1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với các dự án đầu tư phát triển chợ từ thực tiễn tỉnh quảng ngãi

102 219 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 127,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đầu tư pháttriển trong ngắn hạn sẽ làm tăng tổng cầu, tạo việc làm mới; trong dài hạn đầu tưphát triển tăng cung, nâng cao năng lực sản xuất của quốc gia, của địa phương.Trong thực tế, k

Trang 1

HÀ NỘI, năm 2018

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT

NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ TUYẾT NHUNG

PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI VÀ HỖ TRỢ ĐÀU TƯ ĐÓI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐÀU TƯ PHÁT TRIỂN CHỢ

TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VẪN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ TUYẾT NHUNG

PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI VÀ HỖ TRỢ ĐÀU TƯ ĐÓI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐÀU TƯ PHÁT TRIỂN CHỢ

TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 8 38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TRÀN MINH ĐỨC

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự hướng dẫn khoa học của TS Trần Minh Đức Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Học viện Khoa học xã hội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Học viện Khoa học xã hội xem xét để tôi có thể bảo vệ Luậnvăn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người cam đoan

Nguyễn Thị Tuyết Nhung

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT ƯU ĐÃI VÀ HỖ TRỢ ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI CÁC DỰ án đầu tư phát triển chợ 7

1.1 Khái niệm về chợ, dự án đầu tư phát triển chợ, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đốivới các dự án đầu tư phát triển chợ, pháp luật ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với các dự

án phát triển chợ 71.2 Vai trò của pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với các dự án đầu tư

phát triển chợ 191.3 Cơ cấu pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với dự án đầu tư phát triểnchợ 251.4 Các yếu tố tác động đến pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với dự ánđầu tư phát triển chợ 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI VÀ HỖ TRỢ ĐẦU

TƯ ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ, KINHDOANH CHỢ TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI 412.1 Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tại tỉnh Quảng Ngãi có liên quanđến pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư tại tỉnh Quảng Ngãi 412.2 Thực trạng các quy định pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đối với các dự án đầu

tư phát triển chợ tại tỉnh Quảng Ngãi 442.3 Tình hình tổ chức thực thi pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với các

dự án đầu tư phát triển chợ tại tỉnh Quảng Ngãi 552.4 Đánh giá chung 61CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

VỀ ƯU ĐÃI VÀ HỖ TRỢ ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ

PHÁT TRIỂN CHỢ TỪ THỰC tiễn tỉnh quảng ngãi 683.1 Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với các dự án đầu tưphát triển chợ từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi 68

Trang 5

3.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với các dự

án đầu tư phát triển chợ từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi 693.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với các dự ánđầu tư phát triển chợ từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi 70

KẾT LUẬN 76 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

PCI : Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

TNDN : Thu nhập doanh nghiệp

UBND : Ủy ban nhân dân

VDB : Ngân hàng phát triển Việt Nam

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đầu tư phát triển là yếu tố có tầm quan trọng đối với nền kinh tế quốc gia nóichung và của tỉnh Quảng Ngãi nói riêng cả trong ngắn hạn và dài hạn Đầu tư pháttriển trong ngắn hạn sẽ làm tăng tổng cầu, tạo việc làm mới; trong dài hạn đầu tưphát triển tăng cung, nâng cao năng lực sản xuất của quốc gia, của địa phương.Trong thực tế, không phải bao giờ một quốc gia, một địa phương cũng đạt được mức

độ đầu tư phát triển mong muốn, bởi vì đầu tư phát triển là hoạt động chứa đựngnhiều rủi ro, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau và để quyết định bỏ vốn vàosản xuất kinh doanh, nhà đầu tư phải bảo đảm về độ an toàn thu hồi vốn, phải cótriển vọng kiếm được lợi nhuận hợp lý, phải được cung cấp những điều kiện tối thiểu

về nguồn lực và tính tổ chức của thị trường, phải cung cấp dịch vụ công đảm bảo tiến

độ dự án đầu tư đề ra những đòi hỏi đó, đôi khi thị trường tự do không cung cấpđầy đủ nên Nhà nước phải vào cuộc bằng cách hoạch định và thực thi pháp luậtkhuyến khích, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư Pháp luật ưu đãi và hỗ trợ đầu tư là một trongnhững chính sách pháp luật cơ bản, quan trọng trong hệ thống pháp luật kinh tế củaNhà nước ta

Có thể nói, pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư của nước ta được Nhà nướcban hành bằng một hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh về đầu tư, xây dựng, đấtđai, về thuế, về đào tạo, về thương mại, về cải cách hành chính nhằm điều chỉnh cácquan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực đầu tư, thương mại, trong đó có các ưu đãi và

hỗ trợ đầu tư đối với dự án đầu tư xây dựng và quản lý, kinh doanh khai thác chợ.Mục đích của pháp luật ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với dự án đầu tư phát triển chợtrước hết là nhằm thu hút các nhà đầu tư bỏ vốn của họ đầu tư vào các lĩnh vực kinhdoanh khai thác và quản lý chợ Việc hướng các quan hệ trong lĩnh vực đầu tư theomột trật tự có định hướng, đảm bảo đầy đủ các quyền và lợi ích cho nhà đầu tư là nộidung quan trọng của quản lý nhà nước trong lĩnh vực này Nhà nước không chỉ quản

lý hoạt động đầu tư bằng các Nghị quyết, chủ trương, đường lối mà cần phải cụ thểhoá các nghị quyết, chủ trương ấy thành pháp luật, đảm bảo một hành lang pháp lý

Trang 8

cho hoạt động đầu tư phát triển Pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư có hợp lý vàhiệu quả thì mới đảm bảo được môi trường bình đẳng mà ở đó các nhà đầu tư có thểphát huy hết năng lực của mình.

Trong những năm gần đây, với việc thực thi các biện pháp tạo điều kiệnthuận lợi về thủ tục hành chính, về sử dụng đất đai, về thuế, về đào tạo Nhà nước ta

đã thu hút được số lượng vốn lớn đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh; trong

đó có các dự án đầu tư phát triển chợ cũng dần được quan tâm đầu tư theo hình thức

xã hội hóa.đã góp phần làm cho nước ta giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế caotrong nhiều năm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, tạo thêm việc làmmới và cải thiện chất lượng cuộc sống dân cư

Cùng với sự phát triển cả nước, tỉnh Quảng Ngãi có nhiều biện pháp ưu đãi,

hỗ trợ đầu tư tương đối phù hợp nên trở thành một trong những địa điểm thu hút vốnđầu tư trong và ngoài nước, tạo động lực lớn cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành côngnghiệp - xây dựng, dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp Tuy nhiên, donhiều nguyên nhân, việc thu hút đầu tư vào Quảng Ngãi vẫn còn gặp nhiều khó khăn,nhất là các dự án đầu tư phát triển chợ triển khai thực hiện chậm, chưa được quantâm kêu gọi đầu tư mà chủ yếu thực hiện đầu tư từ ngân sách nhà nước

Để làm rõ các vấn đề về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với các dự án đầu tư pháttriển chợ trong những năm qua, tỉnh Quảng Ngãi đã có những biện pháp ưu đãi và hỗtrợ đầu tư như thế nào? Trong thời gian đến, tỉnh Quảng Ngãi cần có thêm các giảipháp gì để các biện pháp ưu đãi và hỗ trợ thật sự trở thành động lực thu hút đầu tưnói chung và các dự án phát triển chợ nói riêng; nâng cao hiệu quả ưu đãi và hỗ trợđầu tư để tương xứng với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội; cách thức tiếp cậnđược các ưu đãi và hỗ trợ ? Kết quả nghiên cứu giúp cho chúng ta có cái nhìn toàndiện hơn về các mặt đã đạt được, khắc phục các nhược điểm và đề xuất các giải pháp

phù hợp Xuất phát từ yêu cầu đó, học viên chọn vấn đề “Pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với các dự án đầu tư phát triển chợ từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi ”

làm đề tài Luận văn thạc sĩ

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Theo định hướng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội năm 2011 - 2020 củaĐảng và Nhà nước, cùng với tăng cường nguồn lực đầu tư từ Nhà nước nhằm pháttriển hạ tầng kinh tế - xã hội tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, nhiềuchính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư cũng đã được ban hành nhằm thu hút vốn đầu tưcủa các doanh nghiệp đầu tư phát triển Đối với tỉnh Quảng Ngãi cũng đã ban hànhchính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư trên địa bàn tỉnh; cơ chế chính sách, điều kiện, nộidung ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với các lĩnh vực như: ưu đãi, hỗ trợ đầu tư chungcho các dự án; ưu đãi, hỗ trợ đầu tư cho dự án khuyến khích xã hội hóa; hỗ trợ đầu tưcho dự án đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn nhằm khuyến khích các doanh nghiệpđầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh

Liên quan đến đề tài nghiên cứu, đã có một số công trình xoay quanh vấn đềnày như:

- Vũ Quốc Tuấn (chủ biên): Phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay,

NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006

- Nguyễn Văn Thường: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam: Những rào cản cần phải vượt qua Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội 2006.

- Bùi Anh Tuấn: Giải pháp thúc đẩy hoạt động khuyến khích đầu tư trong nước Tạp chí nghiên cứu kinh tế, số 08/2003.

- Nguyễn Cảnh Hoan: Một số ý kiến về khuyến khích và ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp trong nước Tạp chí Thương mại, số 10.2003.

- PGS.TS Trần Thị Minh Châu (chủ nhiệm đề tài): Thực trạng và giải pháp tiếp tục hoàn thiện chính sách khuyến khích đầu tư ở Việt Nam Hà Nội 2007.

- Lê Thị Lệ Thu (2006), Pháp luật về ưu đãi đầu tư ở Việt Nam, Luận văn

thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội

- Nguyễn Thị Trang (2014), Pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.

- Tạ Quang Duy (2016), Các biện pháp hỗ trợ đầu tư theo Luật đầu tư 2014

từ thực tiễn ở tỉnh Quảng Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Học Viện Khoa học Xã

Trang 10

hội, Hà Nội.

