Bên cạnh đó, qua quá trình giảng dạy tôi thấy còn không ít học sinh cònlúng túng khi giải bài toán có lời văn.. Hơn nữa trình độ tư duy, vốn hiểu biết kiến thức cơ bản ở lớp 1 chưa chắc
Trang 1Phần 1 Thực trạng đề tài: Trang
Phần 2 Nội dung cần giải quyết: Trang
Phần 3 Biện pháp giải quyết: Trang
Trang 2đạo sát sao, chặt chẽ của Phòng GD&ĐT, sự ủng hộ nhiệt tình của phụ huynh họcsinh Đội ngũ giáo viên hăng hái, hiệt tình trong mọi hoạt đông, có tinh thần tráchnhiệm và có ý thức học hỏi để nâng cao tay nghề.
Tuy nhiên, còn nhiều phụ huynh do đi làm xa, học sinh phải ở nhà với ông
bà, hoặc học sinh sống với cha hoặc sống với mẹ vì cha mẹ li dị nên sự quan tâm,theo dõi việc học cho con em chưa được chú ý đầu tư đúng mức, thường giao phócho nhà trường nhất là giáo viên chủ nhiệm lớp Hoàn cảnh các em khó khăn nhưvậy nên các em học đạt kết quả chưa cao
Học sinh phần lớn đều ngoan, có ý thức học tập, trong các giờ Toán họcsinh tham gia các hoạt động học tập tích cực, tự giác dưới sự hướng dẫn giúp đỡcủa giáo viên
Bên cạnh đó, qua quá trình giảng dạy tôi thấy còn không ít học sinh cònlúng túng khi giải bài toán có lời văn Đó là:
- Việc đọc đề, tìm hiểu đề đang còn nhiều khó khăn đối với học sinh lớp 2 Vì kĩnăng đọc thành thạo của các em chưa cao nên các em đọc được đề toán và hiểu đềcòn thụ động, chậm chạp,…
- Thực tế trong một tiết dạy 40 phút, thời gian dạy kiến thức mới mất nhiều thờigian Phần bài tập hầu hết ở cuối bài nên thời gian để luyện nêu đề, nêu câu trả lờikhông được nhiều mà học sinh chỉ thành thạo việc đọc đề toán
Trong dạy học môn Toán, nhìn chung ở mỗi tiết dạy, vẫn còn hiện tượng bắt họcsinh chờ đợi nhau trong quá trình làm bài, chưa có kế hoạch giúp học sinh tiếp thuchậm và khuyến khích học sinh khá giỏi làm nhiều bài tập Mục đích của nhiều tiếtdạy là làm sao giải quyết hết số lượngbài tập trong SGK mà chưa chú ý giúp họcsinh khai thác các nội dung tiềm ẩn trong các bài tập Hình thức tổ chức các hoạtđộng học tập còn đơn vị đơn điệu, các tình huống đưa ra ít hấp dẫn, trò chơi họctập chưa phong phú Hơn nữa trình độ tư duy, vốn hiểu biết kiến thức cơ bản ở lớp
1 chưa chắc chắn vẫn tồn tại thói quen học vẹt, ghi nhớ máy móc và một số họcsinh còn ghi nhớ thụ động, chỉ tiếp nhận những điều có sẵn chưa chịu khó tìm tòi,khám phá để tìm kiếm kiến thức
Tôi đã khảo sát kĩ năng giải toán của 27 học sinh lớp 2/3 và thu được kết quả nhưsau:
Từ thực trạng trên, để giúp các em học sinh có hứng thú học tập, nâng cao chấtlượng giáo dục trong nhà trường, tôi đã mạnh dạn cải tiến nội dung, phương pháptrong giảng dạy Tôi quyết định chọn đề tài “Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp
Trang 32 giải toỏn cú lời văn” để thực hiện nhằm giỳp cỏc em giải quyết những khú khăn
trờn
Phần 2: Nội dung cần giải quyết
- Chuẩn bị cho việc giải toỏn
- Áp dụng qua cỏc tiết dạy
- Khớch lệ học sinh, tạo hứng thỳ khi học tập
Phần 3: Biện phỏp giải quyết
1 Chuẩn bị cho việc giải toỏn
