Các quy định của pháp luật hiện hành về hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án.... Ý nghĩa thực tiễn Từ kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra được các giải
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
THỦY SƠN HÒA
HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TẠI TỈNH GIA LAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
THỦY SƠN HÒA
HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TẠI TỈNH GIA LAI
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 838.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS DƯƠNG QUỲNH HOA
HÀ NỘI, năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi với Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Người cam đoan
Thủy Sơn Hòa
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN 8
1.1 Khái niệm, đặc điểm tranh chấp kinh doanh thương mại 8 1.2 Hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án 13 1.3 Pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án 19
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH Ở TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI 24
2.1 Các quy định của pháp luật hiện hành về hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án 24 2.2 Thực trạng thi hành pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai 39
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH Ở TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI 61
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án 61 3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án 63
Trang 53.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai 69
KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tình hình thụ lý và giải quyết các vụ án KDTM tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai các năm 2015, 2016, 2017 42 Bảng 2.2: Tình hình thụ lý và giải quyết các vụ án KDTM tại 17 Tòa án nhân dân cấp huyện của tỉnh Gia Lai các năm 2015, 2016, 2017 42 Bảng 2.3: Tình hình thụ lý và giải quyết các vụ án KDTM tại Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai các năm 2015, 2016, 2017 43
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xã hội ngày càng phát triển, đời sống ngày càng được nâng cao Để thỏa mãn các nhu cầu cơ bản hàng ngày, các quan hệ mua bán hàng hóa phát triển theo chiều rộng và chiều sâu với một tốc độ nhanh chóng với đa dạng về chủ thể và sự phức tạp của nội dung quan hệ Tranh chấp kinh doanh thương mại (KDTM) xảy ra là hệ quả tất yếu của quá trình này và cũng trở nên phong phú hơn về chủng loại, gay gắt, phức tạp hơn về tính chất và mức độ Do vậy, yêu cầu phải áp dụng các hình thức và phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp, có hiệu quả là một đòi hỏi khách quan để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh tế, bảo đảm nguyên tắc pháp chế, thông qua đó góp phần tạo lập môi trường pháp lý lành mạnh để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Có nhiều phương pháp giải quyết tranh chấp KDTM như: Thương lượng, hoà giải, Trọng tài (phi chính phủ) và giải quyết thông qua Toà án Ở nước ta hiện nay, các bên thường lựa chọn Tòa án là nơi cuối cùng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong giải quyết các tranh chấp khi mà các biện pháp như thương lượng, hòa giải thất bại Cùng với tính chất của Tòa
án là cơ quan tài phán quốc gia, mang tính cưỡng chế nghiêm minh nên khi xảy ra các tranh chấp KDTM thì Tòa án là sự lựa chọn hàng đầu cho các chủ thể xảy ra tranh chấp, đặc biệt là các tranh chấp phức tạp Tuy nhiên, pháp luật KDTM đề cao sự thỏa thuận giữa các chủ thể, do đó khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án, các bên vẫn có cơ hội được hòa giải trước khi Tòa án xét xử vụ án Lúc này, Tòa án đóng vai trò làm trung gian hòa giải và tạo điều kiện để các bên thương lượng với nhau
Thời gian qua, Quốc hội Khóa XIV đã sửa đổi và ban hành nhiều bộ
Trang 92
luật, luật mới có tác động tới việc giải quyết các tranh chấp dân sự nói chung
và tranh chấp KDTM tại Tòa án nói riêng như: Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Luật Doanh nghiệp 2014, v.v… Nhờ đó, việc giải quyết tranh chấp KDTM đã có nhiều bước tiến mới, đặc biệt là với hoạt động hòa giải Bên cạnh đó, với Nghị định số 22/2017/NĐ-CP của Chính phủ ngày
24 tháng 02 năm 2017 về Hòa giải thương mại, quy định trình tự thủ tục và công nhận kết quả của việc hòa giải ngoài tố tụng đã giúp công tác hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM thêm linh hoạt, dễ dàng hơn bao giờ hết Tuy nhiên, đối với một số địa phương có điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều hạn chế như các tỉnh Tây Nguyên (Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Kon Tum, Lâm Đồng), việc thực hiện hòa giải thông qua hòa giải viên là điều hết sức khó khăn, chính vì vậy, ở các địa phương này, việc áp dụng phương thức hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án vẫn là phương án lựa chọn tối ưu nhất Nhưng việc vận dụng các quy định mới của pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM ở một số Tòa án chưa thực sự linh hoạt, còn cứng nhắc, điều này dẫn đến việc giải quyết tranh chấp KDTM bằng hòa giải ở Tòa án chưa thực sự phát huy hết vai trò và ý nghĩa của mình Chính vì
vậy, tác giả chọn đề tài “Hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tại tỉnh Gia Lai” làm đề
tài Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM từ thực tiễn xét xử của Tòa
án là một vấn đề thu hút sự quan tâm của không ít các nhà nghiên cứu và những người làm công tác thực tiễn Song, cách tiếp cận được thực hiện ở các mức độ khác nhau Có thể giới thiệu một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
Võ Hương Giang (2015), Pháp luật điều chỉnh hoạt động hòa giải tư
Trang 103
pháp trong giải quyết tranh chấp thương mại tại Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ
Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội
Cung Mỹ Anh (2008), Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự - Những vướng mắc và giải pháp khắc phục, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội
Nguyễn Thị An Na (2010), Hòa giải – Phương thức giải quyết tranh
chấp thương mại ngoài tố tụng tư pháp, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường
Đại học Luật Hà Nội
Ngô Thị An (2012), Pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại
ngoài thủ tục tố tụng tư pháp, thực trạng và giải pháp hoàn thiện, Luận văn
Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội
Lê Thị Tâm (2014), So sách phương thức hòa giải với thủ tục hòa giải
trong giải quyết tranh chấp kinh tế tại Tòa án, Luận văn Thạc sĩ Luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội
Nguyễn Thị Thúy (2014), Hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật
tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học