Các công trình nghiên cứu trên từ các góc độ khác nhau đã phân tích, đánhgiá pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư nói chung Tuy nhiên, mỗi công trình có sựnhìn nhận từ các khía cạnh khác nhau, cũng có một số công trình nghiên cứu đề cậpđến các vấn đề về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đối với các doanh nghiệp trong nước và nướcngoài, song chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, bao quát và đi sâuvào đánh giá các quy định của pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với các dự ánđầu tư phát triển chợ từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi một cách có hệ thống và dưới góc

độ khoa học pháp luật, kinh tế - chính trị Vì vậy, việc nghiên cứu về ưu đãi và hỗ trợđầu tư; việc áp dụng các chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư dự án đầu tư phát triểnchợ tỉnh Quảng Ngãi là vấn đề rất cần thiết

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận của pháp luật ưu đãi và hỗ trợ đầu tư;phân tích thực trạng quy định và áp dụng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư; đềxuất giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đốivới dự án đầu tư phát triển chợ từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:

- Hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật ưu đãi và hỗ trợ đầu tư

- Phân tích, đánh giá thực trạng và việc áp dụng các chính sách ưu đãi và hỗtrợ đầu tư đối với các dự án đầu tư phát triển chợ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

- Xây dựng phương hướng và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm hoànthiện, đẩy mạnh thực hiện các việc ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với các dự án đầu tưphát triển chợ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong những năm tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu các quy định của pháp luật về ưu đãi

và hỗ trợ đầu tư; thực tiễn việc áp dụng chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối vớilĩnh vực đầu tư phát triển chợ tại tỉnh Quảng Ngãi

Trang 11

4.2 Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu về ưu đãi và hỗ

trợ đầu tư đối với dự án đầu tư phát triển chợ truyền thống từ thực tiễn tỉnh QuảngNgãi

- Về không gian nghiên cứu: chợ được tổ chức tại một địa điểm theo quyhoạch, đáp ứng các nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hoá và nhu cầu tiêu dùng củakhu vực dân cư trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

- Thời gian nghiên cứu: việc tìm hiểu thực tiễn áp dụng, triển khai các quyđịnh của pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với dự án đầu tư phát triển chợ từnăm 2011 -2017 tại tỉnh Quảng Ngãi;

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và nhữngquan điểm chỉ đạo, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về ưu đãi và hỗtrợ đầu tư, trong đó có các dự án đầu tư phát triển chợ, góp phần phát triển kinh tế -

xã hội, thực hiện thành công chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thônmới có kết cấu hạ tầng hiện đại, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Theo

đó, tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều chính sách khuyến khích, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư dướinhiều hình thức khác nhau cho mục tiêu ưu tiên trên

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác

- Lênin, kết hợp các phương pháp hệ thống, thống kê, phân tích - tổng hợp, kết hợplôgic - lịch sử, khảo sát thực tế, tổng kết thực tiễn Đồng thời, đề tài có kế thừa và sửdụng có chọn lọc những đề xuất và các số liệu trong một số công trình nghiên cứucủa các tác giả khác

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Trình bày có hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư ởtỉnh Quảng Ngãi, nhất là đối với các dự án đầu tư phát triển chợ Với mục tiêu củatỉnh Quảng Ngãi xác định trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lầnthứ XIX và Quy hoạch phát triển thương mại trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn

Trang 12

2011 - 2015 và định hướng đến 2020 là: “Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng, nhất

là hạ tầng giao thông, hạ tầng đô thị”, “Xây dựng, phát triển hệ thống hạ tầng thươngmại nông thôn tỉnh Quảng Ngãi phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đápứng yêu cầu tiêu thụ nông sản và cung ứng hàng hóa cho sản xuất và đời sống, gópphần phát triển nền nông nghiệp toàn diện và góp phần thực hiện thành công chươngtrình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng hiện đại, nângcao chất lượng cuộc sống của người dân vùng nông thôn” Với mục tiêu trên, việcthu hút các doanh nghiệp đầu tư phát triển chợ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, mộtmặt là phát triển cơ sở hạ tầng thương mại, mặt khác thông qua các chính sách ưu đãi

và hỗ trợ đầu tư giúp các doanh nghiệp đầu tư phát triển chợ bền vững trên địa bàntỉnh

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề xuất các giải pháp cơ bản có tính khả thi nhằm đẩy mạnh thu hút đầu tưvào tỉnh Quảng Ngãi thông qua các chính sách ưu đãi và biện pháp hỗ trợ đầu tưtrong thời gian đến Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng được làm tài liệutham khảo cho việc hoạch định những chính sách phát triển, nâng cao hiệu quả ápdụng các ưu đãi và hỗ trợ đầu tư ở Quảng Ngãi đối với việc thu hút đầu tư phát triểnchợ

7 Cơ cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 03chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đốivới các dự án đầu tư phát triển chợ;

Chương 2: Thực trạng pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với các dự ánđầu tư phát triển chợ tại tỉnh Quảng Ngãi;

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về ưu đãi và hỗtrợ đầu tư đối với các dự án đầu tư phát triển chợ từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT

ƯU ĐÃI VÀ HỖ TRỢ ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN

ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CHỢ

1.1 Khái niệm về chợ, dự án đầu tư phát triển chợ, ưu đãi và hỗ trợ đầu

tư đối với các dự án đầu tư phát triển chợ, pháp luật ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với các dự án phát triển chợ

1.1.1 Khái niệm về chợ

Trên thực tế tuỳ theo lĩnh vực nghiên cứu mà có rất nhiều quan niệm khácnhau về chợ:

Chợ là nơi tụ họp giữa người mua và người bán để trao đổi hàng hoá, thực

phẩm hàng ngày theo từng buổi hoặc từng phiên nhất định (chợ phiên) [22, tr.3].

Chợ là loại hình kinh doanh thương mại được hình thành và phát triển mangtính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm theo quy hoạch, đáp ứng nhu cầu

mua bán, trao đổi hàng hoá và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư [6, tr 1].

Chợ là một bộ phận quan trọng trong tổng thể hạ tầng kinh tế - xã hội Trongquy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch phát triển thương mại của từng địaphương phải bao gồm quy hoạch phát triển chợ Quy hoạch phát triển chợ phải phùhợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch thương mại, quy hoạch sửdụng đất và các quy hoạch khác có liên quan Quy hoạch phát triển chợ lập theonguyên tắc tại khoản 2 Điều 4 Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm

2003 của Chính phủ về phát triển và quản lý chợ và được cơ quan có thẩm quyền

theo quy định phê duyệt và chỉ đạo thực hiện” [10, tr.3].

Phạm vi chợ: là khu vực được quy hoạch dành cho hoạt động chợ, bao gồm

diện tích để bố trí các điểm kinh doanh, khu vực dịch vụ (như: bãi để xe, kho hàng,khu ăn uống, vui chơi giải trí và các dịch vụ khác) và đường bao quanh chợ

Trang 14

Điểm kinh doanh tại chợ: bao gồm quầy hàng, sạp hàng, ki-ốt, cửa hàng được

bố trí cố định trong phạm vi chợ theo thiết kế xây dựng chợ, có diện tích quy chuẩntối thiểu là 3 m2/điểm

Từ những điểm hội tụ chung của nhiều quan niệm, ta có thể rút ra khái niệm:

Chợ là loại hình kinh doanh thương mại được hình thành và phát triển mang tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm công cộng, tập trung đông người mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ với nhau, được hình thành do yêu cầu của sản xuất, lưu thông và đời sống tiêu dùng xã hội và hoạt động theo các chu kỳ thời gian nhất định và được cơ quan có thẩm quyền theo quy định phê duyệt và chỉ đạo thực hiện.

* Đặc trưng của chợ:

Chợ có những đặc trưng sau:

- Chợ là một nơi (địa điểm) công cộng để mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch

vụ của dân cư, ở đó bất cứ ai có nhu cầu đều có thể đến mua, bán và trao đổi hànghoá, dịch vụ với nhau

- Chợ được hình thành do yêu cầu khách quan của sản xuất và trao đổi hànghoá, dịch vụ của dân cư, chợ có thể được hình thành một cách tự phát hoặc do quátrình nhận thức tự giác của con người Vì vậy trên thực tế có nhiều chợ đã được hìnhthành từ việc quy hoạch, xây dựng, tổ chức, quản lý chặt chẽ của các cấp chínhquyền và các ngành quản lý kinh tế kỹ thuật Nhưng cũng có rất nhiều chợ được hìnhthành một cách tự phát do nhu cầu sản xuất và trao đổi hàng hoá của dân cư, chưađược quy hoạch, xây dựng, tổ chức, quản lý chặt chẽ

- Các hoạt động mua, bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ tại chợ thường đượcdiễn ra theo một quy luật và chu kỳ thời gian (ngày, giờ, phiên) nhất định Chu kỳhọp chợ hình thành do nhu cầu trao đổi hàng hoá, dịch vụ và tập quán của từng vùng,từng địa phương quy định

* Phân loại chợ trong mạng lưới chợ ở nước ta

Theo địa giới hành chính: Có các loại chợ tồn tại theo tiêu thức này là chợ đô thị, chợ nông thôn, chợ miền núi, chợ biên giới [22].

- Chợ đô thị: Là các loại chợ được tổ chức, tụ họp ở thành phố, thị xã, thị

trấn Do ở đây, đời sống và trình độ văn hoá có phần cao hơn ở nông thôn, cho nên

Trang 15

các chợ thành phố có tốc độ hiện đại hoá nhanh hơn, văn minh thương mại trong chợcũng được chú trọng, cơ sở vật chất ngày càng được tăng cường, bổ sung và hoànchỉnh Phương tiện phục vụ mua bán, hệ thống phương tiện truyền thông và dịch vụ

ở các chợ này thường tốt hơn các chợ ở khu vực nông thôn

- Chợ nông thôn: Là chợ thường được tổ chức tại trung tâm xã, trung tâmcụm xã Hình thức mua bán ở chợ đơn giản, dân dã (có nơi, như ở một số vùng núi,người dân tộc thiểu số vẫn còn hoạt động trao đổi bằng hiện vật tại chợ), các quầy,sạp có quy mô nhỏ lẻ, manh mún Nhưng ở các chợ nông thôn thể hiện đậm đà bảnsắc truyền thống đặc trưng ở mỗi địa phương, của cácvùng lãnh thổ khác nhau

- Chợ miền núi: Chợ thường được tổ chức tại xã thuộc các huyện miền núi

- Chợ biên giới: là chợ nằm trong khu vực biên giới trên đất liền (gồm xã,phường, thị trấn có một phần địa giới hành chính trùng hợp với biên giới quốc giatrên đất liền) hoặc khu vực biên giới trên biển (tính từ biên giới quốc gia trên biểnvào hết địa giới hành chính xã, phường, thị trấn giáp biển và đảo, quần đảo)

Theo tính chất mua bán: Dựa theo tiêu thức này, ta có thể phân chia thành hai

loại là chợ bán buôn và bán lẻ

- Chợ bán buôn: Là các chợ lớn, chợ trung tâm, chợ có vị trí là cửa ngõ củathành phố, thị xã, thị trấn, có phạm vi hoạt động rộng, tập trung vói khối lượng hànghoá lớn Hoạt động mua bán chủ yếu là thu gom và phân luồng hàng hoá đi các nơi.Các chợ này thường là nơi cung cấp hàng hoá cho các trung tâm bán lẻ, các chợ bán

lẻ trong và ngoài khu vực, nhiều chợ còn là nơi thu gom hàng cho xuất khẩu Cácchợ này có doanh số bán buôn chiếm tỷ trọng cao (trên 60%), đồng thời vẫn có bản

lẻ nhưng tỷ trọng nhỏ

- Chợ bán lẻ: Là những chợ thuộc phạm vi xã, phường (liên xã, liên phường),cụm dân cư, hàng hoá qua chợ chủ yếu để bán lẻ, phục vụ trực tiếp cho người tiêudùng

Theo đặc điểm mặt hàng kinh doanh: Có chợ tổng hợp, chợ chuyên doanh và

chợ đầu mối

- Chợ tổng hợp: Là chợ kinh doanh nhiều loại hàng hoá thuộc nhiều ngànhhàng khác nhau Trong chợ tồn tại nhiều loại mặt hàng như: hàng tiêu dùng (quần áo,

