1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014

89 415 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên chỉ mới bước đầu nêu sơ qua về trách nhiệm của vợ chồng đối với các giao dịch dân sự nói chung, không đề cập rõ ràng, cụ thể khái niệm trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ d

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-

PHẠM NGUYỄN HUY HOÀNG

TRÁCH NHIỆM LIÊN ĐỚI THỰC HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ CỦA VỢ CHỒNG THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - năm 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-

PHẠM NGUYỄN HUY HOÀNG

TRÁCH NHIỆM LIÊN ĐỚI THỰC HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ CỦA VỢ CHỒNG THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2014

Chuyên ngành : Luật Kinh tế

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN AM HIỂU

HÀ NỘI - năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi với Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy

và trung thực

Người cam đoan

Phạm Nguyễn Huy Hoàng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM LIÊN ĐỚI THỰC HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ CỦA VỢ CHỒNG 8

1.1 Khái niệm thực hiện nghĩa vụ dân sự 8

1.2 Khái niệm trách nhiệm liên đới 8

1.3 Trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng 10

1.4 Sự phát triển của pháp luật Việt nam về trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng 23

1.5 Pháp luật về trách nhiệm liên đới của vợ chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình của một số quốc gia trên thế giới 30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM LIÊN ĐỚI THỰC HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ CỦA VỢ CHỒNG 37

2.1 Trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng đối với giao dịch do một bên thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình 37

2.2 Trách nhiệm liên đới THNVDS của vợ chồng đối với giao dịch được xác lập trên cơ sở đại diện 42

2.3 Trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập 47

2.4 Trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung 48

2.5 Trách nhiệm liên đới của vợ chồng về tài sản đối với nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng vì lợi ích chung 50

2.6 Trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 51

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬTVỀ TRÁCH NHIỆM LIÊN ĐỚI THỰC HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ CỦA VỢ CHỒNG 59

Trang 6

3.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật 59 3.2 Kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về trách nhiệm liên đới THNVDS của vợ chồng 71

KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ xưa tới nay, HNGĐ luôn là một đối tượng được các nhà triết học, xã hội học, tâm lý học, luật học tìm hiểu và nghiên cứu Hôn nhân là nền tảng, là cơ sở chủ yếu để hình thành nên gia đình Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người mà trong đó kết hợp hài hòa lợi ích của mỗi công dân, Nhà nước và xã hội Quan hệ HNGĐ là tổng thể gắn bó của nhiều mối quan hệ Sự gắn bó đó không chỉ thể hiện ở các quan hệ nhân thân mà còn được thể hiện thông qua các quan hệ

về tài sản Nếu sự yêu thương, quan tâm chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình là điều kiện cần thì tài sản chính là điều kiện đủ để duy trì sự tồn tại và bảo vệ hạnh phúc gia đình Đó cũng chính là lý do pháp luật xây dựng những quy định để điều chỉnh về tài sản của các thành viên trong gia đình, đặc biệt là chế độ tài sản của

vợ chồng Trong chế độ tài sản của vợ chồng, TNLĐ của vợ chồng là một nội dung đáng lưu ý và phản ánh được tính đặc thù của mối quan hệ này

Luật HNGĐ 2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015, ngoài việc kế thừa Luật HNGĐ 2000 đã quy định những căn cứ mới để xác định TNLĐ của vợ chồng Về

cơ bản, quy định về TNLĐ của vợ chồng theo Luật HNGĐ 2014 đã mở rộng và hoàn thiện hơn so với Luật HNGĐ trước đó Tuy nhiên, một số quy định của Luật HNGĐ 2014 chưa rõ ràng, gây nhiều khó khăn trong quá trình áp dụng Mặt khác,

kể từ khi Luật HNGĐ 2014 có hiệu lực, chưa có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về TNLĐ của vợ chồng Do đó, việc đi sâu nghiên cứu trách nhiệm liên đới của

vợ chồng theo Luật HNGĐ 2014 sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm về góc độ lý luận và thực tiễn Ngoài ra, trong một chừng mực nhất định, việc nghiên cứu đề tài này cũng góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về TNLĐ thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng

Từ những lý do nêu trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014”

để làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ luật học là hết sức cần thiết và có tính thời

sự, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay khi ngành Tòa án đang thụ lý giải quyết các

Trang 8

vụ án ngày càng tăng về số lượng và phức tạp về nội dung

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Qua tìm hiểu, thời gian qua việc nghiên cứu về đề tài TNLĐ thực hiện nghĩa

vụ dân sự của vợ chồng đã được nhiều tác giả trong giới khoa học pháp lý nói đến qua nhiều công trình, ở các cấp độ khác nhau như:

* Dưới hình thức là giáo trình, sách chuyên khảo có:

Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2012), “giáo trình Luật Hôn nhân

và gia đình Việt Nam” đã có những phân tích, đưa ra được các vấn đề pháp lý cơ

bản về nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng nói chung cũng như về nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng đối với giao dịch do một bên vợ hoặc chồng thực hiện nói riêng Tuy nhiên như thế nào là “trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng thì chưa được nghiên cứu một cách sâu sắc, riêng biệt và chưa có sự phân tích về mặt thực tiễn áp dụng pháp luật cũng như chưa cập nhật kịp thời các quy định theo Luật HNGĐ 2014 về vấn đề này

Nguyễn Ngọc Điện (2004), Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, tập II–Các quan hệtài sản giữa vợ và chồng, NXB Trẻ Đây là cuốn sách

chuyên khảo rất công phu trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, tác giả đã bình luận rất kỹ càng, có góc nhìn sâu sắc về hầu hết các vấn đề liên quan chế độ tài sản của

vợ chồng, trong đó có các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng nói chung và TNLĐ của

vợ chồng nói riêng Tuy nhiên, vấn đề TNLĐ của vợ chồng được nói đến một cách rải rác và chưa thực sự toàn diện

Đỗ Văn Đại, Luật Hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội: Đỗ Văn Đại, Giao dịch và giải quyết tranh chấp giao dịch về quyền sử dụng đất, NXB Lao động: là cuốn sách chuyên khảo vềhợp đồng,

cuốn sách này cung cấp cái nhìn của tác giả về vấn đề hiệu lực của hợp đồng do một bên vợ hoặc chồng giao kết đối với tài sản có giá trị lớn của gia đình, là một vấn đề nổi cộm và còn nhiều tranh cãi trong xã hội thời gian gần đây

* Dưới hình thức là luận án và luận văn, có các công trình nghiên cứu:

Nguyễn Văn Cừ (2005), Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội đã nghiên

Trang 9

cứu khái quát các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình về chế độ tài sản của

vợ chồng qua các thời kỳ lịch sử, đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện Luật HNGĐ 2000 Đây là công trình nghiên cứu trên diện rộng về chế độ tài sản của vợ chồng Tuy nhiên chỉ mới bước đầu nêu sơ qua về trách nhiệm của vợ chồng đối với các giao dịch dân sự nói chung, không đề cập rõ ràng, cụ thể khái niệm trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng, chỉ mới dừng lại ở những phân tích chung và nội dung này còn hạn chế do các quy định của Luật HNGĐ 2000

Nguyễn Quỳnh Hương (2012), Xác định trách nhiệm liên đới của vợ chồng trong pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội

Công trình hệ thống những quy định của pháp luật điều chỉnh về trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng, cung cấp cái nhìn về TNLĐ của vợ chồng qua các thời kỳ phát triển Luật HNGĐ Việt Nam, đặc biệt đi sâu làm rõ những quy phạm có liên quan trong pháp Luật HNGĐ 2000 trong đó có TNLĐ đối với các giao dịch dân sự Luận văn đã nêu ra những điểm bất cập trong việc áp dụng pháp luật để xác định trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng trong thực tiễn xét xử tại Tòa án, từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật Đây là công trình nghiên cứu đầy đủ và sát với đề tài tác giả nhất đến thời điểm hiện nay Tuy nhiên, tác giả thực hiện công trình của mình dưới góc độ Luật HNGĐ 2000 và chưa nghiên cứu TNLĐ của vợ chồng phát sinh do mối quan hệ giám hộ giữa cha mẹ và con (liên đới BTTH do con gây ra theo quy định của Bộ luật dân sự)

* Dưới hình thức bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành:

Nguyễn Hải An (2004), “Trách nhiệm liên đới của vợ và chồng đối với hợp

đồng dân sự do một bên thực hiện”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 12, tr 25-27

Công trình này cũng đã nêu lên được những khó khăn vướng mắc và kiến nghị về TNLĐ của vợ chồng đối với các hợp đồng dân sự không hợp pháp Mặc dù có sự dẫn chiếu, liên hệ thực tiễn các bản án nhưng cũng chỉ mới dừng lại với việc phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật nghĩa vụ liên đới về tài sản của vợ chồng đối với giao dịch do một bên vợ hoặc chồng thực hiện ở một khía cạnh nào đó liên quan đến chế độ tài sản chung vợ chồng theo Luật HNGĐ 2000

Trang 10

Gần đây, Đỗ Văn Đại và Nguyễn Nhật Thanh (2015) “Trách nhiệm liên đới

của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014”, Tạp chí Tòa án nhân dân,

số 5, tr 13-24 đã có các phân tích và bình luận khá sâu sắc về trách nhiệm liên đới của vợ chồng Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu nghiên cứu riêng biệt, toàn diện về đề tài này

Các công trình nghiên cứu này đã ít nhiều phân tích nội dung TNLĐ thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng trong đời sống hôn nhân và sau hôn nhân của họ dựa trên pháp luật thực định và thực tiễn xét xử, đem đến cho tác giả cái nhìn tổng quan ban đầu về đề tài, đồng thời là tài liệu bổ ích để tác giả giúp tác giả hoàn thành luận văn của mình Tuy nhiên, những đề tài này được nghiên cứu khi Luật HNGĐ

2014 chưa được ban hành, do đó tác giả xin được khẳng định tính mới và tính cấp thiết của việc lựa chọn đề tài này làm nội dung nghiên cứu của luận văn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này, tác giả muốn làm sáng tỏ những quy định pháp luật và chỉ rõ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng những quy định pháp luật để giải quyết những vụ án dân sự nói chung, án HNGĐ nói riêng

về xác định TNLĐ thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng Từ đó đề xuất một số giải pháp thống nhất hoạt động xét xử tại Tòa án, góp phần hoàn thiện những quy định pháp luật về TNLĐ của vợ chồng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên đề tài có các nhiệm vụ sau:

