bao gồm các quy định về nội dung thu hồi đất (quy định về nội dung) và các quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất (quy định về hình thức)
Các quy định về nội dung thu hồi đất bao gồm quy định về căn cứ, nguyên tắc, điều kiện, đối tượng, diện tích, vị trí; quyền và nghĩa vụ của các bên v.v
Các quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng bao gồm quy định về hồ sơ liên quan đến thông báo thu hồi đất, hồ sơ liên quan đến công tác kiểm đếm, hồ sơ liên quan đến công tác ban hành quyết định thu hồi đất, cường chế thu hồi đất ; quy định về trình tự các bước thực hiện thủ tục thu hồi đất v.v
Thứ ba, pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc
gia, công cộng bao gồm các quy phạm pháp luật vừa mang tính pháp lý vừa mang tính kỹ thuật, nghiệp vụ
- Tính pháp lý thể hiện, các quy định về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo đúng quy định về thể thức, thời gian, thẩm quyền và trình tự, thủ tục của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
- Tính kỹ thuật nghiệp vụ thể hiện, chiếm số lượng đáng kể các quy định về thu hồi đất không chỉ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và mang tính bắt buộc chung được đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước mà còn là các quy phạm mang tính kỹ thuật, nghiệp vụ
Thứ tư, pháp luật đất đai nói chung và pháp luật về thu hồi đất để phát triển
kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng nói riêng là phương thức để Nhà nước thực hiện việc quản lý đất đai Điều này có nghĩa là nó quy định thẩm quyền thu hồi đất; đối tượng, điều kiện, căn cứ và nguyên tắc thu hồi đất v.v để buộc cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân phải tuân thủ Thông qua đó, Nhà nước không chỉ đạt được mục đích phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng của mình mà còn khắc phục
Trang 33được tình trạng thu hồi đất bừa bãi, sai thẩm quyền, sai mục đích; đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đất đai
1.3.2 Cơ cấu pháp luật điều chỉnh về thu hồi đất để phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
Có thể nói, đến nay hệ thống pháp luật đất đai ở nước ta khá đầy đủ, bao gồm các chế định, quy định pháp luật do Nhà nước ban hành và được quy định trong Hiến pháp, Luật Đất đai, các nghị định, thông tư hướng dẫn, nhằm điều chỉnh quan hệ thu hồi đất cho phát triển kinh tế - xã hội vì mục đích quốc gia, công cộng
Trên cơ sở các quy định của pháp luật, chúng ta biết rằng, quan hệ pháp luật
là quan hệ xã hội được qui phạm pháp luật điều chỉnh Nhờ đó, các chủ thể tham gia vào quan hệ đó được hưởng những quyền và lợi ích, đồng thời phải gánh vác những nghĩa vụ nhất định Những quyền và nghĩa vụ của các chủ thể đó được Nhà nước đảm bảo thực hiện
Từ những phân tích trên, có thể khái quát khái niệm này như sau: Quan hệ pháp luật thu hồi đất cho phát triển kinh tế - xã hội vì mục đích quốc gia, công cộng
là những quan hệ xã hội phát sinh trực tiếp trong quá trình thực hiện thu hồi đất cho phát triển kinh tế - xã hội vì mục đích quốc gia, công cộng giữa Nhà nước, người sử dụng đất và những tổ chức, cá nhân có liên quan, được pháp luật đất đai điều chỉnh
- Chủ thể quan hệ pháp luật thu hồi đất để phát triển kinh tế-xã hội vì mục đích quốc gia công cộng bao gồm:
+ Các cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai:
Các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền chung; các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền chuyên môn; các cơ quan quản lý chuyên ngành đối với đất đai, các cơ quan quản lý có thẩm quyền chuyên môn thuộc các ngành, lĩnh vực
có liên quan
+ Chủ thể sử dụng đất (chủ thể bị thu hồi đất):
Chủ thể sử dụng đất (chủ thể bị thu hồi đất) là những người có quyền sử
dụng đất, như các tổ chức trong nước; hộ gia đình, cá nhân; cộng đồng dân cư; cơ
Trang 34sở tôn giáo; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tổ chức, cá nhân nước ngoài;
+ Các chủ thể khác tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai khi nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế-xã hội vì mục đích quốc gia, công cộng:
Các tổ chức, cá nhân được nhà nước giao đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế xã hội vì mục đích quốc gia, công cộng (nhà đầu tư)