Trang 16

giày dép, các mặt hàng lương thực thực phẩm, hàng gia dụng ), công cụ lao độngnông nghiệp (cuốc, xẻng, liềm búa.), cây trồng, vật nuôi., chợ đáp ứng toàn bộ cácnhu cầu của khách hàng Hình thức chợ tổng hợp này thể hiện khái quát những đặctrưng của chợ truyền thống và ở nước ta hiện nay loại hình này vẫn chiếm ưu thế về

số lượng cũng như về thời gian hình thành và phát triển

- Chợ chuyên doanh: Là loại chợ chuyên kinh doanh một mặt hàng chính yếu,mặt hàng này thường chiếm doanh số trên 60% đồng thời vẫn có bán một số mặthàng khác, các loại hàng này có doanh số dưới 40% tổng doanh thu Hình thức chợnày cũng tồn tại ở nước ta như chợ vải, chợ hoa tươi, chợ vật liệu xây dựng, chợ rauquả, chợ giống cây trồng

- Chợ đầu mối : Là chợ có vai trò chủ yếu thu hút, tập trung lượng hànghoá lớn từ các nguồn sản xuất, kinh doanh của khu vực kinh tế hoặc của ngànhhàng để tiếp tục phân phối tới các chợ và các kênh lưu thông khác

Theo số lượng hộ kinh doanh, vị trí và mặt bằng của chợ: Dựa theo cách phân

loại trong Điều 3 Nghị định số 02/2003/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển và quản

lý chợ và khoản 2, Điều 1 Nghị định số 114/2009/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi,

bổ sung một số điều của Nghị định số 02/2003/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển

và quản lý chợ thì chợ được chia thành 3 hạng: chợ hạng 1, chợ hạng 2 và chợ hạng3

- Chợ hạng 1 là chợ phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau:

• Là chợ có trên 400 điểm kinh doanh, đượcđầu tư xây dựng kiên cố, hiện đạitheo quy hoạch;

• Được đặt ở các vị trí trung tâm kinh tế thương mại quan trọng của tỉnh,thành phố hoặc là chợ đầu mối của ngành hàng, của khu vực kinh tế và được tổ chứchọp thường xuyên;

• Có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động của chợ và tổchức đầy đủ các dịch vụ tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hoá, kho bảo quản hànghoá, dịch vụ đo lường,dịch vụ kiểm tra chất lượng hàng hoá, vệ sinh an toàn thựcphẩm và các dịch vụ khác

- Chợ hạng 2 là chợ thoả mãn các tiêu chuẩn sau:

Trang 17

• Là chợ có từ 200 điểm kinh doanh đến 400 điểm kinh doanh, được đầu tưxây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố theo quy hoạch;

• Được đặt ở trung tâm giao lưu kinh tế của khu vực và được tổ chức họpthường xuyên hay không thường xuyên;

• Có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động của chợ và tổchức các dịch vụ tối thiểu tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hoá, kho bảo quảnhàng hoá, dịch vụ đo lường, vệ sinh công cộng

- Chợ hạng 3 là chợ thoả mãn các tiêu chuẩn sau:

• Là chợ có dưới 200 điểm kinh doanh hoặc các chợ chưa được đầu tư xâydựng kiên cố hoặc bán kiên cố;

• Chủ yếu phục vụ nhu cầu mua bán hàng hoá của nhân dân trong xã, phường

- Chợ bán kiên cố: Là chợ chưa được xây dựng hoàn chỉnh Bên cạnh nhữnghạng mục xây dựng kiên cố (tầng lầu, cửa hàng, sạp hàng) còn có những hạng mụcxây dựng tạm như lán, mái che, quầy bán hàng , độ bền sử dụng không cao (dưới 10năm) và thiếu tiện nghi Chợ bán kiên cố thường là chợ loại 3, có điện tích đất 3000-50.000 m2.Chợ này chủ yếu phân bổ ở các huyện nhỏ, khu vực thị trấn xa xôi, chợliên xã, liên làng, các khu vực ngoài thành phố lớn

- Chợ tạm: Là chợ mà những quầy, sạp bán hang là những lều quán được làm

có tính chất tạm thời, không ổn định, khi cần thiết có thể dỡ bỏ nhanh chóng và ít tốnkém Loại chợ này thường hay tồn tại ở các vùng quê, các xã, các thôn, có chợ đượcdựng lên để phục vụ trong một thời gian nhất định (như tết,lễ hội.)

Trang 18

Doanh nghiệp kinh doanh, quản lý chợ: là doanh nghiệp được thành lập, đăng ký

kinh doanh và hoạt động theo quy định của pháp luật được cơ quan có thẩm quyền

giaohoặc trúng thầu về kinh doanh, khai thác và quản lý chợ

Hợp tác xã kinh doanh, quản lý chợ: là hợp tác xã được thành lập, đăng ký

kinh doanh và hoạt động theo quy định của pháp luật được cơ quan có thẩm quyềngiao hoặc trúng thầu về kinh doanh, khai thác và quản lý chợ

• Vai trò của chợ trong nền kinh tế - xã hội nước ta hiện nay

Trong những năm qua, mạng lưới chợ ở nước ta đóng vai trò rất quan trọngtrong sự phát triển kinh tế- xã hội đặc biệt là từ thập niên 80 và những năm đầu củathập niên 90 Đây là giai đoạn mà mạng lưới siêu thị và trung tâm thương mại chưahình thành và phát triển, chợ vẫn là nơi tiêu thụ hàng hóa chủ yếu của các doanhnghiệp sản xuất cũng như là nơi mua sắm chủ yếu của người dân Tuy nhiên, hiệnnay chợ vẫn giữ một vai trò rất quan trọng thể hiện trên các mặt sau:

Về mặt kinh tế: Chợ là một bộ phận quan trọng trong cấu thành mạng lưới

thương nghiệp xã hội :

• Đối với vùng nông thôn: Chợ vừa là nơi tiêu thụ nông sản hàng hoá, tập

trung thu gom các sản phẩm, hàng hoá phân tán, nhỏ lẻ để cung ứng cho cácthịtrường tiêu thụ lớn trong và ngoài nước,vừa là nơi cung ứng hàng công nghiệp tiêudùng cho nông dân và một số loại vật tư cho sản xuất nông nghiệp ở nông thôn

• Ở khu vực thành thị: Chợ cũng là nơi cung cấp hàng hoá tiêu dùng, lương

thực thực phẩm chủ yếu cho các khu vực dân cư Tuy nhiên, hiện nay đã xuất hiệnkhá nhiều hình thức thương mại cạnh tranh trực tiếp với chợ, vì thế bên cạnh việc mởrộng hay tăng thêm số lượng chợ chúng ta sẽ đầu tư nâng cấp chất lượng hoạt độngcủa chợ và đầu tư nâng cấp chất lượng dịch vụ của chợ

Hoạt động của các chợ làm tăng ý thức về kinh tế hàng hoá của người dân, rõnét nhất là ở miền núi, vùng cao từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần tích cựcvào công cuộc xoá đói giảm nghèo ở nông thôn, miền núi Trong các phiên chợ, cácbuổi chợ là cơ hội của người dân giao lưu trao đổi, mua bán, lưu thông hàng hoá củamình, cập nhật thông tin, ý thức xã hội, nó làm tăng khả năng phản ứng của người

Trang 19

dân với thị trường, với thời thế và tự mình có thể ý thức được công việc làm ăn buônbán của mình trong công cuộc đổi mới.

Chợ là một nguồn thu quan trọng của Ngân sách Nhà nước Mặc dù Nhà nướcchưa có thể nâng cấp đủ hệ thống chợ ở nước ta, chưa đặc biệt quan tâm đầu tư pháttriển, nhưng các chợ trong cả nước đã đem lại cho Ngân sách Nhà nước khoảng

300.000 triệu đồng mỗi năm (chưa kể các nguồn thu từ thuế trực tiếp) [22, tr.5].

Sự hình thành chợ kéo theo sự hình thành và phát triển các ngành nghề sảnxuất Đây chính là tiền đề hội tụ các dòng người từ mọi miền đất nước tập trung đểlàm ăn, buôn bán Chính quá trình này làm xuất hiện các trung tâm thương mại vàkhông ít số đó trở thành những đô thị sầm uất

Về giải quyết việc làm

Chợ ở nước ta đã giải quyết được một số lượng lớn việc làm cho người laođộng Hiện nay, trên toàn quốc có hơn 2,3 triệu người lao động buôn bán trong cácchợ và số người tăng thêm có thể tới 10%/năm

Nếu mỗi người trực tiếp buôn bán có thêm 1 đến 2 người giúp việc (phụ việcbán hàng, tổ chức nguồn hàng để đưa về chợ, đưa hàng tới các mối tiêu thụ theo yêucầu của khách ) thì số người lao động có việc tại chợ sẽ gấp đôi, gấp ba lần sốlượng người chỉ buôn bán ở chợ và như thế chợ giải quyết được một số lượng lớn

công việc cho người lao động khi hoạt động [22, tr 7].

Về việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc

Có thể nói, chợ là một bộ mặt kinh tế - xã hội của một địa phương và là nơiphản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của một vùng dân

cư Tính văn hoá ở chợ được thể hiện rõ nhất là ở miền núi, vùng cao, vùng sâu,vùng xa

- Đối với người dân: Đồng bào đến chợ ngoài mục tiêu mua bán còn lấy chợlàm nơi giao tiếp, gặp gỡ, thăm hỏi người thân, trao đổi công việc,kể cả việc dựng vợ

gả chồng cho con cái Chợ còn là nơi hò hẹn của lứa đôi, vì vậy người dân miền núithường gọi là đi "chơi chợ" thay cho từ đi chợ mua sắm như là người dưới xuôithường gọi Các phiên chợ này thường tồn tại từ rất lâu đời và nó là những bản sắcvăn hoá vô cùng đặc trưng của các dân tộc ở nước ta

Trang 20

- Đối với chính quyền: ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa chợ là địađiểm duy nhất hội tụ đông người Tại chợ có đại diện của các lứa tuổi, tất cả các thônbản và các dân tộc Vì thế, đã từ lâu, Chính quyền địa phương đã biết lấy chợ là nơiphổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, lànơi tuyên truyền cảnh giác và đấu tranh với những phần tử xuyên tạc đường lối củaĐảng Từ phong trào kế hoạch hoá gia đình đến kỹ thuật chăm sóc cây trồng vậtnuôi, vệ sinh phòng dịch đều có thể được phổ biến một cách hiệu quả ở đây Chính

vì lý do đó, chợ miền núi hay miền xuôi đều được bố trí ở trung tâm cụm, xã (nhất làmiền núi) Trong mỗi chợ đều giành vị trí trung tâm làm công tác tuyên truyền