- Làm sáng tỏ các quy định pháp luật về TNLĐ thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng

- Phân tích, đánh giá về thực trạng áp dụng các quy định pháp luật hiện hành

về TNLĐ thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng

- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm góp phần nào hạn chế những bất cập liên quan đến TNLĐ thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng

Trang 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật Việt Nam

về trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng, việc áp dụng các quy định này vào thực tiễn và giải pháp hoàn thiện cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn về vấn đề này

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu: Các quy định của BLDS 2005, BLDS 2015, Luật HNGĐ 2000 và Luật HNGĐ 2014 về TNLĐ thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng Phân tích những bất cập, vướng mắc trong quy định pháp luật

và thực tiễn áp dụng để từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hạn chế sự thiếu thống nhất trong thực tiễn xét xử tại Tòa án

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Để hoàn thành tốt luận văn tác giả đã chọn các phương pháp sau:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng, nghĩa vụ chung và riêng của vợ chồng và

sử dụng khi khái quát những vấn đề lý luận được phân tích trong luận văn

- Phương pháp so sánh được sử dụng khi tìm hiểu những quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam cũng như một số quốc gia khác nhằm tìm rađiểm giống, khác và những điểm tiến bộ trong pháp luật các nước nhằm học tập

để hoàn thiện các quy định của pháp luật trong nước

- Phương pháp liệt kê được sử dụng khi thực hiện thao tác tìm kiếm, thu thập các bản án và số liệu cụ thể từ thực tiễn xét xử của ngành Tòa án khi giải quyết các

vụ, việc HNGĐ liên quan đến đề tài nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Sau cùng là phương pháp tổng hợp được tác giả sử dụng để đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về các giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình Ngoài ra, phương pháp tổng hợp cũng xuất hiện trong toàn bộ nội dung luận văn, đặc biệt là phần kết luận mỗi chương, phương pháp này được dùng để

Trang 12

tổng kết những kiến thức đã được triển khai trước đó, giúp người đọc thâu tóm được vấn đề hướng đến

Mỗi phương pháp nghiên cứu đem lại những hiệu quả nhất định trong việc làm rõ đối tượng nghiên cứu, xác định mục đích của luận văn, thông qua đó truyền tải được những nội dung mà người viết hướng đến

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn sẽ góp phần cung cấp cái nhìn sâu và thực tế đối với TNLĐ của vợ chồng trong lĩnh vực hôn nhân gia đình Trên cơ sở nắm bắt được bản chất của các giao dịch để xác định được cụ thể hơn trách nhiệm của vợ và chồng trong việc thay mặt cho nhau thực hiện giao dịch, đồng thời đảm bảo trách nhiệm liên đới đối với bên tham gia giao dịch với vợ hoặc chồng Thông qua việc thực hiện đề tài này, tác giả mong muốn được đóng góp một phần công sức vào việc nghiên cứu hoàn thiện chế độ tài sản của vợ chồng, cách thức xác định nghĩa vụ chung và riêng của vợ chồng; đặc biệt là căn cứ để xác định TNLĐ của vợ chồng trong quá trình vợ chồng tham gia vào quá trình giao lưu dân sự

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn này có thể sử dụng để làm tài liệu tham khảo cho cơ quan, tổ chức,

cá nhân đặc biệt các Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký, Luật sư nghiên cứu,

áp dụng thực tiễn trong việc giải quyết các giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình Ngoài ra, luận văn còn có thể sử dụng để học tập nghiên cứu

Đề tài này là một công trình nghiên cứu khoa học về luật Tuy nhiên, do sự hiểu biết về pháp luật cũng như khả năng nghiên cứu pháp luật của tác giả còn rất nhiều hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tác giả rất mong nhận được sự đóng góp của quý Thầy, Cô để luận văn này được hoàn thiện hơn

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề tài gồm ba chương

Chương 1 Khái quát chung về trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân

sự của vợ chồng

Trang 13

Chương 2 Thực trạng pháp luật về trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng

Chương 3 Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luậtvề trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng

Trang 14

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM LIÊN ĐỚI THỰC

HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ CỦA VỢ CHỒNG

1.1 Khái niệm thực hiện nghĩa vụ dân sự

Thực hiện nghĩa vụ dân sự là việc người có nghĩa vụ dân sự phải làm hoặc không được làm một công việc theo một thời hạn nhất định đã được xác định trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ dân sự, qua đó thỏa mãn quyền dân sự tương ứng

của bên kia

Thông qua hành vi thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ, quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền sẽ được thỏa mãn Xét về nguồn gốc, nghĩa vụ có thể được phát sinh theo ý chí của các chủ thể hay phát sinh theo ý chí của Nhà nước thì người có nghĩa vụ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của mình trước người có quyền Việc thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ không thể được tiến hành một cách tùy tiện mà cần phải tuân theo những nguyên tắc nhất định Điều 283 BLDS 2005

quy định về nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ dân sự như sau “Bên có nghĩa vụ dân sự phải thực hiện nghĩa vụ của mình một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác, đúng cam kết, không trái pháp luật, đạo đức xã hội”

Theo nguyên tắc này, khi thực hiện nghĩa vụ dân sự, người có nghĩa vụ phải trung thực, không được lừa dối hoặc có những hành vi cản trở sự tiếp nhận nghĩa vụ đối với người có quyền Để đảm bảo lợi ích hợp pháp cho người có quyền, việc thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ phải theo tinh thần hợp tác, đúng cam kết

Về nguyên tắc, pháp luật tôn trọng cam kết, thỏa thuận của các chủ thể trong quan

hệ nghĩa vụ nhưng trên nguyên tắc những cam kết, thỏa thuận đó không được vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội

1.2 Khái niệm trách nhiệm liên đới

Theo “Từ điển tiếng Việt phổ thông”, trách nhiệm là phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả Từ đồng nghĩa với nó là “bổn phận” có nghĩa là sự

Trang 15

ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái thì phải

gánh chịu phần hậu quả [48]

Trách nhiệm trong “Từ điển từ và ngữ Việt Nam” được định nghĩa là nhiệm

vụ phải gánh vác về phía mình và sự chịu kết quả về công việc của mình trước ai

Về trách nhiệm dân sự, Điều 351 BLDS 2015 quy định trách nhiệm dân sự chỉ xuất hiện khi bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ

Như vậy, mối quan hệ giữa các căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ, nghĩa vụ và trách nhiệm dân sự được thể hiện qua sơ đồ sau:

Theo khoản 1 Điều 288 BLDS 2015 thì nghĩa vụ dân sự liên đới là nghĩa vụ

do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong

số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ BLDS 2015 không có điều khoản quy định trực tiếp về trách nhiệm dân sự liên đới, tuy nhiên từ việc tìm hiểu về trách nhiệm dân sự và nghĩa vụ ở trên có thể khái quát về khái niệm là trách nhiệm dân sự liên đới Đó là loại trách nhiệm của nhiều người có nghĩa vụ liên đới phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ liên đới

Trang 16

1.3 Trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng

1.3.1 Khái niệm

Luật HNGĐ 2000 chỉ có duy nhất một điều luật (Điều 25) quy định về chế định TNLĐ của vợ chồng mà không hề nhắc đến nghĩa vụ liên đới của vợ chồng, mặc dù về mặt lý luận, nghĩa vụ là tiền đề của trách nhiệm Tuy nhiên từ khái niệm nghĩa vụ liên đới của BLDS 2015, có thể rút ra khái niệm nghĩa vụ liên đới của vợ

chồng như sau: Nghĩa vụ liên đới của vợ chồng là nghĩa vụ mà trong đó vợ hoặc chồng có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nội dung của nghĩa vụ phát sinh trong giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình [24, tr.17]

Từ khái niệm nghĩa vụ liên đới của BLDS 2005 và Điều 25 Luật HNGĐ 2000

khái niệm trách nhiệm liên đới của vợ chồng có thể được khái quát: Trách nhiệm liên đới của vợ chồng là quy định của pháp luật về hậu quả pháp lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng buộc vợ, chồng phải cùng nhau gánh chịu những hậu quả pháp lý nhất định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bên có quyền dân sự bị xâm phạm trong giao dịch dân sự mà họ tham gia [24, tr.19] Hiểu

như vậy thì dường như Luật HNGĐ 2000 đã đồng nhất hai khái niệm nghĩa vụ liên

đới và trách nhiệm liên đới của vợ chồng

Luật HNGĐ 2000 đã được thay thế bằng Luật HNGĐ 2014 có hiệu lực từ 01/01/2015 Luật HNGĐ 2014 đã tạo ra nhiều sự thay đổi với chế định trách nhiệm liên đới của vợ chồng Điều đầu tiên, nghĩa vụ liên đới của vợ chồng không còn bị đồng nhất với trách nhiệm liên đới của vợ chồng khi Luật HNGĐ 2014 đã bổ sung Điều 37 quy định cụ thể về nghĩa vụ chung của vợ chồng Xuất phát từ cơ sở lý luận

về mối quan hệ nhân thân và tài sản của vợ chồng, nghĩa vụ chung này chính là nghĩa vụ liên đới của vợ chồng Điều 27 quy định về trách nhiệm liên đới của vợ chồng cũng có những sửa đổi mang tính chất đột phá, tác giả có thể khái quát khái

niệm trách nhiệm liên đới của vợ chồng như sau: Trách nhiệm liên đới của vợ chồng là quy định của pháp luật về việc vợ, chồng phải cùng nhau gánh chịuhậu quả pháp lý phát sinh từ các quy định về đại diện giữa vợ chồng và nghĩa vụ chung

về tài sản của vợ chồng Ngoài ra, Điều 27 của Luật HNGĐ 2014 đã khắc phục

Trang 17

được nhược điểm của Luật cũ đó là phạm vi quá hẹp, các nhà làm luật chưa dự liệu

đủ các tình huống xảy ra trong thực tế đời sống khi quy định trách nhiệm liên đới của vợ chồng chỉ phát sinh từ giao dịch dân sự hợp pháp do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình Như vậy, có thể kết luận rằng tính khái quát, tổng hợp của Luật HNGĐ 2014 cao hơn so với Luật HNGĐ 2000

Tuy nhiên, khi xem xét kỹ vị trí của Điều 27 trong Luật HNGĐ 2014 (nằm trong chương III Quan hệ giữa vợ và chồng, Mục 2 Đại diện giữa vợ và chồng), tác giả nhận thấy hai điều:

Thứ nhất, vị trí này hoàn toàn không hợp lý Trong khi đó Điều 25 Trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với giao dịch do một bên thực hiện trong Luật HNGĐ 2000 nằm trong Chương III Quan hệ giữa vợ và chồng Nghĩa là không thuộc một mục nhỏ mà hiện diện tại một chương lớn Việc sắp xếp này xét ra còn hợp lý hơn so với Luật HNGĐ 2014 Lý do là bởi Luật HNGĐ 2000 chưa có điều luật quy định về nghĩa vụ chung của vợ chồng mà nghĩa vụ này nằm tản mác trong các Điều 27, Điều 28 Đến Luật HNGĐ 2014 chúng ta đã có Điều 37 quy định về nghĩa vụ chung của vợ chồng Lẽ ra quy định về trách nhiệm liên đới phải nằm sau Điều 37 thì mới hợp lý

Thứ hai, Khoản 1 Điều 27 Luật HNGĐ 2014 có hai nội dung, vợ chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với hai loại giao dịch: Giao dịch do một bên thực hiện quy định tại Khoản 1 Điều 30 (giao dịch đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình); Giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các Điều 24, 25, 26 Trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với giao dịch đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình do một bên thực hiện đã được quy định tại Khoản 1 Điều 37 Còn loại giao dịch thứ hai lại không nằm trong các loại nghĩa vụ chung của vợ chồng Như tác giả

đã phân tích mối quan hệ giữa 3 khái niệm giao dịch dân sự, nghĩa vụ và trách nhiệm dân sự tại mục 1.1., thông qua giao dịch dân sự đã làm phát sinh nghĩa vụ Khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ sẽ làm phát sinh trách nhiệm dân sự Từ nghĩa vụ liên đới của vợ chồng sẽ làm phát

Trang 18

sinh trách nhiệm liên đới của vợ chồng Nghĩa vụ liên đới của vợ chồng (nghĩa vụ chung) đã được quy định tại Điều 37, nhưng trong Điều 37 lại không có trách nhiệm dân sự phát sinh từ giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các Điều 24,

25, 26 Lẽ ra, nghĩa vụ của vợ chồng phát sinh từ loại giao dịch này cũng phải là một trong các loại nghĩa vụ được liệt kê tại Điều 37 Và khi đó Điều luật về trách nhiệm liên đới của vợ chồng chỉ cần quy định một cách ngắn gọn như tại Khoản 2 Điều 37 như hiện nay

Điều 37 quy định cụ thể về nghĩa vụ chung của vợ chồng Xuất phát từ cơ sở

lý luận về mối quan hệ nhân thân và tài sản của vợ chồng, nghĩa vụ chung này chính

là nghĩa vụ liên đới của vợ chồng Điều 27 quy định về TNLĐ của vợ chồng cũng

có những sửa đổi mang tính chất đột phá, có thể khái quát khái niệm như sau: Trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng là quy định của pháp luật về việc vợ, chồng phải cùng nhau gánh chịu hậu quả pháp lý phát sinh từ các quy định

về đại diện giữa vợ chồng và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng Ngoài ra,

Điều 27 của Luật HNGĐ 2014 đã khắc phục được nhược điểm của Luật cũ đó là phạm vi quá hẹp, các nhà làm luật chưa dự liệu đủ các tình huống xảy ra trong thực

tế đời sống khi quy định TNLĐ của vợ chồng chỉ phát sinh từ giao dịch dân sự hợp pháp do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình

1.3.2 Các loại trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng

Từ quy định tại Điều 288 BLDS 2015, vợ và chồng có trách nhiệm ngang nhau đối với việc thực hiện nghĩa vụ liên đới, trường hợp một bên không có khả năng thực hiện thì bên thứ ba (bên có quyền) có thể yêu cầu bên còn lại thực hiện toàn bộ nghĩa vụ Khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà vợ, chồng không thực hiện đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ thì sẽ phát sinh TNLĐ với bên thứ ba Tuy nhiên, nếu sự phạm này chưa gây ra thiệt hại thì vợ, chồng có trách nhiệm thực hiện đúng nghĩa vụ Trường hợp gây ra thiệt hại cho bên thứ ba thì vợ chồng phải chịu trách nhiệm BTTH Vì vậy, tùy thuộc vào tính chất, hậu quả của sự vi phạm nghĩa vụ mà TNLĐ giữa vợ và

Trang 19

chồng được phân thành hai loại như sau:

1.3.2.1 Trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ

Với trách nhiệm này, vợ chồng phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ theo yêu cầu của bên thứ ba Nếu bên thứ ba đã yêu cầu nhưng vợ chồng vẫn không thực hiện thì

có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế buộc thực hiện nghĩa vụ Tùy thuộc vào nội dung đã được một bên vợ/chồng và bên thứ ba thỏa thuận, trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ được phân thành các loại: Trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ giao vật; Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền; Trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ phải làm hoặc không phải làm một công việc; Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự và trách nhiệm do chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dân sự

1.3.2.2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Trách nhiệm BTTH được đặt ra khi hành vi vi phạm nghĩa vụ đã được thỏa thuận trong hợp đồng (trách nhiệm BTTH theo hợp đồng) hoặc các hành vi được quy định tại Khoản 1 Điều 584 BLDS 2015 (trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng) và

đã gây ra một thiệt hại trên thực tế Như vậy, vợ chồng chỉ chịu trách nhiệm BTTH cho bên thứ ba khi vi phạm nghĩa vụ liên đới phát sinh từ các trường hợp được quy định tại Điều 27 Luật HNGĐ 2014 Xuất phát từ tính chất đặc thù của hôn nhân, nghĩa vụ này do có thể do một bên xác lập nhưng có giá trị ràng buộc cả vợ và chồng Việc xác định trách nhiệm BTTH của vợ chồng dựa trên các cơ sở: Có hành

vi trái pháp luật, lỗi, có thiệt hại xảy ra trên thực tế và có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại.

1.3.3 Cơ sở trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng

Quan hệ hôn nhân giữa một người nam và một người nữ chỉ được xác lập sau khi có sự kiện kết hôn Biểu hiện của nó là quan hệ giữa vợ và chồng bao gồm các nhóm quan hệ về nhân thân và tài sản Điều đó có nghĩa việc kết hôn là nền tảng

để từ đó các nhóm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng được thiết lập Việc kết hôn phải hợp pháp tức là có đủ điều kiện kết hôn và tiến hành đăng ký kết hôn trước có quan nhà nước có thẩm quyền mới được pháp luật Việt Nam công nhận (Điều 9

Trang 20

Luật HNGĐ 2014)

Tuy nhiên một số trường hợp nam nữ sống chung với nhau trước ngày 03/01/1987 (ngày Luật HNGĐ 1986 có hiệu lực) mà chưa đăng ký kết hôn thì pháp luật vẫn công nhận là hôn nhân thực tế, vẫn công nhận họ là vợ chồng Ngoài ra, các trường hợp nam nữ đủ điều kiện kết hôn chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, mặc dù có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán hoặc nghi lễ tôn giáo đều không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng Như vậy, việc vợ chồng có trách nhiệm chăm sóc lẫn nhau cũng như phải chăm lo và xây dựng gia đình chỉ xuất hiện sau khi có quan hệ hôn nhân Do đó, quan hệ hôn nhân hợp pháp chính là căn cứ đầu tiên dẫn đến sự tồn tại của chế định TNLĐ của vợ chồng

1.3.3.2 Hình thức sở hữu của vợ chồng

Sở hữu chung của vợ chồng được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 33 Luật HNGĐ 2014 và Điều 213 BLDS 2015 Theo đó hình thức sở hữu chung của vợ chồng là hình thức sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, trong đó vợ chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung Vợ chồng có quyền ngang nhau khi thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản chung, trong việc xác lập các giao dịch đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình cũng như chịu trách nhiệm phát sinh đối với các giao dịch này Đây là xuất phát điểm của nguyên tắc khối tài sản chung chịu trách nhiệm cho nghĩa

vụ chung, trường hợp khối tài sản chung không đủ để thanh toán mới sử dụng đến tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng khi tiến hành xác định TNLĐ của vợ chồng

1.3.3.3 Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng về quyền và nghĩa vụ đối với tài sản

Điều 17 Luật HNGĐ 2014 quy định: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật này và các luật khác có liên quan” Đây là một trong các nguyên tắc cơ bản chi phối quan hệ hôn nhân và gia đình Việt Nam, là sự cụ thể hóa nguyên tắc hiến định: “Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình” (Điều 92 Hiến Pháp 1992) Nhà nước xã hội chủ nghĩa với quan niệm tất cả

Trang 21

công dân đều bình đẳng Nhà nước là của dân, do dân, vì dân đã thiết lập nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng vì một lý do: để có sự bình đẳng giữa nam và nữ ngoài

xã hội, trước hết phải đảm bảo được sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong phạm vi gia đình Cụ thể, trong Luật HNGĐ, vợ chồng bình đẳng với nhau về các quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản

Về quyền và nghĩa vụ về tài sản, mỗi bên vợ/chồng đều có quyền thực hiện những giao dịch dân sự đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình Ngoài ra, vợ chồng còn bình đẳng trong việc gánh chịu những nghĩa vụ do pháp luật quy định và trách nhiệm phát sinh từ những nghĩa vụ đó như việc BTTH do con chưa thành niên gây

ra, cùng chịu trách nhiệm phát sinh với bên vợ/chồng còn lại khi người này tự mình thực hiện các giao dịch dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu

1.3.3.4 Mục đích của hôn nhân

Người nữ và người nam đến với nhau một cách tự nguyện và được liên kết bởi hôn nhân, đó là nền tảng đầu tiên để một gia đình ra đời.Trong quá trình hôn nhân, hai cá thể vốn độc lập nay hợp nhất với nhau trong cộng đồng yêu thương vợ chồng, tạo cho nhau một mái ấm và chờ đón sự ra đời của những đứa trẻ Lúc này, cộng đồng gia đình có thêm những thành viên mới và vợ chồng cùng giáo dục và bảo vệ những đứa con Mục đích cao đẹp nhất của hôn nhân chính là sự thủy chung trong tình yêu, tạo ra con cái và nhận lãnh trách nhiệm chung cùng xây dựng gia đình hạnh phúc Trách nhiệm có tính đặc thù này đã quy định đặc điểm cơ bản trong phương pháp điều chỉnh của Luật HNGĐ là các chủ thể được thực hiện quyền của mình nhưng phải dựa trên lợi ích của gia đình Cụ thể hơn, khi thực hiện những quyền và nghĩa vụ về HNGĐ, vợ chồng phải tính toán đến lợi ích của gia đình trước tiên, sau đó mới là của bản thân Một thành viên của gia đình không thể thực hiện một hành vi vì lợi ích của mình làm thiệt hại đến gia đình và yêu cầu gia đình phải cùng chịu trách nhiệm đối với hậu quả mà hành vi gây ra