Để giỳp học sinh cú kĩ năng thành thạo trong việc giải toỏn thỡ chỳng ta khụngchỉ hướng dẫn học sinh trong giờ toỏn là một yếu tố khụng kộm phần quan trọng
đú là luyện kĩ năng núi trong giờ Tiếng Việt
* Chỳng ta đó biết, học sinh lớp Hai cũn thụ động, rụt rố trong giao tiếp Chớnh vỡvậy, để cỏc em mạnh dạn tự tin khi phỏt biểu, người giỏo viờn cần phải: luụn luụngần gũi, khuyến khớch cỏc em giao tiếp, tổ chức cỏc trũ chơi học tập, được trao đổi,luyện núi nhiều trong cỏc giờ Tiếng Việt giỳp cỏc em cú vốn từ lưu thụng Trongcỏc tiết học, cỏc em cú thể nhận xột và trả lời tự nhiờn, nhanh nhẹn mà khụng rụt
rố, tự ti Bờn cạnh đú, người giỏo viờn cần phải chỳ ý đến kĩ năng đọc cho họcsinh: đọc nhanh, đỳng tốc độ, ngắt/ nghỉ hơi đỳng chỗ sẽ giỳp học sinh cú kĩ năngnghe, hiểu được những yờu cầu mà cỏc bài tập nờu ra
Túm lại: Để giỳp học sinh giải toỏn cú lời văn thành thạo, tụi luụn luụn chỳ ý rốn
luyện kĩ năng nghe, núi, đọc, viết cho cỏc học sinh trong cỏc giờ học Tiếng Việt,bởi vỡ học sinh đọc thụng, viết thạo là yếu tố “đũn bẩy” giỳp học sinh hiểu rừ đề vàtỡm cỏch giải toỏn một cỏch thành thạo
* Theo chương trỡnh SGK, đến tuần 23 thỡ học sinh lớp Một mới tập giải toỏn cúlời văn Ở lớp 1, yờu cầu nhỡn tranh nờu phộp tớnh, tập nờu tiếp cõu hỏi để hoànchỉnh đề toỏn, tập viết cõu lời giải ở dạng đơn giản và chưa yờu cầu lời giải hay,chớnh xỏc Trong khi thời gian dành cho cả tiết học là 40 phỳt, với nhiều yờu cầukiến thức khỏc nhau nờn cỏc emchu7a được rốn luyện nhiều Vỡ vậy, khi lờn lớpHai, những tuần đầu tiờn khi học đến phần giải toỏn cú lời văn, nhiều e lỳng tỳng
kể cả những e học tốt Mặc dự giỏo viờn đó hướng dẫn cỏc em nờu đề toỏn, tỡmhiểu đề và gợi ý nờu miệng lời giải nhưng cỏch trỡnh bày, diễn đạt cõu lời giải củamột số em chưa thành thạo Hiểu được những thiếu sút đú của cỏc em, ở những tiếttoỏn cú bài toỏn giải, tụi thường dành nhiều thời gian hơn để hướng dẫn kĩ và kếthợp trỡnh bày mẫu nhiều bài, giỳp cỏc em ghi nhớ và hỡnh thành kĩ năng
Ví dụ: Sau khi đọc đề toán ở trang 11 SGK Toán 2.
“ Lớp 2A có 18 học sinh đang tập hát, lớp 2B có 21 học sinh đang tập hát.Hỏi cả hai lớp có bao nhiêu học sinh đang tập hát?”
- Học sinh tập nêu bằng lời để tóm tắt bài toán:
Trang 4Lớp 2B có : 21 học sinh
Hỏi có tất cả : học sinh?
- Học sinh nêu miệng câu lời giải:
Cả hai lớp có tất cả số học sinh đang tập hát là:
Học sinh nêu miệng phép tính: 18 + 21 = 39 (bạn)
- Tiếp đó, học sinh đợc làm quen với việc tóm tắt rồi nêu đề toán bằng lời sau đónêu cách giải rồi tự giải Ở dạng bài này, giáo viên cũng cần cho học sinh luyệnnêu miệng đề toán nhiều lần để các em ghi nhớ một bài toán
Ví dụ: Bài tập 2 (trang 25 - SGK toán 2)
Học sinh: An có 11 bu ảnh Bình có số bu ảnh nhiều hơn số bu ảnh của An là
3 cái Hỏi Bình có tất cả có bao nhiêu cái bu ảnh?
Sau đó cho các em luyện cách trả lời miệng:
3 áp dụng qua các tiết dạy.
Chơng trình Toán lớp 2 mới thờng đợc cho dới các dạng sau:
+ Lớp 2A có 15 bạn gái, số học sinh trai của lớp ít hơn số học sinh gái 3 bạn.Hỏi lớp 2A có bao nhiêu học sinh trai?
