[29] Theo Điểm a Khoản 1 Điều 2 Chỉ thị số 2012/29/EU của Nghị viện và Hội đồng châu Âu, nạn nhân được hiểu là: “Một người bình thường bị tổn hại, bao gồm các tổn hại về thể chất, tinh
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN MẬU TUẤN
NẠN NHÂN CỦA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM XÂM PHẠM NHÂN THÂN TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH QUẢNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN MẬU TUẤN
NẠN NHÂN CỦA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM
XÂM PHẠM NHÂN THÂN TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH QUẢNG TRỊ
Chuyên ngành : Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS TS NGUYỄN NGỌC ANH
HÀ NỘI, năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
thạc sĩ:“Nạn nhân của tình hình tội phạm xâm phạm nhân thân trên địa bàn
tỉnh Quảng Trị” là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài
khác trong cùng lĩnh vực
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả luận văn
Nguyễn Mậu Tuấn
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NẠN NHÂN CỦA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM XÂM PHẠM NHÂN THÂN 7
1.1 Nạn nhân của tội phạm dưới góc độ tội phạm học 7 1.2 Nạn nhân của tình hình tội phạm xâm phạm nhân thân 16 1.3 Vai trò của nạn nhân của tội phạm trong cơ chế hình thành hành vi phạm tội xâm phạm nhân thân 22 1.4 Nguyên nhân trở thành nạn nhân của tình hình tội phạm xâm phạm nhân thân 29
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TỘI PHẠM XÂM PHẠM NHÂN THÂN VÀ NẠN NHÂN CỦA TỘI PHẠM NÀY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG TRỊ 37
2.1 Thực trạng tình hình tội phạm xâm phạm nhân thân trên địa bàn tỉnh Quảng Trị 37 2.2 Thực trạng nạn nhân của tình hình tội phạm xâm phạm nhân thân trên địa bàn tỉnh Quảng Trị 48 2.3 Nguyên nhân trở thành nạn nhân của tình hình tội phạm xâm phạm nhân thân trên địa bàn tỉnh Quảng Trị 54
CHƯƠNG 3 PHÒNG NGỪA NGUY CƠ TRỞ THÀNH NẠN NHÂN CỦA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM XÂM PHẠM NHÂN THÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG TRỊ 66
3.1 Dự báo tình hình tội phạm xâm phạm nhân thân và nạn nhân của tình hình tội phạm xâm phạm nhân thân trên địa bàn tỉnh Quảng Trị 66 3.2 Giải pháp phòng ngừa nguy cơ trở thành nạn nhân của tình hình tội phạm xâm phạm nhân thân 69
KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Số hiệu
2.1 Thống kê về số vụ phạm tội xâm phạm nhân thân và số bị cáo
trên địa bàn tỉnh Quảng Trị từ năm 2013 - 2017
2.2 Tỷ lệ tội phạm xâm phạm nhân thân thực hiện trong tình hình
tội phạm trên địa bàn tỉnh Quảng Trị từ năm 2013 - 2017
2.3 Các vụ án xâm phạm nhân thân đã đưa ra xét xử sơ thẩm trên
địa bàn tỉnh Quảng Trị từ năm 2013 - 2017
2.4 Mức độ phạm tội đối với các tội danh thuộc nhóm các tội xâm
phạm nhân thân trên địa bàn tỉnh Quảng Trị giai đoạn từ năm
2013 - 2017
2.5 Diễn biến của các tội xâm phạm nhân thân trên địa bàn tỉnh
Quảng Trị giai đoạn từ năm 2013 - 2017 trong so sánh định gốc 2.6 Diễn biến của các tội xâm phạm nhân thân trên địa bàn tỉnh
Quảng Trị giai đoạn từ năm 2013 - 2017 trong so sánh liên kế 2.7 Cơ cấu xét theo hình phạt ở cấp sơ thẩm áp dụng đối với các tội
xâm phạm nhân thân trên địa bàn tỉnh Quảng Trị
2.8 Cơ cấu của các tội xâm phạm nhân thân trên địa bàn tỉnh
Quảng Trị giai đoạn từ năm 2013 - 2017 xét theo giới tính của người phạm tội
2.9 Cơ cấu của các tội phạm xâm phạm nhân thân trên địa bàn tỉnh
Quảng Trị giai đoạn từ năm 2013 - 2017 xét theo độ tuổi của người phạm tội
2.10 Cơ cấu của các tội phạm xâm phạm nhân thân trên địa bàn tỉnh
Quảng Trị giai đoạn từ năm 2013 - 2017 xét theo trình độ học vấn của người phạm tội
Trang 6Số hiệu
2.11 Mối quan hệ giữa người phạm tội và nạn nhân trong 100 vụ án
xâm phạm nhân thân trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn từ năm 2013 - 2017
2.12 Giới tính của nạn nhân trong 100 vụ án xâm phạm nhân thân
trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn từ năm 2013 - 2017 2.13 Độ tuổi của nạn nhân trong 100 vụ án xâm phạm nhân thân trên
địa bàn tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn từ năm 2013 - 2017
Số hiệu
2.1 So sánh tình hình tội phạm xâm phạm nhân thân trên địa bàn
tỉnh Quảng Trị từ năm 2013 - 2017 2.2 Cơ cấu theo hình phạt trong 100 vụ án phạm tội xâm phạm
nhân thân trên địa bàn tỉnh Quảng Trị từ năm 2013 - 2017 2.3 Cơ cấu nạn nhân trong 100 vụ phạm tội xâm phạm nhân thân
trên địa bàn tỉnh Quảng Trị từ năm 2013 - 2017
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay cùng với sự phát triển kinh tế và xã hội thì tình hình tội phạm
ở nước ta cũng có những diễn biến phức tạp Số lượng vụ phạm tội ngày càng gia tăng, hậu quả gây ra cho xã hội ngày càng nghiêm trọng Thực tế cho thấy, tính chất của tội phạm và hậu quả của tội phạm ngày càng nặng nề mà nguyên nhân có từ nhiều phía, trong đó không loại trừ những nguyên nhân từ phía nạn nhân của tội phạm
Một cơ chế thực hiện hành vi phạm tội đầy đủ và toàn diện (đối với các tội phạm có nạn nhân) là sự tác động qua lại giữa người thực hiện hành vi phạm tội và nạn nhân của tội phạm Hành vi phạm tội gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tinh thần, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác của nạn nhân Ngược lại, nạn nhân trong nhiều trường hợp cũng có ảnh hưởng quyết định tới việc hình thành ý định phạm tội cũng như việc thực hiện tội phạm của người phạm tội Nạn nhân có thể làm hạn chế hoặc triệt tiêu ý định phạm tội Ngược lại, hành vi của nạn nhân trong nhiều trường hợp có thể củng cố thêm ý định phạm tội cũng như thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi phạm tội đến cùng Nạn nhân có thể hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra nhưng cũng có thể làm tăng mức độ xâm hại cũng như mức độ nghiêm trọng của hậu quả của hành vi phạm tội Mặt khác là người liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội, nạn nhân là mắt xích quan trọng giúp cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử người phạm tội nhanh chóng, thuận lợi, chính xác
Trong những năm gần đây, trên địa bàn tỉnh Quảng Trị tình hình tội phạm diễn ra khá nghiêm trọng và ngày càng phức tạp Nhất là tình hình các tội xâm phạm nhân thân Trong các vụ phạm tội này ngày càng có nhiều nạn nhân hơn, cũng như đối tượng trở thành nạn nhân trong các vụ phạm tội
Trang 8Chính vì vậy, việc làm rõ và sâu sắc về vấn đề nạn nhân của tội phạm
có ý nghĩa rất quan trọng cả trong lý luận cũng như trong thực tiễn để xây dựng các biện pháp, chính sách phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm xâm phạm nhân thân trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, là một trong những vấn đề hết sức cần thiết
Bởi các lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài “Nạn nhân của tình hình
tội phạm xâm phạm nhân thân trên địa bàn tỉnh Quảng Trị” làm luận văn
thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề nạn nhân của tội phạm là một trong những vấn đề quan trọng, phong phú và phức tạp của tội phạm học nên từ trước đến nay đã được một số nhà luật học, tội phạm học quan tâm nghiên cứu; nhờ đó, có một số bài viết, công trình nghiên cứu về vấn đề nạn nhân của tội phạm, có thể kể đến đó là:
- Nạn nhân của tội phạm của tác giả Trần Hữu Tráng, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, năm 2011;
- Nạn nhân học trong tội phạm học Việt Nam - Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Trần Hữu Tráng, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2000;
Trang 9- Nghiên cứu, sử dụng đặc điểm nhân thân người bị hại phục vụ phòng ngừa tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người của lực lượng Cảnh sát hình sự, luận án tiến sĩ luật học của tác giả Lê Minh Thanh, năm 2016
