Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây, chủ đề mạng lưới xã hội MLXH được đặc biệt chú ý dưới nhiều góc cạnh khác nhau trong phát triển và ổn định kinh tế xã hội, phát triển
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN THỊ KIM DUNG
MẠNG LƯỚI XÃ HỘI CỦA PHỤ NỮ TRONG GIA ĐÌNH LÀM NGHỀ BIỂN (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI - năm 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN THỊ KIM DUNG
MẠNG LƯỚI XÃ HỘI CỦA PHỤ NỮ TRONG GIA ĐÌNH LÀM NGHỀ BIỂN (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH)
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận án là trung thực Các kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào Luận án có thừa kế kết quả nghiên cứu của một số nghiên cứu khác dưới dạng trích dẫn Nguồn trích dẫn được liệt kê trong mục tài liệu tham khảo
Người thực hiện
Phan Thị Kim Dung
Trang 4MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án 9
1.2 Những chủ đề nghiên cứu mạng lưới xã hội của phụ nữ 24
2.3 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích vấn đề của
luận án
43
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM MẠNG LƯỚI XÃ HỘI CỦA PHỤ NỮ TRONG
GIA ĐÌNH LÀM NGHỀ BIỂN Ở THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH
3.3 Mức độ quan trọng của mạng lưới xã hội và cách thức phát triển mạng lưới
xã hội của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển
88
CHƯƠNG 4: VAI TRÒ CỦA MẠNG LƯỚI XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHỤ NỮ
TRONG GIA ĐÌNH LÀM NGHỀ BIỂN Ở THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH
BÌNH ĐỊNH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MẠNG LƯỚI XÃ HỘI
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu về MLXH tại thành phố Quy Nhơn
Bảng 3.1 Số thành viên gia đình phụ nữ phân theo độ tuổi (%)
Bảng 3.2 Tỷ lệ phụ nữ được hỏi sống chung với các thành viên gia đình phân theo nơi cư
trú (%) Bảng 3.3 Hiện trạng họ hàng hai bên còn sống của phụ nữ với nơi cư trú (%)
Bảng 3.4 Đặc điểm về những anh, chị, em ruột bên phụ nữ (%)
Bảng 3.5 Đặc điểm về những anh, chị, em ruột bên chồng (%)
Bảng 3.6 Đặc điểm những người họ hàng khác bên phụ nữ (%)
Bảng 3.7 Đặc điểm những người họ hàng khác bên chồng (%)
Bảng 3.8 Tỷ lệ có mối quan hệ bạn bè của người phụ nữ (%)
Bảng 3.9 Đặc điểm về bạn bè của người phụ nữ
Bảng 3.10 Mức độ đi thăm giữa phụ nữ và các thành viên sống riêng (%)
Bảng 3.11 Mức độ hỗ trợ vật chất giữa phụ nữ và các thành viên sống riêng (%) Bảng 3.12 Hỏi ý kiến những việc quan trọng trong gia đình (%)
Bảng 3.19 Cách mở rộng quan hệ xã hội của phụ nữ phân theo nơi cư trú (%)
Bảng 4.1 Tỷ lệ phụ nữ chịu thiệt hại do gặp rủi ro phân theo nghề nghiệp (%) Bảng 4.2 Tỷ lệ phụ nữ gặp các loại khó khăn về việc làm phân theo nơi độ tuổi (%) Bảng 4.3 Tỷ lệ phụ nữ có những việc lớn trong gia đình phân theo nơi cư trú (%) Bảng 4.4 Tỷ lệ phụ nữ tham gia chính sách, chương trình phân theo nơi cư trú (%)
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BẢN ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Mức độ quen biết với hàng xóm láng giềng
Biểu đồ 3.2 Mức độ phụ nữ và bạn bè đi thăm nhau
Hình 4.1 Kiểu mạng lưới xã hội truyền thống hỗ trợ việc làm cho phụ nữ Hình 4.2 Kiểu mạng lưới xã hội hiện đại hỗ trợ việc làm cho phụ nữ
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, chủ đề mạng lưới xã hội (MLXH) được đặc biệt chú
ý dưới nhiều góc cạnh khác nhau trong phát triển và ổn định kinh tế xã hội, phát triển con người từ vai trò quan trọng của các mối quan hệ, tương tác giữa các cá nhân - nhóm - cộng đồng với các thành tố của nó tới quá trình sống của con người MLXH là
vô cùng cần thiết và hữu ích, dần được coi như một tác nhân quan trọng không thể thiếu được giúp con người cải thiện tốt hơn cuộc sống của mình trong quá trình tạo dựng gia đình với sinh kế bền vững, đặc biệt đối với chủ thể sống ở những vùng khó khăn dễ bị tổn thương như phụ nữ trong gia đình làm nghề biển khi phải đối mặt với những rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào MLXH nhiều khi đóng vai trò như nguồn lực thúc đẩy, tạo sự gia tăng về cơ hội thành công của mỗi người trong cuộc sống của họ
Phụ nữ trong các gia đình làm nghề biển là một nhóm xã hội có sinh kế phần lớn phụ thuộc chủ yếu vào các nguồn tài nguyên ven biển Việc làm chính của hầu hết chị em phụ nữ có khả năng lao động đều dựa vào khai thác tài nguyên ven bờ trong điều kiện nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt, thường là những việc làm tại chỗ mang tính chất thời vụ, không ổn định, thu nhập bấp bênh và mang tính rủi ro cao như mua bán thủy hải sản hay vá lưới, đan chài, chế biến mắm…những nghề gắn liền với cuộc sống của họ từ bao đời nay Đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho người phụ nữ trong gia đình làm nghề biển dễ rơi vào vòng xoáy của sự nghèo khổ và trở thành nhóm dễ bị tổn thương Mặc dù đã có một số chính sách về việc làm cho lao động nữ để hỗ trợ phát triển sinh kế, tuy nhiên với sinh kế còn nhiều khó khăn hiện nay thì những hỗ trợ đó chưa đem lại nhiều thay đổi tích cực như mong muốn Từ thực
tế này cho thấy, việc phát huy vai trò của MLXH trong việc hỗ trợ phát triển sinh kế bền vững cho phụ nữ trong gia đình làm nghề biển là một giải pháp hiệu quả để giải quyết vấn đề này
Phần đông phụ nữ trong gia đình làm nghề biển thường có các thành viên gia đình đi biển, chị em rất vất vả khi phải gánh vác thay cho người đi biển những công việc trong gia đình như nuôi dạy con cái, chăm sóc các thành viên khác, đồng thời cũng là người chịu trách nhiệm lo các công việc gia đình, dòng họ như ma chay, giỗ chạp, cưới hỏi, hiếu hỉ tham gia các công việc của cộng đồng để các thành viên khác yên tâm bám biển Chính vì vậy, việc duy trì MLXH với những mối gắn kết cá nhân - gia đình - cộng đồng là vô cùng cần thiết và hữu ích đối với phụ nữ nhằm tạo cơ hội
Trang 9cho phụ nữ nhận được những hỗ trợ nhất định từ mạng lưới giúp giải quyết những khó khăn gặp phải trong cuộc sống, thực hiện tốt các vai trò trong gia đình và cộng đồng
Vùng ven biển cũng là nơi thường gặp nhiều rủi ro, bất trắc liên quan đến yếu
tố thời tiết, môi trường Hàng năm, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định hứng chịu nhiều cơn bão lớn gây nhiều tổn thất nghiêm trọng đến tính mạng và tài sản của phụ
nữ trong gia đình làm nghề biển Nhà cửa bị phá hủy, phương tiện sinh kế cũng như đồ dùng sinh hoạt bị cuốn trôi Tuy nhiên, tổn thất về người là tổn thất lớn nhất mà phụ
nữ phải đối mặt khi bị mất mát, thương tật đối với bản thân và các thành viên của gia đình Thường những rủi ro này có tác động lâu dài đến cuộc sống vốn đã khó khăn của phụ nữ, do đó cũng nằm ngoài khả năng giải quyết của họ và gia đình Vì vậy, nếu có chung tay giúp sức từ các thành viên trong MLXH như gia đình, họ hàng, hàng xóm láng giềng, bạn bè, các tổ chức xã hội cho phụ nữ cũng như giúp họ được tiếp cận nhiều hơn với các chính sách xã hội thì đó sẽ là những nguồn hỗ trợ rất lớn về vật chất, tinh thần và sinh kế cần thiết giúp họ và gia đình sớm ổn định cuộc sống
Như vậy, trên bình diện xã hội học, nghiên cứu về MLXH với tư cách là một vấn đề của xã hội rất cần được quan tâm đúng mức ở Việt Nam bởi những yêu cầu xuất phát cả từ mặt lý luận và mặt thực tiễn Hiện nay, nghiên cứu về MLXH đã có được một hệ thống lý luận khá rõ ràng nhưng những khoảng trống trong nghiên cứu thực nghiệm vẫn cần được bổ sung Chẳng hạn, còn thiếu những mô tả chi tiết về đặc điểm của MLXH; Còn ít có những phân tích chuyên sâu về vai trò của MLXH trên tất
cả các mặt của đời sống cá nhân, cũng như chỉ ra các tác động tiêu cực của mạng lưới đến cá nhân; Bên cạnh đó, việc tìm ra những nhân tố tác động đến MLXH (cả yếu tố
cá nhân và các yếu tố bên ngoài) là vô cùng quan trọng, vì qua đó có thể thấy MLXH
là một yếu tố động có thể bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau và dẫn đến sự biến đổi trong mạng lưới
Để góp phần khắc phục những khoảng trống nghiên cứu thực nghiệm về MLXH, việc thực hiện đề tài “MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển: nghiên cứu trường hợp tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định” sẽ mô tả chi tiết đặc điểm của MLXH; chỉ rõ cách phát triển MLXH cùng những cơ hội, thách thức bộc lộ; Phân tích MLXH và những tác động của nó trên thực tế đối với phụ nữ Những tác động tiêu cực từ MLXH đối với phụ nữ; Những nhân tố tác động đến MLXH của phụ nữ Việc làm rõ những vấn đề trên về MLXH chính là cơ sở khoa học chứng minh sự cần thiết trong việc tìm hiểu các chiều cạnh về MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển
Trang 102 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án tập trung phân tích MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển và các yếu tố ảnh hưởng qua nghiên cứu trường hợp ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định Từ đó cung cấp luận cứ khoa học nhằm hỗ trợ phát triển sinh kế bền vững cho
phụ nữ trong gia đình làm nghề biển
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
• Tổng quan tình hình nghiên cứu về MLXH
• Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu về MLXH: tìm hiểu và phân tích các lý thuyết có liên quan đến luận án, trong đó tập trung vào ba lý thuyết cơ bản: Lý thuyết mạng lưới xã hội, lý thuyết vốn xã hội và lý thuyết tương tác biểu trưng Làm rõ khái niệm MLXH và các khái niệm liên quan như vốn xã hội, phụ nữ trong gia đình làm nghề biển, sinh kế
• Mô tả đặc điểm về MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển, bao gồm quy mô của MLXH và các mối quan hệ trong MLXH
• Phân tích vai trò của MLXH đối với phụ nữ trong gia đình làm nghề biển trên
3 lĩnh vực: MLXH hỗ trợ khi gặp những rủi ro trong cuộc sống; MLXH hỗ trợ phát triển sinh kế bền vững và MLXH hỗ trợ những công việc lớn trong gia đình
• Phân tích các tác động tiêu cực từ MLXH đối với phụ nữ trong gia đình làm nghề biển
• Chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển ở các khía cạnh: đặc điểm của MLXH, vai trò của MLXH; các yếu tố ảnh hưởng đến
MLXH
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Giới hạn về khách thể nghiên cứu
• Khách thể nghiên cứu chính của luận án: Là 400 phụ nữ đại diện hộ gia đình làm nghề biển Luận án được phân tích trên cơ sở của 400 mẫu khảo sát này, do vậy các đặc điểm MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển chính là đặc điểm của người được hỏi mà chưa phải là toàn bộ phụ nữ (bà, mẹ, con gái, cháu gái ) trong các gia đình làm nghề biển tại thành phố Quy Nhơn
