Mặt khác, lãi suất còn là một hiện tượng tiền tệ phản ánh mối quan hệ giữa cung và cầu trên vấn đề tiền tệ, nói một cách dễ hiểu, lãi suất phản ánh được sự chênh lệch của việc xác định m
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ NGUYỄN ĐÔNG QUÂN
LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN HOẠT
ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI
CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ NGUYỄN ĐÔNG QUÂN
LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN HOẠT
ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI
CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 838.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS ĐINH DŨNG SỸ
HÀ NỘI, năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài “Lãi suất trong hợp đồng tín dụng theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn hoạt động tại Ngân hàng TMCP Quân đội – Chi nhánh Đà Nẵng ” là do tác giả thực hiện dưới dự hướng dẫn của PGS.TS Đinh Dũng Sỹ Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu của luận văn dựa trên quá trình thu thập thông tin, khảo sát Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Tác giả luận văn
Lê Nguyễn Đông Quân
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 LÍ LUẬN CHUNG VỀ LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 8
1.1 Khái quát về hợp đồng tín dụng 8 1.2 Lãi suất 12
CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VỀ LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 22
2.1 Các quy định của pháp luật về lãi suất trong hợp đồng tín dụng 22 2.2 Tổng quan về tình hình hoạt động của Ngân hàng TMCP Quân đội- CN
Đà Nẵng 24 2.3 Thực trạng áp dụng pháp luật Việt Nam hiện hành về lãi suất trong hợp đồng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quân đội- Chi nhánh Đà Nẵng 34 2.4 Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về lãi suất trong hợp đồng tín dụng theo Pháp luật Việt Nam từ hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Quân đội – Chi nhánh Đà Nẵng 55
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN PHÁP LUẬT VỀ LÃI SUẤT
TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI- CN ĐÀ NẴNG 60
3.1 Định hướng phát triển pháp luật về lãi suất tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội - chi nhánh TP Đà Nẵng 60 3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về lãi suất Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội - chi nhánh TP Đà Nẵng 62 3.3 Phương pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội - chi nhánh TP Đà Nẵng 71
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong vòng quay của sự phát triển nền kinh tế nói chung, nền kinh tế nước nhà nói riêng, việc hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một trong những động lực quan trọng và là định hướng hàng đầu để phát triển kinh tế - xã hội, làm tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, thúc đẩy hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với tư cách là một chủ thể độc lập trong sự phát triển chung của nền kinh tế quốc tế đã và đang từng bước đi lên và đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều phương diện từ kinh tế, xã hội, trong đó đáng chú ý và nổi bật hơn cả
là sự trở mình trong lĩnh vực kinh tế, điều lột xác rõ rệt nhất trong sự trở mình của
sự thay đổi đó nằm ở nền kinh tế ngân hàng
Trong suốt giai đoạn vừa qua, nền kinh tế ngân hàng đã từng bước đạt được những kết quả quan trọng, trong đó phải kể đến sự tập trung quản lý có hệ thống các công cụ lãi suất – một điểm được coi là một góc cạnh nhạy cảm, phức tạp, nóng bỏng nhất, thu hút nhiều sự quan tâm của xã hội
Lãi suất với tư cách là công cụ của chính sách tiền tệ, là công cụ để đo lường, đánh giá hiện trạng "sức khỏe" của một nền kinh tế Đặc biệt trong cơ chế thị trường, lãi suất trở thành công cụ đắc lực để Ngân hàng nhà nước thực thi chính sách tiền tệ nhằm điều tiết các mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư, lạm phát và tăng trưởng kinh tế Mặt khác, lãi suất còn là một hiện tượng tiền tệ phản ánh mối quan hệ giữa cung và cầu trên vấn đề tiền tệ, nói một cách dễ hiểu, lãi suất phản ánh được sự chênh lệch của việc xác định một cách ngoại sinh các vấn đề nguồn cung tiền tệ mặc khác vừa phản ánh các nhu cầu đầu cơ, phòng ngừa và giao dịch về tiền,
từ đó tạo ra một góc cạnh đánh giá được sự biến động của cán cân tiền tệ trong sự phát triển tín dụng của hệ thống ngân hàng từ đó tạo cơ sở cho các doanh nghiệp đề
ra những phương án, chiến lược phát triển có hiệu quả, mặt khác tạo một góc nhìn góp phần làm tiền đề cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, các chính sách quản lý phù hợp, hiệu quả và thống nhất
Trang 7Từ đó tạo hành lang pháp lý an toàn cho các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước hoạt động, phát triển quy mô của tổ chức mình, giúp các chủ thể trong nước tăng khả năng cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài, nhất là khi nước ta bước chân vào
kỷ nguyên của sự hội nhập
Xét trên tầm vĩ mô, lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô rất có hiệu quả của chính phủ thông qua việc thay đổi mức và cơ cấu lãi suất trong từng thời kỳ nhất định, có tầm ảnh hưởng đến nền kinh tế của cả quốc gia Và đứng ở tầm vi
mô, lãi suất là cơ sở để cho cá nhân cũng như doanh nghiệp đưa ra quyết định của mình như chi tiêu hay để dành tiết kiệm, đầu tư, mua sắm trang thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh hay cho vay hoặc gởi tiền vào ngân hàng
Chính vì vậy, lãi suất không chỉ là một phạm trù kinh tế mang tính chất tổng hợp, đa dạng và phức tạp mà đó còn là một trong những công cụ quản lý và điều tiết chính sách tiền tệ của Nhà nước có tầm ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của nền kinh tế nói chung và sự ổn định trong hệ thống tín dụng nói riêng
Với cách nhìn nhận đúng đắn, trong những năm qua hệ thống về lãi suất tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội tên giao dịch tiếng Anh là Military Commercial Joint Stock Bank được viết tắt là MB đã không ngừng phát triển về quy
mô cung ứng các kênh lãi suất cũng như nâng cao chất lượng của hoạt động liên quan, song ở mảng này vẫn còn một số điểm đang tiếp tục hoàn thiện nên những thành tựu mang lại từ các dịch vụ phát sinh từ kênh lãi suất chưa thật sự đạt được thành quả tốt nhất, chưa tương xứng với vị trí của một trong những ngân hàng có rất nhiều thế mạnh về vốn, thương hiệu, thị trường, khách hàng, chất lượng cũng như dịch vụ
Vì vậy, với đề tài về: “Lãi suất trong hợp đồng tín dụng ngân hàng theo pháp
luật Việt Nam từ thực tiễn ngân hàng TMCP Quân Đội – Chi nhánh Đà Nẵng” bản
thân tôi nhận thấy vai trò cũng như tầm quan trọng to lớn của vấn đề này trong giai đoạn hiện nay Bởi lẽ, việc lựa chọn đề tài này xuất phát từ mong muốn giúp các cơ quan Nhà nước có một kênh tham khảo, một góc nhìn cận cảnh, về khía cạnh hoạt động của các tổ chức tín dụng, qua đó nhận thấy được sự khó khăn, những điểm cần
Trang 8hoàn thiện trong thực tiễn hoạt động của các tổ chức tín dụng trong đó có Ngân hàng TMCP Quân đội từ đó đưa ra các quan điểm, các đánh giá cũng như các giải pháp hiệu quả nhất tạo hiệu quả tối đa trong bản thân hoạt động của Ngân hàng TMCP Quân đội góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật quản lý
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Sau khi Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 và Luật các TCTD năm 2010 được ban hành đã có một số công trình nghiên cứu khoa học pháp lý về lãi suất trong hợp đồng tín dụng tại các ngân hàng nhưng các công trình này chỉ nghiên cứu về các chế
độ pháp lý và thực tiễn về việc ký kết, thực hiện tuân thủ về lãi suất trong hợp đồng tín dụng tại một TCTD như:
Luận văn thạc sĩ luật học "Chế độ pháp lý và thực tiễn về việc ký kết, thực hiện hợp đồng tín dụng tại chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp & phát triển nông thôn Láng Hạ" của tác giả Bùi Thị Nga, (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2007); Ngoài ra còn có một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành về một nội dung nhất định của lãi suất trong hợp đồng tín dụng như bài viết của tác giả Nguyễn Văn Vân "Mấy vấn đề suy nghĩ về bản chất pháp lý của hợp đồng tín dụng ngân hàng", đăng trên tạp chí Khoa học pháp lý số 3/2000;