Ngoài ra, vợ chồng cùng chung sống, cùng gánh vác công việc gia đình và phát triển khối tài sản chung trong quá trình hôn nhân Không thể chỉ nhắc đến tình yêu khi nhắc đến gia đình mà để đáp ứng những nhu cầu thực tế của gia đình, vợ chồng cần có tài sản Để tạo lập và phát triển khối tài sản chung nhằm đảm bảo đời

Trang 22

sống chung, vợ chồng còn phải có sự trao đổi, giao lưu với rất nhiều bên thứ ba Trong quá trình giao lưu dân sự đó, nhiều trường hợp một bên vợ/chồng phải tự mình thực hiện các giao dịch để đáp ứng nhu cầu của gia đình hay gây ra một thiệt hại nào đó trong quá trình thực hiện các hành vi vì lợi ích của gia đình…, tuy nhiên điều đó không có nghĩa là người vợ/chồng nói trên phải tự chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình Bởi lẽ, trách nhiệm phát sinh từ việc thực hiện hành vi vì lợi ích của gia đình trong những giới hạn luật định của một bên vợ/chồng sẽ ràng buộc bên còn lại theo quy định tại Điều 27 Luật HNGĐ 2014 Lý do là bởi vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình dựa trên nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng

1.3.4 Các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng

1.3.4.1 Theo thỏa thuận của vợ chồng

TNLĐ của vợ chồng sẽ phát sinh dựa trên thỏa thuận của vợ chồng trong các

trường hợp sau:

Thứ nhất, bên còn lại tự nguyện chịu trách nhiệm chung đối với nghĩa vụ tài sản riêng của một bên: đây vốn là trách nhiệm riêng của một bên, tuy nhiên pháp luật đã tôn trọng sự tự do về mặt ý chí cũng như quyền tự do thỏa thuận của các bên trong trường hợp bên vợ/chồng còn lại đồng ý cùng chịu TNLĐ đối với nghĩa vụ tài sản riêng của người vợ/chồng của mình

Thứ hai, giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập: điều kiện cần thiết làm phát sinh TNLĐ trong trường hợp này là “vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập” Đây là một trong cách trường hợp xác định TNLĐ của vợ chồng được quy định tại Khoản 1 Điều 37 Luật HNGĐ Trên cơ sở nguyên tắc “cá nhân xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận” của pháp luật dân sự, giao dịch được xác lập phải có sự thống nhất của vợ chồng, không phân biệt sau khi xác lập vợ chồng có cùng tham gia vào giao dịch hay không Giao dịch cùng được xác lập bởi vợ chồng, do đó phát sinh nghĩa vụ chung đối với vợ chồng, và trong trường hợp vợ chồng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ này, họ sẽ cùng phải chịu TNLĐ đối với bên thứ ba

Trang 23

Thứ ba, giao dịch do một bên là đại diện của bên còn lại thực hiện (trường hợp tài sản chung được đưa vào kinh doanh) nghĩa là một bên vợ/chồng không tham gia kinh doanh trao cho người trực tiếp tham gia vào việc kinh doanh quyền tự do định đoạt tài sản chung khi thực hiện hoạt động kinh doanh của mình Việc trao quyền này được thực hiện thông qua lập một thỏa thuận bằng văn bản giữa vợ và chồng Đồng thời bên vợ/chồng không tham gia kinh doanh sẽ chịu TNLĐ cùng với người vợ/chồng của mình (khoản 2 Điều 25, khoản 1 Điều 27 và Điều 36 Luật HNGĐ 2014)

Thứ tư, đại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng: Vợ chồng được ủy quyền trong việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch dân sự mà bắt buộc phải có sự đồng ý của cả vợ và chồng theo quy định của pháp luật Khi bên vợ/chồng được ủy quyền thực hiện giao dịch theo đúng nội dung được ủy quyền thì nghĩa vụ phát sinh

sẽ ràng buộc cả vợ và chồng Quy định này phù hợp với tính chất đặc thù của hôn nhân, đó là vợ chồng phải cùng nhau xây dựng và bảo vệ cuộc sống gia đình Khi thực hiện giao dịch, bên vợ/chồng được ủy quyền phải cân nhắc việc có nên hay không thực hiện giao dịch, giao dịch có mang đến rủi ro hay ảnh hưởng đến quyền lợi của bên vợ/chồng còn lại, của gia đình hay không

1.3.4.2 Theo quy định của pháp luật

TNLĐ của vợ chồng sẽ phát sinh theo quy định của pháp luật trong các trường hợp sau:

Thứ nhất, các trường hợp BTTH mà pháp luật quy định vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm: vợ chồng chịu TNLĐ bồi thường thiệt hại khi một bên vợ/chồng hoặc cả vợ và chồng có hành vi trái pháp luật, hành vi trái pháp luật này gây ra thiệt hại trên thực tế, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra; đồng thời thiệt hại đó ràng buộc trách nhiệm cả vợ chồng theo quy định của pháp luật Ví dụ về việc vợ chồng liên đới bồi thường thiệt hại trong hợp đồng: một bên vợ/chồng thỏa thuận với bên thứ ba sẽ bán tài sản chung (không phải là tài sản

thuộc khoản 2 Điều 35 Luật HNGĐ 2014 [30]) để phục vụ nhu cầu thiết yếu của

gia đình nhưng sau đó lại không thực hiện và việc không thực hiện này gây ra hậu quả về tài sản cho bên thứ ba (bên thứ ba đã hứa bán tài sản này cho người khác và

Trang 24

đã nhận tiền đặt cọc, việc bên vợ/chồng nói trên không thực hiện thỏa thuận khiến bên thứ ba bị phạt cọc) Theo quy định tại Khoản 2 Điều 37 Luật HNGĐ 2014 thì đây là nghĩa vụ chung của vợ chồng và vợ chồng phải liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại xảy ra do việc không thực hiện nghĩa vụ chung này Ví dụ về việc vợ chồng liên đới bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: vật nuôi do vợ chồng nuôi cắn bên thứ ba gây thiệt hại về sức khỏe, theo quy định tại Khoản 1 Điều 603 BLDS

2015 thì chủ sở hữu của súc vật phải bồi thường Vợ chồng sẽ liên đới chịu trách nhiệm với bên thứ ba trong trường hợp này

Thứ hai, BTTH do con chưa thành niên gây ra Cụ thể [10]:

Con chưa đủ 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con có tài sản riêng thì dùng tài sản riêng của con để bồi thường Ngoại lệ của trường hợp này là việc con chưa đủ 15 tuổi trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp mà gây thiệt hại thì trường học, bệnh viện, pháp nhân khác đó chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Con từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi gây thiệt hại phải bồi thường bằng tài sản của mình, nếu không đủ để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của cha mẹ

Trường hợp cha mẹ là người giám hộ của con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự: thực hiện bồi thường bằng tài sản của con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, nếu con không có tài sản hoặc tài sản không đủ để bồi thường thì dùng tài sản của cha mẹ trừ trường hợp cha mẹ chứng minh mình không có lỗi trong việc giám hộ

Thứ ba, đại diện đương nhiên giữa vợ chồng: Một bên vợ/chồng là người giám hộ cho bên vợ/chồng bị mất năng lực hành vi dân sự, đại diện theo pháp luật cho bên vợ/chồng bị hạn chế năng lực hành vi dân sự: Khoản 3 Điều 24 Luật HNGĐ 2014 quy định: Vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành

vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật của người đó BLDS 2015 cũng có các quy định tương tự tại Khoản

Trang 25

4 Điều 136 và Khoản 1 Điều 53 Theo quy định tại khoản 1 Điều 59 BLDS 2015 khi thực hiện vai trò giám hộ, bên vợ/chồng là người giám hộ có quyền quản lý và định đoạt phần tài sản chung, tài sản riêng của người được giám hộ, trừ một số trường hợp phải chịu sự giám sát của người giám sát việc giám hộ Mọi giao dịch liên quan đến tài sản của bên vợ/chồng bị mất năng lực hành vi dân sự phải được sự đồng ý của đại diện theo pháp luật (trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu hàng ngày), đồng thời người đại diện có quyền xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện và cùng chịu trách nhiệm liên đới với các hậu quả pháp lý phát sinh từ giao dịch Điểm chung của việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự của bên vợ/chồng là giám hộ/đại diện theo pháp luật phải vì nhu cầu, lợi ích của người được giám hộ/đại diện

Thứ tư, giao dịch do một bên thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình Xuất phát từ nhu cầu xây dựng gia đình và trách nhiệm của vợ chồng khi duy trì đời sống gia đình, vợ chồng có quyền cũng như nghĩa vụ thực hiện giao dịch với bên thứ ba nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình (theo khoản1 Điều 30 Luật HNGĐ 2014) Để tránh trường hợp một bên vợ/chồng bỏ bê gia đình khiến bên còn lại phải cáng đáng nhưng không thực hiện được các giao dịch phục vụ cho mục đích chung của gia đình hoặc rủi ro phải tự chịu trách nhiệm khi liều lĩnh quyết định tự mình thực hiện giao dịch

Thứ năm, thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản chung Xuất phát từ nguyên tắc vợ chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc thỏa thuận chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung đồng thời cùng nhau gánh chịu trách nhiệm phát sinh từ việc thực hiện quyền sở hữu đó Theo quy định tại Điều 35 Luật HNGĐ 2014 mọi giao dịch liên quan đến tài sản chung đều cần sự thỏa thuận của vợ chồng, sự thỏa thuận này phải được thể hiện bằng văn bản đối với một số loại tài sản chung Nếu không có sự thỏa thuận này thì giao dịch sẽ không có hiệu lực và nghĩa vụ phát sinh

là nghĩa vụ riêng

Thứ sáu, sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc

để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình Về nguyên tắc, quyền thực hiện các