Quốc gia Hà Nội
Phạm Lê Mai Ly (2014), Pháp luật hòa giải tranh chấp KDTM ở Việt
Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Tạ Ngọc Nam (2015), Phân biệt tranh chấp kinh doanh thương mại và
tranh chấp dân sự theo pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa
Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Một số bài viết trên các tạp chí như:
Nguyễn Thị Thanh Hương (2006), Việc áp dụng các quy định về hòa
giải trong tố tụng dân sự, Tạp chí kiểm sát số 05/2006
TS Lê Nết (2006), Hòa giải trong tố tụng dân sự nhìn từ góc độ kinh
tế, Tạp chí Khoa học pháp lý số 2/2006
Trang 114
Phan Thị Thanh Thủy (2016), Giải quyết tranh chấp thương mại bằng
hòa giải ở Việt Nam: Một số vấn đề pháp lý cần quan tâm, Tạp chí Khoa học
Đại học quốc gia Hà Nội số 2, tập 32
Tuy nhiên, trong số các công trình nghiên cứu đề cập ở trên, một số công trình tập trung vào hòa giải với tính chất là một chế định độc lập Bên cạnh đó, một số công trình nghiên cứu có đề cập đến hòa giải KDTM trong tố tụng (Tòa án và Trọng tài) nhưng các nội dung nghiên cứu đó đều không còn tính thời sự, thiếu tính cập nhật, đặc biệt là trong bối cảnh một loạt các quy định mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành Mặt khác, đa phần các nghiên cứu thường tiếp cận phương thức hòa giải để giải quyết tranh chấp KDTM từ góc độ khái quát mà chưa đi sâu vào từng trường hợp cụ thể hoặc chỉ đi sâu nghiên cứu cụ thể một vài trường hợp nào đó mà thôi Do vậy, trong Luận văn này, trên cơ sở kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu trước đó, tác giả sẽ tiếp tục phát triển hướng nghiên cứu vào các vấn đề, các khía cạnh còn bỏ ngỏ, phân tích, so sánh giữa hai phương thức hòa giải trong và ngoài tố tụng và cập nhật các quy định mới liên quan đến vấn đề này Thông qua thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, tác giả đưa ra những nhận xét điểm chưa hợp lý của các quy định pháp luật, đề xuất những phương hướng giải quyết những điểm chưa hợp lý đó, làm tư liệu tham khảo cho quá trình hoàn thiện luật về sau Ngoài ra, việc nghiên cứu thực tiễn tại Tòa án, tác giả chỉ ra những mặt đạt được và hạn chế còn tồn tại của công tác xét xử, thông qua các báo cáo thống kê, các vụ việc cụ thể Từ
đó, góp phần làm sáng tỏ và hoàn thiện hơn các vấn đề lý luận và thực tiễn của Đề tài dưới góc độ khoa học pháp lý
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn
Trang 125
đề lý luận về hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án; đánh giá thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án ở Việt Nam
và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, luận văn đề xuất một
số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống Tòa án nhân dân nói chung và Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai nói riêng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án như: Khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại; hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án, khái niệm và phân loại hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM, đặc điểm của hòa giải tranh chấp KDTM tại Tòa án, ý nghĩa và vai trò của hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án
- Đánh giá thực trạng quy định của pháp luật hiện hành về hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án, phạm vi hòa giải và thủ tục tiến hành hòa giải khi giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án
- Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án, tìm ra được những nguyên nhân gây ra vướng mắc, bất cập trong phạm vi cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Gia Lai nói riêng
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật hòa giải tranh chấp KDTM tại Tòa án
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về hòa giải trong tố tụng và cụ thể là trong giải quyết các tranh chấp về KDTM Thông qua đó đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật để tìm ra vướng
Trang 136
mắc, từ đó mạnh dạn đưa ra một số đánh giá và kiến nghị hoàn thiện về pháp luật hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án và nâng cao hiệu quả thi hành ở Tòa án nhân tỉnh Gia Lai
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Các quy định của pháp luật Việt Nam về hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM được quy định trong BLDS (1995, 2009, 2015), BLTTDS (2011, 2015); các đạo luật liên quan đến KDTM như LDN (2005, 2014), LTM (1997, 2005), LTTTM (2010); các luật liên quan và văn bản hướng dẫn về hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Triết học Mac – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng dân sự nói riêng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm: Phương pháp phân loại pháp
lý, phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp và phương pháp so sánh pháp luật được dùng chủ yếu để nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan Phương pháp phân tích quy phạm và phân tích tình huống được sử dụng chủ yếu để nghiên cứu thực trạng pháp luật liên quan Phương pháp quy nạp và phương pháp xây dựng mô hình chủ yếu dùng để đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận văn cũng đánh giá tình hình và từ
đó đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc áp dụng quy định hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai
Trang 147
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm sáng tỏ khái niệm, phạm vi, trình tự tiến hành
và ý nghĩa của hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Từ kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra được các giải pháp kiến nghị để hoàn thiện quy định của pháp luật và khắc phục hạn chế trong thực tế về việc tiến hành hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM, góp phần nâng cao hiệu quả công tác xét xử vụ án dân sự nói chung, xét xử vụ án KDTM nói riêng của hệ thống Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai
Các kiến nghị của luận văn có thể được dùng để nghiên cứu, xem xét
áp dụng khi sửa đổi, bổ sung quy định của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về hòa giải trong giải quyết
tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp
chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án ở Việt Nam hiện nay và thực tiễn thi hành ở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hòa giải
trong giải quyết tranh chấp chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án và nâng cao hiệu quả thi hành tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai
Trang 158
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI
TÒA ÁN
1.1 Khái niệm, đặc điểm tranh chấp kinh doanh thương mại
1.1.1 Khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại
Con người, với bản tính tự nhiên là luôn tìm cách tối đa hóa lợi ích cho mình nên đôi khi dẫn đến sự xung đột với lợi ích của người khác, lợi ích của cộng đồng và xã hội Do vậy, tranh chấp tồn tại như một điều tất yếu nảy sinh
từ những lợi ích đó Chừng nào con người còn bị thúc đẩy bởi lợi ích cá nhân thì chừng đó còn có những xung đột về lợi ích Và hệ quả của nó là, để mở đường cho sự phát triển, luôn tồn tại các phương thức để giải quyết các tranh
chấp cụ thể Xét ở một chừng mực nhất định, theo Triết học, “mâu thuẫn và
việc giải quyết mâu thuẫn nội tại trong bản thân mỗi sự vật, hiện tượng chính
là động lực của sự phát triển”
Tranh chấp KDTM là một thuật ngữ pháp lý mới xuất hiện trong những
năm gần đây Theo nghĩa thông thường, tranh chấp KDTM có thể được hiểu
là tranh chấp về KDTM hoặc tranh chấp trong KDTM Như vậy, trước khi làm rõ khái niệm “tranh chấp KDTM”, cần làm rõ khái niệm “tranh chấp” và khái niệm “kinh doanh – thương mại”
Theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt, “tranh chấp” được hiểu là “đấu tranh, giằng co khi có những mâu thuẫn, bất đồng thường là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên”
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp (LDN) năm 2005 và LDN năm
2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2015, thay thế LDN năm 2005 đều
quy định: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các
Trang 169
công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”[11], [12]
Tại khoản 2 Điều 5 Luật Thương mại (LTM) năm 1997 định nghĩa:
“Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân, bao gồm việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội” Trong khi đó, “hành vi
thương mại” là “hành vi của thương nhân trong hoạt động thương mại làm
phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với các bên có liên quan”[13] LTM năm 2005, có hiệu lực thi
hành kể từ ngày 01/01/2006, thay thế LTM năm 1997, định nghĩa một cách
ngắn gọn hơn: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi,
bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”[14]
Với các cách định nghĩa như trên, hoạt động kinh doanh và hoạt động thương mại, có nhiều nội dung trùng nhau như về mục đích sinh lợi, về đầu
tư, về cung ứng dịch vụ, về tiêu thụ sản phẩm, v.v… Như vậy, về bản chất thì hoạt động kinh doanh hay hoạt động thương mại đều nhằm mục đích sinh lợi
Trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 của Ủy ban thường vụ Quốc hội đã liệt kê các tranh chấp được coi là tranh chấp kinh
tế gồm: “Các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân,
giữa pháp nhân với cơ quan có đăng ký kinh doanh; Các tranh chấp giữa công ty với các thành viên công ty, giữa các thành viên công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty; Các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu; Các tranh chấp khác theo quy
Trang 1710
định pháp luật” 1 Với một khái niệm rộng và việc pháp luật gắn cho các tranh
chấp có nội dung kinh tế trên được gọi là tranh chấp kinh tế đã tạo ra sự không phù hợp với các hoạt động thương mại hiện nay
Trong các văn bản pháp lý quốc tế, thuật ngữ “tranh chấp kinh tế” ít được sử dụng mà thay vào đó là thuật ngữ “tranh chấp thương mại” (commercial dispute) hay thuật ngữ “tranh chấp kinh doanh” (business dispute) Trong luật mẫu của UNCITRAL về Trọng tài thương mại quốc tế cũng sử dụng thuật ngữ “Thương mại”
Trên thực tế cho thấy, khái niệm “tranh chấp thương mại” được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau và có nhiều tên gọi khác nhau như: Tranh chấp kinh tế, tranh chấp thương mại, tranh chấp kinh doanh, tranh chấp về kinh doanh, thương mại Ở nước ta, khái niệm tranh chấp KDTM lần đầu tiên
được đề cập trong Luật Thương mại (LTM) năm 1997: “Tranh chấp thương
mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại”[13] Tuy nhiên khái niệm về
tranh chấp thương mại theo LTM 1997 đã loại bỏ nhiều tranh chấp không được coi là tranh chấp thương mại mặc dù xét về bản chất đó vẫn có thể coi là các tranh chấp thương mại như tranh chấp trong hoạt động đầu tư, xây dựng, hoạt động trung gian thương mại, v.v
BLTTDS đã dung hòa các tranh chấp kinh doanh và tranh chấp thương mại bằng cách gọi chung là tranh chấp KDTM Tại Điều 30 BLTTDS 2015 đã liệt kê những tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án gồm
05 nhóm: “1 Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại
giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; 2 Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; 3 Tranh chấp giữa
1 Điều 12 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1994
Trang 1811
người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty; 4 Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc,
tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với
nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty; 5 Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật”
Hiện nay, vẫn chưa có một khái niệm rõ ràng quy định thế nào là tranh chấp KTDM mà chỉ ở quan điểm tiếp cận của một số tác giả thông qua pháp luật nội dung và tố tụng
Như vậy, có thể nói tranh chấp KDTM là những mâu thuẫn, bất đồng giữa các chủ thể phát sinh trong hoạt động thực hiện liên tục một, một số hoặc toàn bộ quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, cung ứng các dịch
vụ trên thị trường, xúc tiến thương mại và các hoạt động sinh lợi khác Một cách ngắn gọn hơn, có thể định nghĩa khái niệm về tranh chấp KDTM như
sau: “Tranh chấp KDTM là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về
quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động KDTM hoặc có liên quan đến hoạt động KDTM”
1.1.2 Đặc điểm tranh chấp kinh doanh thương mại
Tranh chấp về KDTM nảy sinh trực tiếp từ các quan hệ kinh doanh và luôn gắn liền với hoạt động kinh doanh Đó là hệ quả phát sinh từ quan hệ giữa các chủ thể kinh doanh với nhau hoặc giữa các bên liên quan với chủ thể kinh doanh trong quá trình tiến hành các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi
So với các tranh chấp trong lĩnh vực xã hội khác nhau như lao động hành
Trang 1912
chính, hôn nhân và gia đình, tranh chấp KDTM có những đặc điểm như sau:
Thứ nhất, chủ thể của các hoạt động phát sinh tranh chấp chủ yếu là những thương nhân, có hoạt động thương mại và có đăng ký kinh doanh
Những chủ thể này có tâm lý mong muốn xác định quan hệ ổn định, lâu dài trên cơ sở hợp tác, tin cậy lẫn nhau Mỗi bên đều có mục đích là những lợi ích kinh tế khi tham gia các quan hệ kinh doanh và trong quan hệ này, quyền của chủ thể này sẽ phát sinh nghĩa vụ tương ứng của chủ thể kia Vì thế, khi các tranh chấp phát sinh sẽ đe doạ ảnh hưởng xấu đến mục đích và hiệu quả hoạt động của các các chủ thể này trong điều kiện lợi ích kinh tế của các bên phụ thuộc, ảnh hưởng lẫn nhau Tuy nhiên, trong một số trường hợp, một bên chủ thể của tranh chấp KDTM còn có thể là các cá nhân, tổ chức không phải là thương nhân, như tranh chấp giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty hay tranh chấp về giao dịch giữa một bên không nhằm mục đích sinh lợi với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam trong trường hợp bên không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp dụng LTM