- Bàn về khái niệm của nạn nhân của tội phạm của tác giả Trần Hữu Tráng, Tạp chí Luật học, Số 1/2002;
- Nạn nhân của tội phạm dưới góc độ tội phạm học của tác giả Dương Tuyết Miên, Tạp chí Toà án, Toà án nhân dân tối cao, Số 20/2005;
- Nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm của tác giả Trần Hữu Tráng, Tạp chí Luật học, Số 10/2011;
- Trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở Hàn Quốc và liên hệ với thực tế ở Việt Nam của tác giả Dương Tuyết Miên;
Những công trình nghiên cứu này đã đề cập đến các lý luận chung về nạn nhân của tội phạm Tuy nhiên các công trình trên chưa có công trình nào đánh giá cụ thể, chi tiết về nạn nhân của tình hình tội phạm xâm phạm nhân thân trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, do đó đề tài của học viên không trùng với các công trình đã công bố
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 104
Trị, luận văn đưa ra những giải pháp khắc phục những yếu tố đóng vai trò là nguy cơ trở thành nạn nhân của tình hình tội phạm xâm phạm nhân thân trên địa bàn tỉnh Qua đó góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa tình hình tội phạm này trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về vấn đề nạn nhân của tình hình tội phạm nói chung và nạn nhân của tình hình tội phạm xâm phạm nhân thân nói riêng theo các tiêu chí: khái niệm, đặc điểm và phân loại…
- Phân tích chỉ ra vai trò của nạn nhân trong cơ chế làm phát sinh hành
vi phạm tội của tình hình tội phạm xâm phạm nhân thân
- Đánh giá tình hình tội phạm xâm phạm nhân thân và nạn nhân của tình hình các tội này trên địa bàn tỉnh Quáng Trị trong 5 năm gần đây (từ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về vấn đề nạn nhân của tình hình tội phạm xâm phạm nhân thân của con người cả về lý luận và thực tiễn trên địa bàn tỉnh Quảng Trị dưới góc độ tội phạm học
Trang 115
- Về đối tượng: Nạn nhân của các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người (thuộc chương XII Bộ luật Hình sự năm 1999; chương XIV Bộ luật Hình sự năm 2015)
5 Phương pháp luận vàn phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên hệ thống phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như hệ thống các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như nghiên cứu điển hình, thống kê, lôgic, phân tích, so sánh, tổng hợp, xã hội học… Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả tham khảo ý kiến chuyên gia liên quan đến đề tài
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đây là công trình đầu tiên ở cấp độ luận văn thạc sĩ nghiên cứu có hệ thống vấn đề nạn nhân của tình hình tội phạm xâm phạm nhân thân trên địa bàn tỉnh Quảng Trị; theo đó những kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sau:
Trang 126
việc nghiên cứu, học tập tại các cơ sở nghiên cứu và đào tạo chuyên ngành luật ở nước ta
Tính mới và những đóng góp của luận văn
Luận văn “Nạn nhân của tình hình tội phạm xâm phạm nhân thân trên
địa bàn tỉnh Quảng Trị” là công trình nghiên cứu một cách hệ thống về các
nội dung liên quan đến vấn đề nạn nhân của tội phạm xâm phạm nhân thân;
do đó, những kết luận rút ra qua nghiên cứu của luận văn có tính mới và có đóng góp cho khoa học chuyên ngành; cụ thể là:
Đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về nạn nhân; khái niệm, đặc điểm của nạn nhân nói chung và đặc điểm nạn nhân của tội phạm xâm phạm nhân thân của con người qua việc phân tích thực trạng vấn đề nạn nhân của tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Quảng Trị
Đã khái quát được thực trạng về tình hình tội phạm xâm phạm nhân thân của con người cũng như tình hình nạn nhân của những tội phạm này ở địa bàn tỉnh Quảng Trị; chỉ ra các nguy cơ trở thành nạn nhân của tình hình tội phạm đó
Dự báo được tình hình tội phạm xâm phạm nhân thân và nạn nhân của
nó trên địa bàn tỉnh Quảng Trị; qua đó đề xuất những giải pháp nhằm khắc phục những yếu tố đóng vai trò là nguyên nhân trở thành nạn nhân của tội phạm xâm phạm nhân thân
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về nạn nhân của tình hình tội phạm xâm phạm nhân thân
Chương 2 Thực trạng tình hình tội phạm xâm phạm nhân thân và nạn nhân của tội phạm này trên địa bàn tỉnh Quảng Trị
Chương 3 Phòng ngừa nguy cơ trở thành nạn nhân của tình hình tội phạm xâm phạm nhân thân trên địa bàn tỉnh Quảng Trị
Trang 137
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NẠN NHÂN CỦA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM XÂM PHẠM NHÂN THÂN
1.1 Nạn nhân của tội phạm dưới góc độ tội phạm học
1.1.1 Khái niệm
Ngày nay khái niệm nạn nhân được sử dụng với nhiều nghĩa khác nhau Nạn nhân được sử dụng với nghĩa là những người bị thiệt hại Theo Từ điển
tiếng Việt, nạn nhân được hiểu là: “Người bị tai nạn” hoặc “Người, tổ chức
gánh chịu hậu quả từ bên ngoài đưa đến” [4, tr 1165] Nạn nhân nói chung
có thể được hiểu trong phạm vi rộng Trong phạm vi này, nạn nhân có thể là
cá nhân hoặc tổ chức chịu thiệt hại về về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và tài sản ngày càng phong phú, đa dạng dưới nhiều hình thức như: nạn nhân của thiên tai, nạn nhân của tai nạn (giao thông, lao động), nạn nhân chiến tranh và nạn nhân của tội phạm
Nạn nhân của tội phạm là một vấn đề luôn được các nhà lập pháp đề cập đến trong các văn bản luật Việc làm rõ khái niệm nạn nhân của tội phạm
có ý nghĩa quan trọng cả trong lý luận cũng như trong thực tiễn xây dựng các biện pháp, chính sách đấu tranh, phòng ngừa tội phạm Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra những cách định nghĩa khác nhau về nạn nhân của tội phạm và vấn đề này đang gây nhiều tranh luận Các tranh luận về nạn nhân của tội phạm tuy còn nhiều quan điểm chưa thống nhất nhưng nhìn chung đều xác định nạn nhân của tội phạm theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng
Xu hướng xác định nạn nhân của tội phạm theo nghĩa hẹp đã được nhiều học giả trên thế giới đưa ra Học giả Hans von Hentig - một trong những người tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu nạn nhân đã quan niệm nạn nhân là cá nhân con người Theo ông, nạn nhân của tội phạm là những người bị hành vi phạm tội gây thiệt hại đối với các quyền và lợi ích họp pháp
Trang 148
và trên thực tế phải chịu những tổn hại về vật chất hoặc sức khỏe, tính mạng,
tinh thần [28] Theo quan điểm của Haiz Zipf thì nạn nhân của tội phạm trong
tội phạm học là tất cả những người bị hành vi phạm tội xâm hại, bất kể người phạm tội có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trong những trường hợp người bị hại không yêu cầu khởi tố vụ
án [29] Quan điểm này cũng đồng quan điểm với Willem Hendrik Nagel:
nạn nhân của tội phạm là những người bị người phạm tội xâm phạm các
quyền và lợi ích được pháp luật bảo vệ [29]
Theo Điểm a Khoản 1 Điều 2 Chỉ thị số 2012/29/EU của Nghị viện và Hội đồng châu Âu, nạn nhân được hiểu là:
“Một người bình thường bị tổn hại, bao gồm các tổn hại về thể chất, tinh thần hoặc tổn hại về cảm xúc hoặc tổn thất về kinh tế do hành vi phạm tội trực tiếp gây ra;
Các thành viên trong gia đình của một người bị chết do phạm tội hình
sự trực tiếp gây ra và những người bị tổn hại do hậu quả là cái chết của người thân (đó).” [31]
Như vậy các quan điểm này đều xác định nạn nhân theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm các cá nhân con người với hai điều kiện cơ bản: nạn nhân của tội phạm phải là những cá nhân con người và nạn nhân của tội phạm phải là những người chịu những hậu quả trực tiếp do hành vi phạm tội gây ra về tính mạng, sức khoẻ, tinh thần hay tài sản
