BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH ------ HOÀNG DANH TRUNG NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG LOÀI VÀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC TINH DẦU CỦA MỘT SỐ LOÀI TRONG CÁC CHI HỒNG BÌ CLAUSENA, BA CHẠC E
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
- -
HOÀNG DANH TRUNG
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG LOÀI VÀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC TINH DẦU CỦA MỘT SỐ LOÀI TRONG CÁC
CHI HỒNG BÌ (CLAUSENA), BA CHẠC (EUODIA), CƠM RƯỢU (GLYCOSMIS), MUỒNG TRUỔNG (ZANTHOXYLUM) THUỘC HỌ
CAM (RUTACEAE) Ở NGHỆ AN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Nghệ An, 2018
Trang 2Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS TS Phạm Hồng Ban
2 PGS TS Trần Minh Hợi
Người phản biện 1:
Người phản biện 2:
Người phản biện 3:
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp Trường, tại , Vào
hồi giờ , ngày tháng năm 2017
Có thể tìm luận án tại, Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Nguyễn Thúc Hào, Trường ĐH Vinh
Trang 31
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia có diện tích trải dài dọc theo bờ biển, lãnh hải rộng lớn trong đó vùng trung du, miền núi chiếm hơn ¾ diện tích, với nhiều vùng địa lý và khí hậu khác nhau nên nước ta có tính đa dạng sinh học rất cao Mặt khác Việt nam lại nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa do đó rất thuận lợi cho hệ thực vật sinh trưởng và phát triển
Trong số các nhóm cây tài nguyên thực vật thì nhóm cây chứa tinh dầu chiếm vị trí quan trọng Đây là nguồn nguyên liệu thiết yếu của nhiều ngành công nghiệp như mỹ phẩm, thực phẩm và dược phẩm Chính vì vậy, trong những năm gần đây nhóm cây cho tinh dầu đã và đang được quan tâm nghiên cứu Trong hệ thực vật nước ta, nhóm các cây có tinh dầu rất phong phú và đa dạng Đến nay đã thống kê được khoảng 657 loài thuộc 357 chi và 114 họ (chiếm khoảng 6,3% tổng số loài; 15,8% tổng số chi và 37,8% số họ) trong đó phải kể đến các cây có ý nghĩa kinh tế thuộc các họ như họ Gừng (Zingiberaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Hoa môi (Lamiaceae), họ Cam (Rutaceae) Trong họ Cam (Rutaceae) thì hầu hết các chi, các loài và các bộ phận trong loài đều có khả năng tích luỹ tinh dầu
Nghệ An là tỉnh nằm trong khu vực Bắc Trung Bộ, có diện tích lớn nhất cả nước với tổng diện tích tự nhiên khoảng 16.648729 ha, trải dài trên địa hình miền núi, trung
du, đồng bằng, ven biển Nghệ An được đánh giá là tỉnh có khu hệ thực vật khá phong phú và đa dạng Hiện nay, công tác điều tra, đánh giá tính đa dạng hệ thực vật
đã và đang được tiến hành ở nhiều khu vực khác nhau như: Pù Mát, Pù Huống, Pù Hoạt, Trong đó, 4 chi: Hồng bì (Clausena), Ba chạc (Euodia), Cơm rượu
(Glycosmis), Muồng truổng (Zanthoxylum) thuộc họ Cam (Rutaceae) là những chi
khá đa dạng về thành phần loài, nhiều loài thuộc các chi này được sử dụng nhiều trong dân gian Tuy nhiên, nghiên cứu chuyên sâu về các loài thuộc 4 chi nói trên đang còn ít và chưa xứng với tiềm năng sẵn có ở đây Việc nghiên cứu chuyên sâu về nhóm tài nguyên này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất quan trọng, góp phần cung