Trang 11• Khách thể bổ trợ của luận án: Các thành viên trong gia đình, họ hàng, hàng xóm, bạn bè và các tổ chức xã hội chính thức, các tổ chức xã hội tự nguyện, các doanh nghiệp, công ty ở địa bàn nghiên cứu
3.2.2 Giới hạn về thời gian nghiên cứu
Luận án được nghiên cứu trong khoảng thời gian từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 8 năm 2016
3.2.3 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Luận án tiến hành nghiên cứu tại các khu vực dân cư ven biển trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định Cụ thể: hai phường trong nội thành là Đống Đa
và Hải Cảng; hai xã ngoại thành là Nhơn Hải và Nhơn Lý
4 Phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Để thực hiện tốt phương pháp nghiên cứu này, đề tài đã tiến hành tra cứu các nguồn tư liệu, bao gồm hệ thống các tài liệu công trình nghiên cứu từ các lĩnh vực khoa học xã hội có liên quan đến đề tài ở trong và ngoài nước từ các nguồn như sách; luận án; luận văn; bài viết trên các tạp chí: Xã hội học, Nghiên cứu Gia đình và Giới; Khoa học Xã hội Ngoài ra các tư liệu sẵn có thu thập tại địa bàn nghiên cứu sẽ được tổng quan, khái quát và đối sánh với kết quả nghiên cứu của đề tài
4.2 Phương pháp thu thập thông tin
4.2.1 Phương pháp thu thập thông tin định lượng
٧ Phường Đống Đa: có 11 khu vực; chọn đại diện 2 khu vực tập trung chủ yếu
hộ gia đình làm nghề biển; trong mỗi khu vực chọn đại diện 5 TDP: khu vực 8 (TDP
38, 39, 40, 41, 42) và khu vực 9 (TDP 45, 46, 47, 48, 49) Tổng cộng chọn 10 TDP
Trang 12٧ Phường Hải Cảng: có 10 khu vực; chọn đại diện 2 khu vực tập trung chủ yếu
hộ gia đình làm nghề biển; trong mỗi khu vực chọn đại diện 5 TDP: khu vực 3 (TDP 1,
2, 3, 4, 5) và khu vực 6 (TDP 29, 30, 31, 32, 33) Tổng cộng chọn 10 TDP
٧ Xã Nhơn Lý: có 4 thôn; chọn đại diện 2 thôn tập trung chủ yếu các hộ gia đình làm nghề biển; ở mỗi thôn chọn đại diện 4 TDP: Thôn Lý Hưng (TDP 4, 6, 7, 12, 13) Thôn Lý Lương (TDP 6, 7, 11, 13, 15) Tổng cộng chọn 10 TDP
٧ Xã Nhơn Hải: có 3 thôn; chọn đại diện 2 thôn tập trung chủ yếu các hộ gia đình làm nghề biển; ở mỗi thôn chọn đại diện 5 TDP: Thôn Hải Đông (TDP 16, 17, 18,
19, 20); Thôn Hải Bắc (TDP 5, 7, 11, 13, 15) Tổng cộng chọn 10 TDP
Sau khi chọn ra được 40 TDP của 4 phường/ xã, tiến hành chọn phụ nữ đại diện cho các hộ gia đình làm nghề biển để phỏng vấn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống Bằng cách: Trước hết liệt kê danh sách tất cả phụ nữ trong gia đình làm nghề biển ở mỗi TDP được chọn; tiếp đó chọn mỗi TDP 10 phụ nữ đại diện hộ gia đình theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống Cụ thể như sau:
٧ Phường Đống Đa có 100 mẫu chia đều cho 10 TDP, mỗi TDP có 10 phụ nữ
٧ Phường Hải Cảng có 100 mẫu chia đều cho 10 TDP, mỗi TDP có 10 phụ nữ
٧ Xã Nhơn Lý có 100 mẫu chia đều cho 10 TDP, mỗi TDP có 10 phụ nữ
Xã Nhơn Hải có 100 mẫu chia đều cho 10 TDP, mỗi TDP có 10 phụ nữ
• Mô tả đặc điểm bảng hỏi
Luận án sử dụng bảng hỏi định lượng nhằm tiến hành phỏng vấn trực tiếp 400 phụ nữ trong các gia đình làm nghề biển
Bảng hỏi gồm tất cả 77 câu hỏi, trong đó có 56 câu hỏi đóng, 8 câu hỏi mở, 13 câu hỏi vừa đóng vừa mở
Bảng hỏi được chia làm 5 phần: Phần 1 có 7 câu hỏi về đặc điểm nhân khẩu -
xã hội của phụ nữ dùng để mô tả đặc điểm phụ nữ trong gia đình làm nghề biển, đồng thời cũng là những phân tổ chính khi xử lý thông tin định lượng; Phần 2 có 49 câu hỏi
về các thành phần của MLXH dùng để mô tả đặc điểm về MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển, đồng thời cũng là những phân tổ chính khi xử lý thông tin định lượng; Phần 3 có 14 câu hỏi về sự hỗ trợ của MLXH dùng để phân tích vai trò của MLXH; Phần 4 có 4 câu hỏi về chính sách xã hội dùng để phân tích các yếu tố tác động đến MLXH và phần 5 có 3 câu hỏi về tầm quan trọng của MLXH dùng để phân tích quá trình phát triển MLXH
Trang 13• Mô tả đặc điểm mẫu nghiên cứu
Đặc điểm mẫu nghiên cứu đƣợc thể hiện ở bảng 1
Bảng 1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu về MLXH tại thành phố Quy Nhơn
Đặc điểm nhân khẩu - xã hội Số lƣợng (N) Tỷ lệ (%)
60-68 chỉ chiếm 7,8% trong tổng số mẫu nghiên cứu
٧ Trình độ học vấn
Phần lớn phụ nữ trong mẫu khảo sát có trình độ học vấn ở mức phổ cập: tiểu học (TH) chiếm 38,8%, trung học cơ sở (THCS) chiếm 41,5%, trung học phổ thông (THPT) chiếm 5,8% Tỷ lệ phụ nữ có trình độ trung cấp (TC) - nghề và cao đẳng, đại
Trang 14học (CĐ-ĐH) thấp, chỉ chiếm lần lượt là 0,3% và 0,5% Có đến 10% chỉ mới đạt trình
độ học vấn là biết đọc, biết viết, thậm chí có 3,3% phụ nữ là mù chữ
٧ Nghề nghiệp
Phụ nữ trong mẫu khảo sát chủ yếu làm ngư nghiệp (chiếm 63,5%); có 9% phụ
nữ kinh doanh, buôn bán; Có 7,5% phụ nữ làm lao động tự do; Có 7% phụ nữ làm công nhân trong các công ty, doanh nghiệp; Có 2,3% phụ nữ là công chức, viên chức;
Có 0,5% phụ nữ làm nông nghiệp và có đến 10,3% phụ nữ không có việc làm
٧ Thu nhập
Phụ nữ trong mẫu khảo sát có mức thu nhập trung bình so với mặt bằng thu nhập chung (từ 2 triệu - dưới 5 triệu đồng/ tháng chiếm 39,2%) Một số phụ nữ có thu nhập thấp hơn (dưới 500 ngàn đồng/ tháng chiếm 7% và không có thu nhập chiếm 11%) Chỉ có 5,8% phụ nữ có thu nhập trên 5 triệu đồng/ tháng
٧ Tình trạng hôn nhân
Phụ nữ trong mẫu khảo sát phần lớn họ đã kết hôn Có 93,5% đang sống cùng với chồng; phụ nữ đã ly hôn chiếm 1%; phụ nữ đã góa bụa chiếm 5%; và phụ nữ chưa kết hôn chiếm 0,5%
Tuổi kết hôn trung bình của phụ nữ là 23,8 (trong đó người có thời gian kết hôn
ít nhất là 1 năm và dài nhất là 57 năm) Cụ thể: độ tuổi kết hôn từ 21-30 năm chiếm 33,2%, từ 11-20 năm chiếm 27,6%; từ 31-40 năm chiếm 21,6%, từ 1-10 năm chiếm 12,3%, từ 40 năm trở lên chiếm 5,3%
• Nhập và làm sạch số liệu
Toàn bộ phiếu điều tra được tổng hợp, làm sạch, mã hóa và được nhập bằng phần mềm SPSS phiên bản 21.0 nhằm xử lý các thông tin thu được, đồng thời kiểm định tính khách quan, độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu
4.2.2 Phương pháp thu thập thông tin định tính
Luận án sử dụng ba phương pháp thu thập thông tin định tính là phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung và quan sát
• Phỏng vấn sâu
Tiến hành phỏng vấn sâu 52 trường hợp tại 4 địa bàn khảo sát Trong đó, mỗi phường/ xã là 13 phỏng vấn sâu Mẫu phỏng vấn sâu bao gồm: 16 người phụ nữ; 8 thành viên gia đình (4 trường hợp là người con trong gia đình; 4 trường hợp là người làm cha mẹ); 8 người trong dòng họ (họ hàng ruột có 4 trường hợp; họ hàng khác có 4 trường hợp); 8 người bạn (bạn bè thân có 4 trường hợp, bạn bè không thân có 4 trường hợp); 4 người hàng xóm (sống gần nhà); 8 thành viên của các tổ chức xã hội (lãnh đạo
Trang 15ở cấp phường/ xã có 4 trường hợp và cấp khu vực/ thôn và TDP có 4 trường hợp) Việc tiến hành phỏng vấn sâu nhằm làm rõ hơn những nội dung liên quan đến MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển Bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu bao gồm 2 loại dành cho 2 nhóm khách thể nghiên cứu Thứ nhất, đó là hướng dẫn phỏng vấn sâu người dân (tổng cộng có 13 câu hỏi với các nội dung về đặc điểm của MLXH, vai trò của MLXH, cách thức phát triển MLXH và việc tiếp cận các chính sách xã hội của phụ nữ ) Thứ hai, đó là hướng dẫn phỏng vấn sâu chính quyền địa phương (tổng cộng có 9 câu hỏi với các nội dung về thực trạng nghề biển ở các địa phương, những rủi ro thiên tai xảy ra tại địa phương, vai trò và địa vị của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển và việc thực hiện chính sách và tiếp cận chính sách của phụ nữ )
• Thảo luận nhóm tập trung
Tiến hành thảo luận nhóm tập trung đối với các nhóm phụ nữ trong gia đình làm nghề biển Tổng cộng có 6 nhóm phụ nữ (ngư nghiệp; công nhân; không có nghề nghiệp; đơn thân; thanh niên; người cao tuổi); mỗi nhóm có 8-10 người tham gia Trong đó, ở mỗi phường là 2 thảo luận nhóm, còn ở mỗi xã có 1 thảo luận nhóm
Mục tiêu của thảo luận nhóm tập trung nhằm thu thập thông tin sâu hơn về các chủ
đề nghiên cứu của luận án Bảng hướng dẫn thảo luận nhóm tập trung tổng cộng có 10 câu hỏi với các nội dung về nghề nghiệp và sự hỗ trợ từ MLXH đến hoạt động nghề nghiệp của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển
• Quan sát
Luận án sử dụng phương pháp quan sát tìm hiểu một số thông tin để bổ sung thêm những nhận định ban đầu về nghiên cứu Nội dung quan sát gồm:
٧ Sinh hoạt và những quan hệ diễn ra trong gia đình và ngoài gia đình phụ nữ
٧ Tham gia hoạt động nghề nghiệp, hoạt động cộng đồng của phụ nữ
٧ Hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong gia đình và ngoài gia đình của phụ nữ
Các thông tin từ biên bản quan sát thu thập trong quá trình khảo sát thực nghiệm được sử dụng để dẫn giải và phân tích một số nội dung nghiên cứu của luận án
Toàn bộ thông tin từ phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung và quan sát được phân loại, chọn lọc dưới dạng trích dẫn để dẫn giải và phân tích vấn đề
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
• Đóng góp về mặt lý luận: Luận án đã xây dựng hệ thống cơ sở lý luận khá hoàn chỉnh về mạng lưới xã hội để dẫn đường cho nghiên cứu thực nghiệm về mạng lưới xã hội của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển, bao gồm hệ thống luận điểm về
Trang 16lý thuyết nghiên cứu về mạng lưới xã hội như lý thuyết phân tích mạng lưới xã hội, lý thuyết vốn xã hội và lý thuyết tương tác biểu trưng
• Đóng góp về mặt thực tiễn: Luận án xác lập cơ sở thực tiễn từ kết quả nghiên cứu thực tiễn về mạng lưới xã hội của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển như mô tả đặc điểm mạng lưới xã hội; phân tích vai trò của mạng lưới xã hội cũng như các tác động tiêu cực của mạng lưới xã hội; Chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến mạng lưới xã hội Từ thực tiễn nghiên cứu, luận án đề xuất một số khuyến nghị nhằm phát huy vai trò của MLXH cũng như hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của MLXH đối với phụ
nữ trong gia đình làm nghề biển
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
• Kết quả nghiên cứu góp phần hệ thống hóa các lý thuyết nghiên cứu xã hội học về MLXH bao gồm các lý thuyết phân tích MLXH như lý thuyết "Sức mạnh của các mối quan hệ yếu" của M Grannovetter và quan điểm "Di động xã hội" của Nan Lin; Lý thuyết vốn xã hội; Lý thuyết tương tác biểu trưng
• Nghiên cứu có thể đóng góp thêm cho việc phân tích và nghiên cứu lý luận về MLXH nói chung và lý luận về MLXH của phụ nữ nói riêng, góp phần làm phong phú hơn các lĩnh vực nghiên cứu MLXH