Nạn nhân của tội phạm không chỉ được xem xét theo nghĩa hẹp mà còn được xem xét theo nghĩa rộng Theo nghĩa rộng, nạn nhân của tội phạm bao gồm cả các tổ chức bị hành vi phạm tội xâm hại
Fritz R Paasch xác định nạn nhân của tội phạm bao gồm cả các tổ chức khi ông bàn đến nạn nhân của các tội phạm về kinh tế Theo ông, nạn nhân của các tội phạm về kinh tế là các cá nhân con người (thể nhân) và các pháp
nhân bị xâm hại các quyền và lợi ích được pháp luật ghi nhận [29]
Trang 159
Tác giả Andrew Karmen trong bài viết “Crime Victims: An
Introduction to Victimology”(1990), ông đã nêu khái niệm nạn nhân của tội
phạm như sau: “Nạn nhân của tội phạm là bất kỳ tổ chức, cá nhân nào hoặc
bất kỳ thực thể kinh doanh nào bị thiệt hại hoặc mất mát bởi hành vi phạm tội Thiệt hại ở đây có thể là thiệt hại về thể chất, tâm lý hoặc kinh tế.” [27]
Một văn bản vô cùng quan trọng làm cơ sở cho việc xác định nội hàm của khái niệm nạn nhân của tội phạm là Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản
về tư pháp đối với nạn nhân của tội phạm và nạn nhân của sự lạm dụng sức mạnh của Liên hợp quốc ban hành ngày 29 tháng 11 năm 1985 Điều 1 của
Tuyên bố xác định: “Nạn nhân của tội phạm là những cá nhân hay tổ chức bị
hành vi phạm tội (theo quy định của luật hình sự của các nước thành viên) xâm phạm, gây thiệt hại về thể chất, tinh thần, tình cảm, kinh tế hoặc những thiệt hại đáng kể về các quyền cơ bản” [32] Theo đó, nạn nhân của tội phạm
không chỉ bao gồm các cá nhân mà bao gồm cả các tổ chức Khoản 2 của
Tuyên bố ghi nhận: “Nạn nhân của tôi phạm không chỉ bao gồm những người
trực tiếp bị hành vi phạm tội xâm hại mà còn bao gồm cả những người thân trong gia đình, những người phụ thuộc vào nạn nhân và cả những người chịu thiệt hại trong quá trình trợ giúp nạn nhân.” [32] Theo đó, nội hàm của khái
niệm nạn nhân đã được mở rộng không chỉ những người bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại (nạn nhân trực tiếp) mà còn bao gồm cả những nạn nhân gián tiếp (những người chịu thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra) Đồng quan điểm này, Bernd-Dieter Meier cho rằng, cũng được coi là những người chịu các hậu quả trực tiếp do hành vi phạm tội gây ra là những người thân thích của các nạn nhân của các tội phạm vũ lực, thậm chí cả những người tuy không phải người thân thích của các nạn nhân mà chỉ là những người chứng kiến sự việc phạm tội nhưng do hành vi phạm tội rất nghiêm trọng đã tác động gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý, tình cảm của những người này
Trang 16Thiệt hại mà nạn nhân phải gánh chịu rất đa dạng, có thể là thiệt hại về thể chất như thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ; thiệt hại về tâm lý như làm nạn nhân khủng hoảng, lo sợ, bất an về tinh thần; thiệt hại về kinh tế như làm nạn nhân bị mất mát tài sản… Nếu nạn nhân là tổ chức thì thiệt hại có thể là mất mát về tài sản, uy tín, thương hiệu của tổ chức bị tổn hại, việc kinh doanh của
tổ chức có thể bị đình trệ… Xác định thiệt hại của các nạn nhân gián tiếp còn khó khăn hơn nhiều Một hành vi phạm tội gây ra những thiệt hại gián tiếp phải là những hành vi phạm tội có tính chất, mức độ đặc biệt nguy hiểm và do
đó có thể gây ra những ảnh hưởng, những tác động rất xấu trong xã hội Ví dụ: hành vi giết người bằng phương pháp tra tấn dã man hoặc giết trẻ em tác động rất lớn đến tâm lý, tình cảm của người thân của nạn nhân, của những người chứng kiến hành vi phạm tội…
Ở Việt Nam, tác giả Trần Hữu Tráng trong đề tài luận văn thạc sĩ “Nạn
nhân trong tội phạm học - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” xác định: “Nạn
nhân của tội phạm là những cá nhân, tổ chức phải chịu những thiệt hại trực tiếp về tính mạng, sức khoẻ, tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác do hành vi phạm tội gây ra” [18] Theo quan điểm này thì
nạn nhân của tội phạm có ba đặc điểm:
- Nạn nhân của tội phạm có thể là cá nhân hoặc tổ chức;
Trang 1711
- Nạn nhân của tội phạm có thể chịu những thiệt hại trực tiếp về tính mạng, sức khoẻ, tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác;
- Hậu quả thiệt hại mà nạn nhân của tội phạm phải gánh chịu phải là những hậu quả trực tiếp do hành vi phạm tội gây ra Điều đó có nghĩa giữa hành vi phạm tội và hậu quả thiệt hại phải có mối quan hệ nhân quả với nhau Thiệt hại mà nạn nhân phải gánh chịu là hậu quả trực tiếp do hành vi phạm tội gây ra và ngược lại, hành vi phạm tội phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả thiệt hại cho nạn nhân
Như vậy nạn nhân của tội phạm hiểu theo nghĩa rộng bao gồm hai đặc điểm cơ bản sau đây:
- Nạn nhân của tội phạm có thể là cá nhân hay tổ chức
Con người là nạn nhân của tội phạm phải là những người đang tồn tại vào thời điểm hành vi phạm tội xảy ra Nghĩa là hành vi phạm tội phải xâm hại đến một người đang tồn tại trong thế giới khách quan để gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại Mỗi con người đều có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc cuộc sống
Nạn nhân là tổ chức phải là những tổ chức hợp pháp có tài sản Những
tổ chức bất hợp pháp không thể là nạn nhân của tội phạm vì bản thân sự tồn tại của tổ chức đó đã bất hợp pháp vì vậy không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Tổ chức là nạn nhân của tội phạm phải là những tổ chức vẫn còn tồn tại vào thời điểm hành vi phạm tội xảy ra
- Nạn nhân là cá nhân, tổ chức phải chịu những hậu quả thiệt hại trực tiếp do hành vi phạm tội gây ra về tính mạng, sức khoẻ, tinh thần, tình cảm hay tài sản
Nạn nhân là cá nhân là những người phải chịu những hậu quả trực tiếp
do hành vi phạm tôi gây ra về tính mạng, sức khoẻ, tinh thần, tình cảm hay tài sản Nạn nhân là cá nhân có thể là nạn nhân bị hành vi phạm tội trực tiếp tác động (nạn nhân trực tiếp), có thể bị hành vi phạm tội gián tiếp tác động gây
Trang 1812
thiệt hại (nạn nhân gián tiếp) Tuy nhiên các thiệt hại mà hành vi phạm tội gây
ra cho nạn nhân dù là nạn nhân trực tiếp hay nạn nhân gián tiếp đều phải là những hậu quả thiệt hại trực tiếp do hành vi phạm tội gây ra Điều đó có nghĩa
là giữa hành vi phạm tội với hậu quả thiệt hại mà nạn nhân gánh chịu phải có mối quan hệ nhân quả Nếu không tồn tại mối quan hệ nhân quả này giữa hành vi phạm tội và hậu quả thiệt hại thì không thể được coi là nạn nhân của tội phạm Nạn nhân là tổ chức chỉ chịu những hậu quả thiệt hại về kinh tế (thiệt hại tài sản)
Tổng hợp, đánh giá những quan điểm nêu trên, tác giả đánh giá quan điểm về nạn nhân của tội phạm của tác giả Trần Hữu Tráng trong đề tài “Nạn nhân trong tội phạm học - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” là một trong những quan điểm tổng hợp và chính xác nhất
Như vậy nạn nhân của tội phạm được hiểu như sau: “Nạn nhân của tội
phạm là những cá nhân, tổ chức phải chịu những thiệt hại trực tiếp về tính mạng, sức khoẻ, tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác do hành vi phạm tội gây ra”
Cần phải lưu ý rằng không phải bất kỳ tội phạm nào cũng có nạn nhân Thực tế cho thấy có những tội có nạn nhân và có những tội không có nạn nhân
Các tội phạm không có nạn nhân bao gồm các tội mà khi hành vi phạm tội đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm mà không gây ra thiệt hại nào về thể chất, tinh thần hoặc tài sản cho cá nhân, tổ chức Các tội phạm có thể có nạn nhân bao gồm các tội mà khi hành vi phạm tội xảy ra có thể có cá nhân, tổ chức bị xâm hại về thể chất, tinh thần, tài sản Trong các nhóm tội này, có thể chia làm hai trường hợp Trường hợp thứ nhất bao gồm các tội mà khi hành vi phạm tội đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm nhưng hành vi phạm tội đó chưa gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức Trường hợp này tội phạm không có nạn