Trang 42 cấp đầy đủ dữ liệu khoa học của họ Cam ở Nghệ An nói riêng và ở Việt Nam nó chung, là cơ sở cho việc hoạch định phát triển kinh tế xã hội ở địa phương Vì lý do
trên, tác giả chọn đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu đa dạng loài và thành phần hóa
học tinh dầu của một số loài trong các chi: Hồng bì (Clausena), Ba chạc (Euodia), Cơm rượu (Glycosmis), Muồng truổng (Zanthoxylum) thuộc họ Cam (Rutaceae) ở Nghệ An”
2 Mục tiêu
Đánh giá tính đa dạng về thành phần loài, thành phần hóa học tinh dầu của
một số loài thuộc các chi Hồng bì (Clausena), Ba chạc (Euodia), Cơm rượu
(Glycosmis), Muồng truổng (Zanthoxylum) để góp phần điều tra, tìm kiếm các
dữ liệu nguồn tài nguyên về thành phần loài, tinh dầu của các chi được nghiên cứu
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
- Ý nghĩa khoa học:
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu tương đối đầy đủ về đặc điểm sinh
học, hóa học tinh dầu các chi Hồng bì (Clausena), Ba chạc (Euodia), Cơm rượu (Glycosmis), muồng truổng (Zanthoxylum) thuộc họ Cam ở Nghệ An
Công trình này đã cung cấp những dẫn liệu mới về đa dạng thực vật chứa tinh dầu ở Nghệ An
- Ý nghĩa thực tiễn:
Đề tài cung cấp những dẫn liệu khoa học có ý nghĩa đối với công tác bảo tồn, khai thác hợp lý, hiệu quả nguồn tài nguyên thực vật chứa tinh dầu thuộc
họ Cam, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội ở Nghệ An
4 Đóng góp mới của Luận án
- Lần đầu tiên cung cấp các dẫn liệu tương đối đầy đủ và có hệ thống về các
loài thực vật thuộc 4 chi Hồng bì (Clausena), Ba chạc (Euodia), Cơm rượu
(Glycosmis), Muồng truổng (Zanthoxylum) ở Nghệ An
- Ghi nhận mới vùng phân bố 8 loài (Clausena dimidiana, Clausena lenis,
Euodia oreophilla, Glycosmis ovoidea, Glycosmis nana, Zanthoxylum armatum, Zanthoxylum rhetsa, Zanthoxylum ovalifolium); đồng thời đã lập bản đồ phân bố 31
Trang 53 loài thuộc 4 chi nghiên cứu cho Nghệ An
- Cung cấp dẫn liệu về hàm lượng, thành phần hóa học tinh dầu ở lá, thân,
rễ, vỏ, quả của 15 loài trong 4 chi nghiên cứu; trong đó lần đầu tiên cung cấp
dẫn liệu về tinh dầu của 06 loài là Glycomis craccifolia, G mauritiana,
Euodia simlifolia, Zanthoxylum ovadifolium, Z lateum, Clausena engler
5 Bố cục của luận án
Luận án bao gồm 162 trang:
Mở đầu: 3 trang;
Chương 1 - Tổng quan tài liệu: 24 trang;
Chương 2 - Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu: 7 trang; Chương 3 - Kết quả nghiên cứu và thảo luận: 94 trang;
Kết luận và kiến nghị: 2 trang
Danh mục các công trình công bố của tác giả liên quan đến luận án; Tài liệu tham khảo; Phụ lục 1, 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu họ Cam (Rutaceae)
1.1.1 Trên thế giới
Họ Cam được nghiên cứu từ thời Linnaeus (1753) với 7 chi và 19 loài Năm 1789, A Jussieu đã đặt tên cho họ Cam là Rutaceae lấy tên Ruta L Công trình nghiên cứu tương đối toàn diện và có hệ thống về họ Cam cuối thế kỷ 19 phải kể đến A Engler (1896) Một số công trình thực vật chí liên quan đến họ Cam đáng chú ý: J D Hooker (1875) đã chia họ Cam (Rutaceae) ở Ấn Độ và các