Luận án Phó tiến sĩ khoa học kinh tế “Phương pháp xác định lãi suất ngân hàng trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” của tác giả Hoàng Thị Loan năm
1996 và hai khóa luận tốt nghiệp năm 2009 “Tự do hóa lãi suất và tác động đối với nền kinh tế Việt Nam” của Nguyễn Minh Tuấn và “Giải pháp nâng cao hiệu quả điều hành lãi suất của NHNN Việt Nam” của Võ Thị Thùy Trang
Luận văn thạc sỹ tác giả Dương Thu Phương “Lãi suất trong hợp đông vay tiền và tác động của nó đến nền kinh tế hiện nay”, (Trường Đại học Luật Hà Nội- Năm 2009)
Bên cạnh đó, có rất nhiều bài viết trên các tạp chí như Tạp chí ngân hàng, Tạp chí tài chính cũng nghiên cứu về lãi suất Đặc biệt trong thời gian từ năm 2008 đến nay, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế, thị trường tài chính Việt Nam cũng có nhiều biến động nên NHNN đã có chính sách về lãi suất tạo những phản
Trang 9ứng khác nhau trong giới chuyên môn Những bài viết này chủ yếu xem xét lãi suất dưới góc độ kinh tế và vai trò của lãi suất trong nền kinh tế thị trường hoặc đánh giá dưới góc độ lập pháp và hành pháp về cơ chế điều hành lãi suất của NHNN Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh và các đề tài khác cũng như các bài báo liên quan đến vấn đề lãi suất trong hợp đồng tín dụng đã được Tác giả tham khảo và làm rõ hơn trong luận văn nghiên cứu về phát triển hoạt động cho vay trong đó chú trọng đến yếu tố lãi xuất tại tại Ngân hàng TMCP Quân Đội - Chi nhánh Đà Nẵng
Tuy nhiên, mỗi công trình nghiên cứu nhìn nhận, giải quyết vấn đề này ở một góc độ khác nhau và cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và riêng biệt về vấn đề hợp đồng mà trong đó là các yếu tố lãi suất cho vay tại các NHTM, đặc biệt theo quy định của Luật các TCTD năm 2010 được Quốc hội thông qua ngày 16/06/2010
Do vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Lãi suất trong hợp đồng tín dụng ngân hàng theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn ngân hàng TMCP Quân Đội – Chi nhánh Đà Nẵng” vẫn mang tính cấp thiết cần phải nghiên cứu và làm sáng rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật về lãi suất trong hợp đồng tín dụng tại các NHTM ở Việt Nam mà thực tiễn là Ngân hàng TMCP Quân đội - Chi nhánh Đà Nẵng, trên cơ sở
đó đề ra các giải pháp, đặc biệt là các giải pháp pháp lý nhằm đảm bảo cho các hoạt động trên
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận về Lãi suất trong hợp đồng cho vay tại các NHTM và pháp luật về lãi suất như khái niệm, đặc điểm, bản chất pháp
lý của lãi suất; Pháp luật về lãi suất, nội dung của pháp luật về lãi suất trong hợp đồng tín dụng
Đánh giá tổng quan và phân tích thực trạng pháp luật về lãi suất trong hợp
Trang 10đồng tín dụng tại các NHTM ở Việt Nam hiện nay, từ đó phát hiện những bất cập, tồn tại về mặt pháp lý trong thực tiễn áp dụng lãi suất trong hợp đồng tín dụng Trên cơ sở những bất cập, tác giả đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và phát triển hệ thống pháp luật về lãi suất trong hợp đồng tín dụng tại các NHTM ở Việt Nam trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu đề tài là thực trạng pháp luật về lãi suất và đề ra các biện pháp nhằm nâng cao hoạt động tại Ngân hàng TMCP Quân đội – Chi nhánh Đà Nẵng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở các văn bản quy phạm pháp luật về hợp đồng tín dụng tại các NHTM và các biện pháp bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay của các TCTD trong giai đoạn hiện nay Phạm vi nghiên cứu của đề tài không bao gồm tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động của các TCTD nói chung, NHTM nói riêng mà giới hạn ở các quy phạm pháp luật điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng được ký kết bởi các NHTM và khách hàng cũng như một số vấn
đề thực tiễn đặt ra trong quá trình cho vay của NHTM Trong khuôn khổ của một đề tài luận văn thạc sỹ, học viên chưa có nhiều sự hiểu biết chuyên sâu, cũng như sự hạn chế về thời gian nên không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì vậy, học viên mong nhận được sự góp ý đánh giá từ các thầy cô hướng dẫn để đề tài có thể hoàn thiện hơn
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Khi tiếp cận vấn đề nghiên cứu, luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong qua trình đổi mới, xây dựng đất nước Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa và vấn đề cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền
Trang 115.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là đi từ lý luận đến thực tiễn, dùng thực tiễn kiểm chứng lý luận Các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh, chứng minh, tổng hợp và phương pháp thống kê cũng được sử dụng để hoàn thành luận văn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Ngoài ý nghĩa là một công trình nghiên cứu riêng của bản thân về một số vấn
đề lý luận và thực tiễn của lãi suất trong hợp đồng tín dụng tại các NHTM để hoàn thành chương trình học tập và báo cáo tốt nghiệp lớp Cao học Luật kinh tế khóa VII ( đợt 1) năm 2016 của Học viện Khoa học Xã hội, việc nghiên cứu đề tài còn có
ý nghĩa đi sâu phân tích khái niệm, đặc điểm, hình thức pháp lý, thời điểm có hiệu lực của lãi suất trong hợp đồng tín dụng, bản chất pháp lý của lãi suất trong hợp đồng tín dụng Từ đó tiếp tục đi sâu nghiên cứu pháp luật về lãi suất trong hợp đồng tín dụng cũng như các đặc điểm và nội dung về lãi suất trong hợp đồng tín dụng theo pháp luật hiện hành, từ đó tác giả kết hợp với việc nghiên cứu, so sánh pháp luật lãi suất trong hợp đồng tín dụng hiện nay giữa các văn bản pháp luật có liên quan cùng điều chỉnh để từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm mục đích xây dựng và hoàn thiện pháp luật
6.2 Ý nghĩa thưc tiễn
Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận về lãi suất trong hợp đồng tín dụng hiện hành Bên cạnh đó, luận văn còn đi sâu phân tích những hạn chế, bất cập của pháp luật lãi suất trong hợp đồng tín dụng điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình giao kết và thực hiện lãi suất trong hợp đồng tín dụng, đồng thời đề xuất hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về lãi suất trong hợp đồng tín dụng trong thời gian tới
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Trang 12Chương 1: Lý luận chung về lãi suất trong hợp đồng tín dụng
Chương 2: Những vấn đề thực tiễn về lãi suất trong hợp đồng tín dụng của Ngân hàng TMCP Quân đội - Chi nhánh Đà Nẵng
Chương 3: Giải pháp phát triển và đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống lãi suất cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội - Chi nhánh Đà Nẵng
Trang 13đó chủ yếu là các ngân hàng (sau đây gọi chung là ngân hàng)
Hợp đồng tín dụng chính là hợp đồng cho vay, theo đó ngân hàng là bên cho vay giao cho bên vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Cách hiểu đối với hợp đồng tín dụng bằng phương pháp phân tích câu từ là như vậy, một câu hỏi đặt ra là vì sao ở đây chúng ta không trích dẫn cách hiểu từ một văn bản luật hay môt văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến khái niệm này? Câu trả lời là bởi lẽ trước đây trong Luật Các tổ chức tín dụng 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2004)
có quy định như sau: Việc cho vay phải được lập thành HĐTD HĐTD phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay, hình thức vay, số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thỏa thuận, tuy nhiên đến khi luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được ban hành thì khái niệm này đã bị thay thế bởi “cụm từ” cấp tín dụng, theo đó trong luật các tổ chức tín dụng năm 2010 tại Điều 4, Khoản 14 có quy
định : “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền
hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.”
