Kiểm toán hàng tồn kho trong kiểm toán báo cáo tài chính do công ty kiểm toán ASNAF việt nam thực hiện
Trang 1PHẦN I:MỞ ĐẦU
I.Lí do chọn đề tài :
a Cơ sở lí luận
“ Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người”
(Lênin)
Không có ngôn ngữ, xã hội không thể tồn tại Việc nắm bản chất xã hội của ngôn ngữ cho phép ta rút ra kết luận có tính chất phuơng pháp Nếu ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp, trao đổi tư tưởng, tình cảm thì nghiên cứu nó phải nghiên cứu hệ thống hoạt động chức năng Mục đích của nghiên cứu ngôn ngữ trong nhà trường là phải giúp cho học sinh sử dụng ngôn ngữ là phương tiện sắc bén trong giao tiếp Vì vậy, phát triển lời nói
là nhiệm vụ quan trọng nhất của dạy tiếng trong nhà trường Tất cả các giờ dạy Tiếng Việt , cả dạy đọc ,viết, …… phải đi theo khuynh hướng này Học sinh phải ý thức được chức năng của ngôn ngữ, nắm vững các phương tiện , kết cấu và qui luật cũng như hoạt động hành chức của nó Học sinh cần hiểu rõ người ta nói và viết không phải chỉ để cho mình mà còn cho người khác, do đó ngôn ngữ cần chính xác , rõ ràng, đúng đắn , dễ hiểu Đồng thời, vì ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp nên phải lấy hoạt động giao tiếp làm phương tiện để dạy và học Tiếng Việt
Dựa vào cơ sở đó nên mục tiêu đầu tiên của việc dạy Tiếng Việt ỏ Tiểu học là góp phần hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt, phát triển tư duy cho học sinh Điều này được thực hiện thông qua quá trình dạy Tiếng Việt Nói cách khác, cùng với quá trình dạy học Tiếng Việt, đồng thời ở học sinh cùng hình thành và phát triển các thao tác tư duy, các phẩm chất tư duy Để học sinh có thể nắm kiến thức ngôn ngữ một cách có ý thức thì nhiệm vụ đầu tiên của nhà trường trong dạy tiếng là phát triển những khả năng nhận thức cảm tính ở trẻ em Dạy tiếng phải dựa trên kinh nghiệm sống và lời nói của học sinh Những quan sát và
ấn tượng sống của trẻ phải là cơ sở cho bài học Tiếng Việt Học sinh sẽ đi
Trang 2từ việc quan sát tiếng nói trong đời sống, thông qua phân tích tổng hợp để
đi đến khái quát hóa, những định nghĩa lí thuyết , những qui tắc và từ đó quay về thực tiễn giao tiếp lời nói sống động trong dạng nói và viết.Kết quả là học sinh tiếp nhận những mẫu lời nói và qui tắc ngôn ngữ một cách
có ý thức
Không thể phủ nhận ngôn ngữ Tiếng Việt vừa phong phú, vừa giàu đẹp Ngày nay, nó ngày càng phát triển hơn, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam trong xã hội mới Vì vậy , việc bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học , đặc biệt đối với học sinh lớp 1 là rất cần thiết
b Cơ sở thực tiễn
Bước qua ngưỡng cửa của thời kì được bao bọc, chăm sóc yêu thương của các cô mẫu giáo , trẻ nhỏ bước vào một giai đoạn mới trong cuộc đời: giai đoạn học Tiểu học Lần đầu tiên được tiếp xúc với những chữ cái , những âm , vần mới trẻ không khỏi bỡ ngỡ, lo lắng Với mục đích yêu cầu của môn Tiếng Việt trong giai đoạn đầu của học sinh lớp 1 là
- Học sinh đọc được các âm, các vần thành thạo, từ đó đọc đựơc đúng tiếng từ trong bài
- Học sinh bước đầu được nâng cao dần học đọc các câu ngắn trong bài học vần và luyện nói trong tiết 2
Từ đây có thể thấy những yêu cầu ngày càng cao đối với học sinh lớp
1 trong việc học môn Tiếng Việt