vùng lân cận thành 4 tông: Ruteae, Zanthoxyleae, Toddalieae, Auratieae C
Chang và cộng sự (1993) đã biên soạn họ Cam trong Thực vật chí Đài Loan, tác giả không phân chia thành phân họ hay tông mà chỉ lập khóa định loại, mô tả 13 chi và 31 loài Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu về họ Cam ở Thái Lan, Lào, Myanma,
Trang 64
1.1.2 Ở Việt Nam
Người đầu tiên nghiên cứu họ Cam ở Việt Nam là Loureiro (1790) Tác giả
đã mô tả 6 chi và 12 loài có ở Việt Nam Năm 1912, A Guillaumin đã mô tả 18 chi và 63 loài ở Đông Dương trong đó có 53 loài phân bố ở Việt Nam Sau này, nghiên cứu về họ Cam ở Việt Nam phải kể đến công trình nghiên cứu của Pha ̣m Hoàng Hô ̣, trong bộ “Cây cỏ Viê ̣t Nam”; Trần Kim Liên (2003) trong công trình
“Danh lục các loài thực vật Viê ̣t Nam” Những công trình đề cập đến giá trị sử dụng của họ Cam như: Trần Đình Lý (1993) trong công trình “1900 loài cây có
ích ở Việt Nam” đã thống kê 35 loài có ích thuộc họ Cam ; Đỗ Tất Lợi (1999)
trong công trình “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” Gần đây nhất, năm
2012, Bùi Thu Hà với công trình “Nghiên cứu phân loại họ Cam (Rutaceae
Juss.) ở Việt Nam” tác giả đã mô tả, vẽ hình chi tiết và đưa ra khóa phân loại các
chi và loài cho họ Cam, đồng thời đã công bố ở Việt Nam có 107 loài, 1 phân loài và 3 thứ thuộc 26 chi, 5 tông và 3 phân họ Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu đa dạng thực vật liên quan đến họ Cam ở các Vườn Quốc gia, Khu Bảo tồn thiên nhiên và các địa phương khác nhau
1.1.3 Ở Nghệ An
Nghiên cứu về họ Cam ở Nghệ An chưa có công trình nào mang tính hệ thống mà chỉ có các công trình thống kê riêng lẻ về họ này điển hình như Phạm Hồng Ban (2001), Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thanh Nhàn (2004), Lê Thị Hương và Đỗ Ngọc Đài (2012), Nguyễn Anh Dũng, Nguyễn Viết Hùng (2017), Nguyễn Thanh Nhàn (2017),
1.2 Tinh dầu và đặc tính của tinh dầu
1.2.1 Khái niệm chung về cây tinh dầu
Những năm trước đây người chưa đưa ra được định nghĩa chính xác về cây tinh dầu Khi phát hiện ra một số hợp chất của tinh dầu có trong cơ thể mọi sinh vật (axít mật của động vật, caroten trong hầu hết thực vật…), người ta cho rằng không có ranh giới rõ ràng giữa cây tinh dầu và các cây khác Từ quan
điểm này Nicolaev (1968) đưa ra định nghĩa: “Cây tinh dầu là những cây khác
biệt với các cây khác ở chỗ có thể thu được tinh dầu từ nó”
Trang 75
1.2.2 Khái niệm về tinh dầu
Cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa nào thỏa đáng về tinh dầu
Theo dược điển Pháp (1965) thì tinh dầu là các sản phẩm nhìn chung có thành phần khá phức tạp, bao gồm các chất dễ bay hơi có chứa trong thực vật, và
có khả năng thay đổi nhiều hay ít trong quá trình chế biến
Tiêu chuẩn Pháp (1987), đưa ra định nghĩa về tinh dầu như sau: Sản phẩm thu được từ nguyên liệu có nguồn gốc thực vật, bằng cách cất kéo hơi nước hoặc bằng các phương pháp cơ học đối với vỏ trái cây thuộc chi Citrus Tinh dầu được tách ra khỏi nước bằng các phương pháp vật lý” Định nghĩa này có hạn chế là loại trừ các sản phẩm thu được bằng cách chiết xuất với dung môi cũng như các sản phẩm thu được nhờ các phương pháp khác