Như vậy pháp luật chuyên ngành chỉ đưa ra quy định về những nội dung cơ bản HĐTD phải có mà không đưa ra một định nghĩa cụ thể về HĐTD Trong hợp đồng tín dụng mà cụ thể đối tượng chính là quan hệ tín dụng bản chất là một quan
Trang 14hệ dân sự nên HĐTD cũng là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự Từ khái niệm
hợp đồng được quy định theo Điều 385 BLDS năm 2015 quy định: “Hợp đồng là sự
thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”, từ cách giải thích từ BLDS trên ta có thể nhân rộng ra thành “HĐTD là sự
thỏa thuận bằng văn bản giữa TCTD (bên cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ những điều kiện luật định (bên vay), theo đó TCTD chuyển giao một số tiền tệ cho bên vay sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi”
Theo cách hiểu hiện nay, khi nói đến HĐTD nghĩa là nói đến HĐTD ngân hàng, do đó trong luận văn nghiên cứu thạc sỹ lần này để có sự thống nhất chỉ sử dụng thuật ngữ HĐTD Trong phạm vi nghiên cứu của công trình này, HĐTD được
đề cập từ đây về sau là HĐTD giữa TCTD và khách hàng vay vốn
1.1.2 Đặc điểm
HĐTD mang những đặc điểm chung của hợp đồng dân sự song vụ nhưng vẫn
có những nét khác biệt cụ thể như sau:
Thứ nhất, về hình thức, HĐTD bắt buộc phải được lập thành văn bản, hầu hết
là hợp đồng theo mẫu Việc tồn tại HĐTD bằng lời nói là không khả thi bởi tầm quan trọng của việc giao kết, thực hiện và giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD Với HĐTD bằng văn bản, các bên có thể thực hiện hợp đồng trong sự đảm bảo
an toàn trong khuôn khổ pháp lí và tất nhiên, khi có tranh chấp xảy ra, HĐTD sẽ là căn cứ xác thực nhất để các cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp Đa phần các HĐTD là hợp đồng theo mẫu, chủ thể cho vay là TCTD soạn thảo dựa trên các quy định của pháp luật và phù hợp với quy chế cho vay của TCTD Bên vay thường phải chấp nhận những điều khoản trong hợp đồng mà không phải ai cũng có thể yêu cầu sửa đổi điều khoản theo hướng có lợi hơn cho mình Trong hợp đồng tín dụng sự tự
do ý chí trong việc giao kết được thể hiện thông qua việc khách hàng đồng ý giao kết hợp đồng, điều đó đồng nghĩa với câu chuyện khách chấp nhận những điều khoản trong đó, ngược lại thì không giao kết Thực tế cho thấy việc thỏa thuận, sửa đổi, một số điều khoản trong HĐTD theo mẫu chỉ xảy ra với những tổ chức, cá nhân
có uy tín, khoản vay lớn và TCTD có thể thu được lợi nhuận lớn từ hợp đồng Mặt
Trang 15khác, theo Khoản 2, Khoản 3 Điều 405 BLDS 2015, pháp luật cũng có cơ chế để bảo vệ khách hàng trong trường hợp hợp đồng theo mẫu có những điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó hoặc trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
Về tên gọi của HĐTD có thể đặt dưới nhiều tên khác nhau tùy thuộc vào tính chất, bản chất và đối tượng của hợp đồng: Hợp đồng tín dụng, hợp đồng vay, khế ước vay vốn Hoặc phụ thuộc vào thời hạn vay, mục đích vay, hợp đồng có thể có thêm các cụm từ: “ngắn hạn”, “trung hạn”, “dài hạn”, “đồng Việt Nam”, “ngoại tệ”,
“tiêu dùng”, “đầu tư”…
Thứ hai, HĐTD có đối tượng là những khoản vốn được thể hiện dưới hình
thức tiền tệ Vốn tiền tệ trong HĐTD có thể là tiền đồng Việt Nam, vàng hoặc ngoại tệ; tồn tại dưới dạng tiền mặt, vật hiện hữu hoặc bút tệ Với vai trò phương tiện thanh toán – vai trò quan trọng nhất của tiền – vốn tiền tệ có thể đáp ứng mọi nhu cầu của bên vay một cách dễ dàng nhất, kể cả về số lượng vốn vay và mục đích vay Nhờ đó hoạt động cho vay đã trở thành hoạt động sinh lời chủ yếu của các TCTD và trở thành một hình thức tín dụng khá phổ biến trong nền kinh tế thị trường Nếu trong quan hệ tín dụng giữa TCTD và chủ để đi vay mà đối tượng là tài sản thì đây
là quan hệ cho thuê tài chính, thông qua hợp đồng thuê mua tài chính chứ không phải là hoạt động cho vay
Về nguyên tắc đối tượng của HĐTD bao giờ cũng là một số tiền xác định, được các bên thỏa thuận và ghi rõ trong hợp đồng Đây chính là điểm khác biệt rõ rệt nhất của hợp đồng tín dụng so với các hợp đồng dân sự khác Theo đó, xét thấy đối với các hợp đồng khác, đối tượng của hợp đồng rất đa dạng có thể là hàng hoá, dịch vụ nói chung còn trong HĐTD đối tượng của hợp đồng tín dụng ngân hàng luôn luôn là tiền
Thứ ba, về chủ thể trong mối quan hệ này thì bên cho vay trong HĐTD luôn là
TCTD Theo quy định của pháp luật hiện hành quy định cụ thể tại điều 20 , khoản 1
Trang 16luật các tổ chức tín dụng 2010 thì “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành
lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán” TCTD bao gồm ngân
hàng và TCTD phi ngân hàng Bên cho vay có thể là một hoặc nhiều TCTD (trường hợp cho vay hợp vốn) thỏa mãn điều kiện luật định (được thành lập và hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng và các văn bản liên quan; có chức năng hoạt động, kinh doanh tín dụng)
Thứ tư, HĐTD phải được tuân thủ chặt chẽ về các nội dung bắt buộc: Năng
lực chủ thể của các bên tham gia quan hệ tín dụng, mục đích sử dụng vốn vay, giới hạn vốn vay TCTD không được cho vay vốn nhằm đáp ứng các nhu cầu bị cấm theo quy định của pháp luật, không được cho vay đối với các trường hợp bị cấm, bị hạn chế
Thứ năm, hợp đồng tín dụng có độ rủi ro cao Theo đó bên cho vay chỉ có thể
nhận lại được số tiền đã cho vay cùng lãi suất sau một khoảng thời gian nhất định Thời gian càng dài thì rủi ro càng lớn Tính rủi ro của hợp đồng tín dụng còn được thể hiện ở chỗ rủi ro của hợp đồng tín dụng có tính dây chuyền, điều đó thể hiện ở việc không thu hồi vốn vay của tổ chức tín dụng không chỉ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của tổ chức tín dụng mà còn ảnh hưởng đến lợi ích người gửi tiền Bởi
lẽ, khác với các hợp đồng cho vay thông thường, bên cho vay dùng tiền thuộc sở hữu của mình để cho vay thì trong hợp đồng tín dụng các tổ chức tín dụng chủ yếu dùng tiền từ nguồn vốn huy động từ các tổ chức, cá nhân Do đó, nếu khoản cho vay không thu hồi được vốn, tổ chức tín dụng sẽ có nguy cơ mất khả năng chi trả cho người gửi tiền, đe dọa đến sự sống còn của tổ chức tín dụng, tác động dây chuyền đến toàn bộ nền kinh tế Mặt khác, việc quy định hình thức của hợp đồng tín dụng luôn bằng văn bản cũng xuất phát từ tính rủi ro cao của hợp đồng tín dụng và tầm quan trọng của hợp đồng tín dụng, Luật ngân hàng của hầu hết các nước trên thế giới đều quy định hợp đồng tín dụng phải được ký kết bằng văn bản Ở Việt Nam, quy định này được ghi nhận trong Điều 51 Luật các tổ chức tín dụng và theo Điều
Trang 1718 của Quy chế cho vay Đây là một quy định bắt buộc nhằm đảm bảo tính chặt chẽ,
rõ ràng trong thoả thuận của các bên về quyền và nghĩa vụ, hạn chế các rủi ro có thể xảy ra, là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết tranh chấp nếu có hoặc như đối với việc quy định thời hạn của hợp đồng tín dụng luôn được xác định trước và ghi trong hợp đồng tín dụng Tuỳ theo mục đích sử dụng vốn vay mà thời hạn hợp đồng có thể ngắn hạn (dưới một năm), trung hạn (từ 1 đến 5 năm) hoặc dài hạn (trên 5 năm) Đây chính là khoảng thời gian mà bên vay có thể sử dụng nguồn vốn vay từ tổ chức tín dụng Hết khoảng thời gian này, bên đi vay phải trả khoản tiền cả gốc và lãi cho
tổ chức tín dụng Có thể nói rằng mục đích của quy định này nhằm xác định rõ ràng trách nhiệm của người đi vay và bảo tồn vốn cho tổ chức tín dụng Bên cạnh đó, thông qua hợp đồng tín dụng nhận thấy, đích cuối của HĐTD luôn nhằm mục đích lợi nhuận (hợp đồng có lãi suất) Trong giao kết và thực hiện hợp đồng tín dụng, tổ chức tín dụng thu lợi nhuận không chỉ nhằm mục đích bù đắp chi phí kinh doanh như: trả lãi tiền gửi, trả lương nhân viên…mà còn nhằm bù đắp những rủi ro có thể xảy ra cho tổ chức tín dụng và cũng có thể là rủi ro của người gửi tiền Vì vậy, việc thu hồi lợi nhuận không chỉ xuất phát từ lợi ích của tổ chức tín dụng mà còn xuất phát từ lợi ích của người gửi tiền và lợi ích của toàn xã hội
Như vậy, hợp đồng tín dụng là hình thức pháp lý của quan hệ cho vay giữa tổ chức tín dụng và khách hàng vay Xuất phát từ tính chất và tầm quan trọng của nó đối với nền kinh tế nên hợp đồng tín dụng ngân hàng có những nét đặc thù riêng Vì vậy, trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng các bên phải thoả mãn tất cả các điều kiện đặt ra với hợp đồng tín dụng ngân hàng nhằm đảm bảo tính hiệu lực của hợp đồng cũng như hạn chế các rủi ro có thể xảy ra cho các bên trong quan hệ hợp đồng
1.2 Lãi suất
Với vai trò đảm bảo quyền và nghĩa vụ cho các bên tham gia vào quan hệ tín dụng, HĐTD trở nên rất quan trọng Đặc biệt các bên phải chú ý đến nội dung của hợp đồng, hợp đồng với những điều khoản chặt chẽ sẽ ràng buộc các bên thực hiện đúng trách nhiệm của mình, từ đó cũng góp phần giảm bớt các tranh chấp phát sinh