Trang 26

giao dịch liên quan đến tài sản riêng và nghĩa vụ phát sinh từ các giao dịch đó là quyền và nghĩa vụ riêng của bên vợ/chồng sở hữu tài sản đó Tuy nhiên, nguyên tắc này có ngoại lệ, ngoại lệ này xuất phát từ mục tiêu bảo vệ sự tồn tại bền vững và đời sống chung của gia đình, đảm bảo sự công bằng đối với vợ chồng trong quá trình chung sống, cụ thể đối với việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình, trách nhiệm phát sinh từ các hoạt động này ràng buộc cả vợ và chồng Một khi một bên vợ/chồng đã dụng tài sản riêng phục vụ cho tài sản chung hoặc tạo ra thu nhập chính cho gia đình, nghĩa là đối tượng được lợi là gia đình (hay cụ thể là vợ chồng) thì gia đình phải chịu những rủi ro phát sinh nếu có xuất phát từ các hoạt động nói trên

Thứ bảy, các nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan Ví dụ: Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa ông bà và cháu Khoản 1 Điều 113 Luật HNGĐ 2014 quy định ông bà không sống chung với cháu có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người cấp dưỡng theo quy định tại Điều 112 Luật HNGĐ 2014 Nghĩa vụ này chưa được ghi nhận tại Điều 37 Luật HNGĐ 2014, tuy nhiên về mặt lý luận, đây phải là một trong các nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng (ở đây là ông bà) Nghĩa vụ này có xuất phát điểm là quan hệ hôn nhân hợp pháp và hình thức sở hữu chung hợp nhất trong chế độ tài sản pháp định của vợ chồng

1.3.5 Nguyên tắc thực hiện trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân

sự của vợ chồng

Kết hợp quy định tại khoản 2 Điều 30 [30] và Khoản 2 Điều 33 [30] Luật

HNGĐ 2014 có thể suy đoán nguyên tắc thực hiện TNLĐ của vợ chồng như sau: Khối tài sản chung được sử dụng để thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng, trường hợp tài sản chung không đủ để thực hiện hết trách nhiệm thì các khối tài sản riêng được sử dụng để thanh toán phần nghĩa vụ còn lại Do trách nhiệm của vợ chồng là trách nhiệm liên đới nên căn cứ vào quy định tại Điều 288 BLDS 2015, bên thứ ba

có quyền yêu cầu vợ hoặc chồng thanh toán toàn bộ phần nghĩa vụ còn lại, xuất phát từ nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong hôn nhân, phần nghĩa vụ nên được xác

Trang 27

định mỗi bên chịu một nửa, tuy nhiên trường hợp một bên vợ/chồng không có tài sản hoặc tài sản không đủ để thực hiện trách nhiệm thì người còn lại phải thanh toán phần thiếu đó Luật HNGĐ 2014 chưa có quy định cụ thể về nguyên tắc thực hiện trách nhiệm liên đới của vợ chồng, do đó không có quy định về việc bên vợ/chồng

đã thanh toán phần nghĩa vụ còn lại có quyền yêu cầu hoàn trả hay không Tác giả cho rằng không nên quy định quyền này xuất phát từ ý nghĩa của hôn nhân là sự yêu thương và giúp đỡ giữa vợ chồng cũng như vợ chồng cần có trách nhiệm trong việc xây dựng và gìn giữ gia đình

1.3.6 Ý nghĩa của trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng

TNLĐ của vợ chồng không phải chỉ mới xuất hiện trong Luật HNGĐ 2014

mà đã xuất hiện trong pháp luật HNGĐ các giai đoạn trước, thể hiện nhận thức của các nhà làm luật về tầm quan trọng của việc xác định nghĩa vụ chung về tài sản cũng như trách nhiệm cùng gánh chịu hậu quả pháp lý khi vợ chồng thực hiện không đúng thời hạn, thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ chung đó Việc xây dựng chế định này không chỉ đáp ứng nhu cầu trong thực tế cuộc sống của người dân mà còn góp phần hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình theo hướng hiện đại, công bằng, văn minh

Bảo vệ giá trị của hôn nhân hợp pháp, sự tồn tại của gia đình, đảm bảo quyền

và lợi ích hợp pháp của bên vợ, chồng còn lại trong trường hợp chỉ một bên vợ/chồng tham gia xác lập, thực hiện nghĩa vụ liên đới vì nhu cầu của gia đình: TNLĐ của vợ chồng chỉ phát sinh dựa đối với các cặp vợ chồng có hôn nhân được pháp luật thừa nhận (tương tự đối với các trường hợp hôn nhân thực tế được quy định tại Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 09/06/2000 về việc thi hành Luật HNGĐ

2000 và Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị quyết 35/2000/QH10) TNLĐ có ý nghĩa khẳng định

và tôn vinh giá trị của việc kết hôn hợp pháp, từ đó định hướng cho giới trẻ trong hoàn cảnh ngày càng có nhiều cặp đôi lựa chọn việc sống chung như vợ chồng mà không kết hôn Việc sống chung không hôn thú này sẽ gây ra nhiều hệ lụy tiêu cực

Trang 28

cho xã hội cũng như chính bản thân những người trẻ này Đồng thời, TNLĐ của vợ chồng còn góp phần bảo vệ sự tồn tại của gia đình trong trường hợp một bên vợ/chồng bỏ bê, không quan tâm, chăm sóc, xây dựng gia đình chung Chế định cho bên vợ /chồng có mong muốn xây dựng và duy trì gia đình quyền được thực hiện các giao dịch dân sự đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình mà không cần sự đồng

ý của bên còn lại đồng thời buộc bên vợ/chồng bỏ bê gia đình phải cùng gánh chịu trách nhiệm trong những trường hợp luật định Có như vậy thì quyền và lợi ích hợp pháp của người vợ/chồng chăm lo cho gia đình được đảm bảo, tiếp thêm nghị lực để

họ chèo lái con thuyền gia đình vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống Góp phần khẳng định vấn đề bình đẳng giới trong gia đình: Điều 17 Luật HNGĐ 2014 khẳng định vợ chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình Luật HNGĐ 2014 không chỉ quy định vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản chung, trong việc tự mình thực hiện các giao dịch đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình trừ một số trường hợp đặc thù mà còn ràng buộc trách nhiệm của vợ chồng trong các nghĩa vụ chung trong quá trình xây dựng cuộc sống gia đình Nghiên cứu lịch sử phát triển của pháp luật HNGĐ Việt Nam, ta sẽ nhận thấy vai trò, vị trí của người phụ nữ - người vợ ngày càng được nâng cao, không còn “vô giá trị” mà ngang bằng với người đàn ông – người chồng trong gia đình, đó là khi bình đẳng giới được nhìn nhận và khẳng định

Đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba ngay tình, duy trì trật tự

và sự ổn định trong giao lưu dân sự: nếu không có các quy định cụ thể về trách nhiệm liên đới của vợ chồng, trường hợp bên thứ ba ngay tình xác lập các giao dịch dân sự với một bên vợ/chồng, mục đích giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, trách nhiệm phát sinh từ các giao dịch này là trách nhiệm riêng, khối tài sản chịu trách nhiệm cũng là khối tài sản riêng Nếu bên vợ/chồng nói trên không có tài sản riêng, hoặc không thừa nhận có tài sản riêng trong khối tài sản hiện hữu của vợ chồng thì bên thứ ba ngay tình chịu rủi ro Trong khi nếu vợ chồng phải cùng gánh chịu trách nhiệm thì khối tài sản chịu trách nhiệm là khối tài sản chung, nếu tài sản chung không đủ để thực hiện nghĩa vụ thì sử dụng tới tài sản riêng của

Trang 29

vợ, chồng, người này không có đủ thì có thể yêu cầu người kia thanh toán hết nghĩa

vụ Có như vậy, quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba ngay tình, trật tự và sự ổn định trong giao lưu dân sự mới được đảm bảo

1.4 Sự phát triển của pháp luật Việt nam về trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng

1.4.1 Luật cổ và tục lệ

Ở mỗi triều đại phong kiến vấn đề quyền và nghĩa vụ tài sản vợ chồng được

đề cập ở những mức độ và hình thành những nguyên tắc xác định khác nhau Tuy nhiên, nhìn chung những quy định về TNLĐ giữa vợ và chồng dưới thời kỳ này có thể chia làm hai giai đoạn

Từ năm 179 TCN đến triều đại nhà Hậu Lê (năm 1428) Dưới sự cai trị của các triều đại phong kiến Phương Bắc, thêm vào đó là chính sách đồng hóa, pháp luật Việt Nam trong thời kỳ từ năm 179 TCN đến thế kỷ thứ 10 đều là sự sao chép pháp luật của các quốc gia Trung Hoa cổ đại Vấn đề quyền và nghĩa vụ về tài sản giữa vợ chồng trong giai đoạn này cũng chịu sự điều chỉnh của pháp luật Trung Hoa lúc bấy giờ vốn chịu sự ảnh hưởng vô cùng lớn của tư tưởng Nho giáo Cụ thể, trong mối quan hệ giữa vợ và chồng thì vợ - chồng phải hòa thuận, phu xướng thì phụ phải tùy Do đó, người chồng có toàn quyền trong việc quyết định những vấn

đề liên quan đến gia đình và thay mặt gia đình chịu trách nhiệm đối với những quyết định đó Tóm lại, trong giai đoạn này chưa thể có sự xuất hiện của khái niệm TNLĐ giữa vợ và chồng

Thời kỳ độc lập ổn định của nhà nước ta bắt đầu với sự ra đời của nhà Ngô (năm 938), khép lại hơn 10 thế kỷ Bắc thuộc, và cũng chính từ giai đoạn này nhà nước phong kiến đã ban hành những văn bản pháp luật đầu tiên mở đầu cho lịch sử pháp luật thành văn của dân tộc Cũng như pháp luật của các nước Châu Á lúc bấy giờ, Cổ luật Việt Nam không có nhiều quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng Bởi vì có một thực tế là các quyền, nghĩa vụ tài sản cũng như hầu hết các quyền, nghĩa vụ khác gần như đã được sắp định sẵn trong lễ nghĩa Nho giáo, người chồng là chủ gia đình có quyền quản lý toàn bộ tài sản của gia đình - coi như một khối tài sản chung không phân biệt là tài sản được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân

Trang 30

hay là tài sản riêng của người chồng cũng như của người vợ Nhìn chung, do quan niệm trọng nam khinh nữ nên quyền lợi của người phụ nữ trong việc đưa ra những quyết định liên quan đến gia đình, đặc biệt là liên quan đến tài sản là rất hạn chế

Như vậy, thời kỳ trước triều đại nhà Hậu Lê (năm 1428) do những đặc điểm lịch sử đặc thù, chế định TNLĐ giữa vợ và chồng chưa được đặt ra

Từ triều đại nhà Lê (năm 1428) đến thời kỳ Pháp thuộc (năm 1858) Trong suốt 360 năm dài tồn tại, triều đại nhà Lê đã để lại cho đời sau những thành tựu to lớn trong lĩnh vực pháp luật, đặc biệt là pháp luật về HNGĐ Trong số các thành tựu

đó phải kể đến Quốc triều hình luật (hay còn gọi là bộ Lê Triều hình luật hay Bộ luật Hồng Đức) – Bộ luật quan trọng, chính thống nhất của Triều Lê Đây cũng chính là bộ luật cổ xưa nhất mà chúng ta còn lưu giữ được đầy đủ cho đến ngày nay Về chế độ tài sản của vợ chồng, chế độ tài sản được áp dụng trong Bộ Luật Hồng Đức là chế độ cộng đồng tài sản, có nghĩa là toàn bộ tài sản mà vợ, chồng có được từ trước khi kết hôn hoặc do vợ chồng tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng, theo đó thì toàn bộ tài sản mà vợ chồng tạo dựng được trong hôn nhân được hợp nhất thành một khối và phục vụ cho mục đích nuôi dưỡng, giáo dục con cái Do đó, có thể kết luận rằng tuy Bộ luật Hồng Đức đã

có những quy định bước đầu về quyền và nghĩa vụ tài sản giữa vợ và chồng, đồng thời chế định TNLĐ giữa vợ và chồng đã manh nha xuất hiện trong giai đoạn này

Đến triều Nguyễn, nhà Nguyễn đã ban hành bộ “Hoàng Việt Luật Lệ” vào năm 1815 dưới thời Gia Long nên thường được gọi là “Bộ luật Gia Long” Cũng như Bộ luật Hồng Đức, lĩnh vực hôn nhân gia đình trong Bộ luật Gia Long bảo vệ chế độ gia đình gia trưởng phong kiến và được xây dựng trên nguyên tắc: Hôn nhân không tự do, nhiều vợ; đề cao quyền của người cha, người chồng, người con trưởng trong gia đình Về quyền và nghĩa vụ tài sản giữa vợ và chồng, do pháp luật nhà Nguyễn không có điều nào quy định về tài sản vợ chồng nên phải theo đường lối lễ nghĩa chung, nghĩa là vợ và các con không có tài sản riêng và không có quyền tham gia định đoạt đối với tài sản gia đình Những quyền về tài sản dành cho người vợ hết sức tiến bộ được quy định trong luật Hồng Đức đã bị phủ nhận hoàn toàn Người vợ không có quyền định đoạt đối với tài sản chung của vợ chồng, đây là một

Trang 31

bước lùi của pháp luật HNGĐ trong thời kỳ đó, chế định TNLĐ của vợ chồng manh nha xuất hiện trong giai đoạn trước đã bị triệt tiêu

1.4.2 Luật cận đại (từ năm 1858 đến trước Cách mạng tháng 8/1945)

Năm 1858 đánh dấu sự kiện Pháp nổ tiếng súng đầu tiên xâm lược nước ta tại bán đảo Sơn Trà, bắt đầu 80 năm nước ra bị kìm kẹp dưới ách thống trị của thực dân Pháp Thực hiện chính sách thâm độc “Chia để trị” nhằm cai trị hoàn toàn nước

ta, Pháp chia nước ta ra thành ba miền: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và mỗi miền chịu sự điều chỉnh của các bộ luật riêng Cụ thể, ở Bắc Kỳ áp dụng dân luật Bắc

1931, Trung Kỳ áp dụng bộ dân luật Trung 1936, còn đối với Nam Kỳ áp dụng tập

dân luật giản yếu 1883 và những quy định của bộ luật Gia Long [50, tr.59-63]

Pháp luật HNGĐ thời kỳ này là sự kết hợp giữa các tục lệ cổ trong xã hội phong kiến và mô phỏng mô hình của BLDS Pháp 1804 Theo đó, người vợ vẫn không có

sự bình đẳng với người chồng về quyền và nghĩa vụ, quan niệm “chồng chúa vợ tôi”, “phu xướng phụ tùy” vẫn tồn tại, người vợ phải phụ thuộc vào chồng trong mọi phương diện, trong đó có tài sản chung trong gia đình

Qua việc tìm hiểu các bộ luật dân sự trong thời kỳ này, có thể thấy rằng các quy định về TNLĐ vẫn có tuy nhiên rất ít và còn sơ sài Lý do cho điều này là theo dòng chảy lịch sử, địa vị của người vợ trong gia đình trong chế độ phong kiến ngày càng thấp, tuy nhiên vì những yêu cầu trong việc vợ chồng phải cùng xây dựng và phát triển gia đình, người vợ vẫn giữ được một số quyền về tài sản và người chồng phải chịu trách nhiệm cùng với người vợ trong trường hợp người vợ tự mình thực hiện giao dịch vì nhu cầu của gia đình

1.4.3 Luật hiện đại (Từ sau Cách mạng tháng 8/1945 đến nay)

1.4.3.1 Từ tháng 8/1945 đến năm 1954

Do chưa ban hành pháp luật mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh 10/10/1945 cho phép áp dụng có chọn lọc các quy định trong các bộ luật cũ như DLGYNK, DLBK và DLTK với nguyên tắc không làm phương hại đến an ninh của chính thể và quyền lợi của nhân dân Tiếp theo đó, Hiến pháp 1946 ra đời đã ghi nhận “đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9) và

“người đàn bà có chồng có toàn năng lực về mặt Hộ” (Điều 6) Trước những biến

Trang 32

chuyển đó, Nhà nước ta đã nhanh chóng ban hành 2 Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 và Sắc lệnh số 159/SL ngày 17/11/1950 nhằm điều chỉnh kịp thời các quan hệ hôn nhân và gia đình Một trong những điểm thay đổi chính mang tính chất tiến bộ được quy định trong các Sắc lệnh này là việc thực hiện quyền bình đẳng giữa vợ và chồng, trong đó có quyền bình đẳng về tài sản giữa vợ và chồng.Chúng

ta có thể thấy điều đó qua những quy định tại Điều 5 và 6 (Sắc lệnh 97/SL) như sau:

“Thực hiện nam nữ bình đẳng trong gia đình, người đàn bà có chồng có toàn năng lực thực hiện mọi hành vi dân sự không cần phải được chồng cho phép như trước nữa” Như vậy là trong giai đoạn này, chế định TNLĐ của vợ chồng đã có đủ điều kiện để phát triển, tuy nhiên do đặc điểm lịch sử giai đoạn này nên vẫn chỉ nằm trong các quy định về quyền và nghĩa vụ về tài sản giữa vợ và chồng một các chung chung mà chưa được quy định cụ thể

1.4.3.2 Từ năm 1945 đến năm 1986

Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 đánh dấu cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta đã hoàn toàn thắng lợi, nhưng theo Hiệp định Giơnevơ đất nước vẫn tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị hoàn toàn khác nhau Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và bước vào thời kỳ quá độ tiến lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội Miền Nam thuộc chế độ Việt nam cộng hòa Bởi vậy, quan hệ HNGĐ trong thời kỳ này được điều chỉnh bởi những văn bản pháp luật khác nhau giữa hai miền

Chế độ tài sản của vợ chồng ở Miền Nam dưới thời kỳ Mỹ - Ngụy tạm chiếm (1954 – 1975)

Từ cuối năm 1954 đến tháng 03/1975, chính phủ Việt Nam cộng hòa đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để thể hiện chính sách thống trị ở Miền Nam, lĩnh vực HNGĐ được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật sau: Luật Gia đình ngày 02/01/1959 dưới chế độ Ngô Đình Diệm; Sắc luật 15/64 ngày 23/07/1964 dưới chế

độ Nguyễn Khánh và bộ dân luật 1972 do Nguyễn Văn Thiệu tổng thống chính quyền Ngụy Sài Gòn ký ngày 20/12/1972 Trong đó, vấn đề tài sản của vợ chồng luôn được các văn bản pháp luật đề cập đến.

Trang 33

- Luật Gia đình ngày 02/01/1959

Điều 43 Luật Gia đình 1959 khẳng định: người vợ có đủ năng lực pháp lý và được xếp ngang hàng với người chồng về mọi phương diện Người vợ không còn bị coi là “vô năng lực” sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng đã được xóa bỏ, kể cả trong quan hệ tài sản Cụ thể, trong việc thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản chung của

vợ chồng thì: “vợ, chồng cùng quản trị khối tài sản cộng đồng” Việc mua bán, cầm

cố, nhượng cho thuê các bất động sản, trái phiếu, cổ phần thuộc tài sản chung đều phải có sự ưng thuận bằng chữ ký của cả hai vợ chồng (Điều 49 Luật Gia đình 1959)

Quy định về sự bình đẳng giữa vợ và chồng đã cho phép sự xuất hiện của nghĩa vụ chung giữa vợ và chồng về tài sản Theo Điều 54 Luật Gia đình 1959 quy định cụ thể tài sản chung của vợ chồng phải gánh chịu: Nợ của vợ hay chồng đã vay

từ trước khi kết hôn; Những nợ của hai vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và những

nợ do hành vi trái pháp luật của vợ hay chồng gây ra

Trong việc sử dụng tài sản để đáp ứng nhu cầu hàng ngày của gia đình, vợ chồng có quyền ngang nhau, chịu trách nhiệm như nhau đối với hành vi của một bên với tư cách là đại điện cho gia đình Vợ và chồng cùng chịu TNLĐ với hành vi của một bên Như vậy, chế định TNLĐ đã được quy định một cách cụ thể trong Luật Gia đình 1959 Tuy nhiên, khi sự bình đẳng giữa vợ và chồng vẫn chưa được thực hiện một cách hiệu quả trên thực tế, sự liên đới này dường như chỉ hoàn toàn đúng trong trường hợp đối với tài sản riêng của vợ, ở đó, người vợ sẽ có toàn quyền đối với việc định đoạt tài sản riêng của mình, còn đối với tài sản chung, người vợ chỉ có quyền định đoạt khi “Chồng không có năng lực pháp luật, thất tung, đi xa lâu ngày hay bị cản trở vì một duyên cớ chính đáng nào khác, người vợ sẽ thay thế trong quyền quản trị” (Điều 53 SL 15/64 và Điều 150 Bộ dân luật 1972)