Căn cứ vào cấu tạo phân tử hóa học của tinh dầu được sắp xếp vào 4 nhóm chủ yếu sau:
- Các hợp chất aliphatic
- Các terpen và những dẫn xuất của chúng
- Các dẫn xuất benzen
- Các thành phần khác
1.2.3 Phân bố cây tinh dầu trong hệ thực vật Việt Nam
Khi nghiên cứu thành phần các loài cây tinh dầu ở các khu vực khác nhau trên thế giới, các nhà nghiên cứu nhận định rằng khu vực có khí hậu nhiệt đới là nơi tập trung cây tinh dầu với số lượng lớn Bên cạnh đó, một số loài cây tinh dầu trong đai khí hậu này lại có sự đa dạng về thành phần hóa học
1.3 Giá trị sử dụng của tinh dầu các loài trong họ Cam (Rutaceae)
Các công trình nghiên cứu cho thấy, tinh dầu từ các loài trong họ Cam có nhiều tác dụng khác nhau, như: kháng khuẩn, kháng nấm, phòng và trị bệnh, hương liệu
1.4 Nghiên cứu về thành phần hóa học tinh dầu họ Cam (Rutaceae) 1.4.1 Trên thế giới
Hầu hết các loài trong họ Cam (Rutaceae) đều có chứa tinh dầu hoặc hương thơm, song hàm lượng và thành phần hóa học của tinh dầu ở mỗi loài
Trang 86 thường khác nhau Một số loài thì thành phần chủ yếu của tinh dầu là linalool, safrol,
Phần này nêu các công trình nghiên cứu về tinh dầu của các loài được nghiên cứu trên thế giới
1.4.2 Ở Việt Nam
Nghiên cứu về tinh dầu của các chi này ở Việt Nam có các công trình điển hình như: Nguyễn Xuân Dũng, Trần Đình Thắng, Trần Minh Hợi và cộng sự (2005), Trần Huy Thái,…
1.4.3 Ở Nghệ An
Ở Nghệ An đã có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần hóa học tinh dầu của họ Cam (Rutaceae), điển hình như: Nguyễn Anh Dũng và cộng sự (2009), Trần Đình Thắng, Lê Văn Hạc,
1.5 Điều kiện tự nhiên và xã hội ở khu vực nghiên cứu
Phần này nêu lên vị trí địa lý, địa hình, địa mạo, đặc điểm khí hậu, đặc điểm kinh tế xã hội, đặc điểm hệ thực vật của khu vực nghiên cứu
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Bao gồm các loài thuộc chi Hồng bì (Clausena), Ba chạc (Euodia), Cơm rượu (Glycosmis), Muồng truổng (Zanthoxylum) phân bố ở Nghệ An và tinh dầu
và tinh dầu của một số loài thuộc các chi nói trên
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá tính đa dạng thành phần loài phân bố và giá trị sử dụng của các chi được nghiên cứu ở Nghệ An
- Mô tả một số đặc điểm sinh học (đặc điểm nhận dạng, sinh học và sinh thái, phân bố) của các loài trong các chi được nghiên cứu
- Xác định hàm lượng, thành phần hóa học tinh dầu và hoạt tính sinh học của một số loài trong các chi này phân bố ở Nghệ An
Trang 97
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu thực vật
2.3.1.1 Phương pháp điều tra thực địa
Thu mẫu theo tài liệu của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007)
Mẫu thực vật được thu theo tuyến, chạy qua tất cả các sinh cảnh đặc trưng của thảm thực vật ở các vùng nghiên cứu được xác định trên bản đồ
Mỗi cây ít nhất thu 2-3 mẫu tiêu bản, kích cỡ phải đạt 29 x 41cm có thể tỉa bớt cành, lá, hoa và quả nếu cần thiết
Khi thu và ghi nhãn xong gắn nhãn vào mẫu, cho vào bao ni lông bỏ vào bao tải buộc lại mới đem về xử lý
2.3.1.3 Phương pháp định loại