Trang 18và thúc đẩy sự phát triển trong hoạt động kinh doanh của cả TCTD và chủ thể đi vay Một trong những điều khoản không thể thiếu của HĐTD là lãi suất cho vay Khi các bên có sự đồng thuận ý chí và nghiêm túc thực hiện nghĩa vụ về lãi và lãi suất thì HĐTD mới có đầy đủ ý nghĩa
1.2.1 Khái niệm
Được đề cập trong nhiều tài liệu lịch sử với những khía cạnh góc nhìn khác nhau, nhưng nhìn chung khái niệm lãi suất tương đối thống nhất và không có quá nhiều khác biệt
Dưới góc độ kinh tế, có thể hiểu: Lãi suất tín dụng còn gọi là tỉ suất lợi tức, là
tỉ lệ phần trăm giữa tổng số lợi tức thu được trong một thời gian (ngày, tuần, tháng, quý năm…) với tổng số vốn bỏ ra cho vay trong cùng thời gian đó
Theo Từ điển Luật học: Lãi suất là tỉ lệ phần trăm tính trên vốn đầu tư để xác định lãi của người đầu tư
Theo Bách khoa toàn thư: Lãi suất là tỷ lệ mà theo đó tiền lãi được người vay
trả cho việc sử dụng tiền mà họ vay từ một người cho vay [3]
Theo Điều 2 Quy định phương pháp tính và hoạch toán thu, trả lãi của NHNN Việt Nam và các TCTD ban hành kèm theo Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN ngày 17/5/2001 của Thống đốc NHNN: Lãi suất được hiểu là khoản tiền bên vay, huy động vốn hoăc bên thuê trả cho bên cho vay, đầu tư chứng khoán, gửi tiền hoặc bên cho thuê về việc sử dụng vốn vay, vốn huy động hoặc tài sản cho thuê Lãi được tính toán căn cứ vào số vốn, thời gian sử dụng vốn và lãi suất
Bênh cạnh lãi đơn còn có cách tính lãi kép (là số tiền lãi không chỉ tính trên số tiền gốc mà còn tính trên số tiền lãi do số tiền gốc sinh ra) nhưng cách tính này không được pháp luật cho phép áp dụng trong hoạt động ngân hàng
1.2.2 Phân loại lãi suất
Lãi suất được chia thành nhiều loại dựa trên những tiêu chí khác nhau:
- Căn cứ vào giá trị thực của lãi suất: lãi suất danh nghĩa, lãi suất thực
- Căn cứ vào phương thức đo lường: lãi suất đơn, lãi suất kép, lãi suất hiệu quả
và lãi suất hoàn vốn
Trang 19- Căn cứ vào tính chất khoản vay
Bao gồm những loại lãi suất cơ bản nhất được ngân hàng áp dụng cho khách hàng khi muốn vay tín dụng
Lãi suất cơ bản: được áp dụng chung, làm cơ sở để ấn định các mức lãi suất phát sinh cho các dịch vụ tín dụng khác của ngân hàng
Lãi suất tiền gửi tiết kiệm ngân hàng: lãi suất sinh ra mà ngân hàng phải trả cho khách hàng sử dụng dịch vụ tiền gửi tiết kiệm vào ngân hàng
Lãi suất cho vay ngân hàng (lãi suất tín dụng): người vay tiền phải trả cho ngân hàng khi vay Được chia thành nhiều mức lãi dựa theo hình thức vay là vay kinh doanh, trả góp, vay qua thẻ tín dụng, vay ngắn hạn…
Lãi suất chiết khấu ngân hàng: áp dụng khi một cá nhân xin vay dưới dạng chiết khấu thương phiếu hoặc các giấy tờ cá giá trị Được tính với tỷ lệ phần trăm theo mệnh giá thương phiếu, khấu trừ ngay từ ban đầu khi nhận tiền vay
Lãi suất tái chiết khấu: được ngân hàng Trung Ương áp dụng đối với các ngân hàng thương mại khi cho vay tái chiết khấu dưới dạng thương phiếu và giấy tờ có giá trị ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán
Lãi suất liên ngân hàng: áp dụng khi cho vay trên thị trường liên ngân hàng, giữa các ngân hàng với nhau qua quan hệ cung cầu vốn Lãi suất liên ngân hàng được quy định bởi Ngân hàng Trung Ương, phụ thuộc vào sự phát triển của thị trường và tỷ trọng sử dụng vốn
- Căn cứ giá trị thực
Dựa theo giá trị của khoản vay, người ta cũng chia lãi suất thành 2 loại
Lãi suất danh nghĩa: được tính theo giá trị danh nghĩa, chưa bao gồm chỉ số tác động của lạm phát và công bố trên hợp đồng tín dụng
Lãi suất thực tế: được điều chỉnh từ lãi suất danh nghĩa, và những tác động của lạm phát thời điểm đó
Theo đó: Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực + Tỷ lệ lạm phát
- Căn cứ tính linh hoạt của lãi suất
Lãi suất cố định: Cố định trước và trong thời gian vay, có thể biết trước để
Trang 20người vay tiền có thể quyết định vay hay không Tuy vậy lãi suất cố định lại hạn chế khi không được thay đổi trong thời gian mặc cho những biến động của lãi suất thị trường
Lãi suất thả nỗi: Ngược lại với lãi suất cố định, khi có thể thay đổi tùy theo lãi suất thị trường trong thời hạn vay tín dụng Nhược điểm là có thể nhận rủi ro, nhưng cũng có khi có lợi
- Căn cứ loại tiền cho vay
Lãi suất nội tệ: lãi suất cho vay và đi vay đồng nội tệ
Lãi suất ngoại tệ: lãi suất cho vay và đi vay đồng ngoại tệ
- Căn cứ nguồn tín dụng trong nước hay quốc tế
Lãi suất quốc gia (lãi suất trong nước): tiền đề cho mọi hình thức cho vay tín dụng trong nước
Lãi suất quốc tế: áp dụng với các hợp đồng tín dụng quốc tế
- Dưới góc độ luật học, lãi suất ngân hàng được tập trung nghiên cứu ở các nội dung sau:
+ Căn cứ vào loại hình tín dụng, lãi suất bao gồm lãi suất huy động và lãi suất cho vay
+ Căn cứ vào thời hạn áp dụng, lãi suất bao gồm lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn
+ Căn cứ vào độ ổn định của lãi suất, lãi suất bao gồm lãi suất cố định và lãi suất thả nổi
1.2.2.1 Căn cứ vào loại hình tín dụng
Lãi suất huy động là lãi suất mà các TCTD đưa ra khi huy động tiền gửi và quy định tỉ lệ phải trả cho các hình thức nhận tiền gửi của khách hàng
Lãi suất cho vay là lãi suất mà TCTD đưa ra để thu từ người vay tiền “Lãi suất cho vay phải bao gồm tất cả các chi phí huy động vốn, đủ bù đắp các chi phí quản lí và thực hiện khoản cho vay, trang trải được các loại rủi ro, lãi suất cho vay phải chứa đựng phần lợi nhuận hợp lí” Mặt khác, lãi suất cho vay còn chịu sự chi phối của kì hạn vay, kì hạn càng dài lãi suất càng cao Như vậy, lãi suất cho vay là lãi suất tính trên số vốn mà bên vay phải trả kèm theo gốc tiền vay
Trang 21Lãi suất cho vay ở Việt Nam chủ yếu có ba loại là lãi suất cho vay của NHNN đối với các TCTD, lãi suất của các TCTD với nhau và lãi suất của TCTD với khách hàng Trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận này, khi nói đến lãi suất cho vay trong HĐTD nghĩa là nói đến lãi suất của TCTD với khách hàng đi vay
Hoạt động cho vay của TCTD được thể hiện dưới nhiều hình thức như cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn căn cứ vào thời hạn tín dụng tương ứng với từng loại lãi suất cụ thể Cho vay ngắn hạn (ứng với lãi suất ngắn hạn) là cho vay với thời hạn dưới 12 tháng thường để bù bắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân Cho vay trung hạn (ứng với lãi suất trung hạn) là cho vay với thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng (một số nước là 84 tháng), phục vụ cho nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới máy móc thiết bị, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh Cho vay dài hạn (ứng với lãi suất dài hạn) là cho vay với thời hạn trên 60 tháng cho mục đích xây dựng nhà ở, phương tiện vận tải quy mô lớn, xây dựng các công trình, nhà máy…
Lãi suất cho vay có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, lãi suất cho vay được phát sinh trong các hợp đồng vay tài sản
Trong hợp đồng vay tài sản, đặc biệt là HĐTD, thỏa thuận về lãi suất là một điều khoản tất yếu, đó là cơ sở để tính phần giá trị tăng thêm mà TCTD được nhận từ khoản cho vay, cũng chính là một phần thu nhập của TCTD
Thứ hai, lãi suất cho vay không được phát sinh một cách độc lập, nó chỉ hình
thành do thoả thuận của các bên sau khi đã thoả thuận được số tiền vay Bản chất của lãi suất là tỉ lệ phần trăm giữa tổng số lợi tức thu được trong một thời gian với tổng số vốn bỏ ra cho vay trong cùng thời gian đó, như vậy chỉ tồn tại tỉ lệ phần trăm này khi tồn tại số tiền gốc mà các bên thỏa thuận
Thứ ba, lãi suất không chỉ được xác định dựa trên số vay gốc và thời hạn vay
mà còn dựa trên khả năng tài chính và uy tín của khách hàng Khách hàng vay được
áp dụng lãi suất thực tế tại thời điểm đó, tương ứng với số nợ gốc nhiều hay ít, thời hạn vay dài hay ngắn mà các bên có thể thoả thuận mức lãi suất cho phù hợp
Trang 22Thông thường thời gian vay càng dài lãi suất càng cao, nếu khách hàng có khả năng tài chính mạnh, uy tín cao hoặc thuộc diện cho vay ưu đãi thì sẽ được ưu đãi lãi suất thấp hơn lãi suất cho vay hiện tại
1.2.2.2 Căn cứ vào thời hạn áp dụng
Dù cho vay ở hình thức nào thì TCTD cũng đều đưa ra mức lãi suất trong hạn
và lãi suất quá hạn Hai mức lãi suất này không chỉ có ý nghĩa đối với việc xác định nghĩa vụ trả lãi của khách hàng vay mà còn đóng vai trò quan trọng khi cơ quan chức năng giải quyết khi có tranh chấp xảy ra
Lãi suất trong hạn không được quy định cụ thể về khái niệm trong văn bản pháp luật, nhưng có thể hiểu là lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng dùng làm căn cứ
để tính giá trị lãi mà khách hàng vay phải trả cho TCTD tính trên số tiền đã vay tương ứng với thời hạn mà các bên đã thoả thuận
Lãi suất quá hạn chỉ phát sinh khi tồn tại khoản nợ quá hạn Do đó, trước khi tìm hiểu về lãi suất quá hạn, có hai vấn đề cần quan tâm là nợ quá hạn và thời điểm chuyển khoản nợ từ trong hạn sang quá hạn