- Sắc lệnh 15/64 và Bộ Dân luật 1972

Hai văn bản pháp luật này không còn áp dụng chế độ cộng đồng tài sản đối với tài sản của vợ chồng (trong trường hợp vợ chồng không lập hôn ước) mà thay vào đó là chế độ cộng đồng động sản và tạo sản Về quan hệ giữa vợ và chồng trong gia đình, hai văn bản này một lần nữa xóa bỏ sự bình đẳng giữa vợ và chồng và đặt

Trang 34

người vợ vào tình trạng “vô năng lực” Cụ thể, Điều 42 SL 15/64 và Điều 137 Bộ Dân luật 1972 quy định: người chồng là gia trưởng, là người chủ gia đình và hành xử quyền gia trưởng theo quyền lợi của gia đình và con cái Người chồng có quyền quản

lý tài sản chung như chủ sở hữu duy nhất Đồng thời, người chồng có quyền quản lý tài sản riêng của người vợ trong khi họ toàn quyền sở hữu tài sản riêng của mình Tuy nhiên, đối với việc định đoạt đối với bất động sản dù là tài sản chung hay riêng đều phải có sự ưng thuận của cả hai vợ chồng (Điều 154 Bộ dân luật 1972) Đồng thời, Điều 155 Bộ Dân luật 1972 quy định “trong trường hợp cần có sự ưng thuận của hai

vợ chồng nếu người này không thể tỏ ý được hoặc khước từ không có lý do chính đáng, người phối ngẫu sẽ có thể xin Tòa cho miễn sự ưng thuận này” Theo điều này thì người chồng hay người vợ không thể lợi dụng vị trí của mình trong gia đình để cản trởngười kia thực hiện hành vi có liên quan đến tài sản trong gia đình mà đòi hỏi phải có sự ưng thuận giữa hai người nếu không có lý do chính đáng

Trong việc thanh toán các khoản nợ cho người thứ ba cũng được bộ Dân luật1972 đề cập đến tại Điều 160, khoản 2 của Điều này quy định khối cộng đồng tài sản chỉ được thanh toán nợ khi “Những nợ của vợ hay chồng kết ước trong phạm

vi quyền hạn của mỗi người trong thời kỳ hôn thú” Vậy là, nếu vợ hoặc chồng mà kết ước vượt quá phạm vi của mình trong thời kỳ hôn thú mà gây thiệt hại cho người thứ ba thì phải sử dụng tài sản riêng của mình để bồi thường

Như vậy, mặc dù đã có những Luật Gia đình 1959 đã có những quy định ban đầu điều chỉnh quyền và nghĩa vụ tài sản giữa vợ chồng, tuy nhiên, SL 15/64 và Bộ Dân luật 1972 một lần nữa đặt vợ và chồng vào tình trạng không bình đẳng, người chồng có toàn quyền quản trị tài sản chung Đây là nguyên nhân khiến chế định TNLĐ giữa vợ và chồng chưa phát triển một cách toàn diện

Luật HN&GĐ 1959 ở Miền Bắc

Ngày 31/12/1959 Hiến pháp của Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cũng được Quốc hội thông qua, trở thành cơ sở vững chắc cho việc xây dựng một chế độ hôn nhân gia đình mới Sau một thời gian soạn thảo, đến ngày 29/12/1959 Luật HNGĐ đầu tiên của nước ta được Quốc hội thông qua.Nó đã đánh dấu một bước phát triển tiến bộ của pháp luật HNGĐ Việt Nam

Trang 35

Tại chương III của Luật HNGĐ 1959 quy định vợ chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới Như vậy, Luật HNGĐ 1959 chỉ quy định một chế độ tài sản vợ chồng Đó là tài sản chung hợp nhất mà không phân định thành tài sản riêng và tài sản chung, tất cả tài sản mà vợ chồng có được trước thờikỳ hôn nhân và những tài sản vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng (chế độ cộng đồng toàn sản) Vợ chồng có quyền sở hữu, sử dụng và định đoạt như nhau Điều đó cho phép nghĩ rằng các nghĩa vụ tài sản; bất kể do vợ hay chồng xác lập và bất kể được xác lập trước hay sau khi kết hôn, đều là nghĩa vụ chung của vợ chồng

và ràng buộc khối tài sản chung mà vợ và chồng có quyền sở hữu Tuy nhiên, Luật HNGĐ 1959 quy định về quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng còn quá cô đọng, khái quát, chưa xác định nguyên tắc giải quyết trong trường hợp nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng không được thực hiện

1.4.3.3 Từ năm 1986 đến năm 2000

Tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa VI ngày 18/12/1980 bản Hiến Pháp mới của nhà nước ta cũng được Quốc Hội thông qua cùng với việc mở rộng thêm nhiều

quyền mới cho công dân [49, tr.69-73] Luật HNGĐ 1959 trở nên không còn phù

hợp nữa, mà đặc biệt là chế độ tài sản của vợ chồng cần phải có sự ghi nhận mới cho phù hợp với thực tế Theo đó, chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ cộng đồng tạo sản và cho phép vợ chồng có tài sản riêng Về quyền đối với tài sản chung, Luật HNGĐ 1986 quy định vợ và chồng bình đẳng trong việc sở hữu tài sản chung Cụ thể, tài sản chung được sử dụng nhằm mục đích bảo đảm những nhu cầu của gia đình; vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung; việc mua, bán, trao đổi, tặng cho, vay, mượn và những giao dịch khác có quan hệ đến tài sản

có giá trị lớn thì phải được sự thỏa thuận của hai vợ chồng (Điều 15) Tương tự như Luật HNGĐ 1959, Luật HNGĐ 1986 cũng cho phép nghĩ vợ và chồng có nghĩa vụ chung đối với những nghĩa vụ tài sản do vợ hoặc chồng xác lập trước hoặc trong thời kỳ hôn nhân với mục đích bảo đảm những nhu cầu của gia đình Tuy nhiên, doLuật HNGĐ 1986 thừa nhận vợ chồng có thể có tài sản riêng, do đó, nghĩa vụ chung này được đảm bảo không chỉ bằng khối tài sản chung mà còn bằng tài sản

Trang 36

riêng của vợ và chồng trong trường hợp tài sản chung không đủ để thanh toán nghĩa

vụ Cũng tương tự Luật HNGĐ 1959, Luật HNGĐ 1986 cũng chưa xác định nguyên tắc xác định trách nhiêm của vợ và chồng trong trường hợp giao dịch dân sự do một bên vợ, chồng xác lập, thực hiện

1.4.3.4 Từ năm 2000 đến trước năm 2014

Sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam cũng như quá trình toàn cầu hóa ngày càng phủ sóng mạnh mẽ khiến Luật HNGĐ 1986 nhanh chóng thể hiện sự lạc hậu Chính vì vậy đã dẫn đến sự ra đời của Luật HNGĐ 2000

Luật HNGĐ 2000 tiếp tục thiết lập chế động cộng đồng tạo sản cho chế độ tài sản của vợ chồng, đồng thời khẳng định quan điểm về quyền bình đẳng của vợ chồng đã được ghi nhận tại Hiến pháp 1992 và Điều 40 BLDS 2005 bằng quy định tại Điều 19: “Vợ chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình” Tuy nhiên, liên quan đến vấn đề quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ và chồng, Luật HNGĐ 2000 đã thiết lập một nguyên tắc hoàn toàn mới nhằm xác định việc thực hiện nghĩa vụ chung của vợ và chồng đối với giao dịch dân

sự hợp pháp do một bên vợ, chồng thực hiện phục vụ nhu cầu của gia đình Tuy nhiên, TNLĐ của vợ chồng chỉ được quy định tại một điều luật duy nhất là Điều 25

và chỉ giới hạn đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một bên vợ/chồng thực hiện khiến việc xác định nó gặp khó khăn và còn nhiều thiếu sót, chưa bao quát được những tình huống phong phú xảy ra trong thực tế

1.5 Pháp luật về trách nhiệm liên đới của vợ chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình của một số quốc gia trên thế giới

1.5.1 Trách nhiệm liên đới của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Pháp

BLDS Pháp (Bộ luật Napoleon), được vua Napoleon ban hành năm 1804

Theo đó, TNLĐ của vợ chồng phát sinh do luật định hay được thỏa thuận [18, tr.20] BLDS Pháp quy định TNLĐ của vợ chồng đối với nghĩa vụ phát sinh từ hợp

đồng do một bên ký kết nhằm duy trì đời sống gia đình hoặc giáo dục con cái; nghĩa

vụ BTTH do con chưa thành niên gây ra Cụ thể, tại Điều 220 BLDS Pháp quy

định: “mỗi bên vợ, chồng có thể một mình ký hợp đồng nhằm mục đích duy trì

Trang 37

đờisống gia đình hoặc giáo dục con cái; bên kia có trách nhiệm liên đới đối với nghĩa vụ do việc ký kết này…” Quy định này có nội hàm khá giống với quy định tại

Điều 27 Luật HNGĐ năm 2014 của nước ta Theo đó, khi chồng hoặc vợ ký kết một hợp đồng nhằm duy trì đời sống gia đình hoặc giáo dục con cái thì bên còn lại có TNLĐ đối với nghĩa vụ phát sinh từ việc ký kết Trong trường hợp này, pháp luật đương nhiên coi đó đã có sự thỏa thuận giữa vợ và chồng Cũng tại Điều 220 BLDS

Pháp quy định: “Không có trách nhiệm liên đới đối với những món chi rõ ràng là quá đáng so với đời sống của gia đình, là vô ích hoặc do người ký kết không có thiện ý Cũng không có trách nhiệm liên đới nếu những hợp đồng mua trả góp hoặc vay mượn được ký kết không có sự thỏa thuận của cả hai vợ chồng, trừ phi hợp đồng liên quan đến những món tiền nhỏ cần thiết cho nhu cầu của đời sống hàng ngày” Như vậy, những khoản chi không phù hợp và những giao dịch liên quan đến

những khoản tiền lớn không cần thiết cho phục vụ nhu cầu đời sống hàng ngày của gia đình mà không có thỏa thuận của cả hai vợ chồng sẽ không làm phát sinh TNLĐ Người nào ký kết và thực hiện giao dịch dân sự sẽ tự mình chịu trách nhiệm đối với nghĩa vụ phát sinh