Trang 19Các tội luôn luôn có nạn nhân bao gồm các tội phạm khi hành vi phạm tội xảy ra dù là hành vi đó thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm
cơ bản hay hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm của hành vi chuẩn bị phạm tội hoặc của cấu thành tội phạm của hành vi phạm tội chưa đạt thì đều gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản cho cá nhân, tổ chức nào đó
1.1.2 Phân loại
Trong tội phạm học có nhiều cách phân loại nạn nhân của tội phạm Những căn cứ khác nhau phục vụ cho những mục đích nghiên cứu khác nhau cho ra những cách phân loại nạn nhân của tội phạm khác nhau Trong đó có những cách phân loại phổ biến là:
- Căn cứ vào địa vị pháp lý của nạn nhân, có thể chia nạn nhân thành hai nhóm:
+ Nhóm nạn nhân là cá nhân (thể nhân): đây là nhóm nạn nhân phổ biến của tội phạm Nhóm nạn nhân này có thể bị hành vi phạm tội xâm hại về
cả tính mạng sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự, tinh thần, tình cảm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác Nhóm nạn nhân là cá nhân không chỉ bao gồm những nạn nhân trực tiếp mà bao gồm cả những nạn nhân gián tiếp Nạn nhân là cá nhân thường được chia thành các nhóm nạn nhân đặc thù để nghiên cứu nhằm đề ra các biện pháp phòng ngừa khả năng trở thành nạn nhân của
Trang 2014
tội phạm như nhóm nạn nhân là nữ giới, nhóm nạn nhân là trẻ em, người già, người tàn tật, người mắc bệnh tâm thần…
+ Nhóm nạn nhân là tổ chức: đây là nhóm nạn nhân chỉ có thể bị hành
vi phạm tội xâm hại về tài sản hoặc kinh tế Vì vậy, nhóm nạn nhân này chỉ có các nạn nhân trực tiếp chứ không có các nạn nhân gián tiếp Nhóm nạn nhân
là tổ chức phải là những tổ chức hợp pháp và phải còn tồn tại vào thời điểm hành vi phạm tội xảy ra
- Căn cứ vào cơ chế tác động của hành vi phạm tội đến nạn nhân, nạn nhân được chia thành 3 nhóm:
+ Nhóm nạn nhân trực tiếp là những cá nhân hay tổ chức bị hành vi phạm tội trực tiếp tác động gây thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hay các quyền và lợi ích hợp pháp khác Nhóm nạn nhân trực tiếp là nhóm nạn nhân chủ yếu trong các nạn nhân của tội phạm Trong các tội phạm có nạn nhân, hành vi phạm tội trước hết tác động, gây thiệt hại cho các nạn nhân trực tiếp
+ Nhóm nạn nhân thứ cấp (nạn nhân gián tiếp): nạn nhân thứ cấp là những cá nhân mà tuy hành vi phạm tội không trực tiếp tác động đến họ nhưng do họ có mối quan hệ đặc biệt đối với nạn nhân trực tiếp nên hành vi phạm tội đã gián tiếp tác động đến họ, gây ra những tổn hại về tinh thần, tình cảm, sức khoẻ và thậm chí là những thiệt hại về kinh tế cho những người này Nạn nhân thứ cấp là những người mà nạn nhân trực tiếp của tội phạm có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với họ như cha, mẹ, vợ, chồng, con hay những người thân thích khác
+ Nhóm nạn nhân mở rộng (nạn nhân thứ ba): là khái niệm để chỉ phạm
vi rộng hơn những người chịu ảnh hưởng, tác động sâu sắc của hành vi phạm tội Đây là những người tuy không phải là những người thân thích của nạn nhân nhưng sự kiện phạm tội đã tác động trực tiếp đến những người này và gây ra những tổn thất nặng nề về tinh thần, tình cảm cho họ Những người này
Trang 21- Căn cứ vào vai trò của nạn nhân trong cơ chế hành vi phạm tội (dấu hiệu lỗi của nạn nhân) thì nạn nhân của tội phạm có thể chia thành 2 trường hợp: Nạn nhân có lỗi và trường hợp nạn nhân không có lỗi
+ Nạn nhân có lỗi là những nạn nhân đã có các hành vi, xử sự không đúng chuẩn mực đạo đức, pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi hoặc thúc đẩy hành vi phạm tội thực hiện Nói cách khác, giữa hành vi, xử sự của nạn nhân với hành vi phạm tội có mối quan hệ với nhau Hành vi xử sự của nạn nhân là một trong các yếu tố thúc đẩy, làm phát sinh tội phạm Những hành vi không đúng chuẩn mực có thể là những hành vi như mất cảnh giác, coi thường sự bảo vệ tính mạng, tài sản, hành vi không phù họp các chuẩn mực, thuần phong, mỹ tục thậm chí là các hành vi trái pháp luật…
+ Nạn nhân không có lỗi là những người có những hành vi, xử sự hoàn toàn đúng đắn, tuân thủ đúng những chuẩn mực đạo đức, thuần phong mỹ tục
và pháp luật Hành vi của họ hoàn toàn không tạo điều kiện thuận lợi hay thúc đẩy hành vi phạm tội Nói cách khác, hành vi phạm tội hoàn toàn không liên quan đến các hành vi, xử sự của họ
- Căn cứ vào thể chất và trạng thái tinh thần cũng như đặc điểm tâm lý hiểu biết, Hans Von Hentig phân chia nạn nhân thành 11 nhóm đặc thù, bao gồm: nạn nhân là trẻ em (sự thiếu hiểu biết và kinh nghiệm sống); nạn nhân là phụ nữ (đặc điểm về cơ thể, giới tính); nạn nhân là người già (đặc điểm về tuổi tác cản trở nhận thức cũng như sự yếu đuối về thể chất); nạn nhân là người mắc bệnh tâm thần, người tàn tật (đặc điểm về sức khoẻ, sự phụ thuộc các chất cồn, chất gây nghiện hay ma tuý); nạn nhân là người trí tuệ kém phát
Trang 2216
triển (mắc bệnh đao), người nhập cư và người thiểu số (đặc điểm sự khác biệt
về văn hoá, ngôn ngữ, thiếu hiểu biết về xã hội và pháp luật); nạn nhân là những người tham lam hám lợi; nạn nhân là những người dâm đãng háo sắc; nạn nhân là những người thích cô lập, ẩn dật và những người mắc bệnh (đặc điểm dễ bị xâm hại); nạn nhân là người mắc các bệnh hiểm nghèo và nhóm
cuối cùng là nhóm nạn nhân bế tắc trong cuộc sống [30] Mỗi nhóm nạn nhân
với những đặc điểm đặc trưng về tâm sinh lý sẽ tạo thuận lợi thúc đẩy quá trình nạn nhân hoá một số nhóm tội nhất định
Ngoài ra tội phạm học còn có nhiều sự phân loại nạn nhân của tội phạm theo các căn cứ khác nhau, chẳng hạn: nếu dựa vào khách thể của tội phạm có thể chia nạn nhân của tội phạm thành: nạn nhân của các tội xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự, nạn nhân của các tội phạm xâm phạm
sở hữu, nạn nhân của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế…; nếu căn cứ vào dấu hiệu chức vụ, quyền hạn của nạn nhân thì có thể chia thành nạn nhân
là người có chức vụ, quyền hạn và nạn nhân là người không có chức vụ, quyền hạn; nếu căn cứ vào đặc thù về thể chất có thể phân chia thành nạn nhân là người khuyết tật, nạn nhân là người bình thường…
1.2 Nạn nhân của tình hình tội phạm xâm phạm nhân thân
1.2.1 Khái niệm
Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội, pháp lý - hình sự được thay đổi về mặt lịch sử, mang tính chất giai cấp bao gồm tổng thể thông nhất (hệ thống) các tội phạm thực hiện trong một xã hội (quốc gia) nhất định và
trong khoảng thời gian nhất định [24]
Tình hình tội phạm xâm phạm nhân thân là tổng thể thống nhất các tội phạm xâm phạm nhân thân thực hiện trong một xã hội, trong khoảng thời gian nhất định
Trang 23bổ sung vào năm 2009) bao gồm 30 điều luật từ Điều 93 đến Điều 122 Cụ thể: Điều 93 Tội giết người; Điều 94 Tội giết con mới đẻ; Điều 95 Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh; Điều 96 Tội giết người do vựơt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; Điều 97 Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ; Điều 98 Tội vô ý làm chết người; Điều 99 Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính; Điều 100 Tội bức tử; Điều 101 Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát; Điều 102 Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng; Điều
103 Tội đe dọa giết người; Điều 104 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác; Điều 105 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh; Điều 106 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; Điều 107 Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong khi thi hành công vụ; Điều 108 Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; Điều 110 Tội hành hạ người khác; Điều 111 Tội hiếp dâm; Điều 112 Tội hiếp dâm trẻ em; Điều 113 Tội cưỡng dâm; Điều 114 Tội cưỡng dâm trẻ em; Điều 115 Tội giao cấu với trẻ em; Điều 116 Tội dâm ô đối với trẻ em; Điều 117 Tội lây truyền HIV cho người khác; Điều 118 Tội cố ý truyền HIV cho người khác; Điều 119 Tội mua bán người; Điều 120 Tội mua bán,