Theo khoản 5 Điều 2 Thông tư số 22/2014/VBHN-NHNN ngày 04/06/2014 của Thống đốc NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lí rủi ro trong hoạt động ngân hàng của TCTD, nợ quá hạn được xác định là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn Mặt khác, tại Khoản 2 Điều
13 Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng thì nợ quá hạn là những khoản
nợ mà khi đến thời hạn trả nợ gốc hoặc lãi khách hàng không trả nợ đúng hạn và không được điều chỉnh kì hạn nợ gốc hoặc lãi, không được gia hạn nợ gốc hoặc lãi Trước đây, tại Khoản 2 Điều 13 của Quy chế cho vay ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN quy định “khi đến thời hạn trả nợ gốc hoặc lãi (cuối ngày đến hạn trả nợ) mà khách hàng không đủ hoặc trả nợ không đúng hạn thì NHTM chuyển toàn bộ số dư nợ của khoản vay sang nợ quá hạn” Tuy nhiên, quy định này đã bị bãi bỏ bởi Điều 4 Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế cho vay ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN Theo đó, thời điểm chuyển nợ quá
Trang 23hạn được xác định như sau: “Đối với khoản nợ vay không trả đúng hạn, được TCTD đánh giá là không có khả năng trả nợ đúng hạn và không chấp thuận cho cơ cấu lại thời hạn trả nợ thì số dư nợ gốc của HĐTD đó là nợ quá hạn và TCTD thực hiện các biện pháp để thu hồi nợ, việc phạt chậm trả đối với nợ quá hạn và nợ lãi vốn vay do hai bên thoả thuận trên cơ sở quy định của pháp luật.”
Với quy định như vậy về nợ quá hạn Theo quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015, trường hợp không rõ hoặc có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật này Theo quy định này mức lãi suất trong trường hợp không rõ hoặc có tranh chấp
sẽ là 10%/01 năm (tức 0,83%/tháng)
So với quy định tại khoản 2 Điều 476 BLDS năm 2005 thì trường hợp không
rõ về lãi suất hoặc các bên đương sự có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả
nợ Theo quy định này thì mức lãi suất có tranh chấp là 0,75%/01 tháng Như vậy, mức lãi suất trong trường hợp không rõ hoặc có tranh chấp về lãi suất theo quy định của BLDS năm 2015 không phụ thuộc vào lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước
và mức lãi lớn hơn so với quy định của BLDS năm 2005
Việc thay đổi này đã giải quyết được mâu thuẫn giữa quy định tại khoản 1 Điều 476 BLDS năm 2005 với Điều 1 của Thông tư số 07/2010/TT-NHNN ngày 26/02/2010 của Ngân hàng Nhà nước quy định về cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận của tổ chức tín dụng đối với khách hàng
Theo quy định tại Điều 12 Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 và khoản 2 khoản 3 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, trong điều kiện bình thường, lãi suất trong hoạt động ngân hàng sẽ thực hiện theo cơ chế tự thỏa thuận, không có trần lãi suất
Về nghĩa vụ trả nợ của bên vay, trước đây tại khoản 4 và khoản 5 Điều 474 BLDS năm 2005 quy định:
“4 Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi
Trang 24suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận
5 Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”
Nay theo quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 466 BLDS năm 2015:
“4 Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc
trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc luật có quy định khác
5 Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:
a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;
b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác.”
Nhìn chung, lãi suất quá hạn thường cao hơn lãi suất trong hạn do được áp dụng đối với người vay vi phạm nghĩa vụ về thời hạn trả nợ Sau thời hạn mà bên vay không trả hoặc trả không hết số tiền vay thì bên cho vay có quyền tính lãi dựa trên lãi suất quá hạn theo như thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật Thêm vào đó, việc trả lãi trước hoặc sau thời hạn vẫn có thể coi là đúng hạn và phải tính bằng lãi suất trong hạn Đó là các trường hợp do sự kiện bất ngờ hay sự kiện bất khả kháng mà bên vay không thể thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình đúng hạn hoặc được bên cho vay chấp nhận không phải trả lãi quá hạn khi quá thời hạn vay
Như vậy có thể thấy rằng hiện nay cùng tồn tại hai quy định khác nhau về lãi suất đối với khoản nợ quá hạn, và việc áp dụng quy định nào còn phải được xem xét
về giá trị pháp lí của văn bản Thực tế các bên tham gia quan hệ tín dụng và cơ quan
có thẩm quyền áp dụng văn bản nào sẽ được phân tích cụ thể tại phần 2.1.3
Trang 251.2.2.3 Căn cứ vào sự ổn định của lãi suất
Khi thỏa thuận lãi suất trong hạn, các bên có thể thỏa thuận lãi suất cố định hoặc lãi suất thả nổi
Lãi suất cố định là lãi suất được ấn định một mức cụ thể trên HĐTD, không chịu tác động của những biến động lãi suất thị trường Lãi suất này không thay đổi trong suốt thời gian vay vốn tại TCTD, thông thường áp dụng trong cho vay ngắn hạn
Lãi suất thả nổi là lãi suất được điều chỉnh theo từng thời kì, biến đổi theo thời gian Mức điều chỉnh và kì điều chỉnh lãi suất sẽ theo thỏa thuận giữa khách hàng
và TCTD và được quy định rõ trong HĐTD Thông thường lãi suất thả nổi được áp dụng trong cho vay trung và dài hạn
1.2.3 Vai trò của lãi suất
Một trong những vai trò của lãi suất giúp ngân hàng thương mại có lợi nhuận, tăng trưởng, và cạnh tranh với các ngân hàng thương mại khác Bên cạnh đó lãi suất còn thực hiện điều chỉnh lượng cung ứng tiền, từ đó tác động đến sự tăng giảm sản lượng để thực hiện điều tiết nền kinh tế (ổn định lạm phát, công ăn việc làm và phát triển sản xuất) Lãi suất tín dụng tác động tới tổng cung và tổng cầu thông qua tác động tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đến tiêu dùng và tiết kiệm của dân cư Khi lãi suất tín dụng tăng cao, người dân sẽ hạn chế tiêu dùng, gửi tiết kiệm nhiều hơn và doanh nghiệp sẽ thận trọng trong các hoạt động đầu tư vì vậy tổng cầu
và tổng cung đều có xu hướng giảm Ngược lại, lãi suất tín dụng hạ thấp khuyến khích tiêu dùng, các khoản gửi tiết kiệm sẽ hạn chế hơn trong khi đó doanh nghiệp
có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh Vì vậy, tổng cung và tổng cầu đều có xu hướng tăng cao Lãi suất tín dụng được sử dụng làm công cụ điều hòa cung cầu ngoại tệ, góp phần cân bằng cán cân thanh toán quốc tế Nâng cao lãi suất tín dụng
sẽ hút ngoại tệ vào trong nước làm tăng cung ngoại tệ Hạ thấp lãi suất tín dụng sẽ đẩy ngoại tệ ra ngoài nước, làm giảm cung và tăng cầu ngoại tệ
Trang 26Kết luận Chương 1
Trong hoàn cảnh nền kinh tế biến động, cơ chế điều hành lãi suất cho vay của
NHNN từ trước đến nay được nhìn nhận dưới góc độ kinh tế với những vai trò quan
trọng đối với từng cá nhân, tổ chức nói riêng và cả nền kinh tế nói chung Dưới góc
độ pháp lí, lãi suất, đặc biệt là lãi suất cho vay trong HĐTD, lại có ý nghĩa như một
cơ sở để giải quyết mọi tranh chấp HĐTD, ngay cả khi nội dung tranh chấp không
phải về lãi suất (vì lãi suất là căn cứ để tính khoản nợ lãi mà bên vay phải trả cho
TCTD) Trên thực tế còn tồn tại nhiều vụ tranh chấp kéo dài và rắc rối do các bên
không thỏa thuận được nợ lãi và cơ quan tài phán cũng đưa ra những phán quyết có
nhiều ý kiến tranh luận Cơ sở lý luận về lãi suất và tiền đề căn bản để triển khai các
hoạt động kinh doanh mà từ đó mang lại lợi nhuận cho chính Ngân hàng
Trang 27CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VỀ LÃI SUẤT TRONG
HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
2.1 Các quy định của pháp luật về lãi suất trong hợp đồng tín dụng
Có thể thấy Nhà nước không phải lúc nào cũng kiểm soát được hết mọi quan
hệ pháp luật cho nên có tình trạng nhiều vi phạm pháp luật nằm ngoài vòng kiểm soát của pháp luật Điều này hoàn toàn dễ hiểu khi các văn bản pháp luật của nước
ta còn thiếu cụ thể, tính khả thi không cao, hơn nữa luật nước ta là luật khung, muốn thi hành được trên thực tế phải có Nghị định hướng dẫn thi hành Vấn đề lãi suất trong hợp đồng vay cũng rơi vào tình trạng này Trong BLDS 2015 chỉ quy định duy nhất một điều về lãi suất một cách trực tiếp:
“Điều 468 Lãi suất
1 Lãi suất vay do các bên thỏa thuận
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất
Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực
2 Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ
Quy định tại Điều 468 BLDS năm 2015, là một trong những thay đổi quan trọng
và được đánh giá là có thể hạn chế được những bất cập trong việc áp dụng quy định về
Trang 28lãi xuất theo BLDS năm 2005 Theo đó, lãi suất vay là do chính các bên thỏa thuận,
nếu vay có lãi thì lãi xuất thỏa thuận không được quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác, không như cách tính lãi suất
thỏa thuận theo mức tham chiếu là lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước
được quy định tại khoản 1 Điều 476 BLDS năm 2005 “Lãi suất vay do các bên thoả
thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.”
Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS năm 2015, trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực Như vậy, lãi suất tối đa trong các hợp đồng vay tài sản các bên được thỏa thuận theo BLDS năm 2015 không quá 20%/năm (tức 1,7%/tháng)
lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố theo quy định tại khoản 1 Điều 476 BLDS năm 2005 Theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, về lãi suất cơ bản của Việt Nam đồng để tính lãi suất, thì mức lãi suất cơ bản là 9%/01 năm, tức là 0,75%/01 tháng Lãi suất cao nhất các bên đương sự được thỏa thuận theo quy định tại khoản 1 Điều 476 BLDS năm 2015 là 1,125%/01 tháng (tức 13,5%/01 năm) So sánh quy định về lãi suất giữa BLDS năm
2005 và BLDS năm 2015 thấy: BLDS năm 2015 quy định luôn mức lãi suất cao nhất được thỏa thuận trong các hợp đồng dân sự vay tài sản là 20%, không phụ thuộc vào mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy định Mức lãi suất theo BLDS năm 2015 cao hơn so với BLDS năm 2005 mục đích giảm thiểu sự chênh lệch về mức lãi suất trong các hợp đồng dân sự thông dụng với các hợp đồng tín dụng, bình đẳng hóa giữa các chủ thể khi tham gia vào các giao dịch vay tài sản Theo quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015, trường hợp không rõ hoặc có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật này Theo quy định này mức lãi suất trong trường hợp không rõ hoặc có tranh chấp sẽ là 10%/01 năm (tức 0,83%/tháng)
Trang 292.2 Tổng quan về tình hình hoạt động của Ngân hàng TMCP Quân đội-
Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội - chi nhánh Đà Nẵng được thành lập vào tháng 7 năm 2004, trụ sở chi nhánh tọa lạc tại 54 Điện Biên Phủ - Quận Thanh Khê - thành phố Đà Nẵng, với các đơn vị trực thuộc: phòng giao dịch Lê Duẩn, phòng giao dịch Hải Châu, phòng giao dịch Hòa Khánh, phòng giao dịch Sông Hàn Sau hơn 11 năm hoạt động, vượt qua những khó khăn ban đầu, đến nay bằng những giải pháp linh hoạt , phù hợp với thực trạng kinh tế xã hội, chi nhánh đã và đang từng bước đi lên góp phần vào sự phát triển của thành phố Đà Nẵng Chi nhánh đã giữ vững vị thế của mình trên địa bàn và ngày càng phát triển mạnh thu hút được nhiều khách hàng đến với chi nhánh Ngoài nhiệm vụ chủ yếu phục vụ khách hàng trên địa bàn Đà Nẵng, chi nhánh đã và đang phục vụ cho các doanh nghiệp quốc phòng và khách hàng hoạt động có hiệu quả tại khu vực miền trung
Trang 302.2.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ của MBBank Đà Nẵng
Cơ cấu tổ chức
Chú thích: Quan hệ trực tuyến
Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức
Bộ máy quản lý của MB Đà Nẵng được thực hiện theo mô hình trực tuyến chức năng, năng động, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu quản lý và nhiệm vụ kinh doanh của ngân hàng
- Ban Giám đốc Chi nhánh: Gồm 03 người (01 Giám đốc và 02 Phó Giám đốc), chịu trách nhiệm chung về mọi mặt hoạt động của Chi nhánh, đảm bảo Chi nhánh hoạt động an toàn, hiệu quả, hoàn thành kế hoạch kinh doanh được Tổng Giám đốc giao Có nhiệm vụ xây dựng chiến lược phát triển của Chi nhánh trong từng giai đoạn phù hợp với định hướng phát triển chung của toàn ngành ngân hàng, trình lên lãnh đạo Hội sở phê duyệt và triển khai các chiến lược đã được phê duyệt Giám đốc Chi nhánh chịu trách nhiệm trước pháp luật, Tổng Giám đốc và Hội đồng quản trị về mọi mặt hoạt động của chi nhánh
- Phòng thanh toán quốc tế: Thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế, cung cấp
P
KH
Cá Nhân
P Kế Toán &
P Hành Chính - Tổng hợp
Phòng CNTT Khu Vực Miền Trung & Tây Nguyên
P KH Doanh nghiệp lớn
BAN GIÁM ĐỐC
Trang 31các dịch vụ thanh toán quốc tế cho khách hàng Đảm bảo hoạt động của Chi nhánh đúng quy chế tài chính ngân hàng
- Phòng kế toán và Dịch vụ khách hàng: Thực hiện nghiệp vụ kế toán ngân hàng, cung cấp dịch vụ thanh toán, tài khoản cho khác hàng Huy động tiết kiệm, huy động và quản lý hoạt động nguồn vốn, đề xuất các chính sách lãi suất Đảm bảo hoạt động của Chi nhánh đúng quy chế tài chính ngân hàng Chịu trách nhiệm về thu chi tiền mặt, giao dịch tiền mặt với NHNN trên địa bàn, quản lý kho quỹ
- Phòng khách hàng cá nhân: Thực hiện nhiệm vụ cung cấp và phát triển các sản phẩm của khối khách hàng Cá nhân bao gồm các sản phẩm dịch vụ như: tín dụng, huy động vốn, hoạt động kinh doanh thẻ, ngân hàng điện tử, Kiều hối…
- Phòng khách hàng doanh nghiệp lớn: Thực hiện nhiệm vụ thẩm định tín dụng, nghiệp vụ bảo lãnh, nghiệp vụ huy động vốn từ các khách hàng là doanh nghiệp có quy mô vốn trên 1.000 tỷ Đồng Việt Nam
- Phòng khách hàng doanh nghiệp: Thực hiện nhiệm vụ thẩm định tín dụng, nghiệp vụ bảo lãnh, nghiệp vụ huy động vốn từ các khách hàng là doanh nghiệp và Doanh nghiệp tư nhân, thực hiện nghiệp vụ xuất nhập khẩu và các nghiệp vụ kinh doanh khác
- Phòng hành chính tổng hợp: Chịu trách nhiệm về công tác lễ tân, văn thư, hậu cần Chịu trách nhiệm về công tác nhân sự, đào tạo Phụ trách các chương trình quảng cáo thương hiệu của Ngân hàng
- Phòng công nghệ thông tin khu vực Miền Trung và Tây Nguyên: Quản lý toàn bộ hệ thống thông tin của khu vực Miền Trung và Tây Nguyên và Chi nhánh
Đà Nẵng, triển khai các chương trình quản lý điện tử và ứng dụng công nghệ vào hoạt động đối với khách hàng Là Phòng thuộc cơ quan HO, không chịu sự quản lý trực tiếp từ Chi nhánh
Chức năng, nhiệm vụ của chi nhánh
MB Đà Nẵng là một trong những chi nhánh trực thuộc của MB MB Đà Nẵng được thực hiện tất cả các nghiệp vụ của MB, cụ thể như sau:
- Huy động vốn từ cá doanh nghiệp, các tổ chức và dân cư: Các sản phẩm huy
Trang 32động vốn của MB rất đa dạng gồm tiền gửi tiết kiệm, tài khoản tiền gửi cá nhân và doanh nghiệp Dòng sản phẩm tiết kiệm của ngân hàng gồm các sản phẩm tiết kiệm truyền thống, tiết kiệm tích lũy, tiết kiệm trả trước với nhiều kỳ hạn và lãi suất khác nhau Ngoài ra, ngân hàng còn nhận vốn ủy thác đầu tư của tổ chức, cá nhân trong
và ngoài nước
- Hoạt động tín dụng - bảo lãnh: Cung cấp cho khách hàng một dòng sản phẩm tín dụng rất đa dạng và phong phú bao gồm cho vay vốn ngắn, trung và dài hạn bằng VNĐ và ngoại tệ phục vụ sản xuất kinh doanh, dịch vụ; Tài trợ, đồng tài trợ cho các dự án; Cho vay trả góp tiêu dùng, sinh hoạt gia đình; Cho vay mua ô tô trả góp; Cho vay trả góp mua, xây dựng và sữa chữa nhà; Cho vay mua cổ phần của các doanh nghiệp cổ phần hóa Dịch vụ bảo lãnh gồm bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh bảo hành sản phẩm