Thứ hai, khách thể của các tranh chấp KDTM là các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia trong hoạt động KDTM Quyền và nghĩa vụ giữa
các bên phát sinh trước, trong và sau khi các bên cùng tham gia thỏa thuận với nhau trong hoạt động KDTM Khi một trong hai bên không thực hiện những nghĩa vụ của mình tương ứng với quyền lợi của bên kia thì phát sinh
Trang 2013
nhằm đạt được sau quá trình đầu tư, kinh doanh này đều là tài sản Hoạt động KDTM vốn rất đa dạng, chịu sự tác động, điều tiết của các quy luật và yếu tố riêng của thị trường, chẳng hạn như quy luật cung cầu, sự biến đổi quy luật của giá cả, v.v… Những tranh chấp phát sinh trong hoạt động KDTM cũng vì thế mà có những biến đổi về biểu hiện, mức độ, từ đó nảy sinh các tranh chấp
và đòi hỏi cách thức giải quyết tranh chấp đó giữa các bên
1.2 Hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án
1.2.1 Khái niệm hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án
Giải quyết tranh chấp KDTM là việc các bên tranh chấp thông qua hình thức, thủ tục thích hợp, tiến hành các giải pháp nhằm loại bỏ những mâu thuẫn, xung đột, bất đồng về lợi ích kinh tế nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình
Việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp KDTM nói chung dựa trên nguyên tắc quan trọng là quyền tự định đoạt của các bên Theo đó, các bên có thể lựa chọn việc giải quyết tranh chấp KDTM thông qua các phương thức mang tính tài phán (Trọng tài thương mại, Tòa án) hoặc không mang tính tài phán (thương lượng, hòa giải) Đối với các hình thức không mang tính tài phán, bao gồm phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn (ADR - alternative dispute resolution) là hoà giải (thông qua Hòa giải viên) và thương lượng Khác với các hình thức mang tính tài phán, ADR đề cao sự tự nguyện, tinh thần thiện chí của các bên, quyết định trong hoà giải và thương lượng không mang tính bắt buộc thi hành, các bên có thể tự do áp dụng hoặc khước từ Trong trường hợp không đạt được thoả thuận hay sự nhất trí thì họ có thể tiếp tục lựa chọn phương thức giải quyết mang tính tài phán Tài phán là quyền của các cơ quan hành chính và tư pháp của quốc gia thực hiện giải quyết các
Trang 2114
vụ việc vi phạm pháp luật theo thẩm quyền của họ Theo nghĩa thông thường, quyền tài phán là quyền xử lý, xét xử đối với các hành vi vi phạm Trong giải quyết tranh chấp KDTM, hình thức này bao gồm Trọng tài thương mại và Toà
án Những quyết định của Toà án hay Trọng tài không chỉ mang giá trị ràng buộc phải thực hiện mà buộc bên thua kiện phải thi hành các quyết định đó
Dù giải quyết theo phương thức hòa giải, thương lượng hay Trọng tài thương mại và Tòa án thì nguyên tắc đầu tiên để giải quyết tranh chấp là tôn trọng sự thỏa thuận giữa các bên và chế định hòa giải cũng xuất phát từ nguyên tắc này
Trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về hòa giải: Theo Luật Mẫu của Ủy ban Pháp luật Thương mại Quốc tế của Liên Hiệp Quốc
(UNCITRAL) thì: “Hòa giải là một trình tự được gọi bằng cụm từ hòa giải,
trung gian hay một cụm từ khác có nghĩa tương đương, trong đó các bên yêu cầu một bên thứ ba (Hòa giải viên) hỗ trợ các bên đạt được thỏa thuận giải quyết tranh chấp; Hòa giải viên không có quyền áp đặt giải pháp giải quyết tranh chấp cho các bên”2 Theo Từ điển Black’s Law: “Hòa giải
(conciliation) là sự can thiệp, sự làm trung gian hòa giải; hành vi của người thứ ba làm trung gian giữa hai bên tranh chấp nhằm thuyết phục họ dàn xếp hoặc giải quyết tranh chấp giữa họ” [27] Từ điển pháp lý của Rothenberg
định nghĩa hòa giải là “hành vi thỏa hiệp giữa các bên sau khi có tranh chấp,
mỗi bên nhượng bộ một ít” Theo từ điển Tiếng Việt, “hòa giải” là “hành vi thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thoả”
Như vậy, có thể hiểu, “hòa giải” là việc giải quyết các tranh chấp, bất đồng giữa hai hay nhiều bên tranh chấp bằng việc các bên dàn xếp, thương lượng với nhau có sự tham gia của bên thứ ba (không phải là bên tranh chấp)
2 Điều 1 Luật Mẫu của UNCITRAL
Trang 2215
Bên thứ ba đóng vai trò trung gian, hoàn toàn độc lập với hai bên, không có quyền áp đặt, thiên vị, hay hành động như một người môi giới, mà giúp hai bên ngồi lại với nhau và tìm cách đưa các bên tranh chấp thỏa thuận được với nhau những mâu thuẫn phát sinh
Từ khái niệm tranh chấp KDTM đã nêu ở phần 1.1.1 và khái niệm về
hòa giải, có thể đưa ra khái niệm về hòa giải trong tranh chấp KDTM: “Hòa
giải trong tranh chấp KDTM là một phương thức giải quyết tranh chấp với sự giúp đỡ của một bên thứ ba trung lập, các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động KDTM, phù hợp với quy định của pháp luật, truyền thống đạo đức xã hội”
Phương thức giải quyết tranh chấp KDTM bằng hòa giải chia thành: Hòa giải ngoài tố tụng và hòa giải trong tố tụng
Hòa giải ngoài tố tụng thường do các tổ chức Trọng tài thương mại thực hiện hoặc một bên thứ ba làm trung gian hòa giải theo yêu cầu của các bên tranh chấp (thông qua Hòa giải viên thương mại) Việc lựa chọn phương thức này giúp các bên chủ động trong việc lựa chọn Hòa giải viên; địa điểm, thời gian và quy trình hòa giải phù hợp với tranh chấp cụ thể phát sinh; nguyên tắc bí mật trong hòa giải được đảm bảo nhằm bảo vệ bí mật kinh doanh của các bên, v,v… Tuy nhiên, phương thức này có các hạn chế như thiếu sự điều chỉnh của quy định pháp luật, bản thỏa thuận chi tiết do các bên
ký sau khi hòa giải không có giá trị pháp lý buộc các bên phải thi hành, mà tùy thuộc vào thiện chí của các bên Một khi một trong hai bên không thực hiện theo nội dung của bản thỏa thuận này thì hợp đồng đương nhiên bị phá
vỡ một lần nữa, buộc các bên phải lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp khác, là hòa giải trong tố tụng
Phương thức hòa giải trong tố tụng là phương thức hòa giải do Tòa án
Trang 2316
có thẩm quyền thực hiện, là một giai đoạn bắt buộc trong tố tụng, được luật hóa một cách cụ thể, rõ ràng trong pháp luật tố tụng để áp dụng thống nhất tại mọi Tòa án, kết quả hoà giải có giá trị pháp lý và có tính chất bắt buộc thi hành
Như vậy, có thể hiểu hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM tại
Tòa án là “Hoạt động tố tụng do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương
sự thỏa thuận được với nhau về giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động KDTM”
1.2.2 Đặc điểm của hòa giải tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án
Thứ nhất, cơ sở của hòa giải tranh chấp KDTM tại Tòa án là quyền tự