Trên thực tế, một số chợ truyền thống có từ rất lâu đời đang trở thành một địađiểm thu hút khách du lịch (như Chợ Tình SaPa, chợ Cầu Mây ở Nam Định.) Nếuđược đầu tư thoả đáng cả về cở sở vật chất cũng như sự quan tâm quản lý của Nhànước, đây sẽ là các địa danh hấp dẫn đối với khách du lịch trong và ngoài nước và nó

sẽ là tiềm năng về kinh tế du lịch quốc gia

Hiện nay, khi mạng lưới siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng bán lẻ đãhình thành và phát triển mạnh, mặc dù vẫn có tầm quan trọng trong sinh hoạt củangười dân nhưng không vì thế mà chợ mất đi vai trò của mình mà có thể nói chợ đãhoàn thành vai trò lịch sử của mình và sự phát triển mạng lưới chợ chính là sự hỗ trợcho sự hình thành và phát triển của các loại hình kinh doanh mới, đó là siêu thị vàtrung tâm thương mại

1.1.2 Quan niệm về dự án đầu tư phát triển chợ

Trước hết ta phải hiểu thế nào là dự án đầu tư phát triển, theo Điều 4, Luật đấuthầu năm 2013, dự án đầu tư phát triển được định nghĩa là các chương trình, dự ánđầu tư xây dựng mới; dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng các dự án đã được đầu tư xâydựng; dự án mua sắm tài sản, kể cả thiết bị, máy móc không cần lắp đặt; dự án sửachữa, nâng cấp tài sản, thiết bị; dự án, đề án quy hoạch; dự án, đề tài nghiên cứukhoa học, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật, điều tra cơ bản;các chương trình, dự án, đề án đầu tư phát triển khác

Từ định nghĩa trên ta có thể rút ra cách hiểu về dự án đầu tư phát triển chợ là

dự án đầu tư xây dựng mới chợ; dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng các dự án chợ đã

Trang 21

được đầu tư xây dựng thuộc quy hoạch phát triển chợ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt Đối với dự án đầu tư xây dựng mới được thực hiện ở xã, phường, thị trấn chưa có chợ, những nơi có nhu cầu về chợ để phục vụ sản xuất, xuất khẩu và đời sống sinh hoạt của nhân dân hoặc các chợ tạm hoặc chợ có cơ sở vật chất - kỹ thuật xuống cấp nghiêm trọng.

Việc thực hiện đầu tư xây dựng chợ mới hoặc sửa chữa lớn, cải tạo, nâng cấpchợ phải lập dự án theo các quy định hiện hành về quản lý đầu tư xây dựng; các quyđịnh về tiêu chuẩn thiết kế các loại hình, cấp độ chợ và được cấp có thẩm quyền phêduyệt theo quy định hiện hành

Đầu tư xây dựng chợ

Theo Nghị định 02/2003/NĐ-CP và Nghị định 114/2009/NĐ-CP của Chính phủ:

- Nguồn vốn đầu tư xây dựng chợ bao gồm: nguồn vốn của các doanhnghiệp, cá nhân sản xuất kinh doanh và của nhân dân đóng góp; nguồn vốn vay tíndụng; nguồn vốn đầu tư phát triển của Nhà nước, trong đó chủ yếu là nguồn vốn củacác doanh nghiệp, cá nhân sản xuất kinh doanh và nguồn vốn vay tín dụng

- Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân và các doanh nghiệp thuộc cácthành phần kinh tế đầu tư hoặc góp vốn cùng Nhà nước đầu tư xây dựng các loạichợ

- Nguồn vốn đầu tư phát triển của Nhà nước (bao gồm vốn từ ngân sáchtrung ương, địa phương và các nguồn viện trợ không hoàn lại) chỉ hỗ trợ đầu tư xâydựng một số chợ sau:

+ Chợ đầu mối chuyên ngành nông sản, thực phẩm để tiêu thụ hàng hoá ở cácvùng sản xuất tập trung về nông, lâm, thuỷ sản

+ Chợ ở các cụm xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa, hải đảo thuộc các chươngtrình phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo, định canh định cư của Nhànước

+ Chợ loại 1 theo quy hoạch ở vị trí trọng điểm về kinh tế thương mại củatỉnh, thành phố, làm trung tâm giao lưu hàng hoá và phục vụ nhu cầu tiêu dùng ở cácthành phố, thị xã lớn

Trang 22

+ Chủ đầu tư xây dựng chợ thuộc các thành phần kinh tế được hưởng cácchính sách ưu đãi đầu tư dành cho ngành nghề thuộc khoản 5 Mục III Danh mục A

(đầu tư xây dựng quản lý, kinh doanh khai thác chợ tại vùng nông thôn) [19, tr.58].

1.1.3 Quan niệm ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư đối với dự án phát triển chợ

- Quan niệm về ưu đãi đầu tư

Hầu hết các quốc gia đều sử dụng các công cụ ưu đãi, khuyến khích đầu tưdưới hình thức này hay hình thức khác vì các công cụ ưu đãi đầu tư đều có khả năng

sử dụng rất đa dạng để thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nướcđối với nền kinh tế, kích thích nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào những lĩnh vực, khu vựcnhất định Mặt khác, thực hiện ưu đãi đầu tư cũng chính là hoạt động quản lý của nhànước trong lĩnh vực đầu tư Vậy ưu đãi đầu tư là gì?

Theo định nghĩa của Diễn đàn của Liên hợp quốc về thương mại và phát triển

(UNCTAD) thì: Khuyến khích đầu tư hay còn gọi là ưu đãi đầu tư là các biện pháp được Chính phủ sử dụng để thu hút đầu tư, hướng các dự án đầu tư vào các ngành các khu vực cần thiết hoặc ảnh hưởng đến tính chất của đầu tư Có thể hiểu ưu đãi

đầu tư là tập hợp của nhiều biện pháp xúc tác rất đa dạng và phong phú để thu hútđầu tư Nhìn chung, trên thế giới, ưu đãi đầu tư có thể quy về hai nhóm chính: chínhsách thuế khóa (tax policy) và chính sách khác không phải là thuế (non-tax policy)

[2].

Ở Việt Nam, hiện nay chưa có một khái niệm thống nhất và chính thức về “ưuđãi đầu tư” Trong các văn bản pháp luật của Việt Nam còn tồn tại song song nhiềuthuật ngữ khác nhau như: “Ưu đãi đầu tư”, “hỗ trợ đầu tư” được sử dụng trong Luậtđầu tư 2005; “khuyến khích đầu tư” được sử dụng trong các văn bản pháp luật vềthuế Tuy nhiên, những ưu đãi đầu tư đều được cụ thể hóa bằng những quy địnhmang tính hiện thực và được xác định rõ trong các văn bản pháp luật để nhà đầu tưxác định rõ, nắm bắt và thực hiện Có thể thấy rằng, ưu đãi đầu tư mang tính chất làmột sự khẳng định đã được luật hóa, là những cam kết rõ ràng về việc các nhà đầu tư

sẽ được đối xử một cách ưu đãi khi bỏ vốn đầu tư vào một hoặc một số lĩnh vực, khuvực nhất định Từ đó, có thể hiểu một cách khái quát khái niệm về ưu đãi đầu tư như

sau: Ưu đãi đầu tư là những cam kết cụ thể của nhà nước dành cho các nhà đầu tư

Trang 23

khi đầu tư tại nước tiếp nhận đầu tư; đồng thời để được hưởng ưu đãi đầu tư thì nhà đầu tư phải đáp ứng được một số điều kiện do pháp luật nước tiếp nhận đầu tư quy định.

- Quan niệm về hỗ trợ đầu tư

Hỗ trợ đầu tư là việc quốc gia hay địa phương ở quốc gia tiếp nhận đầu tư, quyđịnh hoặc cụ thể hóa bằng hành động với mục đích dành hỗ trợ nhất định về kinh tế

và các biện pháp phi kinh tế theo hướng có lợi cho nhà đầu tư nhằm tạo động lực để

họ đầu tư vào các lĩnh vực, dự án được Nhà nước cho phép

Ở một Luật cụ thể thì Nhà nước đều có các chính sách khuyến khích, hỗ trợ,bảo đảm, ưu đãi khác nhau, ví dụ đối với Luật Doanh nghiệp năm 2014, Nhà nướccông nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của các loại hình doanh nghiệp được quyđịnh tại Luật này; bảo đảm bình đẳng trước pháp luật của các doanh nghiệp khôngphân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế; thừa nhận tính sinh lợi hợp phápcủa hoạt động kinh doanh; nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốnđầu tư, thu nhập, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của doanh nghiệp và chủ sởhữu doanh nghiệp; tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của doanh nghiệp và chủ sở hữudoanh nghiệp không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính;còn đối với Luật chuyển giao công nghệ, Nhà nước bảo đảm quyền và lợi ích hợppháp, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân hoạt động chuyển giao công nghệphục vụ nhu cầu phát triển nhanh và bền vững kinh tế - xã hội của đất nước; ưu tiênphát triển công nghệ cao, công nghệ tiên tiến; phát triển nguồn nhân lực công nghệđồng bộ với đầu tư đổi mới công nghệ; phát triển mạnh thị trường công nghệ;khuyến khích và thúc đẩy hoạt động ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp côngnghệ; đẩy mạnh việc chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh Đối với Luật Đầu tư năm 2014, Nhà nước có chính sách hỗ trợ đầu tư đượcquy định từ Điều 19 đến Điều 21, mục 2 chương III: gồm có 08 hình thức, đồng thờinhấn mạnh ở hỗ trợ phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong

và ngoài hàng rào dự án; hỗ trợ đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, hỗ trợ tín dụng

Dưới một góc độ khác, chúng ta có thể hiểu, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư là các cam kết của Nhà nước đối với nhà đầu tư: Các ưu đãi và hỗ trợ cụ thể đó có thể thay

Trang 24

đổi theo từng thời kỳ tùy theo tình hình kinh tế - chính trị - xã hội cụ thể nhưng camkết của Nhà nước là không thay đổi bởi nó được đảm bảo bằng một bản “hợp đồng”được ký kết giữa Nhà nước và nhà đầu tư, đó chính là các điều khoản quy định về ưuđãi tại Giấy chứng nhận đầu tư mà Nhà nước cấp cho nhà đầu tư.

Như vậy, có thể nêu quan niệm về Ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư đối với các

dự án đầu tư phát triển chợ là những cam kết cụ thể của nhà nước dành cho các nhà đầu tư khi đầu tư phát triển chợ tại địa bàn tiếp nhận đầu tư; đồng thời để được hưởng ưu đãi đầu tư thì nhà đầu tư phải đáp ứng được một số điều kiện do pháp luật đầu tư quy định và được hỗ trợ về một khoảng nhất định về kinh tế và các biện pháp phi kinh tế theo hướng có lợi cho nhà đầu tư nhằm tạo động lực thúc đẩy nhà đầu tư đầu tư vào các dự án phát triển chợ.

- Pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với các dự án đầu tư phát triển chợ

Pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư là hệ thống những quy phạm pháp luật donhà nước ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực đầu tư,thương mại, trong đó có các ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với dự án đầu tư xây dựng vàquản lý, kinh doanh chợ Mục đích của pháp luật ưu đãi và hỗ trợ đầu tư trước hết lànhằm thu hút các nhà đầu tư bỏ vốn của họ đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh khaithác và quản lý chợ Việc hướng các quan hệ trong lĩnh vực đầu tư theo một trật tự

có định hướng, đảm bảo đầy đủ các quyền và lợi ích cho nhà đầu tư là nội dung quantrọng của quản lý nhà nước trong lĩnh vực này Nhà nước không chỉ quản lý hoạtđộng đầu tư bằng các Nghị quyết, chủ trương, đường lối mà cần phải cụ thể hoá cácnghị quyết, chủ trương ấy thành pháp luật, đảm bảo một hành lang pháp lý cho hoạtđộng đầu tư phát triển Có làm được điều này, Nhà nước mới có thể phát huy hếtquyền lực và vai trò quản lý của mình trong lĩnh vực đầu tư Pháp luật về ưu đãi và

hỗ trợ đầu tư có hợp lý và hiệu quả thì mới đảm bảo được môi trường bình đẳng mà

ở đó các nhà đầu tư có thể phát huy hết năng lực của mình

Bản chất của pháp luật ưu đãi và hỗ trợ đầu tư: Pháp luật ưu đãi và hỗ trợ

đầu tư quy định mối quan hệ lợi ích giữa nhà nước và nhà đầu tư Trong mối quan hệnày, Nhà nước là chủ thể quyết định các biện pháp ưu đãi và mức hỗ trợ cho nhà đầu

tư khi đáp ứng các điều kiện đầu tư; nhà đầu tư là chủ thể nhận ưu đãi và hỗ trợ;

Trang 25

khách thể của quan hệ này chính là các ưu đãi và hỗ trợ cụ thể như các khoản lợi vềthuế, tiền thuê đất, hỗ trợ công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ đào tạolao động, hỗ trợ thực hiện các thủ tục hành chính Mục đích của việc cấp ưu đãi và

hỗ trợ đầu tư là nhà nước mong muốn chủ thể được nhận ưu đãi, hỗ trợ - các nhà đầu

tư - đầu tư vào một số địa bàn và lĩnh vực nhất định theo định hướng phát triển kinh

tế, trong đó chợ là một ngành nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư theo quy định tại Nghị định

sự ổn định và phát triển đối với các dự án đầu tư phát triển chợ Trước hết, phải nói

về vai trò to lớn của pháp luật đầu tư thể hiện rõ nhất ở những khía cạnh sau đây:

Thứ nhất, Pháp luật đầu tư là cơ sở để thiết lập, củng cố và tăng cường quyền

lực nhà nước về đầu tư, thu hút đầu tư Thực tiễn cho thấy, để nhà nước hoạt động cóhiệu quả đòi hỏi phải xác định đúng chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm của mỗiloại cơ quan; mỗi cơ quan phải xác lập mối quan hệ đúng đắn giữa chúng, phải cónhững phương pháp tổ chức và hoạt động phù hợp để tạo ra một cơ chế đồng bộ,trong quá trình thiết lập và thực thi quyền lực nhà nước Những điều đó chỉ có thểthực hiện được khi dựa trên các quy định của pháp luật

Pháp luật về đầu tư được Nhà nước quy định chung, không quy định riêng đốivới dự án đầu tư phát triển chợ; nhưng dự án đầu tư phát triển chợ là một trongnhững ngành nghề được nhà nước quy định trong chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tưnhằm tạo ra một cơ chế đồng bộ trong việc thực thi pháp luật của nhà nước

Thứ hai, Pháp luật về đầu tư là phương tiện để nhà nước quản lý về mặt kinh

tế, xã hội đối với các dự án đầu tư phát triển trong phạm vi quốc gia, lãnh thổ Nhànước là đại diện chính thức của toàn thể xã hội; do đó nó có chức năng quản lý toàn

xã hội đối với các chủ thể, khách thể có liên quan đến hoạt động đầu tư Để quản lý

xã hội, nhà nước dùng nhiều phương tiện, nhiều biện pháp, trong đó pháp luật về đầu

tư, là phương tiện quan trọng nhất trong quản lý hoạt động đầu tư Pháp luật có khả

Trang 26

năng triển khai những chủ trương, chính sách của nhà nước một cách nhanh nhất.Nhờ có pháp luật, nhà nước có cơ sở để phát huy quyền lực, kiểm tra, kiểm soát cáchoạt động của các tổ chức, các cơ quan, các nhân viên nhà nước và mọi công dân.

Trong tổ chức và quản lý các dự án đầu tư, pháp luật lại càng có vai trò to lớn;

vì tính chất phức tạp và phạm vi rộng lớn của chức năng quản lý kinh tế, nhất là quản

lý đầu tư, nhà nước không thể trực tiếp tham gia vào tất cả các hoạt động đầu tư màchỉ thực hiện quản lý ở tầm vĩ mô và mang tính chất hành chính - kinh tế Quá trình

đó không thể thực hiện được nếu không dựa vào pháp luật đầu tư

Thứ ba, Pháp luật về đầu tư tạo dựng những quan hệ xã hội mới Trên cơ sở

xác định thực trạng tình hình cụ thể về đầu tư, cùng với những tồn tại và tái diễnthường xuyên ở những thời điểm cụ thể trong xã hội về đầu tư, nhà nước đề ra phápluật đầu tư để điều chỉnh kịp thời và phù hợp với thực tế của quốc gia Mặt khác, dựatrên cơ sở của những kết quả dự báo khoa học, có thể dự kiến được những thay đổi

có thể diễn ra với những tình huống cụ thể về hoạt đồng đầu tư, cần có sự điều chỉnhbằng pháp luật Từ đó, pháp luật được đặt ra để định hướng trước, xác lập những quyđịnh và có thể thiết kế những mô hình tổ chức quy định chức năng, nhiệm vụ và tổchức thử nghiệm Do đó, pháp luật về đầu tư được nhà nước điều chỉnh cho phù hợp,chẳng hạn như Luật đầu tư 2005, qua quá trình triển khai thực hiện đã bộc lộ nhiềubất cập nên được thay thế bằng Luật đầu tư 2014, trong đó có quy định cụ thể về cácbiện pháp ưu đãi và hỗ trợ đầu tư Từ những biện pháp ưu đãi và hỗ trợ đầu tư củapháp luật đầu tư, đã tạo dựng được nhiều quan hệ xã hội mới phát sinh trong quátrình thực hiện

Thứ tư, Pháp luật về đầu tư tạo lập môi trường ổn định cho việc thiết lập các

mối quan hệ bang giao giữa các quốc gia Sự ổn định của mỗi quốc gia luôn là điềukiện quan trọng để tạo ra niềm tin, là cơ sở để mở rộng các mối bang giao với cácnước khác Pháp luật về đầu tư tạo ra môi trường đầu tư ổn định sẽ làm cơ sở để thiếtlập và cũng cố, phát triển các mối quan hệ bang giao giữa các quốc gia với nhau vềhoạt động đầu tư

Bởi vậy, muốn thực hiện tốt sự quản lý nhà nước, đẩy nhanh sự phát triển của

xã hội, mở rộng quan hệ và hợp tác với các nước thì phải chú trọng phát huy vai trò

Trang 27

của pháp luật Phải nhanh chóng xây dựng hệ thống pháp luật toàn diện, đầy đủ vàđồng bộ, phù hợp với những điều kiện và hoàn cảnh trong nước; đồng thời phù hợpvới xu hướng phát triển chung với tình hình quốc tế và khu vực.

Ở nước ta, trong mối quan hệ với chính sách khuyến khích đầu tư chung, bêncạnh các chính sách về hỗ trợ và bảo đảm đầu tư cho các nhà đầu tư, trong nhiềunăm qua các chính sách về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư cũng đã có tác động rất nhiều đếnnền kinh tế Điều này đã được chứng minh qua các số liệu về sự gia tăng nguồn vốnđầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam và ý nghĩa của nó đối với nền kinh tế - xã hội, cụthể:

- Vai trò của pháp luật ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với nền kinh tế

Thứ nhất, Pháp luật ưu đãi và hỗ trợ đầu tư có vai trò to lớn trong việc thu hút

vốn đầu tư trong nước và nước ngoài: Mục đích của pháp luật ưu đãi và hỗ trợ đầu tưtrước hết là nhằm thu hút các dự án đầu tư vốn vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh

cụ thể Nhà nước ban hành các quy định pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư dựa trêncác chủ trương, đường lối, chính sách về hoạch định chiến lược phát triển kinh tếquốc gia theo từng giai đoạn, từ đó tạo thành một hành lang pháp lý cho hoạt độngđầu tư phát triển Nhờ có các quy định về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư mà dòng vốn sẽ tậptrung vào địa bàn, lĩnh vực trọng yếu trong danh mục khuyến khích đầu tư Với vaitrò này, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư có ý nghĩa như một động lực thúc đẩy cải thiện môitrường đầu tư, tạo sức hấp dẫn cho môi trường đầu tư, giúp Nhà nước huy động đượcnhững nguồn vốn dồi dào trong và ngoài nước

Thứ hai, Ưu đãi và hỗ trợ đầu tư giúp Nhà nước hoạch định cơ cấu kinh tế và

rút ngắn khoảng cách vùng miền; Các quy định về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư không ápdụng đồng đều cho tất cả các địa bàn, ngành, lĩnh vực của nền kinh tế mà có nhữngcấp bậc, mức độ khuyến khích khác nhau Tiêu chí cơ bản để phân chia mức độ ưuđãi và hỗ trợ ở các ngành các lĩnh vực, địa bàn kinh tế chính là ngành nào, lĩnh vựcnào, địa bàn nào cần thu hút nhiều vốn thì có nhiều ưu đãi và hỗ trợ đầu tư hơn Dovậy, thông qua chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư, Nhà nước có thể khắc phục đượcnhững mặt hạn chế trong việc phát triển kinh tế cho từng ngành, lĩnh vực, địa bàn cụthể và chủ động cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng thích hợp Một mặt, tạo ra những

Trang 28

lợi ích nhất định cho nhà đầu tư; mặt khác giúp Nhà nước chuyển dịch cơ cấu kinh tếmột cách hợp lý và phát triển được các ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn cần tập trungđầu tư theo từng giai đoạn nhất định từ đó phát triển đồng đều toàn bộ nền kinh tếnói chung.