+ Tháng trớc tổ em đợc 16 điểm mời, tháng này tổ em đợc nhiều hơn thángtrớc 5 điểm mời Hỏi tháng này tổ em đợc bao nhiêu điểm mời?
Nhng dù ở hình thức nào, dạng nào tôi cũng tập trung luyện cho học sinh các kĩnăng: Tìm hiểu nội dung bài toán, tìm cách giải bài toán và kĩ năng trình bày bàigiải, đợc tiến hành cụ thể qua các bớc sau:
B ớc 1 : Tìm hiểu nội dung bài toán.
Cần cho học sinh đọc kĩ đề toán giúp học sinh hiểu chắc chắn một số từ khoáquan trọng nói lên những tình huống toán học bị che lấp dới cái vỏ ngôn từ thông
thờng nh: “ ít hơn”, “ nhiều hơn”, “tất cả”.
Nếu trong bài toán có từ nào mà học sinh cha hiểu rõ thì giáo viên cần hớngdẫn cho học sinh hiểu đợc ý nghĩa và nội dung của từ đó ở trong bài toán đang làm,
sau đó giúp học sinh tóm tắt đề toán bằng cách đăt câu hỏi đàm thoại: “Bài toán cho gì? Bài toán hỏi gì?” và dựa vào tóm tắt để nêu đề toán…b
Đối với những học sinh kĩ năng đọc hiểu còn chậm, tôi dùng phơng phápgiảng giải kèm theo các đồ vật, tranh minh hoạ để các em tìm hiểu, nhận xét nộidung, yêu cầu của đề toán Qua đó học sinh hiểu đợc yêu cầu của bài toán và dựavào câu hỏi của bài, các em nêu miệng câu lời giải, phép tính, đáp số của bài toánrồi cho các em tự trình bày bài giải vào vở bài tập
Trang 5ớc 2 : Tìm cách giải bài toán.
a Chọn phép tính giải thích hợp:
Sau khi hớng dẫn học sinh tìm hiểu đề toán để xác định cái đã cho và cái
phải tìm cần giúp học sinh lựa chọn phép tính thích hợp: Chọn “ phép cộng” nếu bài toán yêu cầu “ nhiều hơn” hoặc “ gộp”, “ tất cả” Chọn “tính trừ” nếu “bớt” hoặc “ tìm phần còn lại” hay là “ít hơn”.
Ví dụ:
Vờn nhà Mai có 17 cây cam, vờn nhà Hoa có ít hơn vờn nhà Mai 7 cây cam.Hỏi vờn nhà Hoa có mấy cây cam?
Để giải đợc bài toán này, học sinh cần phải tìm đợc mối liên hệ giữa cái đã cho
và cái phải tìm Hớng dẫn học sinh suy nghĩ giải toán thông qua các câu hỏi gợi ýnh:
+ Bài toán cho biết gì? ( Vờn nhà Mai có 17 cây cam)
+ Bài toán còn cho biết gì nữa? (Vờn nhà Hoa có ít hơn vờn nhà Mai 7 cây) + Bài toán hỏi gì? (Vờn nhà Hoa có bao nhiêu cây cam)
+ Muốn biết vờn nhà Hoa có mấy cây cam em làm tính gì? (tính trừ)
+ Lấy mấy trừ đi mấy? (17 - 7)
+ 17 – 7 bằng bao nhiêu? ( 17 - 7 = 10 )
b Đặt câu lời giải thích hợp.
Thực tế giảng dạy cho thấy việc đặt câu lời giải phù hợp là bớc vô cùng quantrọng và khó khăn nhất đối với học sinh lớp 2 Chính vì vậy việc hớng dẫn học sinhlựa chọn và đặt câu lời giải hay cũng là một khó khăn lớn đối với ngời dạy Tuỳtừng đối tợng học sinh mà tôi lựa chọn các cách hớng dẫn sau:
- Cách 1: (Đợc áp dụng nhiều nhất và dễ hiểu nhất): Dựa vào câu hỏi của bài toán rồi bỏ bớt từ đầu “hỏi” và từ cuối “mấy/ bao nhiờu” rồi thêm từ “là” để có câu lời giải: “Vờn nhà Hoa có số cây cam là:”
- Cách 2: Nêu miệng câu hỏi: “Vờn nhà Hoa có mấy cây cam?” Để học sinh trả lời miệng: “Vờn nhà Hoa có số cây cam là:” rồi chèn phép tính vào để có
cả bớc giải (gồm câu hỏi, câu lời giải và phép tính):
Vờn nhà Hoa có số cây cam là:
17 - 7 = 10 ( cây cam)
Đáp số: 10 ( cây cam).