Để phát triển ngôn ngữ cho học sinh trong giai đoạn này đòi hỏi người giáo viên cần phải tổ chức nhiều hoạt động , trò chơi phong phú , đa dạng nhằm gây cho học sinh sự hứng thú, vui thích trong môn học Bên cạnh đó , cần tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa, thăm quan , tìm hiểu môi trường sống , từ đó giúp tăng thêm vốn hiều biết về thiên nhiên, đất nước , con người Việt Nam Qua đó, giúp học sinh thêm yêu thích môn Tiếng Việt để giúp ích trong việc rèn luyện khả năng chọn từ ngữ , lời hay
ý đẹp sử dụng trong cuộc sống ,trong giao tiếp hằng ngày
Trang 3Tuy nhiên do đặc điểm tâm sinh lý của trẻ em lứa tuồi này là khả năng tập trung chú ý chưa cao, tư duy chưa phát triển, các em thường dễ xao lãng khỏi bài học để tìm đến thú vui riêng nên việc bỗi dưỡng trau dồi vốn
từ cho các em là rất khó khăn
Đứng trước thực tiễn như vậy , cùng với mong muốn giúp học sinh có thể học thật tốt môn học này cũng như thông qua môn Tiếng Việt, giúp học sinh tăng cường ,trau dồi vốn từ ngữ tiếng mẹ đẻ nên trong quá trình giảng
dạy tôi đã đức kết một số biện pháp nhằm giúp học sinh lớp 1 trau dồi được vốn từ, từng bước sử dụng từ được chính xác trong đề tài sáng
kiến kinh nghiệm lần này
II Cơ sở nghiên cứu – Đối tượng nghiên cứu
1 Mục đích nghiên cứu:
Giúp học sinh ngày càng tăng thêm vốn từ ngữ Tiếng Việt, nhằm tạo bước thuận lợi cho học sinh học lên các lớp trên
2 Nội dung nghiên cứu :
Các biện pháp để trau dồi vốn từ ngữ cho học sinh lớp 1
3 Đối tượng nghiên cứu :
Học sinh lớp 1 trường tiểu học La Thành
4.Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài áp dụng trong các giờ học Tiếng Việt lớp 1
5.Thời gian nghiên cứu :
Từ tháng 9 năm 2008 đến tháng 3 năm 2000
6 Các phương pháp nghiên cứu :
* Phương pháp điều tra
* Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
* Phương pháp thực nghiệm
PHẦN II: NỘI DUNG
Trang 4I Điều tra thực trạng qua khảo sát điều tra :
Tôi đã tiến hành một cuộc khảo sát nhỏ tại lớp 1B trường tiểu học La Thành khi nghiên cứu về khả năng tìm, ghép các phụ âm khác để tìm tiếng mới ngoài bài của học sinh sau khi học đến bài 7 của SGK Tiếng Việt 1 tập một
Kết quả như sau:
Lớp
1B/sĩ số
Học sinh chỉ biết các tiếng trong bài
Học sinh biết tìm 1 -2 tiếng ngoài bài
Học sinh biết tìm 3 tiếng trở lên
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc học sinh chưa tăng được khả năng trau dồi được vốn từ của mình là do sự tập trung chú ý còn chưa cao, khả năng tiếp thu còn hạn chế, các hoạt động trên lớp trong tiết học chưa thực sự thu hút các em
Nắm bắt được điều này tôi đã thực hiện một số biện pháp ngay từ đầu năm học để giúp học sinh sớm tăng vốn từ ngữ của mình
II.Các biện pháp áp dụng
1.Biện pháp sử dụng bảng hệ thống:
Trong SGK Tiếng Việt 1 tập một học sinh được làm quen với chữ cái
e, b và các dấu thanh ngay trong bài học đầu tiên, sau đó ở các bài tiếp theo các em được làm quen với chữ cái và âm các con chữ đơn, kép thể hiện phụ
âm, nguyên âm
a Các phụ âm đầu là các con chữ đơn
Để giứp học sinh dễ hiểu bài và có thể ghép được tiếng mới nhanh tôi đã hướng dẫn các em thông qua víệc thành lập bảng
Có 16 phụ âm đầu ( b, v, l, c, n, m , d, đ, t, s, x, r,k, b, g) viết ở cột đầu tiên, sau đó ở các cột tiếp theo ta viết lần lượt các dấu thanh ( ngang – huyền – sắc – hỏi – ngã – nặng)
VD Với nguyên âm e
Thanh
Phụ âm đầu
Trang 5b be bé bè bẻ bẽ bẹ v
l
……
b Các phụ âm đầu là các con chữ kép ( th, ch, nh, gh, ph, kh,qu, gh, ngh, tr)
Thanh
Phụ âm đầu
/ \ ~ ?