định đoạt của các đương sự Đương sự trong các tranh chấp KDTM chính là các bên của tranh chấp mà Tòa án cần phải giải quyết, họ là người hiểu rõ được các mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh trong hoạt động KDTM của chính
họ Vì lý do này mà pháp luật quy định chính đương sự là người có quyền tự định đoạt để giải quyết các mâu thuẫn đó Vì vậy, Tòa án không được dùng bất kỳ hình thức nào để cưỡng ép, bắt buộc các đương sự phải hòa giải với nhau, sự thỏa thuận của chính các đương sự là đặc trưng cơ bản của hòa giải, đồng thời cũng là điểm khác biệt giữa hòa giải và xét xử Khi xét xử, Tòa án
sẽ ra phán quyết và đương sự phải tuân thủ nghiêm chỉnh mọi phán quyết của Tòa án Trong hòa giải, Tòa án chỉ có vai trò trung gian giúp đỡ các bên tranh chấp thỏa thuận với nhau mà không được can thiệp vào thỏa thuận đó
Thứ hai, hòa giải tranh chấp KDTM là hoạt động do Tòa án tiến hành
Trong hoạt động hòa giải, Tòa án xuất hiện không phải với tư cách một bên tham gia hòa giải mà là người tổ chức, bố trí cho các đương sự thương lượng, thỏa thuận với nhau Với vai trò của mình, Tòa án giải thích cho các bên hiểu
Trang 2417
được quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Kết quả hòa giải do Tòa án tiến hành là những văn bản có tính chất pháp lý (biên bản hòa giải thành hoặc không thành), là cơ sở để tiếp tục các hành vi tố tụng tiếp theo
Thứ ba, hòa giải là một nguyên tắc trong quá trình giải quyết các tranh
chấp KDTM Hòa giải được pháp luật tố tụng dân sự quy định thuộc trách nhiệm của Tòa án, được Tòa án thực hiện trong quá trình giải quyết tranh chấp, nhằm đảm bảo cho đương sự thực hiện quyền tự định đoạt của mình
Thứ tư, hòa giải tranh chấp KDTM tại Tòa án phải tuân thủ nghiêm
ngặt về trình tự, thủ tục tố tụng chặt chẽ do pháp luật quy định Căn cứ vào các quy định của pháp luật, Tòa án tiến hành hòa giải tranh chấp, phán quyết của Tòa án nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước
1.2.3 Vai trò, ý nghĩa của hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án
Hòa giải không chỉ đóng vai trò, ý nghĩa quan trọng đối với các bên tranh chấp nói riêng mà còn có vai trò, ý nghĩa với Tòa án, với xã hội nói chung
Đối với các bên tranh chấp: Hòa giải giúp các bên có sự hiểu biết,
thông cảm với nhau, từ đó, giải quyết tranh chấp một cách cởi mở, giảm bớt được mâu thuẫn cũng như ngăn ngừa tội phạm có nguồn gốc phát sinh trong quá trình xảy ra tranh chấp Đối với trường hợp không hòa giải thành thì quá trình hòa giải một phần nào giúp các bên hiểu rõ hơn nguyên nhân xảy ra tranh chấp, qua đó, thể hiện được ý chí, nguyện vọng của mình, tìm được điểm chung, hạn chế bớt mâu thuẫn Bên cạnh đó, hòa giải cũng góp phần nâng cao ý thức pháp luật của các bên tranh chấp Tòa án trong quá trình hòa giải sẽ giải thích quyền và nghĩa vụ cũng như quy định pháp luật có liên quan đến nội dung tranh chấp, từ đó, các bên có thể hiểu, thỏa thuận và giải quyết
Trang 2518
được tranh chấp đang xảy ra mà không trái với các quy định của pháp luật, giúp tiết kiệm được thời gian cũng như tiền bạc của các bên tranh chấp khi không phải đóng án phí xét xử
Đối với Tòa án: Đối với trường hợp hòa giải thành, Tòa án một phần
nào sẽ giảm được thời gian cũng như công sức cho việc giải quyết tranh chấp Nếu hòa giải thành trong thời gian chuẩn bị xét xử, Tòa án sẽ ra Quyết định công nhận (QĐCN) sự thỏa thuận giữa các đương sự trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, Tòa án
sẽ không mở phiên tòa xét xử sơ thẩm Nếu hòa giải không thành, vụ án được đưa ra xét xử sơ thẩm, nhiều trường hợp bị kháng cáo, kháng nghị thì Tòa án
sẽ tiến hành xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp Đồng thời, nếu việc hòa giải được thực hiện tốt, các bên tự nguyện thỏa thuận được với nhau nội dung tranh chấp thì số lượng án xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm giảm, dẫn đến số lượng án xét xử cấp phúc thẩm giảm, Tòa án không mất nhiều thời gian giải quyết nhiều tranh chấp cùng lúc,
từ đó, có thời gian nâng cao hiệu quả công tác xét xử, tránh tình trạng án bị kháng cáo, kháng nghị Điều này không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tăng cường uy tín của cơ quan tư pháp của Nhà nước nói chung
Đối với xã hội: Thông qua việc tiến hành hòa giải, nhiều tranh chấp
được giải quyết trên ý chí tự nguyện, thỏa thuận giữa các bên, trong trường hợp hòa giải không thành, cũng giúp các bên hiểu rõ được nội dung mâu thuẫn, tranh chấp xảy ra, giúp hạn chế được mâu thuẫn phát sinh trong quá trình giải quyết tranh chấp Vì vậy, hòa giải một phần nào giúp giữ gìn an ninh, trật tự, công bằng cho xã hội trên tinh thần thiện chí, tự nguyện, không trái với các quy định của pháp luật, đạo đức của xã hội Đồng thời, hòa giải góp phần nâng cao ý thức pháp luật của mọi người trong xã hội, góp phần xây
Trang 2619
dựng xã hội công bằng, phát triển, văn minh
1.3 Pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án
Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đã được quy định là một trong các nguyên tắc cơ bản trong quan hệ dân sự, tại Điều 11 BLDS 1995, và Điều 12
BLDS 2005 cùng quy định: “Trong quan hệ dân sự, việc hoà giải giữa các
bên phù hợp với quy định của pháp luật được khuyến khích Không ai được dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự” Đối với thủ tục tố tụng về hòa giải tranh chấp dân sự nói chung, tranh
chấp KDTM nói riêng tại Tòa án đã được quy định tại các văn bản trước đây như: Sắc lệnh 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố
án nhân dân tối cao đã ra Thông tư số 25-TATC hướng dẫn việc hòa giải trong tố tụng dân sự, Thông tư đã quy định thẩm quyền, trình tự, phương pháp hòa giải các vụ án dân sự Năm 1994, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế được ra đời đã quy định trách nhiệm hòa giải của Tòa án như sau:
“Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải
để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án”[24], điều này
đã được hướng dẫn tại Công văn số 442/KHXX ngày 18/7/1994 của Tòa án nhân dân tối cao Sau đó, kế thừa có chọn lọc các quy định tại các Pháp lệnh
đã ban hành, BLTTDS 2004 ra đời, sửa đổi, bổ sung năm 2011, qua một thời gian thực hiện, BLTTDS 2004, sửa đổi, bổ sung 2011 đã bộc lộ nhiều hạn chế, do đó, BLTTDS 2015 ra đời, tiếp tục kế thừa và phát huy những nguyên tắc, quy định trước đó, đồng thời đưa ra các quy định mới phù hợp để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội mới phát sinh trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế
3 Tại Điều 9, Sắc lệnh quy định: “Toà án nhân dân huyện họp thành Hội đồng hoà giải để thử hoà giải tất cả các vụ kiện về dân
sự và thương sự, kể cả các việc xin ly dị, trừ những vụ kiện mà theo luật pháp đương sự không có quyền điều đình”.