Trang 24156 Cụ thể: Điều 123 Tội giết người; Điều 124 Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ; Điều 125 Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh; Điều 126 Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội; Điều 127 Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ; Điều 128 Tội vô ý làm chết người; Điều
129 Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính; Điều 130 Tội bức tử; Điều 131 Tội xúi giục hoặc giúp người khác
tự sát; Điều 132 Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng; Điều 133 Tội đe dọa giết người; Điều 134 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; Điều 135 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh; Điều 136 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội; Điều 137 Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ; Điều 138 Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; Điều 139 Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính; Điều 140 Tội hành hạ người khác; Điều 141 Tội hiếp dâm; Điều 142 Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi; Điều 143 Tội cưỡng dâm; Điều 144 Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; Điều 145 Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; Điều 146 Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi; Điều 147 Tội sử dụng
Trang 2519
người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm; Điều 148 Tội lây truyền HIV cho người khác; Điều 149 Tội cố ý truyền HIV cho người khác; Điều 150 Tội mua bán người; Điều 151 Tội mua bán người dưới 16 tuổi; Điều 152 Tội đánh tráo người dưới 01 tuổi; Điều 153 Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi; Điều
154 Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người; Điều 155 Tội
làm nhục người khác; Điều 156 Tội vu khống [12], [13]
Các tội xâm phạm nhân thân thông qua sự tác động làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động - con người đang sống Do đặc điểm của hành vi phạm tội của các tội xâm phạm nhân thân của con người là hành vi gây thiệt hại trực tiếp cho các nạn nhân của tội phạm, do đó chủ thể của hành vi phạm tội luôn luôn là cá nhân, nghĩa là nạn nhân của các loại tội phạm này là cá nhân chứ không thể là tổ chức
là các thiệt hại chỉ gắn liền với con người Các tổ chức không thể chịu các thiệt hại này
- Thiệt hại của các nạn nhân của tình hình tội phạm nhân thân có thể là tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tinh thần, tình cảm hoặc kinh tế của con người Trong đó thiệt hại về tính mạng là thiệt hại nghiêm trọng nhất
mà nạn nhân phải gánh chịu
Trang 2620
Quyền sống của con người là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm, vì vậy tính mạng của con người là vô giá Thiệt hại mà tội phạm gây ra cho tính mạng con người không chỉ ảnh hưởng đến bản thân nạn nhân mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến người thân và cuộc sống của gia đình họ Sự mất mát đau thương của gia đình nạn nhân là không thể khắc phục được Nhiều trường hợp, sau khi hành vi phạm tội xảy ra, nhiều người thân của nạn nhân
đã bị ảnh hưởng tâm lý, bị khủng hoảng về mặt tinh thần Nhiều nạn nhân là các lao động chính trong gia đình, khi họ chết cuộc sống của gia đình họ bị ảnh hưởng nghiêm trọng Không chỉ ảnh hưởng đến gia đình, thiệt hại mà tội phạm gây ra còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội Nhiều vụ giết người dã man xảy ra đã gây ra những dư luận rất xấu trong xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân khiến nhân dân không an tâm sinh hoạt
và công việc
Sau thiệt hại về tính mạng là thiệt hại về sức khỏe mà người phạm tội gây ra cho nạn nhân Đây là những thiệt hại do các hành vi phạm tội tác động lên cơ thể con người gây ra những thương tích hoặc gây tổn hại nặng cho sức khoẻ của nạn nhân Rất nhiều nạn nhân đã bị các thương tích, cố tật suốt đời như cụt tay, cụt chân, bị biến dạng các bộ phận trên cơ thể, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của các nạn nhân và gia đình của họ, gây mất trật
tự, an toàn xã hội Nhiều người sau khi bị hành vi phạm tội xâm hại đã bị giảm sút nghiêm trọng về sức khỏe, trở thành những người tàn tật, không thể
tự làm việc nuôi sống bản thân mình Những người này không chỉ bị thiệt hại
về sức khỏe mà còn bị thiệt hại về kinh tế đó là thu nhập bị giảm sút do mất sức khỏe, tiền chữa trị thương tích, trị liệu tâm thần…
Bên cạnh những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, kinh tế thì những nạn nhân của tội phạm xâm phạm nhân thân còn phải chịu những thiệt hại về tinh thần, tình cảm Thiệt hại về tinh thần là các thiệt hại do hành vi phạm tội gây
ra xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của con người Những
Trang 2721
năm gần đây tình trạng xúc phạm danh dự, nhân phẩm của con người, đặc biệt
là phụ nữ và trẻ em đang gia tăng nhanh chóng Thiệt hại về tinh thần mà người phạm tội gây ra cho nạn nhân bao gồm rất nhiều loại Có loại tội phạm chỉ gây ra thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, cũng có loại tội phạm vừa gây ra thiệt hại về danh dự, nhân phẩm vừa gây ra những thiệt hại đến sức khỏe của con người như các tội hiếp dâm, cưỡng dâm Các hành vi phạm tội này thường làm cho các nạn nhân bị khủng hoảng tinh thần nghiêm trọng, phải mất rất nhiều thời gian nạn nhân của loại tội phạm này mới có thể lấy lại trạng thái cân bằng Thậm chí có rất nhiều nạn nhân bị ảnh hưởng tâm lý suốt đời Thiệt hại thuộc loại này rất khó đánh giá và rất khó khắc phục kể cả việc bồi thường thiệt hại
- Nguồn gốc gây ra thiệt hại của nạn nhân của tình hình tội phạm xâm phạm nhân thân là do hành vi phạm tội xâm phạm nhân thân gây ra
Thiệt hại của nạn nhân nói chung có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra như có thể do thiên tai (như bão, sóng thần có thể gây chết người hoặc mất tài sản ) hoặc có thể do sự kiện khách quan gây ra như bất ngờ bị cây đổ đè vào người gây thương tích Tuy nhiên, riêng đối với trường hợp nạn nhân của tình hình tội phạm nói chung, nạn nhân của tình hình tội phạm xâm phạm nhân thân nói riêng thì những đối tượng này chỉ có thể bị thiệt hại do nguyên nhân hành vi phạm tội gây ra
- Hình thức pháp lý xác định nạn nhân của tình hình tội phạm xâm phạm nhân thân
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tội phạm có thể được xác định bằng các bản án kết tội (trước đó là quyết định khởi tố bị can, bị cáo ) Còn đối với nạn nhân của tội phạm thì không có một văn bản pháp lý cụ thể nhằm xác định nạn nhân của tội phạm Nạn nhân của tình hình tội phạm chỉ trở thành bị hại trong tố tụng hình sự khi họ được cơ quan tiến hành tố tụng công nhận là bị hại thể hiện trong các quyết định, biên bản Trong thực tiễn điều
Trang 2822
tra, truy tố, xét xử các văn bản tố tụng đã đề cập đến nạn nhân của tình hình tội phạm (hoặc bị hại), cụ thể: trong giai đoạn khởi tố, điều tra gồm: quyết định khởi tố vụ án hình sự, biên bản ghi lời khai, giấy triệu tập, biên bản đối chất, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản hỏi cung, bản kết luận điều tra; trong giai đoạn truy tố gồm: cáo trạng, quyết định truy tố, danh sách những người cần triệu tập tham gia phiên tòa được lập bởi Viện kiểm sát; trong giai đoạn xét xử gồm: quyết định đưa vụ án ra xét xử; giấy triệu tập tham gia phiên tòa, bản án
1.3 Vai trò của nạn nhân của tội phạm trong cơ chế hình thành hành vi phạm tội xâm phạm nhân thân
1.3.1 Vai trò của nạn nhân trong việc thúc đẩy hoặc kìm hãm việc hình thành ý định phạm tội
Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, bản chất của con người là tổng hòa những quan hệ xã hội Con người sống trong xã hội luôn có mối quan hệ tác động lẫn nhau Hoạt động của con người mặc dù bị quy định trong những điều kiện kinh tế, xã hội, pháp luật nhưng con người vẫn có sự tự do tương đối Chính
sự tự do lựa chọn và thực hiện các hành vi, xử sự mà ở những người khác nhau có những sự lựa chọn và thực hiện hành vi khác nhau Một số người luôn lựa chọn và thực hiên các hành vi phù hợp với đòi hỏi của xã hội Một số người khác lại lựa chọn và thực hiện các hành vi không phù hợp với đòi hỏi của xã hội thậm chí còn trái đạo đức, trái pháp luật Chính những hành vi lệch chuẩn này đã tạo ra những điều kiện khách quan rất thuận lợi cho việc hình thành ý định phạm tội Các nạn nhân đã lựa chọn và thực hiện các hành vi thuộc loại này chính là các nạn nhân có lỗi
Nạn nhân có lỗi là nạn nhân đã lựa chọn và thực hiện những hành vi tạo
ra những điều kiện thuận lợi cho việc hình thành ý định phạm tội, cho việc quyết định thực hiện hành vi phạm tội cũng như cho việc thực hiện hành vi phạm tội, trong khi có đủ điều kiện để lựa chọn và thực hiện một xử sự khác
Trang 2923
phù hợp với đạo đức, thuần phong mỹ tục, với đòi hỏi của xã hội mà không tạo ra các điều kiện thuận lợi trên Hành vi mà nạn nhân đã lựa chọn và thực hiện có thể là những hành vi bất cẩn mất cánh giác, hành vi thiếu văn hóa, hành vi trái đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, hành vi gây gổ, nói xấu, xúc phạm, lăng nhục hay chửi bới người khác, hành vi đó cũng có thể là các hành vi vi phạm pháp luật thậm chí đó là hành vi phạm tội Ví dụ: A do đi
xe bất cẩn nên có va chạm giao thông với B, thay vì xin lỗi thì A đã có hành
vi chửi bới, xúc phạm, thách thức B B do không kiềm chế được nên đã rút dao đâm A, làm A bị thương nặng Như vậy trong tình huống này, chính cách
cư xử của A đã làm cho B bị kích động dẫn tới hành vi rút dao đâm A của B Nếu trong trường hợp này A lựa chọn cách cư xử khác thì hành vi phạm tội của B đã không xảy ra
Hiện nay do ảnh hưởng của sách báo, phim ảnh bạo lực, rất nhiều người đặc biệt là thanh thiếu niên thường gây gổ, đánh nhau khi xảy ra các mâu thuẫn, thậm chí là không có mâu thuẫn Chỉ cần những va chạm, những mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống hàng ngày là họ đã lập tức sử dụng bạo lực Chính việc ưa sử dụng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn đã làm kích động tinh thần của người khác, nhất là người có khí chất nóng Khi bị gây gổ, những người này thường không tự chủ được mình dễ nảy sinh ý định trả thù
Bên cạnh các hành vi gây gổ, nói xấu của các nạn nhân, một loại hành
vi khác cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành ý định phạm tội xâm phạm nhân thân (xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự) đó là các hành vi vi phạm đạo đức, hành vi xúc phạm, lăng nhục, nói xấu hay chửi bới người khác… Một số nạn nhân thường xuyên có những lời nói xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm người khác Danh dự, nhân phẩm là vô cùng quý giá đối với con người Do đó, khi danh dự bị bôi nhọ, bị xúc phạm, bị tổn thương
sẽ tạo ra sự kích động tinh thần rất lớn ở những người bị xúc phạm Những người này khi bị kích động mạnh thường xuất hiện động cơ trả thù đối với
Trang 3024
người nói xấu, nhất là khi cả nạn nhân và người phạm tội có khí chất nóng nảy hay đều sử dụng bia rượu hoặc các chất kích thích khác Khi đó, tinh thần hưng phấn nên những người bị gây gổ, bị nói xấu rất dễ xuất hiện động cơ phạm tội để trả thù
Một số nạn nhân còn có những hành vi tạo điều kiện khách quan rất thuận lợi cho việc hình thành ý định phạm tội liên quan đến tình dục như hiếp dâm, cưỡng dâm… Một số phụ nữ thường xuyên đi chơi khuya, về muộn một mình, trên những đoạn đường vắng vẻ, xa khu dân cư Một số khác lại thường xuyên có những lời nói, hành vi, cách ăn mặc thiếu nghiêm túc và có tính chất gợi tình Đây là những điều kiện rất tốt cho việc hình thành ý định phạm tội hiếp dâm, cưỡng dâm
Tóm lại, bằng việc lựa chọn và thực hiện các hành vi xử sự không đúng mực của mình, các nạn nhân đã tạo ra những điều kiện khách quan rất thuận lợi thúc đẩy việc hình thành hoặc kìm hãm ý định phạm tội Loại bỏ những hành vi này chính là loại bỏ những điều kiện thuận lợi đến việc hình thành ý định phạm tội, làm mất đi các nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm xâm phạm nhân thân
1.3.2 Vai trò của nạn nhân trong việc thúc đẩy hoặc kìm hãm người phạm tội quyết định thực hiện hành vi phạm tội hay làm loại bỏ ý định phạm tội
Hình thành ý định phạm tội là giai đoạn đầu của cơ chế thực hiện hành
vi phạm tội Sau khi hình thành ý định phạm tội, chủ thể sẽ tuỳ từng trường hợp mà hình thành quyết định thực hiện hành vi phạm tội hay từ bỏ ý định phạm tội Quyết định thực hiện hành vi phạm tội chỉ hình thành khi chủ thể nhận thức được đầy đủ các điều kiện khách quan thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm như điều kiện, hoàn cảnh, thời gian, địa điểm… Trong quá trình hình thành quyết định thực hiện hành vi phạm tội hay từ bỏ ý định phạm tội, nạn nhân giữ vai trò rất quan trọng Nạn nhân với các hành vi của mình có thể
Trang 3125
tạo ra những điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự hình thành quyết định thực hiện hành vi phạm tội hay tạo ra những điều kiện kìm hãm làm loại bỏ ý định phạm tội
Nếu như ý định phạm tội được hình thành do nhu cầu, lợi ích của chủ thể kết hợp với việc nhận thức những điều kiện khách quan thuận lợi thì sau khi hình thành ý định thực hiện hành vi phạm tội, chủ thể sẽ phân tích, đánh giá kỹ càng hơn tất cả những điều kiện khách quan Chỉ khi điều kiện khách quan rất thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm thì chủ thể mới hình thành quyết định thực hiện hành vi phạm tội Ở giai đoạn hình thành ý định phạm tội trong một số trường hợp việc hình thành ý định phạm tội hoàn toàn không
do sự thúc đẩy của hành vi của nạn nhân mà chỉ hoàn toàn là hoạt động nhận thức tâm lý của người thực hiện hành vi phạm tội Ở giai đoạn hình thành quyết định thực hiện hành vi phạm tội, vai trò của nạn nhân thể hiện rất rõ Đặc biệt là các trường hợp nạn nhân có lỗi, nạn nhân có các hành vi không đúng chuẩn mực, hành vi kích động tinh thần người phạm tội, hành vi vi phạm pháp luật Một số trường hợp ý định phạm tội rất dễ nảy sinh nhưng việc biến ý định phạm tội thành quyết định thực hiện hành vi phạm tội là cả một quá trình có sự phân tích, cân nhắc cẩn thận của chủ thể, nhất là trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người, các hành vi có lỗi của nạn nhân sẽ củng cố ý định phạm tội để hình thành quyết định thực hiện hành vi phạm tội Có nhiều người sau khi hình thành ý định phạm tội, do thấy nạn nhân trở nên cảnh giác hơn nên đã từ bỏ ý định phạm tội Ngược lại, nếu đến khi hình thành ý định phạm tội, người phạm tội thấy nạn nhân vẫn tiếp tục có những hành vi bất cẩn, mất cảnh giác, thậm chí lơ là hơn đối với việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản… sẽ thúc đây việc hình thành quyết định thực hiện hành vi phạm tội
Đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ sau khi nạn nhân có các hành vi khiêu khích, hành vi vi phạm pháp luật làm xuất hiện động cơ trả thù
Trang 3226
ở người phạm tội Nếu như họ tiếp tục thực hiện những hành vi này thì sẽ củng cố ý định phạm tội và sẽ tạo điêu kiện rất tốt để thúc đẩy người phạm tội hình thành quyết định thực hiện hành vi phạm tội