Nội dung: Bao gồm có 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 3: Đặc điểm MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển
Chương 4: Vai trò của MLXH đối với phụ nữ trong gia đình làm nghề biển và các yếu tố ảnh hưởng đến MLXH
Kết luận và khuyến nghị
Trang 17NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Những chủ đề nghiên cứu về mạng lưới xã hội
1.1.1 Phương pháp nghiên cứu mạng lưới xã hội
Trên thế giới: Theo S Wasserman và K Faust (1994) thì phương pháp phân tích MLXH chỉ thực sự ra đời cùng với xuất hiện của phương pháp “trắc lượng xã hội” (socialmetry) của nhà tâm lý học người Mỹ gốc Romania là J L Moreno (1889-1974) được trình bày trong tác phẩm "Ai sẽ là người sống sót?" (Who Shall Survive?) vào năm 1934 Trong tác phẩm này, ông đã đưa ra các nguyên tắc và công cụ của phương pháp trắc lượng xã hội Theo ông, phương pháp này gồm có hai công cụ cơ bản là
“sociometric test” và “lược đồ xã hội” (sociogram) Với công cụ này, nhà nghiên cứu
sẽ khám phá được các cấu trúc xã hội trong nhóm, trong tổ chức thông qua việc làm sáng tỏ các lực hút (attractions) và các lực đẩy (repulsions) giữa các thành viên trong một nhóm, một tổ chức (chẳng hạn hỏi từng thành viên xem họ thích và không thích ai trong mạng lưới) thông qua bảng ma trận Sau đó nhà nghiên cứu sẽ dùng đến những công cụ “lược đồ xã hội” để thể hiện trên mặt phẳng những lực hút và lực đẩy giữa các thành viên trong nhóm/ tổ chức đó Trong lược đồ xã hội, các điểm thể hiện các chủ thể và các đường nối thể hiện các mối liên kết giữa các chủ thể trong nhóm/ tổ chức Với việc thể hiện trên mặt phẳng, chúng ta sẽ nhìn thấy “hình ảnh” cụ thể của cấu trúc
xã hội Tuy không khẳng định như S Wasserman và K Faust, nhưng nhiều nhà nghiên cứu cũng đã thống nhất rằng phương pháp trắc lượng xã hội của J L Moreno là công
cụ phân tích đầu tiên của phương pháp phân tích MLXH [dẫn theo Lê Minh Tiến 2006:70]
G Simmel được xem như là người khởi xướng cách tiếp cận cấu trúc (nghiên cứu tính hợp thức và các đặc trưng cấu trúc của mạng lưới) trong phân tích MLXH Hướng tiếp cận mang tính hình thức chú trọng đến hình thức của các tương tác mà bỏ qua nội dung của các tương tác Để lý giải cho việc nghiên cứu ưu tiên các hình thức tương tác này, những người ủng hộ hướng tiếp cận này dựa trên một định đề mà theo
đó, các hình thức quan hệ được quan sát "thể hiện một tính thường xuyên đều đặn nhất định và tính ổn định nhất định" (Merkle 2004: 15) Vậy là bằng cách nghiên cứu các dạng thức của các quan hệ, người ta có thể tìm thấy tính thường xuyên và không biến đổi của nó Việc nghiên cứu tính thường xuyên liên tục của những lựa chọn quan hệ cũng hàm ẩn sự tồn tại của các (cách thức) tổ chức ít nhiều nằm ngoài ý thức của các
Trang 18Công việc của nhà nghiên cứu ở đây là thông qua mạng lưới nắm bắt được các nguyên tắc nằm ngoài ý thức nhưng lại tham gia vào việc tổ chức xã hội Hướng tiếp cận này
đi theo những bước như sau: hình thức của mạng lưới cho phép nghiên cứu tính thường xuyên liên tục của các hình thức quan hệ dẫn đến những nguyên tắc ngầm giữ vai trò tổ chức các nhóm Hạn chế của hướng phân tích cấu trúc ở chỗ nó quá nghiêng
về lý thuyết dựa trên thực địa Nó tập trung vào việc triển khai các "quy định" chung
về khuôn mẫu xã hội, về những quy luật ích lợi về mặt lý thuyết nhưng thường xuyên tách rời khỏi thực tiễn các quan sát kinh nghiệm Hơn nữa, phân tích cấu trúc quá ưu tiên các cấu trúc mà xem nhẹ cá nhân cũng như nêu các cấu trúc mà không nghiên cứu tìm hiểu các cấu trúc đó bắt nguồn từ đâu, cơ chế của chúng thế nào, biến đổi ra sao [dẫn theo Emmanuel Pannier 2008:106]
Chính vì những hạn chế của lối tiếp cận cấu trúc nên nhiều nhà nghiên cứu MLXH đã lựa chọn hướng phân tích khác, đó là hướng phân tích phi cấu trúc Cách tiếp cận này coi các tác nhân xã hội là trung tâm và nó quan sát những biến đổi đa dạng của các thực tiễn hoạt động và các biểu hiện của nó Các nhà nghiên cứu tiến hành phân tích dựa trên việc so sánh mạng lưới cá nhân, có nghĩa là một cá nhân là trung tâm của mạng lưới và họ sẽ tìm hiểu tổng thể các mối quan hệ trong mạng lưới
đó, các tiếp xúc có ý nghĩa đối với các tác nhân và đối với các quan hệ mà anh/ chị ta thực hiện rất cụ thể trong đời sống Các bước thực hiện ở đây là: (1) xuất phát từ một
cá nhân được lựa chọn theo tiêu chí chuyên biệt của việc điều tra hay vấn đề đặt ra, (2) thống kê các mối quan hệ thường ngày mà cá nhân thực hiện và duy trì; (3) thống kê các mối quan hệ quan trọng mà cá nhân có thể có hoặc đã có nhưng không bắt buộc phải là các hoạt động thường ngày sau đó; (4) tiến hành chuỗi các trao đổi phỏng vấn với nhân tố đó bằng các câu hỏi và các tiếp xúc của anh/ chị ta Lợi ích và những hạn chế của cách tiếp cận phi cấu trúc ở chỗ, mạng lưới cá nhân thể hiện đầy đủ những phạm vi mang tính nhận thức và cá nhân của các xử sự trong quan hệ Cách tiếp cận này cho phép nắm bắt các động thái, các vận động và các đặc trưng thay vì tìm kiếm tính thường xuyên và các hình thức cố định Tuy nhiên, cách tiếp cận này tập trung vào khía cạnh mang tính cá nhân của các hiện tượng xã hội và không chú trọng tới phân tích tổng thể [dẫn theo Emmanuel Pannier 2008:110]
Ở Việt Nam: Những nghiên cứu MLXH cũng áp dụng các phương pháp nghiên cứu trên thế giới, đó là phân tích cấu trúc và phi cấu trúc Lê Minh Tiến (2006) xác định phương pháp phân tích MLXH như là một tập hợp các phương thức chọn mẫu, thu thập và xử lý dữ kiện, các khái niệm, các lý thuyết nhằm mô tả và phân tích mối
Trang 19quan hệ giữa các actor trong mạng lưới, các quy luật hình thành và chuyển biến của những mối quan hệ đó, và nhất là làm sáng tỏ những ảnh hưởng của các mối quan hệ
xã hội (hay cấu trúc của mạng lưới) đối với hành vi của các actor Có thể nhận thấy phương pháp phân tích MLXH khác với lối phân tích theo biến số truyền thống Theo
đó, phân tích theo biến số thường dùng trong nghiên cứu thực nghiệm xã hội học chú trọng đến các đặc trưng dân số học và kinh tế - xã hội của các tác nhân như tuổi tác, giới tính, học vấn và xem hành vi của cá nhân bị quy định bởi những đặc trưng đó Trong khi lối phân tích MLXH nhấn mạnh đến quan hệ xã hội giữa các tác nhân, coi
đó là yếu tố quyết định đến hành vi chứ không phải là các đặc trưng của các tác nhân Đồng thời, sự khác biệt của các tác nhân không do các đặc trưng quyết định mà là cấu trúc của các quan hệ xã hội quyết định [58] Vũ Quang Hà (2001) cho rằng điểm trọng tâm trong phân tích MLXH là nghiên cứu các quan hệ nối kết của các thành viên (cá thể và tập thể) mà "không được ràng buộc đầy đủ và không đan bện chặt chẽ để có thể gọi là nhóm" Các nhà xã hội học có xu hướng tập trung vào mọi người có mối quan
hệ mạnh trong các nhóm xã hội, xem các mối quan hệ mạnh là cái cơ bản trong khi các mối quan hệ yếu không có ý nghĩa quan trọng về mặt xã hội học [17:440]
Như vậy, về mặt phương pháp nghiên cứu MLXH, hiện nay phương pháp phân tích MLXH theo hướng cấu trúc và phi cấu trúc vẫn được sử dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu ở trên thế giới Ở Việt Nam các nhà nghiên cứu cũng sử dụng cả hai phương pháp nghiên cứu này tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu của họ, nhưng chủ yếu phân tích làm rõ các mối quan hệ xã hội giữa các tác nhân trong MLXH
Từ kết quả tổng quan các phương pháp nghiên cứu về MLXH, luận án đã sử dụng cách tiếp cận phi cấu trúc để nghiên cứu MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển, trong đó tập trung phân tích mối quan hệ của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển - được xác định là trung tâm của mạng lưới với tổng thể các mối quan hệ trong mạng lưới mà người phụ nữ có tiếp xúc, trao đổi (bao gồm quan hệ gia đình, họ hàng, bạn bè, hàng xóm và các tổ chức xã hội) để xem các mối quan hệ nào là mạnh và các mối quan hệ nào là yếu trong MLXH
1.1.2 Các lý thuyết nghiên cứu mạng lưới xã hội
Trên thế giới: Có nhiều lý thuyết nghiên cứu MLXH được đưa ra bởi các nhà
nghiên cứu về MLXH Có thể nêu ra một số lý thuyết như sau:
Heider nghiên cứu nhận thức xã hội và thái độ của nhóm và đưa ra "lý thuyết về
sự cân bằng nhận thức" Trọng tâm của lý thuyết mô tả những liên hệ tình cảm (tích
Trang 20cách xem xét những tác động phức hợp trong mỗi nhóm cặp ba hợp thành, nhóm này được coi là cân bằng nếu kết quả của những liên hệ đó là tích cực và không cân bằng trong trường hợp ngược lại Luận đề cân bằng này chứng minh rằng nếu tất cả nhóm cặp ba đều cân bằng thì hệ thống sẽ bị phân chia thành hai nhóm đối lập [8: 283]
Grannovetter (1973) đã đưa ra lý thuyết “Sức mạnh của các mối quan hệ yếu” khi nghiên cứu MLXH Lý thuyết cho rằng, khi nói về sức mạnh trong các mối quan
hệ xã hội ta thường nghĩ đến tần suất thời gian (gặp gỡ), mức độ tình cảm, tính thân mật và sự hỗ tương Giữa các yếu tố này có thể độc lập hoặc tương quan với nhau Theo ông, những kết nối mạnh chính là mức độ hiểu biết giữa các chủ thể với nhau và mối liên hệ chặt chẽ, gắn bó giữa các thành viên trong cộng đồng Đối lập với các kết nối mạnh là kết nối yếu, ám chỉ đến mối quan hệ lỏng lẻo giữa các thành viên trong cộng đồng và thay thế vào đó là những kết nối bên ngoài cộng đồng [95]
Nan Lin (1999) cũng đưa ra lý thuyết "Liên kết các nguồn lực xã hội để hành động cụ thể" Lý thuyết này ngụ ý rằng việc một cá nhân tiếp cận với các nguồn lực xã hội là dựa trên vị trí xã hội của mình cũng như bản chất của các mối quan hệ xã hội được sử dụng Lý thuyết dựa trên hai mệnh đề chính: Sức mạnh của các vị trí (như được chỉ ra bởi nghề nghiệp của cha mẹ) cũng như sức mạnh của các mối quan hệ (như được chỉ ra bởi bản chất của các mối liên hệ là một người thân, bạn bè hoặc người quen) ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các ngành nghề có uy tín Các mối quan
hệ yếu hơn (bạn bè và những người quen biết chứ không phải là họ hàng) cung cấp khả năng tiếp cận tới các nghề nghiệp có uy tín hơn Quan hệ yếu cung cấp khả năng tiếp cận với các nguồn lực xã hội hơn là mối quan hệ mạnh mẽ, đặc biệt là đối với những người có vị trí ban đầu là tương đối thấp [107] Bên cạnh đó, Nan Lin cũng đưa ra lý thuyết MLXH với trọng tâm đề cập đến sự di động xã hội từ vị trí thấp đến vị trí cao
Sự di động xã hội này được xem như một nguồn lực nhằm đẩy chủ thể lên một tầm mới trong xã hội được biểu trưng bằng hình tam giác chóp [37]