Mẫu đã được thu ở các khu vực khác nhau của Nghệ An (chủ yếu là các VQG: Pù Mát; Khu BTTN: Pù Huống, Pù Hoạt; Khu vực núi đá vôi Quỳnh Lưu; Khu vực Puxailaileng,…) được so sánh với các mẫu vật ở Phòng tiêu bản thực vật, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (HN), Đại học quốc gia Hà Nội (UHN), Tổng số mẫu thu được là 500 mẫu, số mẫu đã phân tích 450 mẫu Mẫu hiện được lưu trữ ở phòng mẫu Thực vật, Viện Sư phạm Tự nhiên, trường Đại học Vinh
Để xác định tên khoa học của các loài, sử dụng phương pháp so sánh hình thái Các tài liệu chính được sử dụng trong quá trình định loại là: Phạm Hoàng
Hộ (2000), Cây cỏ Việt Nam, Quyển II, Thực vật chí Trung Quốc (1979),
Trang 108 Nghiên cứu phân loại họ Cam ở Việt Nam của Bùi Thu Hà (2012) và các tài liệu liên quan khác
2.3.1.4 Tìm hiểu về giá trị sử dụng của các loài
Tìm hiểu sơ bộ về giá trị sử dụng của các loài trong các chi được nghiên cứu qua phương pháp Tiếp cận cộng đồng (PRA: Participatory Rural Appraisal -
đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân) Sưu tầm các loài cây
có giá trị sử dụng làm thuốc, làm cảnh, cho tinh dầu… (theo kinh nghiệm dân gian) Ngoài ra, còn sử dụng các tài liệu đã công bố trong và ngoài nước về các loài nghiên cứu để bổ sung vào giá trị sử dụng của các loài như: Từ điển cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi, 2012), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ
Tất Lợi 1999), Đỗ Huy Bích và cs (2004) và các tài liệu lien quan khác
2.3.1.5 Đánh giá về tính đa dạng của các loài trong các chi phân bố ở Nghệ An
Đánh giá tính đa dạng về thành phần loài, giá trị sử dụng, phân bố của các
chi Hồng bì (Clausena), chi Ba chạc (Euodia), Cơm rượu (Glycosmis) và Muồng truổng (Zanthoxylum) theo phương pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007)
và các tài liệu liên quan khác
2.3.2 Phương pháp xây dựng bản đồ phân bố của các loài
Căn cứ vào các điểm đã phát hiện và thu mẫu các loài nghiên cứu trong quá trình điều tra thực địa (GPS), đánh dấu trên bản đồ, sử dụng phần mềm
Mapinfo 10.0 để xây dựng bản đồ phân bố các loài thuộc các chi Clausena,
Eoudia, Glycosmis và Zanthoxylum tại Nghệ An
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu tinh dầu
2.3.3.1 Thu mẫu cho chưng cất tinh dầu
Mẫu nguyên liệu tươi để chưng cất tinh dầu (lá, cành, vỏ, hoa tươi), từ 0,5-3 kg, được thu khi trời khô ráo Mẫu xác định tinh dầu được ghi số hiệu, ký
mã hiệu, ngày tháng thu,…
2.3.3.2 Phương pháp định lượng tinh dầu
Tinh dầu của các bộ phận khác nhau được định lượng theo phương pháp I của Dược điển Việt Nam IV (2010)
Trang 11Trong đó: M là lượng tinh dầu tính theo mililit (ml)
Wt là khối lượng mẫu lá tươi đưa vào chưng cất tính theo gram (g)
0,9 là hằng số áp dụng cho tinh dầu có tỷ trọng nhẹ hơn nước (0,9)
2.3.3.3 Phương pháp phân tích thành phần hoá học tinh dầu
Hoà tan 1,5 mg tinh dầu đã được làm khô bằng Na2SO4 khan trong 1ml hexan tinh khiết loại dùng cho phân tích sắc ký phổ
Sắc ký khí (GC): Được thực hiện trên máy Agilent Technologies HP 6890N
Plus với detectơ FID của hãng Agilent Technologies, Mỹ