Đối với các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự, đa số người phạm tội đều lợi dụng các điều kiện khách quan về không gian, thời gian, địa điểm đặc trưng như ở nơi vắng vẻ ít người qua lại, thời gian mọi người đi làm vắng hay mọi người đang ngủ, nạn nhân đi một mình… để thực hiện hành vi phạm tội Đối với các tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm của con người mà nạn nhân là trẻ em thì sự quản lý trông coi con em của một số gia đình còn lỏng lẻo trong khi khả năng chống trả với các hành vi phạm tội của loại nạn nhân này rất hạn chế Đặc biệt là sự tin tưởng của các bậc cha mẹ đối với các mối quan hệ của mình nên chủ quan giao phó các con nhỏ cho người quen sơ, hàng xóm hoặc
để con nhỏ ở nhà mà không có người trông nom cũng như không khóa cửa
Nhưng chính sự mất cảnh giác, thiếu đề phòng mà nạn nhân vẫn tiếp tục tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc hình thành quyết định thực hiện hành vi phạm tội như nạn nhân vẫn đi chơi về khuya, vẫn đi một mình qua đoạn đường vắng vẻ, xa khu dân cư, gia đình nạn nhân không thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn cho con cái… Điều đó sẽ giúp cho người phạm tội hình thành quyết định thực hiện hành vi phạm tội Ngược lại, nếu nạn nhân thay đổi nếp sinh hoạt, bỏ thói quen đi chơi về khuya không đi đâu một mình tại những nơi vắng vẻ, chọn những đoạn đường đông người qua lại, gần khu dân cư, đi cùng bạn bè, gia đình quan tâm đến sự an toàn của con cái… điều
đó sẽ làm mất đi điều kiện khách quan thuận lợi và do đó sẽ làm mất đi ý định phạm tội
1.3.3 Vai trò của nạn nhân trong việc thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình thực hiện hành vi phạm tội
Sau khi hình thành ý định phạm tội và quyết định thực hiện hành vi phạm tội nguời phạm tội sẽ tiếp tục nhận thức xem xét, cân nhắc, phân tích
Trang 3327
các điều kiện khách quan Nếu các điều kiện khách quan không thuận lợi thì người phạm tội sẽ từ bỏ việc thực hiện tội phạm hoặc sẽ không thực hiện tội phạm đến cùng Ngược lại nếu điều kiện khách quan thuận lợi thì người phạm tội sẽ thực hiện tội phạm một cách nhanh chóng và đến cùng Trong quá trình này, nạn nhân đóng vai trò rất quan trọng cả trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội và trong cả giai đoạn phạm tội chưa đạt
Giai đoạn chuẩn bị phạm tội là giai đoạn người phạm tội thực hiện các hành vi tạo ra những điều kiện vật chất hoặc tinh thần giúp cho việc thực hiện hành vi phạm tội có thể xảy ra và xảy ra được thuận lợi, dễ dàng hơn Điều đó phụ thuộc rất lớn vào các hành vi của nạn nhân Trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự các hành vi mất cảnh giác của nạn nhân, các hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức sẽ làm kích động tinh thần người phạm tội, làm cho người phạm tội quyết tâm chuẩn bị thực hiện tội phạm như lên kế hoạch chi tiết, cụ thể, mua sắm, chế tạo các cộng cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội
Trong một số trường hợp phạm tội, người phạm tội thường có các hành
vi làm quen, gây cảm tình, tìm hiểu các sở thích của nạn nhân để mua chuộc, tìm ra các yếu điểm, các bí mật của nạn nhân để khống chế, đe dọa, cưỡng bức nạn nhân Trong những trường hợp này chính sự ngây thơ mất cảnh giác của nạn nhân, sự cả tin, thói học đòi, chính các hành vi vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật của nạn nhân làm cho người phạm tội lợi dụng để chuẩn bị phạm tội
Vai trò của nạn nhân không chỉ được thể hiện rõ ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội mà còn được thể hiện rất rõ ở giai đoạn phạm tội chưa đạt Đây là giai đoạn người phạm tội bắt đầu thực hiện các hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm do đó hành vi, xử sự của nạn nhân có tác động rất lớn đến hành vi phạm tội
Trang 3428
Đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự nếu người phạm tội không thuộc các trường hợp tinh thần bị kích động mạnh thì đa số họ đều có tâm lý lo sợ tội phạm bị phát hiện, sợ bị pháp luật trừng trị Chính vì vậy, khi thực hiện tội phạm nếu gặp phải sự kháng cự quyết liệt của nạn nhân người phạm tội sẽ chấm dứt giữa chừng việc thực hiện hành vi phạm tội Ngược lại, trong những trường hợp khác, chính sự thiếu kháng cự, chống trả của nạn nhân sẽ giúp người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội được nhanh chóng, thuận lợi hơn Trong những trường hợp người phạm tội lợi dụng các bí mật của nạn nhân để khống chế, cưỡng bức nạn nhân quan hệ tình dục (tội cưỡng dâm), nạn nhân cần phải hiểu rõ rằng nếu bị lợi dụng một lần, họ sẽ bị lợi dụng nhiều lần, do đó họ cần kiên quyết chống trả lại hành vi phạm tội và báo cho cơ quan có thẩm quyền để giải quyết Sự kháng cự của nạn nhân, thái độ cương quyết chống trả của nạn nhân sẽ làm cho người phạm tội không có cơ hội để thực hiện đến cùng hành vi phạm tội
Trong trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây ra thì lúc đó, do trạng thái tinh thần bị kích động mạnh nên người phạm tội chỉ có một mong muốn duy nhất là thực hiện hành vi phạm tội
để trả thù Người phạm tội không thể cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cũng như không thể nhận thức đầy đủ hậu quả của hành
vi phạm tội Do thực hiện hành vi phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh vì hành vi vi phạm của nạn nhân gây ra nên sự kháng cự của nạn nhân sẽ làm tăng thêm trạng thái kích động tinh thần và sẽ làm cho người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội một cách quyết liệt hơn Đã có một số vụ
án, lúc đầu người phạm tội chỉ muốn gây thương tích nhẹ để cảnh cáo nạn nhân nhưng do khi thực hiện hành vi phạm tội, nạn nhân tiếp tục có những hành vi lăng mạ, chửi bới người phạm tội làm cho họ càng bị kích động tinh thần nên họ đã thực hiện hành vi phạm tội với cường độ mạnh hơn khiến cho
Trang 3529
nạn nhân bị thương tích nặng, thậm chí thiệt hại đến tính mạng Lúc này, việc các nạn nhân tìm cách tránh mặt để làm dịu đi trạng thái tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội cũng có tác dụng làm kìm hãm quá trình thực hiện hành vi pham tội của người phạm tội
Tóm lại, vai trò của nạn nhân trước hết được thể hiện trong cơ chế thực hiện hành vi phạm tội của người phạm tội Trong đó, nạn nhân với các hành
vi xử sự của mình có thể tạo ra những điều kiện khách quan thuận lợi thúc đẩy sự hình thành ý định phạm tội, sự hình thành quyết định thực hiện hành vi phạm tội cũng như thúc đẩy việc thực hiện tội phạm được nhanh chóng, dễ dàng Ngược lại, cũng bằng các hành vi, xử sự của mình nạn nhân có thể làm mất đi các điều kiện thuận lợi qua đó kìm hãm việc hình thành ý định phạm tội, làm cho người đã có ý định phạm tội sẽ từ bỏ ý định phạm tội hoặc kìm hãm làm cho việc thực hiện tội phạm không diễn ra hoặc bị chấm dứt nửa chừng, hạn chế thiệt hại do tội phạm gây ra
1.4 Nguyên nhân trở thành nạn nhân của tình hình tội phạm xâm phạm nhân thân
1.4.1 Nguyên nhân chủ quan
- Những yếu tố tâm lý của con người
Trong các yếu tố thuộc về cá nhân con người có vai trò tác động, thúc đẩy làm gia tăng nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm nói chung, tội phạm xâm phạm nhân thân nói riêng, trước hết phải kể đến những đặc điểm tâm lý của con người Các đặc điểm này đóng vai trò đáng kể trong việc tạo điều kiện thúc đẩy quá trình trở thành nạn nhân của tội phạm xâm phạm nhân thân Các đặc điểm tâm, sinh lý của con người trước hết tác động đến việc thực hiện hành vi của họ thể hiện thông qua lời nói, cử chỉ hay hành động Chính những cử chỉ, lời nói hay hành động này trong những tình huống cụ thể
đã góp phần kích thích, thúc đẩy làm phát sinh hành vi phạm tội Các đặc điểm tâm, sinh lý có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình phát sinh
Trang 3630