th
ch
nh
…
Thông qua bảng , học sinh nhanh chóng tìm được tiếng mới Để phong phú , tôi đã sử dụng hình thức trò chơi học tập giúp học sinh hứng thú hơn với bài học
Sau khi học sinh đã học được một số bài , tôi cho học sinh sử dựng bộ
đồ dùng dạy học vần để ghép những tiếng đã có với những tiếng mới học
để tạo thành từ có nghĩa
VD ba má bé vẽ
ba lô bé đi
Trong quá trình tìm từ mới của học sinh từ nào khó tôi giải thích cho học sinh hiểu thông qua đồ dùng trực quan ( tranh ảnh ,vật thật)
Đối với các phụ âm ghép để tránh cho các em viết sai lỗi chính tả tôi phân biệt cho học sinh các âm gh, ngh , k chỉ ghép với các âm e, ê ,i còn g,
ng, c ghép v ghép được với các âm còn lại, sau đó cho học sinh nhắc lại nhiều lần và t hể hiện như sau :
gh g
ngh e, ê, i ng o,ô, a, u, ư
k c
Trang 6Như vậy khi viết chính tả các em sẽ nắm được qui tắc này và không bị mắc lỗi
2 Biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan
Có thể nói đây là biện pháp được sử dụng xuyên suổt trong môn Tiếng Việt , cả giờ học vần và giờ tập đọc
a.Đối với giờ học vần , sau mỗi bài học sinh được học vần mới , trong phần củng cố kết thúc bài ở tiết 1,tôi thường cho học sinh thi đua ghép từ vào bảng gài qua hình thức chơi “ đoán tranh tìm chữ” Do đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học , đặc biệt là học sinh lớp 1 rất thích được xem các tranh , hình ảnh mới lạ , có màu sắc nên các em thường rất háo hức
VD : Bài vần ôm – ơm
Giáo viên đưa ra các tranh
Bát cơm Bánh cốm
Trang 7
Cái bờm Cái nơm
Chôm chôm Con tôm
Sau mỗi bức tranh giáo viên đưa ra học sinh ghép từ vào bảng gài, bạn nào ghép đúng , nhanh sẽ được tuyên dương Đối với những bức tranh khó tìm từ , giáo viên gợi ý để học sinh tìm ra được từ ( Bức tranh cái nơm gợi ý: vật đựoc làm từ những thanh tre san kê vào nhau , dùng để úp gà hoặc
úp thỏ )
b Đối với giờ Tập đọc , giáo viên nên khai thác đồ dùng trực quan tối
đa , đặc biệt trong những bài tả cảnh thì cần đưa ra những lời gợi ý để giúp học sinh cám nhận được vẻ đẹp của cảnh trong tranh ngoài những gì đã được miêu tả trong bài tập đọc
VD Bài “ Hồ Gươm” trang 118 SGK Tiếng Việt 1 tập hai
Giáo viên đưa tranh hồ Gươm ở nhiều góc cạnh khác nhau
Trang 8Giáo viên đưa ra những lời gợi ý để giúp học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của hồ Gươm mặt hồ như thế nào? Nước hồ màu gì? Xung quanh hồ đuợc bao phủ bởi gì?)
Cầu Thê Húc Đền Ngọc Sơn
( Gợi ý : Cầu Thê Húc có màu gì? cầu dẫn lối ta đến đâu? Đền Ngọc Sơn
có vẻ đẹp như thế nào? Con thích nhất điểu gì khi đến thăm quan hồ Gươm?) Thông qua những lời gợi ý của giáo viên ,học sinh được sử dụng vốn
từ của mình để trả lời , qua đó giúp các em thêm trau dồi vốn từ , đồng thời biết cảm nhận đựoc vẻ đẹp của thiên nhiên , đất nước
3.Biện pháp trò chơi học tập
Sau khi đã thành thạo trong việc tìm tiếng mới , học sinh sẽ dễ dàng tìm từ mới ,do đó giờ học vần sẽ trở nên sinh động và sôi nổi hơn Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở việc gọi học sinh tìm từ mới chứa vần bằng cách phát biểu hoặc sử dụng bộ đồ dùng học vần thì lâu dần học sinh nhàm chán Để giờ học vần luôn hấp dẫn với học sinh người giáo viên cần đưa