Trang 2720
giới Các tranh chấp KDTM hiện nay được BLTTDS quy định là một trong các tranh chấp dân sự Theo BLTTDS 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011, cũng
như theo BLTTDS 2015 thì các tranh chấp KDTM đều quy định: “Toà án có
trách nhiệm tiến hành hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này” 4
BLTTDS 2015 đã quy định về các nguyên tắc tiến hành hòa giải như: Hòa giải được Tòa án tiến hành trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, thực hiện trên cơ sở tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình và nội dung thỏa thuận giữa các
Về phạm vi hòa giải: Những vụ án dân sự nói chung, những vụ án KDTM nói riêng phải tiến hành hòa giải là những vụ án không thuộc những
vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 206, 207 BLTTDS
Về thành phần tham gia hòa giải gồm Thẩm phán chủ trì, Thư ký ghi biên bản, các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (nếu có), người phiên
Về trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải: Phát sinh từ việc nộp đơn khởi kiện của người khởi kiện, Tòa án nhận đơn và phân công Thẩm phán giải quyết, Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án thì Thẩm phán được phân công sẽ thông báo cho người khởi kiện biết
4 Điều 10 BLTTDS 2004 và 2015.
5 Điều 205 BLTTDS
6 Điều 209 BLTTDS
Trang 2821
hạn 01 tháng nếu vụ án có tính chất phức tạp, Thẩm phán phải tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án
- Đối với thủ tục hòa giải trước phiên tòa sơ thẩm: Thẩm phán phải thông báo cho các đương sự để triệu tập họ đến tham gia phiên họp kiểm tra
hành hòa giải theo quy định tại Điều 210 BLTTDS Đối với việc xử lý kết quả hòa giải: Trong trường hợp hòa giải không thành thì từng trường hợp, Thẩm phán ra một trong 04 quyết định: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự; tạm đình chỉ/đình chỉ giải quyết vụ án hoặc đưa vụ án ra xét xử 10 Trong
trường hợp hòa giải thành: Tòa án sẽ lập biên bản hòa giải thành, hết thời hạn
07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải mà không có đương sự nào thay đổi
ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán ra QĐCN sự thỏa thuận của các đương sự
- Đối với thủ tục hòa giải tại phiên tòa sơ thẩm: Chủ tọa phiên hỏi các
đương sự có thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án hay không, nếu các đương sự đồng ý thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án thì Hội đồng xét xử (HĐXX) ra QĐCN sự thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ án 11, trường hợp các bên không đồng ý thỏa thuận với nhau, hay chỉ thỏa thuận được một phần vụ án thì HĐXX vẫn tiếp tục xét xử
vụ án theo thủ tục luật định
- Đối với thủ tục hòa giải tại cấp phúc thẩm: BLTTDS không quy định
Tòa án cấp phúc thẩm phải tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tòa phúc
Trang 2922
thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, nhưng nếu tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội thì HĐXX phúc thẩm ra bản án phúc thẩm, sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của
theo quy định
Như vậy, BLTTDS 2015 đã quy định các nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; phạm vi, thành phần, trình tự, thủ tục để Tòa án tiến hành hòa giải các tranh chấp dân sự, trong đó có các tranh chấp KDTM
Kết luận Chương 1
Thực tiễn hoạt động KDTM yêu cầu đặt ra là phải có phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp với nền kinh tế thị trường, cần giải quyết tranh chấp kịp thời, đúng pháp luật và đạt hiệu quả cao, không chỉ giảm bớt những tổn thất về kinh tế, mà còn có tác dụng bảo vệ và khôi phục quyền lợi của các doanh nghiệp, các nhà kinh doanh, tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, mặt khác, khuyến khích các cá nhân và tổ chức trong nước cũng như nước ngoài yên tâm bỏ vốn để đầu tư phát triển đất nước Ở Việt Nam các đương sự thường lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp KDTM bằng Toà án như một giải pháp cuối cùng để bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích của mình khi không đạt được mục đích trong việc sử dụng cơ chế thương lượng, hoà giải trước đó Chính vì vậy, Toà án có vai trò vô cùng quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp KDTM Để giải quyết các tranh chấp KDTM, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, Tòa án không chỉ xét xử mà còn hòa giải tranh chấp, hòa giải là hoạt động do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết
12 Điểm c khoản 2 Điều 298 và Điều 300 BLTTDS
Trang 30để mâu thuẫn giữa các đương sự, góp phần tích cực trong công cuộc xây dựng
và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân
Trang 3124
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA
ÁN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH Ở
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
2.1 Các quy định của pháp luật hiện hành về hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án
2.1.1 Nguyên tắc của hòa giải trong tố tụng tại Tòa án
BLTTDS 2015 tại Điều 205 đã quy định nguyên tắc khi tiến hành tại
Tòa án phải đảm bảo 03 nguyên tắc:
Thứ nhất, hòa giải được Tòa án tiến hành trong thời hạn chuẩn bị xét
xử sơ thẩm vụ án: Theo quy định của BLTTDS thì hòa giải là một hoạt động Tòa án phải tiến hành trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự nói chung
và các vụ án KDTM nói riêng Trừ những vụ án thuộc một trong các quy định tại các Điều 206, 207 BLTTDS, thì sau khi tiến hành thụ lý vụ án đến trước khi xét xử sơ thẩm, Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải Việc tiến hành hòa giải được thực hiện cùng với việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, gọi chung là phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ
và hòa giải Như vậy, Tòa án bắt buộc phải tiến hành hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, nếu không tiến hành hòa giải, Tòa án đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, làm căn cứ để kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm Tính bắt buộc phải tiến hành hòa giải trong quá trình tố tụng của Tòa án xuất phát từ mục đích đạt được sự thỏa thuận của các đương sự, từ
đó tiết kiệm thời gian, kinh tế cho đương sự và Tòa án
Tuy nhiên, không chỉ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án, mà trong các giai đoạn tố tụng tiếp theo, pháp luật cũng tạo điều kiện cho việc tiến hành
Trang 3225
hòa giải giữa các bên tranh chấp Sở dĩ tạo điều kiện mà không bắt buộc vì để tránh việc phải hòa giải vô ích nhiều lần đối với vụ việc không còn khả năng hòa giải giữa các đương sự Như vậy, không chỉ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử
Thứ hai, hòa giải được tiến hành cơ sở tôn trọng sự tự nguyện thỏa
thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình Sự