Quan điểm về trung gian (brokerage) do Ronald Burt trình bày, giúp ta có một cái nhìn khác về cấu trúc xã hội Ông đưa ra khái niệm trung gian để đề cập đến việc chủ thể giúp kết nối các điểm (có thể là con người hoặc cộng đồng) lại với nhau vì một mục đích nào đó Do vậy vai trò trung gian này còn gọi là sự môi giới tạo ra các dòng chảy thông tin, gắn kết mọi người lại với nhau và loại bỏ những nguồn thông tin không cần thiết Người nắm giữ vị trí trung gian này tạo ra các mối liên kết và các mối liên kết này trở thành nguồn vốn xã hội của chính chủ thể đó [37]
Trang 21Quan điểm về sự đồng dạng (homophily) trong MLXH của J Miller Mc Pherson, Lynn Smith - Lovin đã nhấn mạnh đến những đặc điểm chung nhất tạo nên
sự chia sẻ chung giữa các cá nhân hay cộng đồng có khả năng tạo ra các mối liên kết,
từ đó hình thành nên MLXH Theo phân tích dựa trên các yếu tố: chủng tộc và tộc người, nhóm tuổi, tôn giáo, giáo dục, nghề nghiệp và giai cấp xã hội, vị trí trong mạng lưới, hành vi, thái độ, khả năng, niềm tin và khát vọng Các yếu tố này được phân định thành hai loại đồng dạng là đồng dạng nền tảng (các yếu tố chủng tộc và tộc người, nhóm tuổi ) và đồng dạng khác biệt (các yếu tố giới tính và giới, giáo dục, nghề
nghiệp) [37]
Các nhà nghiên cứu xã hội học về MLXH đã phát hiện ra mối quan hệ chặt chẽ giữa MLXH và vốn xã hội (VXH) và kết hợp lý thuyết nghiên cứu MLXH với lý thuyết nghiên cứu VXH trong những nghiên cứu về MLXH hay VXH Phân tích có hệ thống đầu tiên về VXH là của Pierre Bourdier (1986) Ông đã định nghĩa khái niệm VXH là "tập hợp những nguồn lực hiện hữu hoặc tiềm tàng, gắn với việc có một mạng lưới bền vững những quan hệ quen biết hoặc thừa nhận lẫn nhau ít nhiều được thể chế hóa" [84:198] Tiếp nối những quan điểm về mối quan hệ giữa VXH và MLXH của Bourdier; Coleman (1988) cũng cho rằng VXH nằm trong quan hệ xã hội [92]; hay theo Putnam (1993) cho rằng MLXH là một thành tố của VXH [115] hay theo Portes,
Alejandro (1998) thì cần quan sát VXH thông qua MLXH [114] Về mặt thực nghiệm,
một trong những nghiên cứu đáng kể nhất là về người nhập cư và nghề thầu khoán theo tộc người của Alejandro Pores (2003), trong đó MLXH và VXH lưu chuyển qua
nó trước sau đều được xác định là một nguồn lực then chốt để tạo ra các cơ sở kinh doanh nhỏ [1] Hary Goulbourne (2006) cho rằng, tổ chức gia đình được coi là đơn vị
cơ bản nhất của trật tự xã hội với chức năng bảo tồn nòi giống Từ cấu trúc gia đình (gia đình hạt nhân hay gia đình mở rộng) đến các mối quan hệ thân tộc và các chuỗi MLXH được liên kết qua yếu tố sinh học cũng như các thiết chế xã hội và luật pháp (luật hôn nhân), người thực hiện và các tổ chức kiểm soát luật Điều đó đã cung cấp một luận điểm quan trọng để đề xuất ý tưởng về VXH có thể liên quan đến gia đình, cộng đồng và bản sắc của họ VXH là một dạng vốn được sở hữu bởi các thành viên của một nhóm hay MLXH [97]
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về MLXH chủ yếu sử dụng lý thuyết
"Sức mạnh của các mối quan hệ yếu" của Grannovetter để làm cơ sở lý luận Các quan điểm về "liên kết", "trung gian" hay "đồng dạng" trong nghiên cứu MLXH còn chưa
Trang 22bài viết của Nguyễn Qúy Thanh và Cao Thị Hải Bắc (2012) về "Quan hệ xã hội và vốn
xã hội: Nghiên cứu so sánh Việt Nam và Hàn Quốc" Theo đó, có sự khác nhau về tính đồng nhất trong mạng quan hệ xã hội của người Việt và người Hàn Người Hàn có khuynh hướng kết bạn với những người đồng dạng với mình, đặc biệt là gia đình, họ hàng và bạn đồng học Trong khi đó tính đồng nhất về quan hệ gia đình, họ hàng của người Việt thấp hơn người Hàn với 9% Tính đồng nhất với các mối quan hệ khác như đồng học (52%), đồng nghiệp (32%), đồng hương (69%) tương đối cao và cao hơn tính đồng nhất trong các mối quan hệ xã hội của người Hàn [49] Bên cạnh đó, việc sử dụng lý thuyết VXH trong nghiên cứu MLXH cũng chỉ có một vài nhà nghiên cứu đề cập đến mối quan hệ này Ở góc độ lý thuyết, chẳng hạn, Nguyễn Văn Tuấn (2010) đã vận dụng lý thuyết MLXH và lý thuyết VXH để nghiên cứu vấn đề thực hiện quyền lao động của lao động tại các doanh nghiệp FDI [59]; Lê Ngọc Hùng (2008) cũng tìm
ra mối quan hệ giữa VXH, vốn con người và MLXH khi chỉ ra rằng VXH, vốn con người không chỉ có chức năng kinh tế mà còn có chức năng xã hội [25] Còn ở góc độ thực nghiệm, Khúc Thị Thanh Vân (2013) sử dụng lý thuyết phân tích MLXH bên cạnh lý thuyết VXH như là hai lý thuyết chính trong nghiên cứu về vai trò của VXH trong phát triển kinh tế hộ ở nông thôn đồng bằng sông Hồng [68] Nghiên cứu của Nguyễn Quý Thanh (2005) đã tìm hiểu về sự giao thoa giữa VXH và các giao dịch của các doanh nghiệp gia đình cho thấy trong điều kiện thị trường vốn tín dụng chưa phát triển, các doanh nghiệp gia đình dựa chủ yếu vào nguồn vốn xã hội từ MLXH gia đình, người thân và bạn bè để huy động vốn kinh tế VXH dưới dạng trách nhiệm, lòng tin giữa các thành viên gia đình và mối quan hệ thân quen với các cá nhân trong các cơ quan chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng có thể giúp giảm chi phí giao dịch kinh tế cho các doanh nghiệp gia đình và tăng cường khả năng huy động nguồn
lao động khi cần thiết [50] Nghiên cứu về “Vai trò của việc sử dụng VXH trong các
doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà Nội” của Trần Tú Hoa (2010) đã cho thấy VXH có vai trò quan trọng đối với phát triển doanh nghiệp Đóng góp này thông qua việc phát triển các mối quan hệ xã hội, thông qua việc sử dụng VXH trong các hoạt động của doanh nghiệp Vai trò của việc sử dụng VXH thể hiện ở sự tham gia của doanh nghiệp vào các mạng lưới sản xuất, kinh doanh để tìm kiếm những động lực
và cơ hội hợp tác, phát triển mới Tiếp đến là các nguồn thông tin từ mạng lưới kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp đề ra các giải pháp và chiến lược phát triển doanh nghiệp Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa chú ý đến tính hai mặt (tích cực/tiêu cực) của VXH với vai trò là động lực của sự phát triển doanh nghiệp [21]
Trang 23Như vậy, có thể nhận thấy nghiên cứu MLXH trên thế giới đã có được một hệ thống lý thuyết tương đối hoàn chỉnh có thể ứng dụng trong các nghiên cứu thực nghiệm Ở Việt Nam các nhà nghiên cứu MLXH cũng vận dụng hầu hết những lý thuyết này trong những nghiên cứu thực nghiệm và đã đạt được những thành công nhất định Trong đó lý thuyết "Sức mạnh của các mối quan hệ yếu" được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng để phân tích mối quan hệ trong MLXH Tuy nhiên, theo tác giả nghiên cứu MLXH cần kết hợp các lý thuyết MLXH với lý thuyết vốn xã hội và một số lý thuyết khác để hiểu rõ hơn về việc phát huy VXH của cá nhân thông qua mạng lưới của họ Đồng thời chỉ ra các tác động tiêu cực của MLXH đối với cá nhân trong quá trình phát triển
Từ kết quả tổng quan các lý thuyết nghiên cứu về MLXH, luận án sử dụng lý thuyết "Sức mạnh của các mối quan hệ yếu" làm nền tảng để đo lường xem trong MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển tồn tại các mối quan hệ nào là mạnh/
và quan hệ nào là yếu? Các quan điểm về sự "đồng dạng", "trung gian" trong mạng lưới cũng được áp dụng nhằm xác định trong MLXH của phụ nữ có sự đồng dạng không và nó được biểu hiện như thế nào? Ai đóng vai trò trung gian trong MLXH? Đồng thời sử dụng lý thuyết "vốn xã hội" để tìm hiểu liệu có tác động tiêu cực từ MLXH đối với phụ nữ trong gia đình làm nghề biển hay không? Sử dụng lý thuyết
"Tương tác biểu trưng" giúp giải thích cho vai trò của các biểu tượng của các nhóm gia đình, dòng họ, nhóm bạn bè, hàng xóm láng giềng và các tổ chức xã hội trong MLXH của phụ nữ các gia đình làm nghề biển ra sao?
1.1.3 Các chủ đề nghiên cứu mạng lưới xã hội
• Nghiên cứu về quy mô, mật độ trong mạng lưới xã hội
Nghiên cứu quy mô, mật độ trong MLXH được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Quy mô thường được khảo sát cùng với biến số mật độ, quy mô là nói đến độ rộng hay hẹp còn mật độ thì nói đến độ đậm đặc của mạng quan hệ xã hội Mật độ là tỷ lệ những trường hợp có mối quan hệ thực tế trong toàn bộ những mối quan hệ có khả năng xảy
ra Nguyễn Qúy Thanh (2005) khi nghiên cứu so sánh về quy mô MLXH của người Việt và người Hàn cho biết, người Việt có quy mô mạng quan hệ xã hội rộng hơn người Hàn [50] Phan Thị Kim Dung (2008) khi mô tả quy mô MLXH của người cao tuổi cho thấy, người cao tuổi đều có quy mô MLXH ở các mức độ rộng hẹp khác nhau theo những lát cắt khác nhau, sự khác nhau đó tùy thuộc vào đặc điểm cá nhân - xã hội khác nhau của người cao tuổi Theo đó, MLXH của các cụ bà hẹp hơn các cụ ông, các
Trang 24các cụ ở các nhóm ngành nghề khác [11]; Nghiên cứu MLXH ở cấp độ vĩ mô, chẳng hạn mô tả MLXH ở nông thôn Việt Nam, Bế Quỳnh Nga và đồng nghiệp (2008) đã thống kê, phân loại và mô tả quy mô MLXH phi chính thức ở nông thôn trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay, theo đó các tổ chức phi chính thức gồm các hội, phường, câu lạc bộ, nhóm, đoàn, tổ Các tổ chức này tạo thành một mạng lưới các quan hệ xã hội dày đặc nơi làng xã Sự phân cấp bên trong các tổ chức khác nhau: có
tổ chức tồn tại ở cấp làng, có tổ chức tồn tại ở cấp xã, có tổ chức tồn tại cả cấp làng và cấp xã, có tổ chức tồn tại cả cấp làng, cấp xã và mở rộng phạm vi bên ngoài [36]; Cũng bàn về quy mô MLXH ở nông thôn, Ngô Đức Thịnh (2008) chỉ ra ba hình thức
tổ chức xã hội ở nông thôn Việt Nam như liên kết theo huyết thống (gia đình, dòng họ), liên kết theo cư trú (làng xã, quốc gia ) và liên kết theo lợi ích (giai cấp, nghiệp đoàn) Từ ba dạng liên kết, ba hình thức tổ chức xã hội nông thôn cơ bản tạo nên các
MLXH khá đa dạng [53]
Từ kết quả tổng quan nghiên cứu về quy mô, mật độ của MLXH, luận án mô tả quy mô MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển với tiêu chí đo lường đó là số lượng thành viên trong mạng lưới, bao gồm số lượng thành viên trong gia đình, họ hàng, hàng xóm, bạn bè và các TCXH Tuy nhiên, luận án chưa đề cập đến mật độ của mạng lưới và xem đây là khoảng trống trong nghiên cứu cần được các nghiên cứu tiếp theo về MLXH bổ sung, hoàn thiện
• Nghiên cứu về các mối quan hệ trong mạng lưới xã hội
Trên thế giới: Lee Jae Yeol khi nghiên cứu quan hệ xã hội của người Hàn đã chia ra làm 4 loại hình như sau: Loại hình 1 (các mối quan hệ lâu dài và chắc chắn (strong and long ties) là các mối quan hệ được duy trì trong thời gian dài và tần suất tiếp xúc thường xuyên Các quan hệ gia đình thuộc vào loại này Loại 2 (mối quan hệ lâu dài nhưng lỏng lẻo - weak but long ties) là mối quan hệ được duy trì trong thời gian dài nhưng tần số tiếp xúc không thường xuyên Nó ứng với các quan hệ họ hàng, đồng hương, đồng học Loại hình 3 (mối quan hệ ngắn nhưng chắc chắn - strong but short ties) là mối quan hệ được hình thành tương đối mới nhưng tần số tiếp xúc thường xuyên Quan hệ hàng xóm, đồng nghiệp thuộc vào loại này Loại hình 4 (mối quan hệ ngắn và lỏng lẻo - weak and short ties) là các mối quan hệ mới hình thành và tần số quan hệ ít Các mối quan hệ như hội cùng sở thích, nhân viên công chức nhà nước, đoàn thể xã hội và các quan hệ khác thuộc về loại này [dẫn theo Nguyễn Qúy Thanh, Cao Thị Hải Bắc, 2012:38-39]