BLDS Pháp cũng ghi nhận TNLĐ của vợ chồng đối với thiệt hại do con chưa

thành niên gây ra Điều 1384 BLDS quy định: “cha và mẹ, với tư cách là người thực thi quyền trông giữ con, phải liên đới chịu trách nhiệm về thiệt hại do con chưa thành niên sống với họ gây ra” Khi con chưa thành niên gây ra thiệt hại, vợ

chồng – với tư cách là cha mẹ có TNLĐ thực hiện nghĩa vụ BTTH Quy định này

có đưa ra một điều kiện để quy TNLĐ của vợ chồng là con “sống cùng với họ” Theo đó, Tòa án vẫn buộc cha mẹ bồi thường mặc dù con chưa thành niên gây thiệt hại đang được giao cho ông, bà quản lý, chăm sóc Tương tự, điều kiện này vẫn được thỏa mãn khi con chưa thành niên gây thiệt hại trong thời điểm ở ký túc xá

Trang 38

Điều 1463 BLDS1 về trách nhiệm pháp lý giữa vợ, chồng Theo đó, vợ chồng phải dùng tài sản chung để thanh toán các nghĩa vụ cá nhân của mỗi bên vợ, chồng Các nghĩa vụ này bao gồm: Nghĩa vụ BTTH phát sinh sau khi tài sản chung được hình thành, nghĩa vụ tố tụng hình sự phát sinh từ hành vi gây thiệt hại đó; nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ pháp lý liên quan đến tài sản riêng hoặc tài sản dự trữ, không phân biệt nghĩa vụ phát sinh trước khi hình thành tài sản chung hay trước khi tài sản

đó trở thành tài sản riêng hoặc tài sản dự trữ; chi phí tố tụng phát sinh từ các nghĩa

vụ nêu trên

Tóm lại, TNLĐ của vợ chồng theo pháp luật HNGĐ Đức được đặt ra đối với các nghĩa vụ phát sinh từ hành vi gây thiệt hại của một bên vợ, chồng; nghĩa vụ phát sinh từ tài sản riêng hoặc tài sản dự trữ của mỗi bên và chi phí tố tụng phát sinh từ các nghĩa vụ này Việc thực hiện TNLĐ sẽ được thanh toán bằng tài sản chung của

vợ chồng

1.5.3 Trách nhiệm liên đới của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Nhật Bản

BLDS Nhật Bản ra đời từ cuối thế kỷ XIX, được chia làm 5 quyển: các quy

định chung, vật quyền, trái vụ, quan hệ gia đình và thừa kế

Trong quan hệ gia đình, TNLĐ vợ chồng cũng được BLDS Nhật Bản ghi

nhận Điều 761 quy định: “đối với các vấn đềchi tiêu hàng ngày, nếu chồng hoặcvợ thực hiện giao kết pháp lý với người thứ ba, thì cả vợ lẫn chồng đều phải chịu trách nhiệm liên đới và theo phần đối với nghĩa vụ phát sinh từ đó” Theo đó, khi chồng

hoặc vợ thực hiện các giao kết pháp lý với người thứ ba nhằm đáp ứng các vấn đề chi tiêu hàng ngày, thì TNLĐ sẽ phát sinh Vợ chồng phải cùng nhau thực hiện nghĩa vụ từ việc giao kết và chịu TNLĐ theo phần Tuy nhiên, BLDS Nhật Bản cũng quy định, không phải trong mọi trường hợp các giao kết pháp lý với người thứ

ba do một bên vợ, chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu hàng ngày sẽ làm phát

1Section 1463, German Civil Code: “as between the spouses, the following marital property obligations

fallon the spouse as whose personal obligations they arise: 1.the obligations arising from a tort which he commits after the commencement of the community of property, or from criminal proceedings that are conducted against him with regard to such an act; 2.the obligations arising from a legal relationship that relates to his reserved property or his separate property, even if they arose before the commencement of the community of property or before the time at which the property became reserved property or separate property; 3.the costs of a legal dispute about one of the obligations set out in nos 1 and 2”.

Trang 39

sinh TNLĐ Cụ thể, TNLĐ của vợ chồng không đặt ra trong trường hợp có thông báo trước về việc chồng hoặc vợ sẽ không phải chịu trách nhiệm trước người thứ ba (Điều 761 Quyển 4 BLDS Nhật Bản)

1.5.4 Trách nhiệm liên đới của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Thái Lan

Thái Lan là đất nước có một hệ thống pháp luật khá hoàn thiện Trong lĩnh vực HNGĐ, TNLĐ của vợ chồng là một trong những nội dung quan trọng được quy định tại Điều 1490 của BLDS và thương mại Thái Lan2 TNLĐ của vợ chồng theo pháp luật HNGĐ Thái Lan phát sinh do thỏa thuận giữa vợ, chồng hoặc do pháp luật quy định Theo đó, vợ chồng phải chịu TNLĐ đối với nghĩa vụ phát sinh để cung cấp nhu cầu cần thiết cho gia đình, hoặc để nuôi nấng, chăm sóc y tế và giáo dục con cái Bên cạnh đó, vợ chồng còn phải liên đới chịu trách nhiệm đối với các nghĩa phát sinh từ tài sản chung3; nghĩa vụ phát sinh từ một công việc mà cả hai vợ chồng cùng đang tiến hành và nghĩa vụ phát sinh từ việc người vợ hoặc người chồng thực hiện một giao dịch để đáp ứng lợi ích của riêng mình nhưng đã được chồng hoặc vợ của mình chấp nhận

Đối với nghĩa vụ phát sinh từ tài sản chung, BLDS và thương mại Thái Lan

có quy định cụ thể tại Điều 1477: “Vợ hoặc chồng có quyền khởi kiện, bào chữa, tham gia tố tụng để giữ lại tài sản chung hoặc cho lợi ích của tài sản chung Những món nợ phát sinh từ việc kiện tụng, bào chữa và tham gia tố tụng nói trên được coi

là nghĩa vụ phải được cả hai vợ chồng cùng thi hành” Trên tinh thần đó, có thể

2Điều 1490, quyển V Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan: “những món nợ mà cả hai vợ chồng

cùng liên đớichịu trách nhiệm trả bao gồm những món nợ dưới đây mà một trong hai người đã mắc chịu trong thời gian hôn nhân: 1 Những món nợ đã mắc chịu có liên quan đến việc quản lý những công việc nội trợ và cung cấp nhu cầu cần thiết cho gia đình, hoặc để nuôi nấng, chăm sóc

y tế và giáo dục con cái; 2 Những món nợ đã mắc chịu có liên quan đến “Sin Somros”; 3 Những món nợ đã mắc chịu có liên quan đến một công việc mà cả hai vợ chồng cùng đang tiến hành; 4 Những món nợ mà chỉ người vợ hoặc người chồng mắc chịu để đáp ứng lợi ích của riêng mình nhưng đã được người kia chấp nhận”

3 Nguyên văn là “Sin Somros” Điều 1474, quyển V Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan quy định: Sin Somros bao gồm: tài sản có được trong thời gian hôn nhân; tài sản mà người vợ hoặc chồng có được trong thời gian hôn nhân thông qua một di chúc hoặc trao tặng được làm bằng văn bản nếu trong di chúc hay văn bản trao tặng này tuyên bố rõ tài sản đó là “Sin Somros”; hoa lợi của

“Sin Suan Tua ” Trong trường hợp có nghi ngờ về việc một tài sản có phải là “Sin Somros” hay không, thì tài sản đó được coi là “Sin Somros”.

Trang 40

thấy được: Vợ chồng phải cùng nhau thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ việc kiện tụng, bào chữa và tham gia tố tụng để giữ lại tài sản chung và lợi ích của tài sản chung

Một điểm đáng lưu ý về TNLĐ của vợ chồng theo pháp luật HNGĐ Thái Lan là: Vợ chồng phải chịu TNLĐ đối với những giao dịch mà chỉ vợ hoặc chồng thực hiện để đáp ứng lợi ích riêng nhưng đã được bên còn lại chấp nhận Quy định này có sự khác biệt với pháp luật của nhiều quốc gia khi cùng đề cập tới vấn đề TNLĐ của vợ chồng, thể hiện được sự tôn trọng của nhà nước đối với quyền tự do thỏa thuận, tính tự quyết cũng như ý chí của vợ, chồng trong đời sống gia đình Pháp luật HNGĐ Thái Lan cũng đã xây dựng một quy định về tài sản để thực hiện TNLĐ của vợ chồng: Tài sản được dùng cho việc thực hiện TNLĐ là cả tài sản chung và tài sản riêng4

1.5.5 Trách nhiệm liên đới của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Campuchia

BLDS Campuchia đã chính thức được ban hành vào năm 2008, điều chỉnh nhiều lĩnh vực của đời sống, trong đó có quan hệ HNGĐ Đặc biệt, BLDS Campuchia đã dành một quy định tại Điều 975 để đề cập đến TNLĐ của vợ chồng5 Theo đó, chồng và vợ có TNLĐ đối với các khoản nợ là chi phí cần thiết nhằm duy trì đời sống chung của vợ chồng và các chi phí giám hộ như giáo dục con cái, y tế; chi phí cho việc quản lý và bảo trì tài sản chung

Bên cạnh đó, TNLĐ của vợ chồng theo pháp luật HNGĐ Campuchia cũng phát sinh trong trường hợp hai vợ chồng thỏa thuận bằng văn bản sẽ cùng chịu trách nhiệm đối với nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên thực hiện Đồng thời, khi

4Điều 1489, quyển V Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan quy định: “khi cả hai vợ chồng đều

chịu chungnhững món nợ thì việc trả nợ được thực hiện bằng “Sin Somros” và “Sin Suan Tua” của cả hai người”.

5Article 975, The Civil code of Cambodia: “husband and wife shall be jointly liable for the

followingobligations: a) Expenses for the maintenance of the cohabitation of the husband and the wife and expenses for the care of children such as educational and medical expenses; b) Obligations and other liabilities agreed in writing by both spouses with an obligee during the marriage and obligations and other liabilities assumed by one of the spouses with the written consent of the other spouse during the marriage; and c) Expenses for the management and maintenance of the common property”.

Ngày đăng: 06/06/2018, 10:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w