Thứ ba, Pháp luật ưu đãi và hỗ trợ đầu tư giúp giải quyết nhiều vấn đề xã hội

của địa phương nói riêng và cả nước nói chung: Ưu đãi và hỗ trợ đầu tư thu hútnguồn vốn và các dự án đầu tư vào những khu vực địa lý nhất định Việc hình thànhcác dự án đầu tư đó không chỉ thu hút lao động mà còn kích thích các hoạt động dịch

vụ phát triển và thu hút vào các hoạt động này một số lớn lao động Việc xây dựngcác doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh cũng thúc đẩy việc phát triển các dịch vụ hỗtrợ và giải quyết được một số lượng lao động khá lớn Hơn nữa, để đáp ứng nhu cầutuyển dụng của nhiều doanh nghiệp sẽ thúc đẩy thành lập các cơ sở đào tạo nghề.Việc này, sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nóiriêng, cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nói chung Ở các địa phương, việc thànhlập doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sẽ giúp cho tỷ lệ thất nghiệp giảm rõ rệt Điều

đó có tác động tích cực đến việc xoá đói, giảm nghèo và góp phần giảm các tệ nạn xãhội do thất nghiệp gây ra

Thứ tư, Pháp luật ưu đãi và hỗ trợ đầu tư giúp tiếp nhận chuyển giao công

nghệ hiện đại và phương pháp quản lý tiên tiến của các nước phát triển: Việc tiếp thucông nghệ và kỹ năng quản lý hiện đại một cách nhanh chóng và hiệu quả không chỉ

là nhiệm vụ trước mắt mà còn là mục tiêu chiến lược Ưu đãi và hỗ trợ đầu tư giúpthu hút các doanh nghiệp nước ngoài, từ đó chúng ta sẽ có điều kiện tiếp nhận nhữngcông nghệ tiên tiến, hiện đại trên thế giới, tận dụng được những lợi thế của nước đisau, rút ngắn được khoảng cách về khoa học kỹ thuật với các nước đi trước Mặtkhác, người lao động của chúng ta làm việc tại các công ty nước ngoài sẽ được đàotạo lại, đào tạo bổ sung để thích hợp và tiếp thu tác phong công nghiệp, kinh nghiệmquản lý hiện đại của nước ngoài Việc này sẽ dần tác động đến sự thay đổi côngnghệ, trang thiết bị, chất lượng sản phẩm, cơ chế hoạt động, kiến thức và phươngpháp quản lý của các doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy cho các doanh

nghiệp này đổi mới để đạt hiệu quả kinh tế cao

Trang 29

Thứ năm, Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, hợp lý

và hiệu quả: Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý là một nội dung cơ bản trong quá trìnhCNH, HĐH ở nước ta Pháp luật ưu đãi và hỗ trợ đầu tư giúp thu hút nguồn vốn đầu

tư, chủ yếu là các doanh nghiệp phát triển dịch vụ thương mại, một mặt góp phầnnâng cao tỷ trọng ngành dịch vụ trong tổng số GDP của các ngành kinh tế tạo ra trên

cả nước Mặt khác, chúng ta thu hút được những dự án có hàm lượng vốn lớn, côngnghệ mới góp phần phát triển ngành nghề mới, đa dạng hoá ngành nghề dịch vụtrong nước

Thứ sáu, Khắc phục những hạn chế còn tồn tại của môi trường đầu tư: Pháp

luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư là cơ sở để tạo ra môi trường đầu tư tốt Việc banhành các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ đầu tư giúp nhà nước khắc phục những hạn chếcủa địa phương tiếp nhận đầu tư như: sự hạn chế về điều kiện kinh tế - xã hội để thuhút nguồn vốn Về mặt pháp luật, sự ổn định và mở rộng những ưu đãi và hỗ trợ đầu

tư đối với nhà đầu tư luôn luôn tỷ lệ thuận với sức hấp dẫn của môi trường đầu tư.Mặt khác, qua quá trình quản lý các dự án đầu tư vào những khu vực, địa bàn ưu đãiđầu tư nhất định, Nhà nước có thể điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật

về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư kịp thời Những biện pháp mới này sẽ giúp cho nhà đầu tưthực hiện tốt hơn dự án của mình, bởi nó sát với thực tế Vì vậy, việc ban hành vàtriển khai pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư cũng giúp cho Nhà nước có điều kiệncải thiện các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ đầu tư của mình sao cho hiệu quả và phù hợpvới định hướng phát triển kinh tế

Thứ bảy, Đảm bảo đồng bộ của hệ thống pháp luật đầu tư với thông lệ quốc

tế Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, hệ thống pháp luật đầu tư nóichung cũng như pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư nói riêng có vai trò quan trọng,

nó không chỉ có ý nghĩa tạo ra những lợi thế về cạnh tranh để thu hút được nhiều vốnđầu tư, mà xét trên góc độ khác nó còn là những biện pháp cần, bắt buộc phải có.Việt Nam là một nước mở rộng quan hệ đối ngoại nói chung và quan hệ hợp tácthương mại nói riêng với rất nhiều quốc gia trên thế giới Nhận thức được vai trò củađầu tư trong phát triển kinh tế đất nước, chúng ta đã ký kết và tham gia nhiều

Trang 30

Hiệp định có liên quan đến lĩnh vực ưu đãi, hỗ trợ đầu tư Điều này cũng tạo thuậnlợi đáng kể cho các nhà đầu tư Việt Nam khi đầu tư vào nước khác; đồng thời cũngthu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam Tất cả những hiệpđịnh này đều chứa đựng những ràng buộc hoặc không ràng buộc Nhà nước Việt Namtrong việc ban hành các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ đầu tư Việt Nam cũng tham gia vàocác tổ chức thương mại, các diễn đàn hợp tác kinh tế xuyên quốc gia, để được sựcông nhận và tồn tại trong cộng đồng ấy thì hệ thống pháp luật phải có sự tươngđồng nhất định Theo đó, các quy định của pháp luật ưu đãi và hỗ trợ đầu tư cũngphải được đặt ra và hoàn thiện nhằm tạo ra một môi trường pháp lý lành mạnh chođầu tư kinh doanh.

Tóm lại, Pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư có vai trò và ý nghĩa vô cùng

quan trọng vì nó mang lại hiệu quả đối với sự phát triển của quốc gia, tác động trựctiếp đến việc thu hút vốn đầu tư, giúp nhà đầu tư yên tâm khi bỏ vốn sản xuất kinhdoanh tại nước tiếp nhận đầu tư và bởi họ không những được bảo đảm về mọi quyềnlợi hợp pháp mà còn được tạo mọi điều kiện cần thiết trong quá trình đầu tư Chínhcác quy định này đã tạo ra sự tin tưởng và an tâm của nhà đầu tư đối với các biệnpháp ưu đãi và hỗ trợ đầu tư của quốc gia, địa phương, đồng thời kích thích họ đầu

tư vốn, công nghệ và kỹ thuật hiện đại cho các dự án đầu tư, trong đó có các dự ánđầu tư xây dựng, kinh doanh khai thác chợ hay còn gọi là dự án đầu tư phát triểnchợ

Việc xây dựng và hoàn thiện chế định về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư có ý nghĩa vôcùng quan trọng đối với việc thu hút FDI ở nước ta nói chung và ở Quảng Ngãi nóiriêng Các quy định của pháp luật về hỗ trợ đầu tư không những phải tạo ra một môitrường đầu tư thông thoáng và hấp dẫn mà còn phải thực sự đi trước một bước đểđẩy nhanh tốc độ thu hút nguồn lực bên ngoài Pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư lànhững quy định không thể thiếu trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, mỗi địaphương Bởi nếu không có quy định này thì sẽ làm hạn chế thu hút các nhà đầu tư vàlàm cho các hoạt động đầu tư không thể tồn tại được Do đó, pháp luật về ưu đãi và

hỗ trợ đầu tư của cả nước nói chung và của tỉnh Quảng Ngãi cần phải tiếp tục có sựđiều chỉnh nhằm hoàn thiện hơn, nâng cao khả năng cạnh tranh thu hút đầu tư

Trang 31

1.3 Cơ cấu pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với dự án đầu tư phát triển chợ

1.3.1 Nhóm các quy phạm quy định về nguyên tắc và điều kiện ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với dự án đầu tư phát triển chợ

- Theo Luật đầu tư năm 2005, Nhà đầu tư có dự án đầu tư thuộc lĩnh vực và

địa bàn ưu đãi đầu tư quy định dưới đây được hưởng các ưu đãi theo quy định củaLuật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan:

+ Về quy phạm nguyên tắc: Nhà đầu tư có dự án đầu tư thuộc lĩnh vực và địa

bàn ưu đãi đầu tư quy định tại Điều 27 và Điều 28 của Luật đầu tư 2005 được hưởngcác ưu đãi theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liênquan

Việc ưu đãi đầu tư quy định tại khoản 1, Điều 32 Luật đầu tư 2005 cũng được

áp dụng đối với dự án đầu tư mới và dự án đầu tư mở rộng quy mô, nâng cao côngsuất, năng lực kinh doanh, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm

ô nhiễm môi trường

+ Quy phạm về điều kiện:

Điều kiện về lĩnh vực được ưu đãi và hỗ trợ đầu tư gồm: Sản xuất vật liệu

mới, năng lượng mới; sản xuất sản phẩm công nghệ cao, công nghệ sinh học, côngnghệ thông tin; cơ khí chế tạo Nuôi trồng, chế biến nông, lâm, thuỷ sản; làm muối;sản xuất giống nhân tạo, giống cây trồng và giống vật nuôi mới Sử dụng công nghệcao, kỹ thuật hiện đại; bảo vệ môi trường sinh thái; nghiên cứu, phát triển và ươmtạo công nghệ cao Sử dụng nhiều lao động Xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng,các dự án quan trọng, có quy mô lớn Phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, thểdục, thể thao và văn hóa dân tộc Phát triển ngành, nghề truyền thống Những lĩnhvực sản xuất, dịch vụ khác cần khuyến khích

Điều kiện về địa bàn ưu đãi đầu tư: Địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó

khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn Khu công nghiệp, khuchế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế

Căn cứ ngành, nghề và địa bàn ưu đãi đầu tư quy định của Luật đầu tư 2005,Chính phủ đã ban hành Danh mục ngành, nghề ưu đãi đầu tư và Danh mục địa bàn

Trang 32

ưu đãi đầu tư kèm theo Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 (Có phụ lục 1 kèm theo).

- Theo Luật đầu tư 2014, các nhà đầu tư đầu tư vào Dự án đầu tư thuộcngành, nghề ưu đãi đầu tư và địa bàn ưu đãi đầu tư dưới đây thì thuộc đối tượng ápdụng ưu đãi đầu tư của Nhà nước:

+ Về quy phạm nguyên tắc: Dự án đầu tư thuộc ngành, nghề ưu đãi đầu tư;

Dự án đầu tư tại địa bàn ưu đãi đầu tư theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Luậtđầu tư 2014; Dự án đầu tư có quy mô vốn từ 6.000 tỷ đồng trở lên, thực hiện giảingân tối thiểu 6.000 tỷ đồng trong thời hạn 03 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứngnhận đăng ký đầu tư hoặc quyết định chủ trương đầu tư; Dự án đầu tư tại vùng nôngthôn sử dụng từ 500 lao động trở lên; Doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệpkhoa học và công nghệ, tổ chức khoa học và công nghệ

Ưu đãi đầu tư được áp dụng đối với dự án đầu tư mới và dự án đầu tư mởrộng Mức ưu đãi cụ thể đối với từng loại ưu đãi đầu tư được áp dụng theo quy địnhcủa pháp luật về thuế và pháp luật về đất đai

Ưu đãi đầu tư đối với các đối tượng quy định tại các điểm b, c và d khoản 2Điều 15 Luật đầu tư 2014 không áp dụng đối với dự án đầu tư khai thác khoáng sản;sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệttheo quy định của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, trừ sản xuất ô tô

+ Quy phạm về điều kiện: bao gồm điều kiện về ngành nghề và địa bàn ưu đãi, hỗ trợ đầu tư