- Khách thể của quan hệ pháp luật thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì mục đích quốc gia, công cộng:
Khách thể mà Nhà nước hướng tới là toàn bộ vốn đất đai của quốc gia trong việc thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích đích quốc gia, công cộng, được phân chia thành các nhóm đất sau: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng Theo đó, việc thu hồi các loại đất khác nhau ở mỗi địa phương, từng vùng, từng miền, từng thửa đất và cao hơn là vốn đất trong phạm vi cả nước là nhằm hướng tới việc khai thác và sử dụng có hiệu quả quỹ đất sau khi thu hồi để phục vụ cho lợi ích của quốc gia, lợi ích công cộng
Đối với người sử dụng đất: khách thể mà người sử dụng đất hướng tới trong quan hệ thu hồi đất là lợi ích mà họ được Nhà nước bù đắp sau khi đất của họ bị thu hồi đất bao gồm cả lợi ích từ việc bồi thường đất, tài sản trên đất, các lợi ích từ việc
hỗ trợ và chính sách tái định cư như thế nào để đảm bảo ổn định đời sống, việc làm
và những tổn thất do việc chấm dứt quyền khai thác và hưởng lợi trên đất và giá trị của quyền sử dụng đất bị thu hồi
Đối với chủ đầu tư, khách thể mà họ hướng tới là từng thửa đất cụ thể, lợi ích
mà thửa đất đó mang lại khi Nhà nước trao cho họ để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ich quốc gia, công cộng Tuy nhiên, cần phải nhận thấy rằng, lợi ích của nhà đầu tư trong trường hợp này luôn phải được "đặc sau" lợi ích của quốc gia, công cộng bởi mục đích của Nhà nước ngay từ ban đầu khi giao đất đã xác định rõ trọng trách của nhà đầu tư sử dụng đất trong trường hợp này Điều này khác hoàn toàn với trường hợp Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho nhà đầu tư sử dụng để thực hiện các dự
án đầu tư kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận
Trang 35- Nội dung quan hệ pháp luật thu hồi đất vì mục đích quốc gia, công cộng
Nội dung của quan hệ pháp luật là tổng thể các quyền chủ thể và nghĩa vụ
pháp lý của các bên chủ thể tham gia Theo đó, trong quan hệ pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế-xã hội vì mục đích quốc gia, công cộng nội dung các quan
hệ đó được thể hiện như sau:
- Nhà nước và Chủ đầu tư
Nhà nước thực hiện quyền định đoạt của mình, đứng ra thu hồi đất của người
sử dụng đất để giao lại cho chủ đầu tư Quan hệ này không mang tính kinh tế vì Nhà nước là người đứng ra thu hồi và bàn giao mặt bằng cho nhà đầu tư thực hiện các dự
án phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
- Nhà nước và người sử dụng đất
Nhà nước thu thu hồi đất của người sử dụng đất có bồi thường, hỗ trợ theo
khung giá đất Nhà nước quy định để giao cho chủ đầu tư Đây là quan hệ hành chính - mệnh lệnh, có tính bắt buộc người sử dụng đất phải chấp hành
- Chủ đầu tư và người sử dụng đất
Chủ đầu tư là người được Nhà nước giao đất để thực hiện các dự án sau khi thu hồi của người sử dụng đất Xét về mặt lý thuyết, lúc này giữa người sử dụng đất bị thu hồi và chủ đầu tư không có mối quan hệ gì do người sử dụng đất đã bị chấm dứt quyền
sử dụng đối với diện tích đã bị thu hồi Tuy nhiên, trên thực tế một số trường hợp giữa chủ đầu tư và người bị thu hồi đất vẫn có mối quan hệ xuất phát từ việc thu hồi đất như: Thực hiện nội dung lời hứa của chủ đầu tư về hỗ trợ thêm, tạo việc làm cho người
bị thu hồi đất; tiếp tục bàn giao mặt bằng giữa các bên; giải quyết những vấn đề còn vướng mắc giữa các bên
Có thể nói thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội và lợi ích quốc gia, công cộng là một hoạt động có tính mục đích Mục đích của việc thu hồi đất chính
là mang lại những giá trị cho phát triển kinh tế - xã hội nhằm phục vụ lợi ích chung cho quốc gia, cho cộng đồng mà trực tiếp là các chủ thể tham gia quan hệ này Từ mối quan hệ lợi ích đó, mà quan hệ pháp luật về thu hồi đất được hình thành Việc mang lại lợi ích cho quốc gia, cộng đồng là quan trọng nhất, nhưng
Trang 36không phải vì thế mà bỏ qua hoặc xem nhẹ lợi ích của các chủ thể có liên quan
Do vậy, việc điều chỉnh nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên tham gia quan
hệ thu hồi đất là vấn đề lớn mà Luật Đất đai cần hướng đến [6]