Trang 25Ở Việt Nam: Hầu như các nghiên cứu MLXH ở Việt Nam chú trọng vào chỉ rõ các mối quan hệ tồn tại trong MLXH cũng như phân tích mức độ mạnh/ yếu của từng mối quan hệ vì chúng có tác dụng khác nhau trong quá trình hỗ trợ cá nhân Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hòa (2012) về MLXH của người chấp hành xong hình phạt
tù cho thấy trong MLXH có tồn tại cả những liên hệ mạnh và liên hệ yếu, trong đó quan hệ mạnh được xác định là gia đình, họ hàng còn quan hệ yếu được xác định là bạn bè, hàng xóm và các tổ chức xã hội [22] Nguyễn Văn Tuấn (2010) khi nghiên cứu
về MLXH của người lao động trong các doanh nghiệp FDI cho thấy, đối với người lao động trong việc thiết lập mạng lưới mới của mình, họ bị chi phối bởi hai kiểu kết nối: kiểu quan hệ gia đình, nhóm bạn hay gần gũi/ đồng hương là những quan hệ gắn kết, những mối quan hệ vươn ra - quan hệ yếu, thiết lập quan hệ theo công việc hay theo cơ cấu tổ chức họ cũng không có điều kiện để thiết lập và sử dụng nó cho sự thành công trong cuộc sống lao động tại công ty [59]
Từ kết quả tổng quan nghiên cứu về các mối quan hệ trong MLXH, luận án cũng tiến hành đo lường và phân tích độ mạnh/ yếu của các mối quan hệ trong MLXH của phụ nữ các gia đình làm nghề biển, bao gồm quan hệ gia đình, quan hệ họ hàng, quan hệ hàng xóm láng giềng, quan hệ bạn bè và quan hệ với các TCXH theo các tiêu chí trong lý thuyết "Sức mạnh của các mối quan hệ yếu" như mức độ giao tiếp; mức độ
trợ giúp và mức độ tin cậy trong mối quan hệ
• Nghiên cứu về các kiểu (loại) mạng lưới xã hội
Trên thế giới: Trong tác phẩm "Phân công lao động xã hội", Durkheim đã phân biệt hai hình thức cơ bản của sự đoàn kết xã hội, đó là (1) đoàn kết cơ học là kiểu đoàn kết xã hội mà cá nhân liên hệ với nhau dựa trên sự giống nhau, sự thuần nhất, nhất trí,
sự thống nhất của các giá trị, niềm tin, tín ngưỡng, phong tục tập quán; (2) đoàn kết hữu cơ là kiểu đoàn kết xã hội dựa trên sự phong phú, đa dạng của sự phân hóa các chức năng, các mối liên hệ, tương tác giữa các cá nhân và các bộ phận cấu thành nên
xã hội Trên cơ sở hai kiểu đoàn kết xã hội, có thể thấy mạng lưới quan hệ chức năng đặc trưng cho kiểu đoàn kết hữu cơ của xã hội hiện đại và mạng quan hệ phi chức năng đặc trưng cho kiểu đoàn kết máy móc của xã hội truyền thống Rodney Stark đã phân loại thành hai kiểu MLXH là mạng lưới cục bộ và mạng lưới mở rộng Mạng lưới cục
bộ là mạng lưới dày đặc các mối quan hệ chặt, rườm rà, không cần thiết Chúng được gọi là cục bộ vì các thành viên thường tương tác trực tiếp với nhau, do đó, các thành viên có khuynh hướng tập trung về mặt địa lý Các mạng lưới mở rộng bao gồm các
Trang 26tác trực tiếp một cách ngẫu nhiên và có xu hướng phân tán về mặt địa lý [dẫn theo Lê Hải Hà, 2005]
Ở Việt Nam: Lê Ngọc Hùng (2003) khi nghiên cứu về MLXH với việc tìm kiếm việc làm của sinh viên đã chỉ ra ba kiểu MLXH mà sinh viên sử dụng để tìm việc làm Đó là, (1) kiểu truyền thống: cá nhân chủ yếu dựa vào các quan hệ gia đình để tìm kiếm việc làm; (2) kiểu hiện đại: cá nhân chủ yếu dựa vào các quan hệ chức năng với các cơ quan, tổ chức và các thiết chế của thị trường lao động để tìm kiếm việc làm; (3) kiểu hỗn hợp: là kết hợp giữa kiểu truyền thống và hiện đại, cá nhân dựa vào các quan
hệ gia đình và quan hệ chức năng để tìm việc làm [24] Nguyễn Thị Thu Hòa (2012) cũng cho rằng có ba kiểu MLXH của những người mới chấp hành xong án phạt tù, đó
là kiểu mạng tình cảm; kiểu mạng hiện đại; kiểu mạng hỗn hợp [22]
Từ kết quả tổng quan nghiên cứu về các kiểu loại MLXH, luận án tìm hiểu xem phụ nữ trong gia đình làm nghề biển đã sử dụng những kiểu loại MLXH nào để tìm kiếm, phát triển sinh kế cho mình? Kiểu MLXH nào là phù hợp và hiệu quả với đặc điểm sinh kế hiện nay của các chị em?
• Nghiên cứu về tác động của mạng lưới xã hội
٧ Nghiên cứu về vai trò của MLXH
Trên thế giới: Chức năng của MLXH được khẳng định trong hầu hết các nghiên cứu bởi MLXH có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của cá nhân Các MLXH có thể được coi như là một nguồn lực quan trọng trong suốt quá trình sống của cá nhân MLXH của cá nhân khác nhau về số lượng thành viên mạng, tần suất tiếp xúc, gần gũi
về địa lý và thành phần MLXH cung cấp các nguồn lực hỗ trợ có sẵn trong những lúc cần thiết Burt (2002) cho rằng MLXH lớn có thể hữu ích hơn trong việc giải quyết
một vấn đề hơn là một mạng dày đặc và nhỏ [88] Trong nghiên cứu về vai trò của
MLXH đối với vấn đề việc làm đã nêu ở trên, M Grannovetter (1973) đã chứng minh các quan hệ yếu (các mối quan hệ nghề nghiệp) có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin [95] Một công trình nghiên cứu về đời sống gia đình và cộng đồng của người cao tuổi ở ba vùng đô thị nước Anh là Bethnal Green, Wolverhampton và Woodfod những năm 1990 của Chrisphillipson Miriam Bernard và các cộng sự (2001)
đã nhìn nhận vấn đề trợ giúp xã hội như một chức năng của MLXH [90]
Ở Việt Nam, có thể tìm thấy khá nhiều những nghiên cứu về vai trò của MLXH được thể hiện cụ thể trong các lĩnh vực sau:
MLXH hỗ trợ vấn đề về nhập cư hay di cư: Khi phân tích MLXH của người di
cư, Đặng Nguyên Anh (1998) cho rằng vai trò của MLXH là một trong những yếu tố
Trang 27thúc đẩy di cư tại Việt Nam, với 75% số người di cư được khảo sát cho biết họ hàng, người thân, bạn bè sinh sống tại nơi chuyển đến và những cá nhân này là đầu mối thông tin và nguồn hỗ trợ kinh tế xã hội đối với người di cư Khi các thông tin về việc làm, tiếp cận cơ hội việc làm bị cản trở đối với người nhập cư thì những người nhập/
di cư thường sử dụng MLXH của họ để giao dịch kinh tế, tìm việc làm và gởi tiền hỗ trợ về cho gia đình [2] Văn Ngọc Lan và Trần Đan Tâm (1998) cũng chỉ rõ ảnh hưởng sâu rộng của MLXH trên nhiều cấp độ Đó là sự trợ giúp từ MLXH đến cá nhân như vấn đề tìm kiếm việc làm, thu nhập và nhập cư vào các đô thị lớn Để có được việc làm hầu hết cá nhân đều có sự giúp đỡ của người khác Các thông tin và sự trợ giúp cần thiết trong quá trình di cư của cá nhân thông qua các mối quan hệ họ hàng, bạn bè, các tổ chức đoàn thể trong đó, mối quan hệ gia đình đóng vai trò vô cùng quan trọng [29] Huỳnh Thị Ngọc Tuyết và các đồng nghiệp (2010) cũng khẳng định, các mối quan hệ trong MLXH có vai trò hỗ trợ những người công nhân nhập cư thích nghi với cuộc sống mới Trong đó, các mối quan hệ hàng xóm, họ hàng và bạn bè đồng nghiệp đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ vật chất và việc làm, quan hệ gia đình đóng vai trò
hỗ trợ về mặt tinh thần [60] Trong một khảo sát về ảnh hưởng của MLXH (quan hệ gia đình, bạn bè, tổ chức, hiệp hội, ) đến vấn đề hòa nhập xã hội của người nhập cư như: tìm kiếm việc làm, giao tiếp hằng ngày, nhờ cậy giúp đỡ khi khó khăn, trong thời gian rỗi của Phạm Văn Quyết, Trần Văn Kham (2016) cho thấy, người lao động nhập
cư nghèo ở đô thị thường chỉ bó hẹp trong quan hệ với người thân, anh em, họ hàng, người cùng hoàn cảnh, ít chú ý sử dụng MLXH hiện đại (tổ chức, đoàn thể, ) [46]
MLXH hỗ trợ vấn đề phát triển kinh tế: Nhiều tác giả thống nhất với nhau về vai trò của MLXH trong hỗ trợ phát triển kinh tế Khi phân tích vai trò của MLXH đối với hoạt động buôn bán của các tiểu thương ở chợ Cốc Lếu thông qua các quan hệ và trao đổi trong hoạt động kinh doanh của các tiểu thương, Tạ Thị Tâm (2013) đã chỉ ra
sự hỗ trợ của các mối quan hệ đối với nghề nghiệp của các tiểu thương và vai trò của vốn xã hội đối với hoạt động kinh doanh của người buôn bán [48] Nghiên cứu về vai trò của các tổ chức tự nguyện ở nông thôn hiện nay của Đặng Thị Việt Phương, Bùi Quang Dũng (2011) cũng khẳng định một cách chắc chắn về vai trò tích cực của các đoàn thể chính trị - địa phương cho sự phát triển kinh tế - xã hội Sự liên kết không thể tách rời của các tổ chức này thực sự tạo nên một mạng lưới trợ giúp xã hội trong đời sống của người dân Thông qua việc tham gia các tổ chức này người nông dân có thể tìm thấy nguồn hỗ trợ tình cảm, vật chất Hội cũng là môi trường để các thành viên
Trang 28phẩm Ngoài ra, việc tham gia các hội cũng giúp người nông dân tăng thêm vị thế bản thân MLXH có những tác động không nhỏ đến việc phát triển kinh tế hộ gia đình nông dân vùng đồng bằng sông Hồng Đối với người nông dân, việc duy trì các mối quan hệ xã hội luôn được xem trọng, điều này thể hiện trong việc họ luôn quan tâm xem cộng đồng nghĩ gì về mình Chính vì vậy mà họ thường tham gia vào những hoạt động trong dòng họ hay những phong trào được phát động Việc tham gia vào những
hoạt động chung này giúp họ có được sự duy trì với MLXH [40] Gần đây nhất là một
nghiên cứu của Nguyễn Đức Chiện (2015) về liên kết MLXH trong phát triển kinh tế
hộ gia đình đã nhận diện loại hình MLXH và liên kết MLXH trong phát triển kinh tế của các nhóm hộ gia đình ở đồng bằng sông Hồng, đồng thời đưa ra một số bàn luận
về liên kết mạng lưới trong phát triển kinh tế hộ gia đình trong bối cảnh nông thôn đồng bằng sông Hồng đang chuyển đổi nhanh và ngày càng hội nhập quốc tế sâu rộng
[7] Lợi ích của MLXH trong phát triển làng nghề cũng được khẳng định trong nghiên
cứu của Phạm Sơn Tùng (2015) Theo đó, MLXH có rất nhiều tác động, đó là: Tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, tác động đến thị trường tiêu thụ sản phẩm, đến tìm kiếm nguồn nhân lực có kỹ thuật và trong vay vốn để sản xuất Đây là những yếu tố chính quyết định đến sự phát triển của làng nghề ở nông thôn hiện nay Khi tham gia vào MLXH ở cộng đồng, người dân đã nhận được rất nhiều những lợi ích từ
đó Những lợí ích có thể kể đến đó là mở rộng các mối quan hệ xã hội, vui chơi giải trí
để tái tạo sức lao động, và đặc biệt là lợi ích về kinh tế như trao đổi kinh nghiệm, hợp tác, giúp đỡ nhau trong phát triển sản xuất nói riêng, duy trì và phát triển làng nghề nói chung [61] Nghiên cứu của Phan Thị Kim Dung (2008) về MLXH của người cao tuổi chỉ rõ MLXH đóng vai trò là những nguồn trực tiếp và gián tiếp giúp đỡ cho người cao tuổi về việc làm; chẳng hạn, các thành viên trong gia đình, cụ thể là người vợ/ chồng
và người con trai đã kết hôn mà người cao tuổi sống cùng [11]