Điều kiện về ngành, nghề ưu đãi đầu tư gồm: Hoạt động công nghệ cao, sản

phẩm công nghiệp hỗ trợ công nghệ cao; hoạt động nghiên cứu và phát triển; Sảnxuất vật liệu mới, năng lượng mới, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; sản xuất sảnphẩm có giá trị gia tăng từ 30% trở lên, sản phẩm tiết kiệm năng lượng; Sản xuất sảnphẩm điện tử, sản phẩm cơ khí trọng điểm, máy nông nghiệp, ô tô, phụ tùng ô tô;đóng tàu; Sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may, da giày và cácsản phẩm quy định tại điểm c khoản này; Sản xuất sản phẩm công nghệ thông tin,phần mềm, nội dung số; Nuôi trồng, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản; trồng vàbảo vệ rừng; làm muối; khai thác hải sản và dịch vụ hậu cần nghề cá; sản

Trang 33

xuất giống cây trồng, giống vật nuôi, sản phẩm công nghệ sinh học; Thu gom, xử lý,tái chế hoặc tái sử dụng chất thải; Đầu tư phát triển và vận hành, quản lý công trìnhkết cấu hạ tầng; phát triển vận tải hành khách công cộng tại các đô thị; Giáo dụcmầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp; Khám bệnh, chữa bệnh; sảnxuất thuốc, nguyên liệu làm thuốc, thuốc chủ yếu, thuốc thiết yếu, thuốc phòng,chống bệnh xã hội, vắc xin, sinh phẩm y tế, thuốc từ dược liệu, thuốc đông y; nghiêncứu khoa học về công nghệ bào chế, công nghệ sinh học để sản xuất các loại thuốcmới; Đầu tư cơ sở luyện tập, thi đấu thể dục, thể thao cho người khuyết tật hoặcchuyên nghiệp; bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; Đầu tư trung tâm lão khoa,tâm thần, điều trị bệnh nhân nhiễm chất độc màu da cam; trung tâm chăm sóc ngườicao tuổi, người khuyết tật, trẻ mồ côi, trẻ em lang thang không nơi nương tựa; Quỹtín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô.

Điều kiện về địa bàn ưu đãi đầu tư: Địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó

khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Khu công nghiệp, khuchế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế

Căn cứ ngành, nghề và địa bàn ưu đãi đầu tư quy định tại khoản 1 và khoản 2Điều 16 Luật đầu tư, Chính phủ đã ban hành, sửa đổi, bổ sung Danh mục ngành,nghề ưu đãi đầu tư và Danh mục địa bàn ưu đãi đầu tư kèm theo Nghị định

118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 (Cóphụ lục 2 kèm theo).

Như vậy, đối chiếu các quy định của Luật đầu tư 2005, Luật đầu tư năm 2014

và các Nghị định của Chính phủ thì nguyên tắc và điều kiện về ngành, nghề ưu đãiđầu tư và địa bàn ưu đãi đầu tư của tỉnh Quảng Ngãi đối với dự án đầu tư phát triểnchợ cụ thể như sau:

- Theo Danh mục ngành, nghề ưu đãi đầu tư và địa bàn ưu đãi đầu tư đượcban hành kèm theo Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ thìtỉnh Quảng Ngãi có các huyện: Ba Tơ, Trà Bồng, Sơn Tây, Sơn Hà, Minh Long,Bình Sơn, Tây Trà và huyện đảo Lý Sơn là huyện thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế

- xã hội đặc biệt khó khăn và huyện Nghĩa Hành, Sơn Tịnh là huyện thuộc địa bàn cóđiều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; đối với dự án đầu tư xây dựng chợ hạng I thuộcđối tượng ưu đãi và hỗ trợ đầu tư theo quy định của Luật đầu tư năm 2005

Trang 34

- Theo Danh mục ngành, nghề ưu đãi đầu tư và địa bàn ưu đãi đầu tư đượcban hành kèm theo nghị định 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ thìtỉnh Quảng Ngãi có các huyện: Ba Tơ, Trà Bồng, Sơn Tây, Sơn Hà, Minh Long,Bình Sơn, Tây Trà, Sơn Tịnh và huyện đảo Lý Sơn là huyện thuộc địa bàn có điềukiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và huyện Nghĩa Hành là huyện thuộc địa bàn

có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn Đầu tư xây dựng và quản lý, kinh doanh chợvùng nông thôn thuộc ngành nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư theo quy định của Luật đầu

tư năm 2014

1.3.2 Nhóm các quy phạm quy định về nội dung, hình thức ưu đãi và hỗ trợ đầu

tư đối với dự án đầu tư phát triển chợ

Theo Luật đầu tư năm 2005 quy định nội dung ưu đãi và hỗ trợ đầu tư gồm

có:

Thứ nhất, nội dung về ưu đãi đầu tư gồm có: ưu đãi về thuế, ưu đãi về sử

dụng đất, Khấu hao tài sản cố định và chuyển lỗ

- Ưu đãi về thuế: Nhà đầu tư có dự án thuộc đối tượng quy định tại Điều 32

của Luật đầu tư 2005 được hưởng thuế suất ưu đãi, thời hạn hưởng thuế suất ưu đãi,thời gian miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật về thuế Nhà đầu tư đượchưởng ưu đãi về thuế cho phần thu nhập được chia từ hoạt động góp vốn, mua cổphần vào tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật về thuế sau khi tổ chức kinh tế

đó đã nộp đủ thuế thu nhập doanh nghiệp Nhà đầu tư được miễn thuế nhập khẩu đốivới thiết bị, vật tư, phương tiện vận tải và hàng hóa khác để thực hiện dự án đầu tưtại Việt Nam theo quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Thu nhập từhoạt động chuyển giao công nghệ đối với các dự án thuộc diện ưu đãi đầu tư đượcmiễn thuế thu nhập theo quy định của pháp luật về thuế

- Ưu đãi về sử dụng đất: Thời hạn sử dụng đất của dự án đầu tư không quá

năm mươi năm; đối với dự án có vốn đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn chậm, dự án đầu

tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế

-xã hội đặc biệt khó khăn mà cần thời hạn dài hơn thì thời hạn giao đất, thuê đấtkhông quá bảy mươi năm Khi hết thời hạn sử dụng đất, nếu nhà đầu tư chấp hànhđúng pháp luật về đất đai và có nhu cầu tiếp tục sử dụng đất thì sẽ được cơ quan nhà

Trang 35

nước có thẩm quyền xem xét gia hạn sử dụng đất phù hợp với quy hoạch sử dụng đất

đã được phê duyệt

Nhà đầu tư đầu tư trong lĩnh vực ưu đãi đầu tư, địa bàn ưu đãi đầu tư đượcmiễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất theo quy định của phápluật về đất đai và pháp luật về thuế

- Khấu hao tài sản cố định: Dự án đầu tư trong lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu

tư và dự án kinh doanh có hiệu quả được áp dụng khấu hao nhanh đối với tài sản cốđịnh; mức khấu hao tối đa là hai lần mức khấu hao theo chế độ khấu hao tài sản cốđịnh

- Chuyển lỗ: Nhà đầu tư sau khi đã quyết toán thuế với cơ quan thuế mà bị lỗ

thì được chuyển lỗ sang năm sau; số lỗ này được trừ vào thu nhập chịu thuế thu nhậpdoanh nghiệp theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp Thời gian đượcchuyển lỗ không quá năm năm

Thứ hai, nội dung về hỗ trợ đầu tư bao gồm: hỗ trợ chuyển giao công nghệ;

hỗ trợ đào tạo; Hỗ trợ và khuyến khích phát triển dịch vụ đầu tư; Đầu tư hệ thống kếtcấu hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; Thị thựcxuất cảnh, nhập cảnh

- Hỗ trợ chuyển giao công nghệ: Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi và bảo

đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên chuyển giao công nghệ, bao gồm cả việcgóp vốn bằng công nghệ, để thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam theo quy địnhcủa pháp luật về chuyển giao công nghệ

Nhà nước khuyến khích việc chuyển giao vào Việt Nam công nghệ tiên tiến,công nghệ nguồn và các công nghệ để tạo ra sản phẩm mới, nâng cao năng lực sảnxuất, năng lực cạnh tranh, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm và sử dụng có hiệu quảnguyên liệu, nhiên liệu, năng lượng, tài nguyên thiên nhiên

- Hỗ trợ đào tạo: Nhà nước khuyến khích lập quỹ hỗ trợ đào tạo nguồn nhân

lực từ nguồn vốn góp và tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài.Chi phí đào tạo của doanh nghiệp được tính vào chi phí hợp lý làm căn cứ xác địnhthu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp Nhà nước hỗ trợ từ nguồn ngân sách choviệc đào tạo lao động trong các doanh nghiệp thông qua các chương trình trợ giúp

Trang 36

đào tạo.

- Hỗ trợ và khuyến khích phát triển dịch vụ đầu tư: Nhà nước khuyến khích

và hỗ trợ các tổ chức, cá nhân tiến hành các dịch vụ hỗ trợ đầu tư sau đây: Tư vấnđầu tư, tư vấn quản lý; Tư vấn về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ; Dạy nghề,đào tạo kỹ thuật, kỹ năng quản lý; Cung cấp thông tin về thị trường, thông tin khoahọc - kỹ thuật, công nghệ và các thông tin kinh tế, xã hội khác mà nhà đầu tư yêucầu; Tiếp thị, xúc tiến đầu tư và thương mại; Thành lập, tham gia các tổ chức xã hội,

tổ chức xã hội - nghề nghiệp; Thành lập các trung tâm thiết kế, thử nghiệm để hỗ trợphát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ

- Đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế: Căn cứ quy hoạch tổng thể phát triển khu công nghiệp, khu

chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế đã được Chính phủ phê duyệt, các Bộ, cơquan ngang Bộ và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh lập kế hoạch đầu tư và tổ chức xâydựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội ngoài hàng rào khu côngnghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế thuộc phạm vi quản lý Đối vớimột số địa phương có địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn và địa bàn kinh tế - xã hộiđặc biệt khó khăn, Nhà nước hỗ trợ một phần vốn cho địa phương để cùng với nhàđầu tư đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng trong hàng rào khu công nghiệp,khu chế xuất theo quy định của Chính phủ Nhà nước dành nguồn vốn đầu tư từ ngânsách và tín dụng ưu đãi để hỗ trợ đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật

và hạ tầng xã hội trong khu công nghệ cao, khu kinh tế và áp dụng một số phươngthức huy động vốn để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng khu công nghệ cao, khu kinhtế

- Thị thực xuất cảnh, nhập cảnh: Nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư,

chuyên gia và lao động kỹ thuật là người nước ngoài làm việc thường xuyên trong

dự án đầu tư tại Việt Nam và các thành viên gia đình họ được cấp thị thực xuất cảnh,nhập cảnh nhiều lần Thời hạn của thị thực tối đa là năm năm cho mỗi lần cấp

Luật Đầu tư 2014 ra đời đã góp phần quan trọng tạo ra hành lang pháp lý

thông thoáng thu hút đầu tư, xây dựng môi trường đầu tư minh bạch, đảm bảo quyềnlợi của các chủ thể trong hoạt động đầu tư và đem lại lợi ích cao nhất cho sự phát