Để điều chỉnh các mối quan hệ nêu trên một cách hài hòa, hợp lý, công bằng và đúng quy trình, thủ tục, minh bạch, dân chủ, công khai và khách quan, cơ cấu pháp luật về thu hồi đất bao gồm nhóm các chế định sau đây không thể thiếu như: lý do, căn cứ, nguyên tắc, trình tự, thủ tục và thẩm quyền thu hồi đất và cơ chế đảm bảo thực thi pháp luật về thu hồi đất Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người có đất bị thu hồi và nhà đầu
tư được Nhà nước giao đất, cho thuê đất trên cơ sở đó mà thực hiện
1.2.3 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
Sau đại thắng mùa xuân 1975 thống nhất đất nước, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta bắt tay vào kiến thiết và xây dựng lại đất nước trên đống hoang tàn, đổ nát của chiến tranh Lúc này, do còn nhiều thiếu thốn, hạn chế, bên cạnh đó còn nhiều vấn đề cần giải quyết cấp bách nên chúng ta chưa thể có các văn bản quy phạm pháp luật thống nhất để điều chỉnh việc thu hồi đất cho phát triển kinh tế -xã hội vì mục đích quốc gia, công cộng Để phục vụ cho việc tái thiết đất nước và phát triển kinh tế - xã hội, chính quyền địa phương từng cấp ban hành các loại văn bản để thu hồi, trưng thu, trưng mua đất đai của nhân dân theo từng nhiệm vụ cụ thể, thời điểm nhất định
Đến năm 1987, một năm sau khi thực hiện đường lối đổi mới, Quốc hội nước
ta đã ban hành Luật Đất đai đầu tiên Trong đó đã có quy định về các trường hợp thu hối đất Tuy nhiên, Luật cũng chưa nêu rõ mục đích thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì mục đích quốc gia công cộng mà chỉ nêu thu hồi đất cho nhu cầu của Nhà nước hoặc xã hội (Điều 14) Bên cạnh đó, Luật cũng không quy định việc
bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.[12]
Luật Đất đai năm 1993, lúc này do đã có sự thay đổi lớn trong nhận thức và quan điểm về quản lý đất đai, Luật Đất đai năm 1993 đã có nhiều điểm mới so với
Trang 37Luật Đất đai năm 1987 Luật đã quy định rất rõ việc thu hồi đất để sử dụng dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và Luật cũng quy định việc người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại Tuy vậy, đến giai đoạn này
Luật lại không quy định việc thu hồi đất cho phát triển kinh tế [13]
Luật Đất đai năm 2003 được ban hành trong giai đoạn kinh tế hội nhập, phát triển, việc giải phóng mặt bằng thu hút đầu tư diễn ra ồ ạt Trước tình hình đó, Luật
có những thay đổi đáng kế về nội dung các quy định Theo đó nhà làm luật đã dành Mục 4 để quy định về việc thu hồi đất Trong các trường hợp thu hồi đất, nhà làm luật lại tách riêng việc thu hồi đất vì mục đích kinh tế và thu hồi đất vì mục đích
quốc gia công cộng [14]
Đến Luật Đất đai năm 2013, Luật quy định cụ thể các trường hợp Nhà nước thu hồi đất Trong đó lần đầu tiên luật đề cập đến việc thu hồi đất để phát triển kinh
tế - xã hội vì mục đích quốc gia, công cộng Có thể nói, sau thời gian rất dài vừa làm vừa rút kinh nghiệm, Quốc hội Khóa XIII đã ban hành được Luật Đất đai tương đối hoàn chỉnh, có những bước tiến bộ, sát tình hình thực tế và phù hợp với yêu cầu phát triển chung của xã hội Nói trong phạm vi hẹp hơn, đối với quy định thu hồi đất cho phát triển kinh tế - xã hội vì mục đích quốc gia công cộng đã quy định cụ thể, rõ ràng từ ngoại diên đến nội hàm của nó Bên cạnh đó cũng quy định rất cụ thể
về thẩm quyền, trình tự thủ tục thu hồi đất; quyền và nghĩa vụ của các bên
Kết luận Chương 1
Trong chương này tác giả đã khái quát sơ lược lịch sử hình thành, phát triển của của pháp luật về thu hồi đất nói chung và thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng của Việt Nam Sau đó đi sâu phân tích khái niệm thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Qua đó làm
rõ đặc điểm, bản chất, nguyên tắc, các trường hợp nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì mục đích quốc gia, công cộng Đồng thời, tác giả cũng đã nêu lên khái niệm, đi vào phân tích đặc điểm của pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng và cơ cấu pháp luật điều chỉnh về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
Trang 38Qua nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì mục đích quốc gia, công cộng, có thể thấy thu hồi đất là một nội dung quan trọng của quản lý nhà nước về đất đai, có ý nghĩa to lớn trong quá trình tác động đến sự phát triển về kinh tế, chính trị và xã hội của đất nước ta Những vấn đề trình bày, phân tích ở Chương 1 sẽ là tiền đề, cơ sở để tiếp tục nghiên cứu và luận giải thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luật về pháp luật thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì mục đích quốc gia, công cộng ở nước ta nói chung và thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nói riêng thời gian qua, đồng thời cũng