ra các hình thức trò chơi học tập lôi cuốn không những giúp tăng cường vốn từ của học sinh sau mỗi bài học mà còn tạo không khí học tập trong lớp Sau đây là một số trò chơi học tập mà tôi đã áp dụng trong các bài dạy
âm vần để giúp tăng cường vốn từ cho học sinh
a Trong giờ học âm mới
VD 1 Bài âm e
Trang 9Trò chơi “ Ai nhanh hơn”
Giáo viên chia lớp thành 3 đội chơi
Giáo viên dán lên bảng 3 văn bản trong đó có các tiếng chứa chữ e , 3 đội lên thi gạch chân dưới tiếng có chứa âm e , đội nào làm nhanh và đúng thì thắng cuộc
Sau khi chơi xong giáo viên cho học sinh đọc đồng thanh các tiếng có chứa âm e mà các đội đã gạch chân
VD 2 : Bài âm n -m
Trò chơi “ Ai thính tai”
Giáo viên chuẩn bị một số câu có chứa âm ê và v , sau tiếng nào có chứa âm v hoặc âm ê học sinh đứng lên vỗ tay thật nhanh và đọc lại tiếng
có chứa âm đã học sau đó ngồi xuống, em nào không thực hiện được thì phải đứng lên hoặc loại khỏi cuộc chơi
( chia lớp thành 4 đội mỗi tổ 1 đội )
Khi thực hiện trò chơi này tôi nhận thấy một số học sinh chậm các em thường không tham gia được với các bạn do khả năng nhận biết tiếng , từ của các em còn yếu Vì vậy , cứ sau mỗi câu đọc có tiếng chứa âm ê hoặc
v ,tôi cho học sinh khá nhắc lại tiếng có chứa âm cần tìm và phân tích tiếng
đó để các em học sinh tiếp thu chậm có thể nhận biết được, ngoài ra kết thúc trò chơi tôi cho học sinh ghi lại tất cả những tiếng tìm được Như vậy , học sinh được bổ sung thêm những tiéng ngoài sách , từ đó tìm thêm được nhiều từ mới
b Dạy học vần mới
VD 3 : Bài vần ôn - ơn
Trò chơi “ Tìm chữ”
Giáo viên chuẩn bị 2 câu đố :
Câu đố 1 :
Không huyền là một vật dài Binh khí chắc chắn dùng hoài chẳng sao Thêm huyền thành một cù lao Nổi giữa sông lớn càng cao càng dày
Trang 10Câu đố 2 :
Một mình em chả có ai Nếu đi với mẫu thành loài đẹp ghê Thêm huyền để đánh, để vê
Nỉ non thánh thót ,nhạc ve nào bằng
Do tính chất trò chơi là hình thức tìm chữ qua câu đố nên phần nào còn trừu tượng và khó đối với học sinh nên khi đưa ra câu đố tôi đưa từng câu một cách chậm rãi và nhấn mạnh vào những từ cần thiết để giúp học sinh dễ dàng hơn trong việc tìm chữ ( Cần chú ý trong mỗi câu đố tìm 2 chữ )
VD : Trong câu đố 1
Không huyền là một vật dài ( Gợi ý : Chữ đó không có dấu chỉ một vật có chiều dài)
Binh khí chắc chắn dùng hoài chẳng sao ( Gợi ý: Nó là một loại binh khí) Thêm huyền thành một cù lao Nổi giữa sông lớn càng cao càng dày ( Gợi ý : Vẫn chữ đó nhưng khi có dấu huyền mang một nghĩa mới chỉ một cù lao nổi ở giữa sông)
Giáo viên cần gợi ý cho học sinh hôm nay học bài ôn - ơn nên chữ đó phải có vần ôn hoặc ơn , hướng dẫn học sinh tìm 2 chữ , một chữ không dấu chỉ binh khí và vẫn chữ tìm được thêm dấu huyền
Tương tự thực hiện như vậy với câu đố thứ hai
Giáo viên chia 2 tổ thành 1 nhóm, cho học sinh thời gian suy nghĩ ,trao đổi trong nhóm, sau đó ghi kết quả vào bảng con
Theo hiệu lệnh của giáo viên , học sinh giơ bảng
Giáo viên cho các nhóm nhận xét
Kết quả : Câu đố 1 côn – cồn
Câu đố 2 đơn – đờn
Trang 11Như vậy ,thông qua trò chơi tìm chữ học sinh đã biết thêm tiếng , từ mới chứa vần ôn – ơn , giáo viên nên giải thích cho học sinh hiểu ý nghĩa của các tiếng , từ mới này ( kèm giáo cụ trực quan )