- Thanh toán quốc tế, tài trợ xuất nhập khẩu: Với mạng lưới gần 300 ngân hàng đại lý ở gần 70 nước trên thế giới, MB Đà Nẵng cung cấp một cách nhanh chóng và an toàn cho các khách hàng những sản phẩm dịch vụ theo tiêu chuẩn quốc tế
- Dịch vụ thẻ: Nhằm nâng cao hơn nữa dịch vụ tiện ích cho khách hàng, năm
2004, ngân hàng đã triển khai dịch vụ thẻ ATM Active Plus cho khách hàng Thẻ này mang lại cho khách hàng những tính năng ưu việt hơn hẳn những sản phẩm thẻ của các ngân hàng khác như cung cấp cho chủ thẻ dịch vụ bảo hiểm cá nhân tại công
ty Bảo hiểm Quân Đội Ngoài ra nhờ việc kết nối thành công với ngân hàng trong hệ thống liên minh, khách hàng có thể thực hiện giao dịch tại tất cả những điểm chấp nhận thẻ của MB và hệ thống ATM của ngân hàng liên minh trên toàn quốc
- Các dịch vụ khác: Ngoài các sản phẩm trên, ngân hàng còn cung cấp cho khách hàng nhiều dịch vụ khác như: Dịch vụ tư vấn tài chính, dịch vụ bảo hiểm nhân thọ, dịch vụ ngân quỹ, chi trả lương hộ cho doanh nghiệp, dịch vụ chuyển tiền nhanh trong nước, dịch vụ kiều hối
Trang 332.2.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của MBBank Đà Nẵng từ năm 2015 - 2017
có kỳ hạn chiếm 87.87% Tiền gửi VND chiếm 98.8%, còn lại là tiền gửi bằng các loại ngoại tệ chiếm 1,2%
- Ngoài ra, để bù đắp nguồn VND thiếu hụt cho nhu cầu tín dụng, MBBank Đà Nẵng đã cố gắng cân đối nhận đáp ứng nhu cầu nguồn VND của Hội sở chính, đảm bảo chênh lệch lãi suất đầu vào - đầu ra ở mức tối thiểu 1.5% đến 2% nhằm duy trì hiệu quả hoạt động
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu về huy động vốn tại MBBank Đà Nẵng
ĐVT: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Tỷ trọng %
Trang 34Hoạt động dịch vụ, thanh toán
Hoạt động dịch vụ của MBBank Đà Nẵng bắt đầu được hoàn thiện Đến cuối năm 2017 thu nhập từ hoạt động dịch vụ đạt khoảng 2.150 triệu đồng bao gồm thu phí từ các hoạt động thanh toán trong nước, thanh toán quốc tế, dịch vụ bảo lãnh và các dịch vụ khác Các sản phẩm dịch vụ như dịch vụ chuyển tiền, bảo lãnh … đã và đang phát huy tác dụng, tạo ấn tượng tốt với khách hàng Hoạt động dịch vụ của MBBank đã đáp ứng được cơ bản các yêu cầu của khách hàng Trong số đó, thu từ dịch vụ bảo lãnh đến thời điểm cuối năm 2017 đạt 575 triệu đồng
Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ: Đây là hoạt động hiện có của MBBank, nhưng thu nhập từ kinh doanh ngoại tệ vẫn chiếm một tỷ lệ rất thấp không đáng kể trong tổng thu nhập từ dịch vụ phí
Ngân hàng đã tích cực phát triển hệ thống kênh phân phối, không chỉ là ở chi nhánh và phòng giao dịch mà còn là hệ thống máy ATM và kênh ngân hàng điện tử
để nâng cao năng lực phục vụ khách hàng và thu hút khách hàng mới, nâng cao chất lượng dịch vụ và cho ra đời nhiều sản phẩm gắn với nhu cầu của người dân, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh của ngân hàng
Hoạt động tín dụng:
Tình hình dư nợ tín dụng của MBBank Đà Nẵng tăng trưởng khá tốt trong hai năm 2015 – 2017, tổng dư nợ cho vay MBBank Đà Nẵng đến cuối năm 2017 đạt 771,7 tỷ đồng, tăng trưởng 24% so với năm 2016 Sự tăng trưởng tín dụng gắn liền với các yếu tố thúc đẩy như: Nhu cầu vốn từ khách hàng, từ nền kinh tế nói chung
và kinh tế TP Đà Nẵng nói riêng Hoạt động tín dụng của MBBank Đà Nẵng ổn định phát triển
Cơ cấu tín dụng hiện tại là khá hợp lý, phù hợp với định hướng của chính sách tín dụng đã được Hội đồng Quản trị MBBank thông qua Dư nợ ngắn hạn chiếm 20,7% tổng dư nợ, dư nợ cho vay trung và dài hạn chiếm 79,3%; dư nợ cho vay bằng VNĐ chiếm >90%, cho vay bằng ngoại tệ chiếm gần 10% Hoạt động tín dụng
có sự tăng trưởng rất mạnh về qui mô, đa dạng về sản phẩm và thay đổi cơ cấu tín dụng tích cực
Trang 35Tuy nhiên nếu xét trên khía cạnh huy động vốn thì cơ cấu dư nợ theo thời hạn như vậy là khó khăn trong việc thu xếp nguồn vốn để cho vay cũng như trong từng thời kỳ sẽ có áp lực về thanh khoản
Nhìn chung chất lượng tín dụng khá tốt so với tính hình chung của thị trường cũng như quy định của NHNN, năm 2017 tỷ lệ nhóm 1 và nhóm 2 chiếm 97,72% tổng
dư nợ Nợ nhóm 3 chiếm 1,48%, nợ nhóm 4 chiếm 0,64% và nhóm 5 chiếm 0,16%
Bảng 2.2 Dư nợ cho vay giai đoạn năm 2015 đến 2017
Trang 36Dư nợ cho vay theo thời hạn cho vay: Tỷ trọng dư nợ tín dụng trung dài hạn cao, chiếm gần 80% so với tổng dư nợ cho vay, trong khi đó tỷ trọng dư nợ tín dụng ngắn hạn chỉ chiếm 20% Về khía cạnh thời hạn thì những món vay có thời hạn càng dài thì càng ẩn chứa nhiều rủi ro hơn
Dư nợ cho vay phân loại theo thành phần kinh tế: Chiếm tỷ lệ cao nhất là doanh nghiệp ngoài quốc doanh, chiếm trên 77,78%, kế đến là các khách hàng hộ cá thể, cá nhân chiếm 22,22% Với chính sách hợp lý, MBBank Đà Nẵng đã và đang nhanh chóng xây dựng cho mình một đội ngũ khách hàng đa dạng, đông đảo, vững mạnh và gắn bó với ngân hàng, chiếm lĩnh đa số thị phần khách hàng có liên quan đến quân đội
Hình 2.2 Biểu đồ dư nợ cho vay theo ngành kinh tế năm 2017
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới và trong nước diễn biến phức tạp, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường tiền tệ trong nước MBBank đã phần nào chứng tỏ được hướng đi đúng đắn, hiệu quả của Hội đồng Quản trị, của Ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ nhân viên MBBank giai đoạn 2015 - 2017
Kết quả hoạt động kinh doanh
Quy mô tài sản tăng trưởng với cơ cấu hợp lý: Đến cuối năm 2017, tổng tài sản của MBBank Đà Nẵng đạt 986,5 tỷ đồng, tăng 23% so với năm 2016
Cơ cấu tài sản khá hợp lý với hai phần tài sản lớn nhất là “tiền gửi” chiếm
Dư nợ cho vay theo ngành nghề
Công nghiệp, xây dựng
Trang 3730% tổng tài sản và “các khoản cho vay” (hoạt động tín dụng) chiếm tỷ trọng 96,76% tổng tài sản Đây là hai hoạt động mang lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng
Lợi nhuận trước thuế của Chi nhánh năm 2017 đạt 10.050 triệu đồng Nguyên nhân lợi nhuận giảm so với năm 2016 là do 2 nguyên nhân chính: Một là chi phí huy động vốn tăng cao, tình hình lãi suất huy động đang bị khống chế nên ngân hàng phải thực hiện các chương trình khuyến mãi nhiều nhằm khuyến khích người dân gửi tiền Hơn nữa, với số dư cho vay cao hơn nhiều so với huy động thì Chi nhánh cũng phải trả một chi phí sử dụng vốn của Hội sở khá cao Nguyên nhân thứ
2 là tỷ lệ nợ quá hạn tăng cao, với dư nợ hiện tại thì nếu khoản vay quá hạn trên 10 ngày thì hệ thống tạm ngừng dự thu đối với khoản vay đó Hơn nữa, Ngân hàng phải trích dự phòng rủi ro cho các khoản vay này nên chi phí cao, lợi nhuận của Chi Nhánh giảm sút