MLXH hỗ trợ đời sống vật chất, đời sống tinh thần, sức khỏe: Lê Hải Hà (2005) khi nghiên cứu về mạng lưới hỗ trợ cho người cao tuổi khu vực đồng bằng sông Hồng, cũng đã tìm thấy sự trợ giúp từ mạng lưới trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi trên
cả lĩnh vực vật chất, tinh thần, chăm sóc sức khỏe Theo đó, các mạng lưới gia đình, họ hàng, hàng xóm của người cao tuổi có mối quan hệ gần gũi, chặt chẽ hơn các mạng lưới bạn bè và các tổ chức quần chúng, hiệp hội, câu lạc bộ Do đó, gia đình, họ hàng, hàng xóm được mô tả như những mạng lưới cục bộ, có các hoạt động hỗ trợ về tinh thần và phương tiện nhiều hơn các mạng lưới khác Các mạng lưới bạn bè, các tổ chức quần chúng, hiệp hội, câu lạc bộ là những mạng lưới mở với các quan hệ không
Trang 29thường xuyên và lỏng lẻo hơn [16] Năm 2007, Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới đã
có một nghiên cứu tổng quan về vai trò của MLXH trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi Việt Nam, trong đó đề cập đến vai trò của mạng lưới chính thức (trách nhiệm của nhà nước và xã hội) trong việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi về chăm sóc y tế, bảo hiểm y tế, bảo hiểm hưu trí, chế độ trợ cấp xã hội và các hình thức chăm sóc sức khỏe khác Bên cạnh đó, vai trò của mạng lưới phi chính thức (các trung tâm bảo trợ
xã hội và các loại hình dịch vụ chăm sóc người cao tuổi) cũng được chú ý như một trong những hình thức hỗ trợ tích cực và hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe cho người
cao tuổi [77]
MLXH hỗ trợ giải quyết các vấn đề xã hội: Nghiên cứu của Vũ Đức Việt (2013) cho thấy vai trò của mạng lưới hỗ trợ xã hội giữa những người nghiện chích ma túy trong các hành vi có liên quan đến việc phòng chống, chăm sóc và điều trị HIV/AIDS [78] Nguyễn Thị Thu Hòa (2012) nghiên cứu MLXH của những người đã chấp hành xong hình phạt tù chỉ ra MLXH thể hiện lợi ích trong đời sống kinh tế, đời sống tình cảm, hỗ trợ pháp lý và đặc biệt là giúp tái hòa nhập cộng đồng [22]
Từ tổng quan nghiên cứu cho thấy, nhìn chung khi nghiên cứu về vai trò của MLXH các học giả Việt Nam mới chỉ dừng lại ở mức đề cập tới MLXH như một kênh
hỗ trợ cá nhân về vật chất, tinh thần, sức khỏe, tìm kiếm việc làm và phát triển nghề nghiệp mà chưa đi sâu phân tích các tác động cụ thể của nó đến các khía cạnh của kết quả của những hỗ trợ đó Vì vậy cần có những phân tích toàn diện hơn, sâu hơn về vai trò và hiệu quả hỗ trợ của MLXH đối với cá nhân Luận án xác định nghiên cứu vai trò của MLXH là nội dung quan trọng khi nghiên cứu MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển Vai trò của MLXH thể hiện ở nhiều mặt của đời sống con người như đã
đề cập trong tổng quan, nhưng đối với phụ nữ trong gia đình làm nghề biển - vốn là chủ thể dễ sống ở vùng dễ gặp rủi ro, dễ bị tổn thương thì vai trò của MLXH chủ yếu thể hiện trong những lĩnh vực có liên quan mật thiết đến đời sống của phụ nữ như hỗ trợ khi gặp rủi ro; hỗ trợ phát triển sinh kế bền vững và hỗ trợ những công việc lớn trong gia đình Luận án không dừng lại ở vai trò của MLXH với những hỗ trợ cụ thể
về vật chất, tinh thần, sinh kế, việc lớn cho phụ nữ mà còn đi sâu phân tích những tác động cụ thể của nó, đó là những thay đổi về vật chất, tinh thần, sinh kế, việc lớn trong gia đình sau khi người phụ nữ nhận được hỗ trợ từ MLXH
٧ Nghiên cứu tác động tiêu cực của mạng lưới xã hội
Trên thế giới: Tuy chưa có nhiều bằng chứng về tác động theo chiều hướng tiêu
Trang 30nghiên cứu của Yuxiang Yan (1996) về "quà tặng ở nông thôn Trung Quốc" đã giải thích khái niệm "guanxi" ("quan hệ", "mối quan hệ") được một số người gọi là
"MLXH", "những mối quan hệ cá nhân" hay "những mối quen biết" Tuy nhiên, các học giả phương Tây lại coi guanxi là kết quả của việc cá nhân tính toán duy lý nhằm theo đuổi những lợi ich riêng, và được diễn giải như là "những quan hệ riêng mang tính chất công cụ" (Walder 1985); "một liên minh phần nhiều ngẫu nhiên và không lâu dài (Oi, 1989) hay "những mối quen biết riêng" (Jacob, 1979) Do đó có thể coi tặng quà là một chiến lược công cụ ở cấp độ tương tác cá nhân Theo các quan điểm này thì guanxi là một quá trình mang đặc điểm như một công cụ, có sự thao túng cá nhân và
do vậy thuật ngữ này mang một nghĩa tiêu cực [dẫn theo Mai Huy Bích, 1996] Theo Alexandro Portes, MLXH có những hệ quả tiêu cực như tạo ra sự ràng buộc bên trong nhóm, tạo ra sự khép kín, đóng cửa và như vậy có thể ngầm hạn chế quan hệ với những người ngoài nhóm Đồng thời sự khép kín trong nội bộ nhóm có thể ngăn cản các sáng kiến, tạo ra sự ỷ lại tập thể, thiếu năng động Có thể thông qua quan hệ xã hội, MLXH kiểm soát quá chặt chẽ các cá nhân và như vậy làm giảm sự tự do, tự chủ
và sự riêng tư của cá nhân MLXH khép kín trong một nhóm, một cộng đồng cũng có nguy cơ tạo ra sự bình quân chủ nghĩa trong cách ứng xử với con người [dẫn theo Lê Hữu Phước, 2016]
Ở Việt Nam: Mặc dù chưa có nhiều nghiên cứu đề cập đến yếu tố tác động tiêu cực từ MLXH, nhưng một số nghiên cứu đã gợi ra những hạn chế của MLXH ở một số lĩnh vực Lê Hữu Phước (2016) nghiên cứu ở địa bàn Tây Nguyên đã chỉ ra một số hạn chế của MLXH trong phát triển kinh tế trang trại Theo đó MLXH của những người làm trang trại có các cố kết chặt chẽ bên trong nhóm làm cho việc mở rộng nhóm rất khó khăn và ngăn ngừa sự tham gia từ bên ngoài của các tác nhân khác Thường thì chủ hộ trang trại thuê mướn lao động là anh em, họ hàng, người trong thôn, buôn làng, chứ ít khi thuê mướn lao động bên ngoài cộng đồng mình sinh sống Điều này xuất phát từ việc khi tuyển dụng lao động họ thường phải biết rõ hoặc một phần về bản thân người lao động để đáp ứng nhu cầu công việc của trang trại Việc tuyển chọn lao động nhiều khi thông qua
sự giới thiệu của bạn bè, anh em hay chủ trang trại từ thuê mướn [41] Đứng từ góc độ nghiên cứu vốn xã hội trong mối quan hệ với MLXH, Khúc Thị Thanh Vân (2012) đã nhận định, vốn xã hội có những tác động tiêu cực đối với chính thành viên của nó Việc tham gia các nhóm hay cộng đồng thường đòi hỏi sự thống nhất, và chính điều này làm hạn chế sự tự do cá nhân Khi cá nhân tham gia vào một mạng lưới thì tính ẩn danh của cá nhân đó mất đi, cá nhân không chỉ được hưởng lợi ích từ mạng lưới đó mà
Trang 31còn chịu sự trừng phạt hay nói cách khác là phải chịu trách nhiệm đối với sự tham gia mạng lưới của mình Ngoài ra, việc tham gia vào một nhóm nào đó thì các chuẩn mực
và quy định của nhóm có thể sẽ hạn chế sáng kiến cá nhân hoặc hạn chế cá nhân tham gia vào các nhóm lớn hơn, điều đó làm mất đi cơ hội hoạt động về kinh tế cũng như tiếp nhận thông tin từ bên ngoài [68]
Từ tổng quan nghiên cứu cho thấy, MLXH có bản chất hai mặt, một mặt có tác động tích cực, mặt khác có thể gây ra những hệ quả tiêu cực làm ảnh hưởng đến các lĩnh vực khác nhau của đời sống cá nhân cũng như đến việc phát huy vai trò của MLXH Vấn đề này rất quan trọng bởi nếu phát hiện ra các tác động tiêu cực của MLXH sẽ có những giải pháp hạn chế nhằm tránh những ảnh hưởng tiêu cực và giúp cho việc thực hiện vai trò của mạng lưới hiệu quả hơn Tuy nhiên, vẫn còn thiếu vắng nội dung này trong các nghiên cứu MLXH, do đó phân tích về tác động của MLXH chưa hoàn thiện Luận án nghiên cứu những tác động tiêu cực của MLXH đối với phụ
nữ trong gia đình làm nghề biển để phần nào bổ sung lấp khoảng trống này
1.2 Những chủ đề nghiên cứu mạng lưới xã hội của phụ nữ
1.2.1 Nghiên cứu mạng lưới xã hội của phụ nữ trên thế giới
Nghiên cứu MLXH của phụ nữ được các nhà nghiên cứu trên thế giới chú ý trong các nghiên cứu thực nghiệm của mình Phụ nữ luôn là nhóm xã hội cần sự hỗ trợ
từ các MLXH để có cơ hội hơn trong cuộc sống, đặc biệt là những phụ nữ đơn thân, phụ nữ cao tuổi hay phụ nữ bị bạo lực gia đình Những hỗ trợ họ nhận được từ MLXH phần nào giúp họ thay đổi cuộc sống, tự mình vươn lên Vai trò của MLXH đối với phụ nữ cũng được chỉ rõ trong một nghiên cứu của Jennifer A Stoloff và các đồng nghiệp (1999) về "Sự tham gia của phụ nữ trong lực lượng lao động: vai trò của MLXH" Các tác giả xem xét vai trò của MLXH về những khó khăn và cơ hội mà phụ
nữ phải đối mặt với sự tham gia vào lực lượng lao động, theo đó phụ nữ càng có đa dạng nguồn lực xã hội có sẵn thì họ càng có nhiều khả năng tìm được việc làm thông qua các MLXH Phụ nữ thiệt thòi cũng phải dựa trên mạng lưới hỗ trợ xã hội của họ để bước vào thị trường lao động Ngoài ra, nghiên cứu còn khám phá mối liên hệ giữa các phương pháp tìm kiếm việc làm thành công được những người phụ nữ sử dụng để tìm
việc làm và cơ cấu tổng thể của mạng lưới của họ [100] Kết quả nghiên cứu của
Barbara (1984) về MLXH của những phụ nữ cao tuổi đã nêu một số vai trò hỗ trợ của MLXH đối với phụ nữ có vấn đề tâm lý để thực hành giáo dục sức khỏe Trong đó, hỗ trợ tinh thần bao gồm sự chăm sóc, sự quan tâm và tình yêu thương; Hỗ trợ cung cấp
Trang 32thức mới, tư vấn, gợi ý Hỗ trợ tham gia tiếp cận cộng đồng xã hội thể hiện vai trò xã hội của mình; Hỗ trợ công cụ trong lao động, tiền bạc, thời gian [83] Một nghiên cứu được tài trợ bởi Viện Quốc gia về lạm dụng ma túy (NIDA) của Nabila El - Bassel và các đồng nghiệp (1998), thường được gọi là "Dự án MLXH của phụ nữ" được thực hiện với 377 phụ nữ trong khu vực Cleveland có độ tuổi từ 18 tuổi trở lên, là những người gần đây đã bắt đầu sử dụng chất gây nghiện và đã được chẩn đoán với sự phụ thuộc vào chất Nghiên cứu xem xét các đặc điểm của các MLXH đã giúp đỡ những phụ nữ đạt được những tiến bộ trong điều trị [110] Kristine J Ajrouc (2005) đã phát hiện ra có sự ảnh hưởng của tuổi tác với tình trạng kinh tế - xã hội ở các MLXH của cả nam giới và nữ giới Theo đó, những người đàn ông tuổi càng cao thì càng có xu hướng liên kết với các MLXH lớn hơn, xa hơn về mặt địa lý và tần suất liên lạc thường xuyên hơn Trong khi với phụ nữ tuổi càng cao thì càng có xu hướng kết hợp với các MLXH nhỏ hơn, gần gũi hơn về mặt địa lý và ít thường xuyên liên lạc với nhau [103] Alytia A Levendosky và cộng sự (2004) cho rằng hỗ trợ xã hội là rất quan trọng đối với phụ nữ bị bạo lực, do đó việc thiết lập các quan hệ xã hội cho họ là quan trọng Nghiên cứu đã tiến hành phân tích kích thước, cấu trúc và thành phần của MLXH của phụ nữ bị ảnh hưởng bởi vấn đề bạo lực và cho thấy các MLXH thường có kích thước nhỏ hơn, họ có ít quan hệ xã hội nên hỗ trợ họ nhận được từ các mối quan
hệ cũng ít hơn [81] Oke, Dorcas E (2013)đã tìm thấy rằng những người đàn ông và