Côn : một loại gậy để đánh võ, múa kiếm
Cồn cát : một cù lao nổi giữa một dòng sông lớn
Giáo viên có thể mởi rộng thêm nghĩa khác của tiếng cồn khi đứng
một mình có nghĩa là rượu nguyên chất
Hoa mẫu đơn : Là loài hoa có lá phức , xẻ thùy sâu và hoa lớn có mùi
thơm, có màu từ đỏ tới trắng hay vàng , nở vào cuối mùa xuân hay đầu hè
Đờn ca : là một dòng nhạc dân tộc Việt Nam , bắt nguồn từ nhạc
lễ ,nhã nhạc cung đình Huế và văn hóa dân gian
VD Đờn ca tài tử Nam Bộ
c Dạy bài ôn tập vần
VD : Bài ôn tập trang 104- 105 SGK Tiếng Việt 1 tập một
Trò chơi Thi tìm nhanh tiếng ,từ có chứa vần kết thúc bằng n
Giáo viên chia lớp thành 2 đội mỗi đội 7 học sinh
Theo hiệu lệnh của giáo viên ,các đội thi nhau viết nối tiếp các tiếng ,
từ chứa âm n ở cuối lên phần bảng của đội mình
Đội nào tìm được nhiều tiếng từ và nhanh nhất thì đội đó thắng cuộc
4.Biện pháp gợi mở tìm từ gần nghĩa ,trái nghĩa
Biện pháp này được sử dụng trong phần Tập đọc , khi học sinh đã đọc lưu loát được một đoạn văn , bài thơ ngắn và đã cảm thụ được cái hay của đoạn văn , bài thơ đó thì giáo viên hướng dẫn học sinh tìm thêm các từ gần nghĩa và trái nghĩa đối với một số từ được coi là điểm nhấn trong bài
( tìm từ ở mức độ dễ , áp dụng cho những bài thơ , doạn văn tả cảnh )
VD1: Bài “ Đầm sen” trang 91 SGK Tiếng Việt tập hai
Sau khi giáo viên đưa tranh minh họa để học sinh thấy được vẻ đẹp của đấm sen , bước sang phần tìm hiểu bài , giáo viên giới thiệu lá sen có màu xanh mát và cho học sinh tìm thêm những từ gần nghĩa chỉ màu xanh như xanh thẫm, xanh tươi, xanh biếc, …… có thể gợi mở câu hỏi để học
Trang 12sinh dễ tìm như lá cây có màu xanh gì? Áo chú bộ đội màu xanh thế nào?
Tương tự với phần miêu tả cánh hoa sen đỏ nhạt giáo viên cho học sinh tìm thêm các từ gần nghĩa chỉ màu đỏ nhu đỏ thẫm, đỏ tươi ,đỏ thắm
…… Với câu hỏi gợi mở như lá cờ Tổ Quốc màu đỏ gì? Hoa phượng nở
đỏ thế nào?
Với việc mở rộng vốn từ thông qua gợi mở như vậy tạo tiền đề cho học sinh có thể đặt câu một cách dễ dàng
VD2 : Bài “Hồ Gươm” trang 118 SGK Tiếng Việt 1 tập hai
Trong phần tìm hiểu bài khi miêu tả mặt Hồ Gươm trông như một chiếc gương bầu dục khổng lồ , giáo viên cho học sinh tìm từ gần nghĩa với khổng lồ học sinh tìm được các từ như to lớn , vĩ đại, … tìm từ trái nghĩa với khổng lồ là tí hon, bé nhỏ…., giáo viên giải thích thêm cho học sinh từ khó như cổ kính chỉ sự lâu đời, xa xưa
5.Kết quả nghiên cứu đề tài
Sau khi áp dụng những biện pháp trên trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy 95% học sinh lớp tôi đã tìm được rất nhiều tiếng ,từ có nghĩa trong các tiết học vần , phần lớn các em đều biết ghép các phụ âm đầu ( đơn, ghép ) với các nguyên âm để tạo nhiều tiếng , từ mới
Phần tập đọc thông qua các bài văn , bài thơ học sinh từng bước đặt được những câu ngắn dựa trên những tiếng tìm được Hơn nữa , việc tìm thêm các từ gần nghĩa , trái nghĩa trong bài đã giúp các em có thêm từ ngữ
để đặt câu
Điều này đã được khẳng định trong kì thi giữa kì II môn Tiếng Việt vừa qua Kết quả như sau :
Phần thi đọc hiểu, tìm tiếng từ trong , ngoài bài
Lớp
1B/sĩ số Học sinh đạt điềm 9-10 Học sinh đạt điểm 7-8 Học sinh đạt điểm 5-6