tự nguyện này được thể hiện ở việc tự nguyện tham gia hòa giải cũng như tự nguyện thỏa thuận nội dung giải quyết tranh chấp của các đương sự Cơ sở pháp lý của hòa giải xuất phát từ nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, vì vậy, hòa giải không chỉ là trách nhiệm của Tòa án khi tiến hành tố tụng mà còn là quyền của các đương sự Đương sự có quyền lựa chọn
có tham gia hòa giải hay không, nếu bị đơn, người có QLNVLQ đã được Tòa
án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt hay một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải, Tòa án sẽ lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy
đề xuất quan điểm về việc giải quyết vụ án, Thẩm phán sẽ xác định và kết luận về những vấn đề các đương sự đã thống nhất, chưa thống nhất17 Như vậy, Thẩm phán sẽ phổ biến cho các đương sự về quyền và nghĩa vụ của họ
và hướng dẫn các đương sự tự thỏa thuận và ghi nhận sự tự thỏa thuận đó
Trang 3326
Mặt khác, cần đảm bảo không được dùng vũ lực hoặc đe họa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình Nếu bắt buộc các đương sự thỏa thuận với nhau mà không có sự tự nguyện là vi phạm nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, một khi không có sự tự nguyện khi hòa giải thì mục đích của hòa giải không còn
Thứ ba, nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không được vi phạm
điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự thể hiện quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp, pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng đó cũng như không đi ngược lại với đạo đức xã hội “Đạo đức xã hội" không phải là một khái niệm pháp lý, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như văn hóa, lịch sử, kinh tế, v.v Hầu hết các hệ thống pháp luật không có giải thích chính thức về vấn đề này Các Thẩm phán thường căn cứ vào án lệ hoặc tư duy logic của mình để giải thích Có thể nói, đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người được
số đông trong xã hội thừa nhận, tôn trọng và thực hiện Hành vi trái với với những hành vi đó có thể coi là trái với đạo đức xã hội Vì vậy, mọi thỏa thuận trái pháp luật đều không được pháp luật thừa nhận và không có có giá trị pháp
lý để thi hành
2.1.2 Phạm vi hòa giải trong tố tụng tại Tòa án
Tòa án phải tiến hành hòa giải khi giải quyết các vụ án dân sự nói chung, các vụ án KDTM nói riêng Tuy nhiên, không phải tất cả các vụ án Tòa án đều tiến hành hòa giải Theo quy định của pháp luật, có những vụ án phải tiến hành hòa giải, những vụ án không được hòa giải và những vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 206, 207 BLTTDS
Theo quy định tại Điều 206 BLTTDS, những vụ án không được hòa giải là những yêu cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật
Trang 3427
hoặc trái đạo đức xã hội18 Hiện nay, BLDS 2015 không quy định về hình thức “sở hữu Nhà nước” mà thay bằng hình thức “sở hữu toàn dân”19, quy định này nhằm loại bỏ trường hợp các bên lợi dụng việc hòa giải để thỏa thuận, gây thiệt hại, thất thoát liên quan đến tài sản của Nhà nước Như vậy,
về phạm vi những vụ án dân sự không được hòa giải là những vụ án gây thiệt hại đến tài sản thuộc sở hữu được quy định tại Điều 197 BLDS 2015 Cũng theo quy định tại Điều 206 BLTTDS, nếu vụ án phát sinh từ giao dịch vi phạm điều cấm của luật và trái đạo đức xã hội thì sẽ không được hòa giải Tại Điều 122 BLDS 2015, giao dịch dân sự (kể cả KDTM) vi phạm điều cấm của luật và trái đạo đức xã hội bị coi là giao dịch vô hiệu, nếu tiến hành hòa giải
sẽ đồng nghĩa với việc khuyến khích các bên tiếp tục vi phạm pháp luật Tuy nhiên, theo hướng dẫn cụ thể tại Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 (Nghị quyết 05/2012) của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, trong trường hợp nếu các bên thỏa thuận không phải để thực hiện tiếp giao dịch mà chỉ để giải quyết hậu quả của giao dịch thì Tòa án vẫn tiến hành hòa giải nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu của giao dịch dân sự hoặc đưa
ra phương án hoàn trả tài sản20
Theo quy định tại Điều 207 BLTTDS, những vụ án không tiến hành
hòa giải được gồm 04 trường hợp gồm: “Bị đơn, người có QLNVLQ đã được
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt; Đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng; Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự; Một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải” Như vậy, những trường hợp
không tiến hành hòa giải được đối với tranh chấp KDTM thuộc khoản 1, 2 và
Trang 3528
4 Điều 207 BLTTDS Đây là những vụ án pháp luật quy định phải hòa giải nhưng thực tế có những trở ngại khách quan dẫn đến việc không hòa giải được So với BLTTDS năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011, BLTTDS 2015
bổ sung thêm trường hợp: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (QLNVLQ)
đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt thì vụ
án không tiến hành hòa giải được Việc bổ sung này là cần thiết, phù hợp với thực tế, bởi người có QLNVLQ là người không khởi kiện, không bị kiện nhưng họ có quyền hoặc nghĩa vụ liên quan đến tranh chấp, có ảnh hưởng đến tranh chấp hoặc bị ảnh hưởng bởi tranh chấp giữa các bên Bên cạnh đó, BLTTDS 2015 còn bổ sung thêm trường hợp là một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải tại khoản 4 Điều 207 BLTTDS Trước đây, theo quy định của BLTTDS 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011, khi đương sự không muốn tham gia hòa giải thì Tòa án vẫn phải triệu tập đương sự đến lần thứ hai, nếu họ vắng mặt thì mới được đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, dẫn đến thời gian giải quyết vụ án bị kéo dài Vì vậy, việc bổ sung trường hợp không hòa giải được này nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tế, hạn chế việc kéo dài thời gian giải quyết vụ án, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các đương sự
2.1.3 Thành phần tham gia hòa giải
Theo Điều 209 BLTTDS, thành phần tham gia hòa giải tranh chấp KDTM gồm: Thẩm phán chủ trì; Thư ký ghi biên bản; các đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có QLNVLQ – khoản 1 Điều 68 BLTTDS) và người đại diện hợp pháp của các đương sự; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự (nếu có); người phiên dịch (nếu có)
2.1.4 Trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải các vụ án dân sự
Hoạt động làm phát sinh thủ tục hòa giải vụ án dân sự của Tòa án là việc nộp đơn khởi kiện của người khởi kiện cùng các giấy tờ, tài liệu chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện, đối với đơn khởi kiện về tranh chấp
Trang 36án dân sự, tại Điều 184 BLTTDS quy định, trên thực tế được hiểu là Tòa án