phụ nữ đều có các MLXH khác nhau và đã gợi ý rằng sự khác biệt về MLXH dẫn đến những hiệu quả kinh tế khác nhau Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các chủ doanh nghiệp nữ bao gồm nhiều quan hệ họ hàng hơn trong mạng lưới kinh doanh của họ so với nam giới Ngược lại, chủ sở hữu là nam có nhiều quan hệ đồng nghiệp trong mạng lưới của họ hơn so với nữ Bên cạnh đó, nghiên cứu đã giải thích sự khác biệt về giới tính trong thành phần MLXH đặt ra một bất lợi cho phụ nữ trong kinh doanh Những phụ nữ có tỷ lệ lớn hơn các quan hệ họ hàng trong mạng lưới có thể đảm bảo hỗ trợ xã hội lớn hơn so với nam giới, nhưng lại bị mất thông tin cần thiết để đạt đến hiệu quả kinh tế Những phát hiện này cho thấy rằng các MLXH của nữ doanh nhân "có nhiều khả năng cung cấp các hỗ trợ xã hội tình cảm (như bạn bè) và ít có khả năng cung cấp
hỗ trợ xã hội công cụ (như danh bạ doanh nghiệp) Đó là, các nữ doanh nhân có thể có quan hệ làm ăn ít hơn trong MLXH của họ hơn nam doanh nhân có quyền tiếp cận các hiệp hội, các câu lạc bộ (như doanh nghiệp, câu lạc bộ Internet, thể thao), nơi họ thảo luận kinh doanh và đàm phán thoả thuận [112]
Trang 33
1.2.2 Nghiên cứu mạng lưới xã hội của phụ nữ ở Việt Nam
Các nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh vai trò của MLXH hết sức quan trọng trong việc khẳng định và duy trì các mối quan hệ của phụ nữ, giúp cho nỗ lực bình đẳng giới trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Ở Việt Nam, phụ nữ cũng
là một nhóm xã hội nhận được nhiều sự quan tâm trong các nghiên cứu xã hội học, tuy nhiên phân tích MLXH dưới góc độ giới thì còn rất ít những công trình nghiên cứu Qua nghiên cứu các công trình có liên quan đến MLXH của phụ nữ chỉ có thể tìm thấy nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thúy (2009) về "Tác động của MLXH đến sự phát triển nghề nghiệp của phụ nữ" Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, phụ nữ nói chung và
nữ công chức nói riêng vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn so với nam giới trên con đường phát triển sự nghiệp Một trong những khó khăn đó là duy trì và phát triển MLXH bởi quan hệ xã hội là chỉ số quan trọng tạo nên sự thành công của cá nhân trên con đường
sự nghiệp Cùng với gánh nặng công việc gia đình, bản thân họ lại bị ràng buộc bởi phong tục tập quán, quan niệm xã hội và vị trí thấp hơn nam giới trong công việc là rào cản lớn cho người phụ nữ duy trì và phát triển các mối quan hệ của mình [56] Tuy nhiên, nghiên cứu trên chỉ mới dừng lại ở việc làm rõ tác động của MLXH đối với phụ
nữ ở lĩnh vực thăng tiến trong nghề nghiệp là cán bộ công chức viên chức mà thôi, trong đó chỉ có hai thành phần của MLXH được nhắc đến là gia đình, bạn bè còn các thành phần khác của MLXH chưa được đề cập Từ khoảng trống này, luận án nghiên cứu tác động của MLXH đối với phụ nữ trong gia đình làm nghề biển không chỉ ở lĩnh vực nghề nghiệp mà còn những lĩnh vực khác như hỗ trợ rủi ro trong cuộc sống, hỗ trợ việc lớn trong gia đình Thành phần của MLXH bao gồm tất cả các mối quan hệ của phụ nữ như gia đình, họ hàng, hàng xóm láng giềng, bạn bè và các tổ chức xã hội Ngoài công trình nghiên cứu kể trên, tác giả chưa phát hiện công trình nào về MLXH của phụ nữ, nhất là phụ nữ ở những vùng có điều kiện sống khó khăn như phụ nữ trong gia đình làm nghề biển Vì thế, đề tài nghiên cứu "MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển - nghiên cứu trường hợp thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định" sẽ góp phần làm phong phú thêm các công trình nghiên cứu về MLXH của phụ nữ
Từ việc tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài để thấy được những đóng góp cũng như hạn chế của các công trình nghiên cứu về MLXH nói chung và MLXH của phụ nữ nói riêng, từ đó gợi mở cho việc nghiên cứu về "MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển - Nghiên cứu trường hợp ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định"
Trang 34Tiểu kết chương 1
Chương 1 đã trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài, bao gồm tổng quan về chủ đề nghiên cứu MLXH nói chung và tổng quan về chủ đề nghiên cứu MLXH của phụ nữ nói riêng
Về tổng quan nghiên cứu MLXH nói chung, luận án đã bàn về các phương pháp nghiên cứu MLXH, các lý thuyết nghiên cứu MLXH và bàn về các chủ đề nghiên cứu của MLXH như: quy mô, mật độ, mối quan hệ, kiểu dáng và vai trò của MLXH Nhìn chung, các công trình kể trên đã đóng góp rất nhiều trên cả mặt lý luận và thực tiễn việc nghiên cứu về MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển - Nghiên cứu trường hợp ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định Tuy nhiên, các nghiên cứu trên vẫn còn một số hạn chế về mặt lý luận khi chưa có nhiều nghiên cứu vận dụng lý thuyết MLXH kết hợp với các lý thuyết cân bằng nhận thức, vốn xã hội hay vận dụng các quan điểm "trung gian", "đồng dạng" khi nghiên cứu về MLXH; Một số hạn chế
về mặt thực nghiệm khi chưa có nhiều nghiên cứu về mật độ, tần suất, cường độ của mạng lưới được xem là hết sức quan trọng khi nghiên cứu về đặc điểm của MLXH; Chưa chú trọng phân tích được tác động hai chiều (tích cực và tiêu cực) của MLXH đến cá nhân Luận án sẽ bổ sung nghiên cứu một số nội dung trên để lấp những khoảng trống trong nghiên cứu về MLXH
Về tổng quan MLXH của phụ nữ, những nghiên cứu MLXH dưới góc độ giới được quan tâm nhiều trên thế giới với những nghiên cứu thực nghiệm về MLXH của các nhóm phụ nữ khác nhau với những chủ đề khác nhau Tuy nhiên, ở Việt Nam vẫn còn thiếu vắng những nghiên cứu về MLXH của phụ nữ và nếu có chủ đề nghiên cứu chỉ là tác động của MLXH đến nghề nghiệp của phụ nữ Vì vậy, nghiên cứu "MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển - nghiên cứu trường hợp thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định" vừa làm rõ thêm tác động của các thành phần trong MLXH đối với phụ nữ vừa bổ sung làm phong phú đề tài nghiên cứu MLXH của phụ nữ
Trang 35
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN 2.1 Các khái niệm được sử dụng trong luận án
2.1.1 Mạng lưới xã hội
• Khái niệm mạng lưới xã hội
Khái MLXH được đề cập nhiều trong những năm gần đây, được ứng dụng rộng
rãi trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu Và trong thực tế mỗi nhà nghiên cứu thường xác định nó tùy theo sự lựa chọn góc độ tiếp cận:
٧ Theo Đặng Nguyên Anh (1998), khái niệm MLXH có thể hiểu ngắn gọn là
"toàn bộ các quan hệ xã hội mà con người thiết lập trong quá trình sống Mặt khác, dù
có ý thức hay không, hoạt động sống của con người đều là những hoạt động trong mạng lưới và phụ thuộc vào mạng lưới" [2]
٧ Theo Lê Minh Tiến (2006), MLXH là một tập hợp các mối quan hệ giữa thực thể xã hội gọi chung là actor Các thực thể xã hội này không nhất thiết chỉ là các cá nhân mà còn là các nhóm xã hội, các tổ chức, các thiết chế, các công ty xí nghiệp và cả các quốc gia Các mối quan hệ giữa các actor cũng có thể mang nhiều nội dung khác nhau từ sự tương trợ, trao đổi thông tin cho đến việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ…[57]
٧ Theo Ngô Đức Thịnh (2008), MLXH được hiểu như là mối liên hệ giữa các
cá nhân, các nhóm xã hội khác nhau trong một thực thể xã hội nhất định, dù đó là chính thống hay phi chính thống, thường xuyên hay bất thường Các MLXH "chuyên chở" các mối quan hệ qua lại về kinh tế, xã hội và văn hóa giữa các cá nhân hay nhóm
xã hội, bảo đảm tính liên thông, cân bằng, ổn định, gắn kết của một thực thể xã hội MLXH này thường liên quan tới tính xã hội, gắn kết xã hội và vốn xã hội [53]
٧ Theo Lebert Didier (2012) thì khái niệm MLXH là một cấu trúc xã hội trong đó
cá nhân thể hiện vai trò của mình thông qua mối quan hệ xã hội và tương tác xã hội; MLXH có đặc trưng hình thể, đặc trưng liên kết và đặc trưng linh hoạt; cùng một lúc, mỗi tác nhân có thể là thành viên của nhiều MLXH [dẫn theo Lê Hữu Phước, 2016]
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng tựu chung lại có thể hiểu MLXH dùng để chỉ phức hợp các mối quan hệ xã hội do con người xây dựng, duy trì và phát triển trong cuộc sống với tư cách là thành viên của xã hội Một hay nhiều quan hệ của hai chủ thể với nhau tạo thành liên kết bao gồm các quan hệ đan chéo, chằng chịt từ quan hệ gia đình, thân tộc, bạn bè, hàng xóm đến các quan hệ trong tổ chức xã hội
Trong luận án đã sử dụng khái niệm MLXH theo quan điểm này để làm rõ MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển Theo đó, "MLXH của phụ nữ trong
Trang 36được trong quá trình sống Đó là các quan hệ liên kết trong gia đình, họ hàng, hàng xóm láng giềng, bạn bè và tổ chức xã hội chính thức và phi chính thức Thông qua việc tham gia vào các mối quan hệ MLXH này, phụ nữ trong gia đình làm nghề biển sẽ
có cơ hội liên kết, trao đổi và hỗ trợ lẫn nhau trong các hoạt động của đời sống nhằm đạt được những mục đích đặt ra cho bản thân, gia đình và cộng đồng"
• Những đặc trưng của mạng lưới xã hội
٧ MLXH bao gồm các quan hệ xã hội có tác động qua lại lẫn nhau, các quan hệ
đó có thể là quan hệ gia đình, họ hàng, bạn bè, hàng xóm láng giềng cho đến các quan
hệ trong các tổ chức xã hội chính thức (đảng, chính quyền, các hội, đoàn thể ) và không chính thức (các hội, câu lạc bộ…)
٧ Vai trò quan trọng của MLXH đối với hầu hết các cá nhân và nhóm xã hội được thể hiện thông qua việc cung cấp thông tin, kiến thức cũng như chia sẻ các nguồn nhân lực cho các cá nhân và các nhóm xã hội Nhờ đó các cá nhân và cả xã hội được tăng cường thêm về sức mạnh, sự hỗ trợ để thành công
٧ Không phân chia ranh giới MLXH một cách rõ ràng, việc tham gia tương tác trong MLXH của các thành viên có thể không đều đặn Tuy nhiên, không một cá nhân nào không tham gia vào MLXH
٧ Quy mô và kích cỡ của MLXH không đồng nhất MLXH lớn có sự không thống nhất về tính chất của các thành viên và cấu trúc của mạng bao gồm nhiều thành phần hơn MLXH đồng nhất điển hình cho các nhóm lao động truyền thống và các cộng đồng làng xã, các mạng này thích hợp cho việc bảo tồn các nguồn tài nguyên có sẵn Các mạng lớn không đồng nhất thích hợp với việc tìm kiếm nguồn tài nguyên
mới
٧ Có thể phân chia MLXH thành MLXH vi mô (quan hệ xã hội trong các nhóm nhỏ) và MLXH vĩ mô (quan hệ xã hội trong các nhóm lớn, cộng đồng, xã hội) MLXH của các cá nhân có thể khác nhau tùy thuộc vào vốn xã hội1 và vốn con người2 của mỗi
cá nhân, ví dụ, MLXH của người dân nông thôn sẽ khác với MLXH của người dân đô thị, MLXH của phụ nữ sẽ khác với nam giới Trong MLXH, yếu tố vốn con người
nằm ở các đầu mối còn vốn xã hội nằm ở các đường liên hệ, quan hệ giữa các đầu mối