Sắc ký khí-khối phổ (GC/MS): Việc phân tích định tính được thực hiện
trên hệ thống thiết bị sắc ký khí khối phổ liên hợp GC/MS của hãng Agilent Technologies HP 6890N Agilent Technologies HP 6890N/ HP 5973 MSD được lắp với cột tách mao quản và vận hành sắc ký như ở trên với He làm khí mang Việc xác định định tính các thành phần của tinh dầu được thực hiện trên cơ
sở so sánh các chỉ số RI (Retention Indices) của chúng với giá trị RI của các thành phần tinh dầu đã biết được tập hợp trong các ngân hàng dữ liệu như (NIST 08 và Wiley 9th Version) cũng như trong các sách chuyên khảo (Adam, 1995; Joulain & Koenig, 1998)
2.3.3.4 Phương pháp thử hoạt tính sinh học
- Thử khả năng ức chế vi sinh vật Kiểm định: Thử hoạt tính sinh học của
tinh dầu trên một số chủng vi khuẩn Gram (+): Bacillus subtilis (ATCC 6633),
Staphylococcus aureus (ATCC 13709) và Lactobacillus fermentum (VTTC Lp
B14); vi khuẩn Gram (-): Escherichia coli (ATCC 25922), Pseudomonas
aeruginosa (ATCC 15442) và Salmonella enterica (VTCC B650), và chủng
nấm men: Candida albican (ATCC 10231)
- Thử khả năng ức chế tăng sinh tế bào ung thư
Trang 1210
Phương pháp MTT (Thiazolyl Blue Tetrazolium Bromide): Nguyên lý của
phương pháp MTT là dựa trên sự chuyển đổi MTT thành dạng tinh thể formazan khi tham gia phản ứng oxy hoá khử với ty thể của tế bào sống
- Thử nghiệm hoạt tính chống ôxy hoá
Thử nghiệm trên hệ DPPH (1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl): Đây là phương
pháp đã được công nhận để xác định nhanh hoạt tính chống oxy hóa dựa trên khả năng bẫy các gốc tự do tạo bởi DPPH
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đa dạng thành phần loài trong các chi Hồng bì (Clausena), Ba chạc (Euodia), Cơm rượu (Glycosmis) và Muồng truổng (Zanthoxylum) ở Nghệ An
3.1.1 Danh lục thành phần loài
Quá trình điều tra và nghiên cứu ở các vùng sinh thái khác nhau của Nghệ
An, đã thu thập được hơn 500 mẫu tiêu bản của các loài trong chi Ba chạc
(Euodia), Cơm rượu (Glycosmis), Hồng bì (Clausena) và Muồng truổng (Zanthoxylum) thuộc họ Cam (Rutaceeae) Qua phân tích, xác định tên khoa học
các mẫu vật thu được, đã xác định được 31 loài Ghi nhận vùng phân bố mới cho
8 loài ở Nghệ An Kết quả được trình bày ở bảng 3.1
Bảng 3.1 Danh lục các loài trong chi Ba chạc (Euodia), Cơm rượu
(Glycosmis), Hồng bì (Clausena) và Muồng truổng (Zanthoxylum) thuộc họ
Cam (Rutaceeae) phân bố ở Nghệ An
thân
Giá trị sử dụng
1 Clausena anisata (Willd.) Hook f ex Benth. Hồng bì rừng GON THU, CTD, ĂNĐ
5 Clausena harmandiana (Pierre) Pierre ex Guillaum. Giối harmand BUI CTD
Trang 1311
thân
Giá trị sử dụng
12 Euodia pasteuriana A Chev ex
Guillaum.*
Dầu dấu lá đơn
mập
17 Glycosmis lanceolata (Blume) Spreng ex Teijsn & Binn. Cơm rượu lá
thuôn
21 Glycosmis parviflora (Sims.) Little Cơm rượu lá
hoa nhỏ
GON THU, CTD,
ĂNĐ
22 Glycosmis pentaphylla (Retz.) Correa Cơm rượu BUI THU, CTD
23 Glycosmis petelotii Guillaum. Cơm rượu
petelot
CGV
26 Zanthoxylum avicennae (Lamk.)
DC
Muồng truổng GON THU, CTD
28 Zanthoxylum myriacanthum
Wall ex Hook.f
Hoàng mộc nhiều gai GOL
THU, CTD, CGV
29 Zanthoxylum nitidum (Lamk.)
DC
Sưng
GLT THU, CTD,
CGV