sẽ không được từ chối thụ lý vụ việc vì đã hết thời hiệu khởi kiện Bất cứ yêu cầu hợp lý của nguyên đơn – nguyên đơn chứng minh là người có quyền yêu cầu thì Tòa án đều phải thụ lý giải quyết Sau khi Tòa án thụ lý thì theo yêu cầu của một bên hoặc hai bên Tòa án sẽ áp dụng thời hiệu khởi kiện để xét xem vụ việc đã quá thời hiệu khởi kiện chưa, nếu có căn cứ để cho rằng vụ việc đã quá thời hiệu khởi kiện thì tòa án khi đó mới ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc với lý do là vụ việc đã hết thời hiệu khởi kiện
21 Điều 6 LTTTM
22 Điêu 18 LTTTM
Trang 3730
Sau khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu vụ
án thuộc thẩm quyền của Toà án thì Thẩm phán được phân công sẽ thông báo cho người khởi kiện biết để họ nộp tiền tạm ứng án phí, Thẩm phán thụ lý vụ
án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí, trường hợp miễn hoặc không phải nộp tạm ứng án phí thì Thẩm phán thụ lý
căn cứ vào quy định tại các Điều 26, 28, 30, 32 BLTTDS để xác định loại tranh chấp, sau đó vào sổ thụ lý từng loại vụ án để theo dõi việc giải quyết Sau khi thụ lý vụ án, trong thời hạn luật định, đối với vụ án quy định tại Điều
26 và Điều 28 của BLTTDS thì thời hạn là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án; đối với các vụ án quy định tại Điều 30 và Điều 32 của BLTTDS thì thời hạn
là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án, có thể gia hạn không quá 02 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 và không quá 01 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1
xét xử là 02 tháng, trường hợp vụ án có tính chất phức tạp, do sự kiện bất khả
kháng thì Chánh án Tòa án quyết định gia hạn 01 tháng
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 203 BLTTDS như lập hồ sơ vụ án; xác định tư cách đương sự, người tham gia tố tụng khác; xác định quan hệ tranh chấp và pháp luật cần áp dụng; Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn, v.v… Như vậy, BLTTDS 2015 đã bổ sung việc tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cùng với phiên hòa giải, cần lưu ý với các trường hợp vụ án không được hòa giải và
23 Điều 195 BLTTDS
24 Điều 203 BLTTDS
Trang 3831
không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 BLTTDS thì Thẩm phán tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai
* Thủ tục hòa giải trước khi mở phiên tòa sơ thẩm:
- Triệu tập đương sự: Khi xác định thành phần tham gia phiên họp, Tòa
án cần thông báo cho các đương sự để triệu tập họ đến tham gia phiên họp và phiên hòa giải, Điều 208 BLTTDS quy định về các thủ tục thông báo về phiên họp Theo đó, trước khi tiến hành phiên họp, Thẩm phán phải thông báo cho đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về thời gian, địa điểm tiến hành phiên họp và nội dung của phiên họp Việc quy định Tòa án phải ra thông báo về phiên họp là nhằm công khai hóa việc tổ chức phiên họp, đảm bảo nguyên tắc tranh tụng, tạo điều kiện để các đương sự cùng những người tham gia tố tụng khác theo quy định sắp xếp thời gian, công việc, chuẩn bị nội dung để tham gia phiên họp Đây là một trong các thủ tục bắt buộc khi tiến hành tố tụng giải quyết vụ
án dân sự Như vậy, hồ sơ vụ án phải thể hiện tài liệu tống đạt “Thông báo về phiên hòa giải” cho các đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự trước khi hòa giải thì việc hòa giải mới không
bị coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Về thủ tục thông báo được quy định tại Chương X BLTTHS về cấp, tống đạt thông báo văn bản tố tụng
Cần lưu ý đối với trường hợp không tiến hành hòa giải được do bị đơn, người có QLNVLQ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt26 thì Tòa án cần lập 02 biên bản về việc không tiến hành hòa giải được, Tòa án sẽ ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Như vậy nếu bị đơn, người
có QLNVLQ vắng mặt lần thứ nhất thì Tòa án sẽ hoãn phiên họp, phiên hòa
25 Khoản 2 Điều 308 BLTTDS
26 Khoản 1 Điều 207 BLTTDS
Trang 39án27
Đối với trường hợp đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý
liệu, chứng cứ về việc đương sự không thể tham gia hòa giải và Tòa án sẽ ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Trường hợp nguyên đơn đã được triệu tập hợp
lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt (trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan) thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự29
Đối với trường hợp đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là
hồ sơ phải thể hiện bằng tài liệu, chứng cứ chứng minh vợ hoặc chồng mất năng lực hành vi dân sự (đối với vụ án Hôn nhân gia đình)
Trường hợp nếu một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải31 thì Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử theo thủ tục luật định
Đối với trường hợp vụ án có nhiều đương sự thì về nguyên tắc, việc hòa giải phải có đầy đủ các đương sự tham dự Nếu có đương sự vắng mặt thì Tòa
án phải hoãn phiên hòa giải, trừ các trường hợp sau: Nếu vụ án có nhiều quan
hệ pháp luật và không liên quan tới tất cả các đương sự thì Tòa án có thể tiến
Trang 4033
hành hòa giải những quan hệ pháp luật chỉ liên quan tới những người có mặt, không liên quan tới những người vắng mặt Nếu quan hệ pháp luật liên quan tới tất cả các đương sự thì Tòa án sẽ tiến hành hòa giải khi thỏa mãn hai điều kiện: Các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành hòa giải và việc hòa giải đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt
- Trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải: Theo quy định tại Điều 210
BLTTDS, thì nội dung phiên họp là kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trước rồi mới tiến hành hòa giải BLTTDS đã quy định cụ thể
và chi tiết trình tự, thủ tục tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cũng như trình tự, thủ tục tiến hành đối thoại để Thẩm phán có thể thực hiện một các dễ dàng Có thể khái quát lại như sau:
+ Trước khi tiến hành phiên họp, Thư ký báo cáo Thẩm phán về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên họp đã được Tòa án thông báo Thẩm phán kiểm tra lại sự có mặt và căn cước của những người tham gia, phổ biến cho các đương sự về quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của BLTTDS Khi kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Thẩm phán công bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, hỏi đương sự về những vấn đề có liên quan, Thẩm phán xem xét các ý kiến, giải quyết các yêu cầu của đương sự theo quy định
+ Sau đó, Tòa án tiến hành phiên hòa giải bằng cách phổ biến cho các đương sự về các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án
để các đương sự liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành để họ tự nguyện thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án;
+ Các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trình bày nội dung tranh chấp, ý kiến của mình, đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);