1 Pierre Bourdier đã định nghĩa khái niệm vốn xã hội "Là tổng hợp các nguồn lực, hữu hình hay vô hình hoặc sự tích lũy của một cá nhân hay một nhóm bởi một mạng lưới bền vững của các mối quan hệ qua lại có mức độ thể chế hóa nhiều hay ít đã được thừa nhận
2 Theo Coleman, vốn con người được tạo ra bởi những thay đổi để tạo ra những năng lực, kỹ năng hành động mới của ở người
Trang 37• Các thành phần của mạng lưới xã hội
٧ Thành phần thứ nhất của MLXH đó chính là chủ thể của mạng lưới Chủ thể được hiểu là những người thực hiện hành vi tương tác với những người khác trong mạng lưới Trong luận án, chủ thể của MLXH là phụ nữ trong gia đình làm nghề biển
٧ Thành phần thứ hai của MLXH đó chính là những đầu mối trong mạng lưới
mà chủ thể mạng lưới thực hiện hành vi tương tác [22] Các đầu mối của MLXH bao gồm: gia đình, họ hàng, hàng xóm láng giềng, bạn bè, các tổ chức xã hội:
Gia đình: Có nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình Luận án sử dụng định nghĩa về gia đình của Mai Huy Bích để làm cơ sở cho việc nghiên cứu MLXH của phụ
nữ trong gia đình làm nghề biển Theo tác giả, gia đình là một nhóm người có quan hệ hôn nhân hoặc huyết thống với nhau, thường chung sống và hợp tác kinh tế với nhau
để thoả mãn những nhu cầu cơ bản trong cuộc sống của họ về: sinh đẻ và nuôi dạy con cái, chăm sóc người già và người ốm…[5:21] Thực tế, gia đình tồn tại rất đa dạng với nhiều hình thái khác nhau Một số hình thái gia đình được sử dụng trong phân tích luận
án như sau:
Gia đình hạt nhân: Là đơn vị gia đình nhỏ nhất, bao gồm một cặp vợ chồng và
con cái chưa kết hôn của họ Trong hình thái này, gia đình bao gồm ít nhất 3 trục quan
hệ cơ bản: Quan hệ vợ - chồng; Quan hệ cha mẹ - con cái; Quan hệ giữa con cái với
nhau (nếu gia đình có từ hai con trở lên) [5:37]; Gia đình mở rộng: Những đơn vị lớn
hơn gia đình hạt nhân thường được gọi một cách lỏng lẻo là gia đình mở rộng Nó có thể là sự mở rộng hạt nhân cơ bản theo chiều dọc như bao gồm các thành viên thế hệ thứ ba (bố mẹ chồng hoặc bố mẹ vợ) hay theo chiều ngang gồm cả các thế hệ ngang hàng với người vợ hoặc người chồng (anh chị em chồng hay vợ hai, vợ ba…) Gia đình mở rộng có ưu thế trong việc tập trung nhân lực cho sản xuất, và các thế hệ có thể giúp đỡ lẫn nhau vượt qua khó khăn trong đường đời Tuy nhiên, loại hình gia đình này dễ dẫn đến khác biệt và mâu thuẫn thế hệ, và để duy trì nó cần có nỗ lực rất lớn của các thành viên để vượt qua xu hướng chia tách [5:40]
Họ hàng: Khi đề cập đến quan hệ họ hàng ở Việt Nam, các tác giả thường bàn đến dòng họ (Mai Văn Hai và Phan Đại Doãn, 2000; Phan Đại Doãn, 1998; Vũ Ngọc Khánh, 1997 ) Dòng họ bao gồm những người có chung một vị tổ tiên về phía đàng
bố Mỗi dòng họ được tạo nên từ các chi, nhánh Mỗi chi nhánh gồm có một số tiểu chi nhánh, và các gia đình hợp thành các tiểu chi, nhánh (Nguyễn Văn Huyên 2003: 771,
Lê Văn Chưởng 1999: 138)
Trang 38Lý thuyết nhân học cho rằng trong các xã hội phức hợp (complex societies), họ hàng thường được xác định theo từng cá nhân cụ thể, hay họ hàng lấy cá nhân làm trung tâm (ego’s kin networks or ego-based kin networks), hơn là họ hàng theo nghĩa dòng họ (Fox, 1967) Trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển đổi nhanh chóng theo hướng xã hội phức hợp, đa dạng, thì bên cạnh việc xem xét quan hệ họ hàng dưới góc nhìn dòng họ và kiểu
họ hàng song hệ, chúng ta cũng nên xem xét họ hàng Việt Nam theo nghĩa là mạng lưới
họ hàng của cá nhân, hay mạng lưới họ hàng lấy cá nhân làm trung tâm, mà những mạng lưới này mang đặc điểm của MLXH như nhiều tác giả đã chỉ ra (Wellman & Berkowitz, 1998; Howell, 1998) Quan hệ họ hàng lấy cá nhân làm trung tâm là một loại MLXH, được tạo nên bởi một số mạng lưới họ hàng liên quan đến cá nhân cụ thể Theo nghĩa này, mỗi cá nhân có những ràng buộc với ít nhất sáu mạng lưới sau: họ hàng đàng mẹ (họ ngoại), họ hàng đàng bố (họ nội), họ hàng đàng nhà vợ/nhà chồng (đối với những người
đã kết hôn), họ hàng đàng thông gia của con (đối với những người có con cái đã lấy vợ/chồng), họ hàng đàng thông gia của anh/chị em ruột (đối với những người có anh/chị
em ruột đã lập gia đình), và vợ/chồng của con và cháu chắt (đối với những người có con cái, cháu chắt,…) Sáu mạng lưới họ hàng này có mức độ quan trọng khác nhau đối với đời sống cá nhân [3]
Luận án cũng sử dụng khái niệm "mạng lưới họ hàng lấy cá nhân làm trung tâm" để phân tích mạng lưới họ hàng của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển Trong đó nhấn mạnh đến quan hệ họ hàng ruột thịt (bên phía người phụ nữ và bên chồng) và quan hệ họ hàng khác (bên phía người phụ nữ và bên chồng)
Bạn bè: Khái niệm bạn bè có ngoại diên rộng và không mang tính cụ thể nhất định Ở đây, bạn bè được hiểu là những người được thiết lập quan hệ thông qua các hoạt động kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội nói chung [16]
Trong luận án, khái niệm bạn bè cũng được lưu ý chỉ những mối quan hệ ngoài
họ hàng và hàng xóm
Hàng xóm láng giềng: Theo truyền thống mối quan hệ hàng xóm láng giềng chỉ mối quan hệ của những người dân trong cùng một khu vực cư trú, có những mối quan tâm và chia sẻ lợi ích chung Đây là mối quan hệ tốt đẹp vì nó mang tính tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau [16]
Trong luận án, khái niệm hàng xóm cũng được lưu ý chỉ những mối quan hệ ngoài họ hàng và bạn bè, tổ chức xã hội
Tổ chức xã hội: Ở Việt Nam, nếu hiểu theo nghĩa rộng, TCXH bao hàm tất cả các tổ chức hợp thành xã hội và trong xã hội Với ý nghĩa đó, TCXH ở Việt Nam bao
Trang 39gồm (1) tổ chức chính trị, (2) tổ chức chính trị - xã hội, (3) tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, 4) tổ chức xã hội - nghề nghiệp và 5) TCXH Theo nghĩa hẹp, TCXH là tập hợp của các hình thức phi nhà nước và phi chính trị, bao gồm các tổ chức phi chính phủ, tổ chức tự quản, cộng đồng, hội nghề nghiệp và từ thiện Theo nghĩa này, TCXH dùng chỉ một hình thức liên kết giữa các cá nhân và nhóm xã hội không dựa trên bất
cứ mối liên kết chính trị nào mà dựa trên mối liên kết dân sự giữa họ-mối liên kết giữa những thành viên tự nguyện, tự quản thành các tổ chức của các cộng đồng, đoàn thể nhân dân Đây chính là các tổ chức của các cộng đồng, đoàn thể nhân dân [62]
Trong luận án, các TCXH được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp, bao gồm TCXH chính thức như tổ chức chính trị, xã hội (Đảng, Mặt trận tổ quốc, Chính quyền, Đoàn thanh niên, hội Phụ nữ, hội Chữ thập đỏ, hội Cựu chiến binh, hội Người cao tuổi ) và các TCXH tự nguyện như các hội nghề nghiệp, hội đồng hương, đồng ngũ , câu lạc bộ (CLB) văn hóa, văn nghệ ) TCXH được xem xét theo các dấu hiệu cơ bản như sau: (1) được lập ra có chủ định; (2) có sự thể hiện cụ thể các quan hệ quyền lực
xã hội; (3) có một tập hợp các vị thế và vai trò; (4) vai trò của các thành viên trong TCXH được thực hiện theo sự mong đợi của tổ chức và (5) phần lớn các mục đích và các mối quan hệ của tổ chức được chính thức và công khai [68] Như vậy, trong luận
án các TCXH được xem xét với tư cách là MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển và được nhìn nhận trên phương diện là nơi chứa đựng các mối quan hệ xã hội và tạo môi trường cho phụ nữ trong gia đình làm nghề biển có thể tiếp cận, khai thác vốn
xã hội từ các mạng lưới đó
• Các mối quan hệ trong mạng lưới xã hội
M Grannovetter đã phân biệt hai khái niệm "quan hệ yếu" và "quan hệ mạnh" trong lý thuyết "Sức mạnh của các quan hệ yếu" như sau:
٧ Quan hệ yếu là các mối quan hệ không chiếm nhiều thời gian của các tác viên (đầu mối, đối tượng), ít nội dung, cường độ cảm xúc yếu và sự tin cậy lẫn nhau không cao (chẳng hạn quan hệ giữa những người "biết" nhau chứ không "thân" với nhau)
٧ Quan hệ mạnh là các mối quan hệ chiếm nhiều thời gian của các tác viên, đa nội dung, sự tin cậy và cường độ cảm xúc rất cao (chẳng hạn quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, họ hàng ruột thịt ) [57]
Trong luận án, việc xác định các mối quan hệ nào của MLXH đối với phụ nữ trong gia đình làm nghề biển là quan hệ mạnh và các mối quan hệ nào là quan hệ yếu
là rất quan trọng vì các mối quan hệ mạnh hay yếu có tác dụng khác nhau trong giao
Trang 40tiếp, hội nhập xã hội cũng như trong việc hỗ trợ, giúp đỡ các vấn đề vật chất, tinh thần hay sinh kế cho phụ nữ trong gia đình làm nghề biển
• Đặc tính của mạng lưới xã hội
MLXH có một số đặc tính cơ bản, trong đó có hai đặc tính quan trọng cần xem xét khi nghiên cứu về MLXH đó là tính đồng nhất và tính thứ bậc:
٧ Tính đồng nhất của MLXH, là muốn nói đến khuynh hướng lựa chọn của cá nhân với những người đồng nhất với mình về một số yếu tố hay đặc điểm nào đó để hình thành quan hệ xã hội với họ, từ đó tạo nên MLXH của cá nhân đó MLXH có sự đồng nhất thường bao gồm các yếu tố: dân tộc, giới tính, độ tuổi, tôn giáo, nghề nghiệp, vị trí trong MLXH
٧ Tính thứ bậc của MLXH, là muốn nói đến vị trí, vai trò của các cá nhân trong MLXH được thể hiện và duy trì thông qua các mối quan hệ xã hội, hay đó chính là tôn
ti trật tự trong các mối quan hệ xã hội trong MLXH, qua đó khẳng định vị thế của các thành viên trong mạng lưới [37]
Luận án cũng nhằm xác định liệu có tồn tại tính đồng nhất và tính thứ bậc trong MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển hay không, và nếu có thì hai đặc tính này được thể hiện như thế nào?
• Kiểu mạng lưới xã hội
Rodney Stark đã phân loại thành hai kiểu MLXH là: MLXH đóng (cục bộ)
(Local network) và MLXH mở (Cosmopolitan network):
٧ MLXH đóng, là mạng lưới dày đặc các mối quan hệ chặt, rườm rà, không cần thiết Chúng được gọi là cục bộ vì các thành viên thường tương tác một cách trực tiếp với nhau Tương tác trực tiếp rất cần thiết trong việc hình thành và duy trì các mối quan hệ bền chặt Do đó, các thành viên có khuynh hướng tập trung về mặt địa lý
٧ MLXH mở, bao gồm các mối quan hệ yếu và lỏng lẻo hơn Từ mở có nghĩa là được phân bổ rộng khắp Do đó, các thành viên mạng lưới mở tương tác trực tiếp một cách ngẫu nhiên và có xu hướng phân tán về mặt địa lý [dẫn theo Lê Hải Hà, 2005] MLXH cục bộ có nhiều ưu điểm Các nhóm xã hội thân mật thường là nguồn gốc của sự gắn bó, xúc cảm và mang ý nghĩa Ví dụ, những người có mối quan hệ bền chặt
là những người hạnh phúc hơn và khoẻ mạnh hơn vì trong những mạng lưới này các thành viên có thể dành cho nhau sự hỗ trợ về vật chất và tinh thần vào những lúc đau buồn hay gặp khó khăn và chia sẻ niềm vui và sự thành công trong cuộc sống Tuy nhiên, MLXH cục bộ có điểm yếu là không có đầu vào cũng như khả năng mở rộng các mối quan hệ