là cơ sở để kiến nghị hoàn thiện pháp luật thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì mục đích quốc gia, công cộng trong những năm tiếp theo
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT THU HỒI ĐẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÌ LỢI ÍCH QUỐC GIA, CÔNG CỘNG VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI THỊ XÃ ĐIỆN BÀN TỪ KHI LUẬT
ĐẤT ĐAI NĂM 2013 CÓ HIỆU LỰC ĐẾN NAY
2.1 Thực trạng pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
Từ khi Luật Đất đai 1987 ra đời đến nay và trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, chế định thu hồi đất đều được đề cập nhưng vẫn còn chung chung, phải đến Luật Đất đai 2003 thì chế định này mới được quy định một cách rõ ràng, cụ thể Đến Luật Đất đai năm 2013 thì chế định về thu hồi đất tiếp tục được các nhà làm luật quy định một cách khoa học và sát thực tế hơn Trong đó đã phân định rõ từng loại đất được thu hồi dựa vào mục đích sử dụng của nó, đồng thời cũng quy định khá cụ thể
về trình tự, thủ tục, các điều kiện khi thực hiện thu hồi đối với từng loại đất
2.1.1 Điều kiện thu hồi đất
Như đã nêu ở phần I, các điều kiện để thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng được quy định rất cụ thể và chặt chẽ trong Luật Đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm tránh tình trạng thu hồi đất tràn lan như trước đây, đồng thời đảm bảo tính khả thi cũng như bảo vệ các quyền
và lợi ích của các bên trong quan hệ thu hồi đất Theo đó, việc thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng chỉ được thực hiện khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
Thứ nhất, dự án đó phải được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận (được phê
duyệt) đầu tư hoặc quyết định chủ trương đầu tư và phải thuộc 3 nhóm dự án quan trọng sau:
- Thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư mà phải thu hồi đất;
Trang 40- Thực hiện các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư
mà phải thu hồi đất, bao gồm: Dự án xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; khu đô thị mới, dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương; trụ sở của tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp quốc gia; Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật cấp quốc gia gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc; hệ thống dẫn, chứa
xăng dầu, khí đốt; kho dự trữ quốc gia; công trình thu gom, xử lý chất thải;
- Thực hiện các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận mà phải thu hồi đất bao gồm: dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp địa phương; dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật của địa phương gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc, chiếu sáng đô thị; công trình thu gom, xử lý chất thải; dự án xây dựng công trình phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng dân cư; dự án tái định cư, nhà ở cho sinh viên, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ; xây dựng công trình của cơ sở tôn giáo; khu văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí phục vụ công cộng; chợ; nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng; dự án xây dựng khu đô thị mới, khu dân cư nông thôn mới; chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn; cụm công nghiệp; khu sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung; dự án phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; dự án khai thác khoáng sản được cơ quan có thẩm quyền cấp phép, trừ trường hợp khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, than bùn, khoáng sản tại các
khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ và khai thác tận thu khoáng sản
Thứ hai, dự án đó phải nằm trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được
cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
Thứ ba, việc thu hồi đất phải được thực hiện đúng trình tự, thủ tục và thẩm
quyền theo quy định của pháp luật