tội phạm phải kể đến những đặc điểm sinh học di truyền như khí chất nóng nảy, cục cằn, thô lỗ hay sự dâm đãng, háo sắc… Do khí chất nóng nảy, cục cằn, thô lỗ, khả năng tự kiềm chế kém nên một số người trong các mối quan
hệ xã hội, nhất là khi gặp các tình huống không thuận lợi trong cuộc sống đã
có những hành vi, xử sự không chỉ không làm hài lòng người khác mà còn làm nảy sinh những sự phản kháng ở họ Trong những tình huống nhạy cảm như khi bị tắc đường, khi bị va chạm trong giao thông, khi phải xếp hàng chờ một dịch vụ nào đó… chỉ cần những lời nói, cử chỉ không đúng mực sẽ làm kích động người khác và nếu những người này cũng là những người nóng nảy, thiếu kiềm chế thì tất yếu sẽ làm phát sinh hành vi phạm tội
Bên cạnh đó, những phẩm chất tâm lý lệch lạc như lòng tham, sự ích kỷ thậm chí coi thường các chuẩn mực xã hội, các giá trị đạo đức, quá đề cao giá trị đồng tiền, coi thường tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người khác, thậm chí cả thói quen hưởng thụ, lười nhác, háo sắc… Những đặc điểm
và phẩm chất tâm lý này đặt trong những tình huống tiêu cực cụ thể cũng dễ làm phát sinh các hành vi, cử chỉ, lời nói thúc đẩy sự hình thành ý định phạm tội cũng như thúc đẩy việc thực hiện tội phạm ở những người khác
Một số đặc điểm tâm lý khác như tâm lý tự tin, quá dễ dãi đối với sự an toàn của bản thân, của con em trong gia đình, cũng như tâm lý thiếu sự đề cao cảnh giác đối với tội phạm, nhất là đối với những người quen biết…đã dẫn đến chính bản thân hoặc con em trong gia đình mình trở thành nạn nhân của các loại tội phạm xâm phạm nhân thân
- Yếu tố sinh học:
Yếu tố sinh học cũng có vai trò thúc đẩy việc phát sinh và thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm nhân thân Đó là các đặc điểm đặc thù như độ tuổi, giới tính hay sức khoẻ Một số nhóm người có những đặc điểm hạn chế
về khả năng tự bảo vệ, do đó đã kích thích sự hình thành ý định phạm tội xâm
Trang 37đã ảnh hưởng đến khả năng tự bảo vệ của họ Sự không hoàn thiện cả về tâm, sinh lý và thể chất đã làm cho khả năng tự bảo vệ của những nhóm người này hạn chế hơn nhiều so với những nhóm người khác Ngoài sự hạn chế về đặc điểm tâm sinh lý, nhóm người già, trẻ em, người tàn tật, người mắc bệnh tâm thần hầu hết là những người có cuộc sống phụ thuộc vào người khác trong gia đình Đây chính là lý do dẫn đến nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm của nhóm người này rất cao, nhất là các tội liên quan đến tình dục, bạo hành gia đình
Ngoài yếu tố giới tính, độ tuổi cũng có ảnh hưởng đáng kể đến nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm xâm phạm nhân thân Ở từng độ tuổi khác nhau sẽ có nguy cơ trở nạn nhân của từng loại tội khác nhau
- Thói quen và phong cách sống:
Thói quen và phong cách sống của một người hay một nhóm người trong nhiều trường hợp cũng là nguyên nhân quan trọng thúc đẩy quá trình trở thành nạn nhân của tội xâm phạm nhân thân Lối sống và thói quen sinh hoạt hàng ngày cũng chính là sự thể hiện của các đặc điểm tâm, sinh lý
Lối sống được hình thành từ sự tổng hợp ảnh hưởng của tất cả các yếu
tố và hình thành một nếp sinh hoạt ở mỗi người hay một nhóm người Lối sống được thể hiện hàng ngày thông qua các hành vi, xử sự như cách đi lại, ăn nói, đối xử, phong cách làm việc, vui chơi giải trí… Có rất nhiều lối sống tưởng chừng như vô hại nhưng trong sự kết hợp với những điều kiện khác như động cơ, mục đích của người phạm tội cũng như đặt trong những hoàn cảnh và khả năng tự bảo vệ là những yếu tố rất quan trọng làm tăng nguy cơ
Trang 3832
bị hành vi phạm tội xâm phạm nhân thân xâm hại Trong những điều kiện thời gian và không gian nhất định và trong các mối quan hệ nhất định với những người có nhiều khả năng phạm tội, những lối sống và những thói quen nhất định là những yếu tố quan trọng trong cơ chế hành vi phạm tội
1.4.2 Nguyên nhân khách quan
- Về môi trường xã hội:
Dưới sự tác động của các yếu tố tiêu cực trong xã hội như sự tác động của các ngành nghề kinh doanh mới ẩn chứa nhiều tiêu cực, nhưng thiếu sự quản lý chặt chẽ của các cơ quan chức năng như nhà hàng, khách sạn, quán bar, vũ trường, quán karaoke… vì thế đã vô hình chung làm cho xã hội bị ảnh hưởng từ các mặt tiêu cực mặt trái của nó
Trang 3933
- Về môi trường gia đình:
Gia đình và giáo dục gia đình có vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển nhân cách và định hướng lối sống của các thành viên trong gia đình Gia đình chính là cái nôi nuôi dưỡng đầu tiên, là môi trường xã hội gần gũi, quan trọng nhất của mỗi người Giáo dục gia đình là một khâu, một môi trường giáo dục quan trọng bậc nhất đối với sự hình thành, phát triển nhân cách và định hướng lối sống cho các thành viên trong gia đình Tuy nhiên, gia đình và giáo dục gia đình cũng có những ảnh hưởng tiêu cực đến lối sống của các thành viên trong gia đình
Xã hội phát triển, mỗi con người, mỗi gia đình đều quý trọng thời gian, công việc, quan hệ, kiếm tiền… vì thế những thành viên trong gia đình không
có nhiều thời gian để quan tâm, chăm sóc, chia sẻ những niềm vui, nỗi buồn
và cả những tâm sự riêng tư trong cuộc sống Nhiều gia đình có các thành viên trong gia đình không có sự kính trọng, thương yêu, giúp đỡ và chăm sóc lẫn nhau đã tạo ra những sự xa cách, lãnh cảm, thiếu thân mật, thiếu quan tâm đến nhau
Bên cạnh đó, một yếu tố gia đình thúc đẩy nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm phải kể đến là hoàn cảnh tiêu cực của gia đình Khiếm khuyết trong gia đình làm cho các em không được quan tâm giáo dục và bảo vệ chu đáo nên dễ hình thành các phẩm chất tâm lý lệch lạc
- Yếu tố nghề nghiệp:
Yếu tố nghề nghiệp cũng ảnh hưởng đến nguy cơ trở thành nạn nhân của tình hình tội phạm xâm phạm nhân thân Chẳng hạn, những người hành nghề lái xe ôm, lái xe taxi, kinh doanh vàng bạc… rất dễ trở thành nạn nhân của các tội cướp tài sản hay giết người, cướp tài sản; lực lượng Công an, kiểm lâm rất dễ trở thành nạn nhân của tội chống người thi hành công vụ…
Trang 4034
- Yếu tố kinh tế - xã hội:
Xã hội ngày càng phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng hiện đại, tốc
độ đô thị hóa ngày càng nhanh thì sự chênh lệch về giàu nghèo ngày càng lớn Trong khi đó, nền kinh tế thường xuyên xảy ra các biến động lớn làm cho đời sống xã hội bị ảnh hưởng như nạn thất nghiệp ngày càng gia tăng, lạm phát và khủng hoảng kinh tế, chưa có cơ cấu kinh tế và cơ cấu ngành nghề hợp lý nên không điều chỉnh được tỷ lệ di dân tự do từ các vùng nông thôn lên thành phố
để làm ăn và sinh sống đã tạo ra các sức ép lớn gây mất trật tự trị an, tình hình các tội phạm ngày càng gia tăng và kết qủa của nó là tỷ lệ nạn nhân của tội phạm ngày càng tăng cao
- Yếu tố giáo dục:
Nhà trường và giáo dục học đường là một trong những yếu tố tác động quan trọng nhất đối với quá trình phát triển nhân cách và định hướng lối sống của con người Bởi trong cuộc đời mỗi người thì thời gian đi học chiếm phần lớn tuổi thanh niên Chính tại nhà trường và nhờ giáo dục học đường, mỗi người tiếp thu được nhiều tri thức về tự nhiên và xã hội, các kỹ năng nghề nghiệp và kỹ năng sống, những bài học về đạo đức, pháp luật, tôn giáo, chính trị và văn hóa Đây là những hành trang giúp cho họ vừng bước vào đời Những nội dung giáo dục trong nhà trường cùng có tác động quan trọng và trực tiếp đối với sự định hướng lối sống của mỗi người, đồng thời để lại dấu
ấn trong suốt cuộc đời họ
- Thời gian và địa điểm:
Thời gian và địa điểm luôn đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các hành vi phạm tội Người phạm tội luôn luôn biết tận dụng khoảng thời gian và những địa điểm thuận lợi cho quá trình thực hiện hành vi phạm tội của mình Thời gian địa điểm thuận lợi thường là những lúc, những nơi vắng vẻ, ít người Mỗi loại tội phạm có những khoảng thời gian và địa điểm