Bảng 2.3 Tình hình hoạt động kinh doanh từ năm 2015 – 2017
ĐVT: Triệu đồng
2.2.4 Thực trạng nợ xấu tại MBBank Đà Nẵng
Trong những năm qua, mặc dù hoạt động mở rộng cho vay, tăng trưởng tín dụng gặp khó khăn Nhưng không phải vì vậy mà Chi nhánh phải tăng trưởng dư nợ bằng mọi giá, bỏ qua an toàn vốn Vấn đề chất lượng tín dụng luôn được nêu cao,
Tăng trưởng (%)
Trang 38Chi nhánh luôn ý thức rằng tăng trưởng dư nợ đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng, giảm thiểu rủi ro tín dụng nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh
Trong giai đoạn từ năm 2015 đến 2017, nợ xấu tại Chi nhánh luôn dưới 2,5% Trong những năm gần đây MBBank Đà Nẵng đã và đang cố gắng trong việc quản
lý nợ xấu, đảm bảo an toàn cho các khoản cho vay
Tại MBBank, công tác phân loại khoản vay được dựa trên các tiêu chí định tính căn cứ trên hệ thống XHTD nội bộ và chính sách quản lý RRTD, mô hình giám sát, phương pháp xác định và đo lường RRTD kết quả phân nhóm nợ của khách hàng tương ứng với kết quả xếp hạng của khách hàng đó và phân loại nợ dựa trên tình hình thực tế của các khoản vay (theo quy định tại Điều 6 Quyết định 493) như hầu hết các NHTM Việt Nam hiện nay
Tổng dư nợ của MBBank Đà Nẵng tăng qua các năm Trong đó nợ nhóm 1 có
xu thế giảm và nợ nhóm 2 tăng về số tương đối lẫn tuyệt đối Cụ thể: Tỷ lệ nợ nhóm
2 từ tăng lên từ 13,28% cuối năm 2016 và đến năm 2017 tỷ lệ nợ nhóm 2 là 13,06% MBBank Đà Nẵng đã phát sinh nợ nhóm 4, nhóm 5 và tỷ lệ đều tang quá các năm, đây là dấu hiệu đáng lo ngại Nguyên nhân khách quan có thể do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam Các doanh nghiệp trong nước gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm, duy trì và mở rộng hoạt động kinh doanh, từ đó ảnh hưởng đến nguồn thu trả nợ NH Tuy nhiên cũng có một phần không nhỏ do việc quản lý tín dụng, quản lý rủi ro tín dụng của MBBank Đà Nẵng vẫn còn những hạn chế cần khắc phục
Tổng dư nợ tăng trưởng nhưng bên cạnh đó nợ xấu cũng tăng lên nên tỷ lệ nợ xấu tăng cả về số tuyệt đối và tương đối Cụ thể là tỷ lệ nợ xấu là tính đến cuối năm
2017 là 2,27% trên tổng dư nợ, đây là tỷ lệ tương đối thấp so với trung bình toàn ngành cũng như so với một số Ngân hàng khác trên địa bàn
Với những biến động khó lường của nền kinh tế, công tác quản trị điều hành
về chất lượng tín dụng đòi hỏi sự điều hành linh hoạt, mềm dẻo, công tác dự báo phải sắc bén, quyết sách kịp thời phù hợp với tình hình thực tế
Trang 392.3 Thực trạng áp dụng pháp luật Việt Nam hiện hành về lãi suất trong hợp đồng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quân đội- Chi nhánh Đà Nẵng
Lãi suất trong HĐTD là một trong những yếu tố quan trọng nhất mà các TCTD sử dụng để cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh Bên cạnh những yếu tố như uy tín, chất lượng phục vụ hay vị trí địa lí thuận lợi thì lãi suất là mối quan tâm đầu tiên của khách hàng gửi tiền cũng như khách hàng có nhu cầu sử dụng vốn Mức lãi suất cho vay thấp là công cụ hiệu quả để thu hút khách hàng vay vốn, tăng thu nhập cho TCTD
Việc thỏa thuận lãi suất trong HĐTD luôn chịu sự chi phối của chính sách nhà nước Qua nhiều thời kì, NHNN đã đưa ra một số chính sách điều hành lãi suất cho vay trong hoạt động tín dụng Những chính sách này đã tác động đến lãi suất cho vay của các TCTD và là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến những tranh chấp về lãi suất
đã từng xảy ra hoặc có thể phát sinh Tranh chấp về lãi suất ít khi là nội dung chính của một vụ việc, mà thông thường chỉ khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ và vụ việc được đưa ra giải quyết tại cơ quan chức năng, những bất đồng quan điểm quanh vấn đề lãi suất mới phát sinh
Nhìn chung, các dạng tranh chấp về lãi suất có thể xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng là:
- TCTD hoặc người đi vay yêu cầu điều chỉnh lãi suất khi HĐTD quy định lãi suất cố định và thời hạn vay vẫn còn
- Tranh chấp về mức lãi suất trong hợp đồng và cách tính lãi trong hạn
- Tranh chấp về lãi suất nợ quá hạn và cách tính lãi đối với khoản nợ quá hạn
- Trong trường hợp khách hàng vay hoặc người bảo đảm không trả được nợ do
bị phá sản, việc thu hồi nợ của tổ chức tín dụng
Lãi suất tại Ngân hàng TMCP Quân đội nói riêng và lãi suất của các Ngân hàng TCMP trên toàn quốc nói chung đều đi theo sự chỉ đạo và cơ chế chung của Chính phủ và nền kinh tế Thông qua các công cụ Nhà nước can thiệp lên lãi suất cho vay của các Ngân hàng nhưng về mặt bằng chung lãi suất của Ngân hàng Việt
Nam đang cao hơn so với các Ngân hàng trong khu vực [26], cụ thể:
Trang 40Quốc gia Mức lãi suất cho vay
Qua bảng thống kê trên ta thấy, Việt Nam so với các nên kinh tế ổn định trong khu vực đang có mức lãi suất khá cao Trong khi Đồng Việt Nam được coi là đồng tiền có giá trị so với các nước trong Khu vực Nguyên nhân nào dẫn đến lãi suất cho vay của các Ngân hàng có thể kể đến như:
Ảnh hưởng của cung cầu tiền tệ
Lãi suất là giá cả sử dụng vốn vì vậy bất kỳ sự thay đổi nào của cung và cầu hoặc cả cung và cầu tiền tệ không cùng một tỷ lệ đều sẽ là thay đổi mức lãi suất trên thị trường Tuy mức biến động của lãi suất ít nhiều phụ thuộc vào các quy định của chính phủ và NHTW, song đa số các nước có nền kinh tế thị trường đều dựa vào nguyên lý này để xác định lãi suất Do vậy, có thể tác động vào cung cầu trên thị trường vốn để thay đổi lãi suất trong nền kinh tế cho phù hợp với mục tiêu, chiến lược trong từng thời kỳ chẳng hạn như thay đổi cơ cấu vốn đầu tư, tập trung vốn cho các dự án trọng điểm Mặt khác, muốn duy trì sự ổn định của lãi suất thì sự ổn định của thị trường vốn phải được đảm bảo vững chắc
Ảnh hưởng của lạm phát kỳ vọng
Khi lạm phát được dự đoán tăng trong một thời kỳ nào đó, lãi suất sẽ có xu hướng tăng Điều này là xuất phát từ mối quan hệ giữa lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa và để duy trì lãi suất thực không đổi, tỷ lệ lạm phát tăng đòi hỏi lãi suất danh nghĩa phải tăng lên tương ứng Mặt khác, công chúng dự đoán lạm phát tăng sẽ dành phần tiết kiệm của mình cho việc dự trữ hàng hoá hoặc những dạng thức phi tài sản khác như vàng, ngoại tệ mạnh hoặc đầu tư vốn ra nước ngoài nếu có thể Tất cả những điều này làm giảm cung quỹ cho vay và gây áp lực tăng lãi suất trên thị trường