Trang 37

triển kinh tế - xã hội Đáng chú ý ở hình thức ưu đãi và các biện pháp hỗ trợ đầu tư.Khoản 1 Điều 15 và khoản 1, Điều 19, Luật Đầu tư hiện hành quy định các nội dung

ưu đãi và hỗ trợ đầu tư như sau:

Thứ nhất, về nội dung về ưu đãi đầu tư gồm có: Áp dụng mức thuế suất thuế

thu nhập doanh nghiệp thấp hơn mức thuế suất thông thường có thời hạn hoặc toàn

bộ thời gian thực hiện dự án đầu tư; miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp; Miễnthuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định; nguyên liệu, vật

tư, linh kiện để thực hiện dự án đầu tư; Miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất,thuế sử dụng đất

Thứ hai, nội dung về hỗ trợ đầu tư bao gồm: Hỗ trợ phát triển hệ thống kết

cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong và ngoài hàng rào dự án; Hỗ trợ đào tạo,phát triển nguồn nhân lực; Hỗ trợ tín dụng; Hỗ trợ tiếp cận mặt bằng sản xuất, kinhdoanh; Hỗ trợ di dời cơ sở sản xuất ra khỏi nội thành, nội thị; Hỗ trợ khoa học, kỹthuật, chuyển giao công nghệ; Hỗ trợ phát triển thị trường, cung cấp thông tin; Hỗtrợ nghiên cứu và phát triển

Hỗ trợ phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong vàngoài hàng rào dự án: Chính phủ dành nguồn vốn đầu tư từ ngân sách để hỗ trợ đốivới đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội ngoài dự án

và các công trình dịch vụ công cộng quan trọng; bồi thường giải phóng mặt bằngtrong các khu chức năng và tái định cư, tái định canh cho các hộ gia đình bị thu hồiđất; đầu tư công trình xử lý nước thải và chất thải tập trung của các khu chức năng

Hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng ngoài hàng rào dự án: Ủy ban nhândân cấp tỉnh cân đối nguồn ngân sách địa phương để hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu

hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội ngoài hàng rào dự án

Hỗ trợ đào tạo, phát triển nguồn nhân lực: Chính phủ khuyến khích và hỗ trợnhà đầu tư lập quỹ hỗ trợ đào tạo từ nguồn vốn góp và tài trợ của các tổ chức, cánhân trong nước và nước ngoài như: Quỹ hỗ trợ đào tạo được thành lập không vìmục đích lợi nhuận được miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật về thuế; Chiphí đào tạo của tổ chức kinh tế được tính vào chi phí hợp lý làm căn cứ xác định thunhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp

Trang 38

Hỗ trợ tín dụng: Tín dụng đầu tư gồm cho vay đầu tư và hỗ trợ sau đầu tư;Với Ngân hàng phát triển Việt Nam (VDB), tín dụng đầu tư được cho vay theo Nghịđịnh 75/2011/NĐ-CP về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước Trong

đó, đối tượng cho vay là các chủ đầu tư có dự án đầu tư thuộc danh mục được banhành kèm theo Nghị định Cụ thể, có 5 nhóm ngành nghề, lĩnh vực thuộc phạm viđiều chỉnh của Nghị định gồm: Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; Nông nghiệp - nôngthôn; Công nghiệp; Các dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khókhăn, đặc biệt khó khăn, dự án tại vùng đồng bào dân tộc Khơ me sinh sống tậptrung, các xã thuộc chương trình 135, các xã biên giới thuộc chương trình 120 và các

xã vùng bãi ngang; Các dự án cho vay theo hiệp định Chính phủ, các dự án đầu tư ranước ngoài theo quyết định của thủ tướng Chính phủ, các dự án cho vay theo chươngtrình mục tiêu sử dụng vốn nước ngoài Trong quá trình phát triển của nền kinh tế,đối tượng cho vay của tín dụng đầu tư Nhà nước luôn được điều chỉnh kịp thời theodiễn biến của từng thời kỳ Các nhóm đối tượng sẽ được đem ra xem xét, mở rộnghoặc thu hẹp tùy thuộc theo nhu cầu của nền kinh tế khoảng 02 năm một lần

Với Quỹ Đầu tư phát triển địa phương, đối tượng cho vay được quy định tạiNghị định 138/2007/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư phát triển địaphương tập trung 2 lĩnh vực gồm: (i) Các dự án về: giao thông; cấp nước; nhà ở khu

đô thị, khu dân cư; di chuyển sắp xếp lại các cơ sở sản xuất; xử lý rác thải của các đôthị; (ii) Các dự án quan trọng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định

Hoạt động tín dụng đầu tư của VDB được thực hiện theo Nghị định 75/2011/NĐ-CP và được cụ thể hóa trong Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 41/QĐ-HĐQL về cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước Theo đó, dự án ngoài việc phảithuộc danh mục cho vay, chủ dự án còn phải đáp ứng một số điều kiện khác nữanhư: dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, có hiệu quả, bảo đảm trả được nợ; đượcVDB thẩm định phương án tài chính, phương án trả nợ và chấp thuận cho vay vàquan trọng nhất là chủ đầu tư phải có vốn chủ sở hữu tham gia dự án tối thiểu 20%

và phải bảo đảm đủ nguồn vốn để thực hiện dự án

Như vậy, đối với tỉnh Quảng Ngãi, việc thực hiện dự án đầu tư phát triển chợ

ở các huyện thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và các

Trang 39

huyện thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn đã được áp dụng các quyphạm về nội dung, hình thức ưu đãi và hỗ trợ đầu tư của Luật đầu tư 2005 và Luậtđầu tư 2014, tùy thuộc vào thời gian thực hiện dự án mà áp dụng các quy phạm vềnội dung ưu đãi, hỗ trợ khác nhau do các điều luật quy định Các dự án đầu tư pháttriển chợ được nhà nước ưu đãi miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, thuế sửdụng đất; Miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định;nguyên liệu, vật tư, linh kiện để thực hiện dự án đầu tư; Hỗ trợ phát triển hệ thốngkết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong và ngoài hàng rào dự án; Hỗ trợ đàotạo, phát triển nguồn nhân lực; Hỗ trợ tín dụng như đã nêu trên.

1.3.3 Nhóm các quy phạm quy định về trình tự, thủ tục ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với dự án đầu tư phát triển chợ

Thứ nhất, quy phạm về trình tự, thủ tục thực hiện ưu đãi đầu tư theo Luật đầu

tư 2005:

Đối với dự án đầu tư trong nước thuộc diện không phải đăng ký đầu tư và dự

án thuộc diện đăng ký đầu tư quy định tại Điều 45 của Luật đầu tư 2005, nhà đầu tưcăn cứ vào các ưu đãi và điều kiện ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật để tựxác định ưu đãi và làm thủ tục hưởng ưu đãi đầu tư tại cơ quan nhà nước có thẩmquyền Trường hợp nhà đầu tư có yêu cầu xác nhận ưu đãi đầu tư thì làm thủ tụcđăng ký đầu tư để cơ quan nhà nước quản lý đầu tư ghi ưu đãi đầu tư vào Giấychứng nhận đầu tư

Đối với dự án đầu tư trong nước thuộc diện thẩm tra đầu tư quy định tại Điều

47 của Luật đầu tư 2005 đáp ứng điều kiện được hưởng ưu đãi, cơ quan nhà nướcquản lý đầu tư ghi ưu đãi đầu tư vào Giấy chứng nhận đầu tư

Đối với dự án có vốn đầu tư nước ngoài đáp ứng điều kiện được hưởng ưuđãi, cơ quan nhà nước quản lý đầu tư ghi ưu đãi đầu tư vào Giấy chứng nhận đầu tư

Trường hợp cần khuyến khích phát triển một ngành đặc biệt quan trọng hoặcmột vùng, một khu vực kinh tế đặc biệt, Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyếtđịnh về các ưu đãi đầu tư khác với các ưu đãi đầu tư được quy định trong Luật này

Thứ hai, Theo Luật đầu tư 2014 quy phạm về thủ tục thực hiện ưu đãi đầu tư:

Nhà đầu tư đề xuất dự án đầu tư phải bao gồm đề xuất hưởng ưu đãi đầu tư Đối với

Trang 40

dự án được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, cơ quan đăng ký đầu tư ghi nộidung ưu đãi đầu tư, căn cứ và điều kiện áp dụng ưu đãi đầu tư tại Giấy chứng nhậnđăng ký đầu tư Đối với dự án không thuộc trường hợp cấp Giấy chứng nhận đăng kýđầu tư, nhà đầu tư được hưởng ưu đãi đầu tư nếu đáp ứng các điều kiện hưởng ưu đãiđầu tư mà không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư Trongtrường hợp này, nhà đầu tư căn cứ điều kiện hưởng ưu đãi đầu tư quy định tại Điều

15 và Điều 16 của Luật đầu tư 2014, quy định khác của pháp luật có liên quan để tựxác định ưu đãi đầu tư và thực hiện thủ tục hưởng ưu đãi đầu tư tại cơ quan thuế, cơquan tài chính và cơ quan hải quan tương ứng với từng loại ưu đãi đầu tư

Theo quy định tại Nghị định 118/2015/NĐ-CP thì thủ tục áp dụng ưu đãi đầutư:

- Ưu đãi đầu tư ghi tại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, văn bản quyết địnhchủ trương đầu tư gồm những nội dung về đối tượng và điều kiện hưởng ưu đãi đầu

tư theo quy định tại Điều 16 Nghị định 118/2015/NĐ-CP; Căn cứ áp dụng ưu đãi đầu

tư theo quy định của pháp luật về thuế và pháp luật về đất đai

- Đối với dự án đầu tư thuộc diện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặcquyết định chủ trương đầu tư, nhà đầu tư căn cứ nội dung ưu đãi đầu tư quy định tạiGiấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc văn bản quyết định chủ trương đầu tư đểhưởng ưu đãi đầu tư Căn cứ áp dụng ưu đãi đầu tư đối với doanh nghiệp khoa học

và công nghệ là Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ

- Đối với dự án đầu tư không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 17Nghị định 118, nhà đầu tư căn cứ đối tượng hưởng ưu đãi đầu tư quy định tại Khoản

1 Điều 16 Nghị định 118, quy định của pháp luật có liên quan để tự xác định ưu đãiđầu tư và thực hiện thủ tục hưởng ưu đãi đầu tư tại Cơ quan áp dụng ưu đãi đầu tư

- Ưu đãi đầu tư được điều chỉnh trong các trường hợp như: trường hợp dự ánđầu tư đáp ứng điều kiện để được hưởng thêm ưu đãi đầu tư thì nhà đầu tư đượchưởng ưu đãi đầu tư đó cho thời gian ưu đãi còn lại Nhà đầu tư không được hưởng

ưu đãi theo quy định tại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, văn bản quyết định chủtrương đầu tư trong trường hợp dự án đầu tư không đáp ứng điều kiện hưởng ưu đãiđầu tư quy định tại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư

Ngày đăng: 06/06/2018, 10:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w