Tóm lại: Tuỳ từng đối tợng, từng trình độ học sinh mà hớng dẫn các em
cách lựa chọn, đặt câu lời giải cho phù hợp Vớ dụ: “Vườn nhà Hoa cú là:” hoặc
“Số cõy cam vườn nhà Hoa cú là:”
Song, trong khi giảng dạy, ở mỗi một dạng bài cụ thể tôi cho các em suynghĩ, thảo luận theo bàn, nhóm để tìm ra các câu lời giải đúng và hay nhất phù hợpvới câu hỏi của bài toán đó
Tuy nhiên cần hớng dẫn học sinh lựa chọn cách hay nhất (cách 1) còn các
cách kia giáo viên đều công nhận là đúng và phù hợp nhng cần lựa chọn để có câulời giải là hay nhất để ghi vào bài giải
B
ớc 3 : Trình bày bài giải:
Nh chúng ta đã biết, các dạng toán có lời văn học sinh đã phải tự viết câu lờigiải, phép tính, đáp số, thậm chí cả tóm tắt nữa
Trang 6
Chính vì vậy, việc hớng dẫn học sinh trình bày bài giải sao cho khoa học, đẹp mắtcũng là yêu cầu lớn trong quá trình dạy học Muốn thực hiện yêu cầu này trớc tiênngời dạy cần tuân thủ cách trình bày bài giải theo hớng dẫn, quy định.
- Đầu tiên là tên bài (Viết sát lề bên trái có gạch chân), tiếp đó ghi tóm tắt, sau gần
tóm tắt là trình bày bài giải Từ: “Bài giải” ghi ở giữa trang vở (có gạch chân), câu
lời giải ghi cách lề khoảng 2 -> 3 ô vuông, chữ ở đầu câu viết hoa, ở cuối câu códấu hai chấm (:), phép tính viết lùi vào so với lời giải khoảng 2 -> 3 chữ, cuối phéptính là đơn vị tính đợc viết trong dấu ngoặc đơn Phần đáp số ghi sang phần vở bên
phải ( có gạch chân) và dấu hai chấm rồi mới viết kết quả và đơn vị tính (không
phải viết dấu ngoặc đơn nữa).
Song song với việc hớng dẫn các bớc thực hiện, tôi thờng xuyên trình bày bài mẫutrên bảng và yêu cầu học sinh quan sát, nhận xét về cách trình bày để từ đó họcsinh quen nhiều với cách trình bày Bên cạnh đó, tôi còn thờng xuyên chấm bài vàsửa lỗi cho những học sinh trình bày cha đẹp; tuyên dơng trớc lớp những học sinhlàm đúng, trình bày sạch đẹp, cho các em đó lên bảng trình bày lại bài làm củamình để các bạn cùng học tập…b
Bên cạnh việc hớng dẫn cách trình bày nh trên, tôi cũng luôn luôn nhắc nhở, rènluyện cho học sinh kĩ năng viết chữ - viết số đúng mẫu - đẹp Việc kết hợp giữa chữviết đẹp và cách trình bày đúng cũng là một yếu tố góp phần tạo nên sự thành côngtrong vấn đề giải toán có lời văn của các em
Cùng với việc áp dụng các biện pháp ngay từ đầu năm học và áp dụng trực tiếp cácbiện pháp vào bài dạy đầu tiên về giải toán có lời văn, tôi đã cho học sinh làm một
số dạng bài tập giải toán có lời văn nh sau:
Ví dụ 1: Nam có 6 lá cờ, Hùng có 9 lá cờ Hỏi cả hai bạn có bao nhiêu lá cờ?
Không cần hớng dẫn, học sinh lớp tôi thực hiện đợc ngay cách làm nh sau:
Hải có: 15hòn bi Hải còn lại số hòn bi là:
Cho bạn: 6 hòn bi 15 – 6 = 9 (hòn bi)
Còn lại: … lá cờ? hòn bi? Đáp số: 9 hòn bi.
Tiếp tục tiến hành kiểm tra nhiều kĩ năng giải toán của học sinh với nhiềudạng bài khác nhau, tổng hợp kết quả qua chấm chữa bài cho học sinh tôi thu đợckết quả sau:
Trang 7- Số bài giỏi: 8 bài.
- Số bài khá: 9 bài
- Số bài trung bình: 7 bài
- Số bài yếu: Không có
4 Khích lệ học sinh tạo hứng thú khi học tập.
Đặc điểm chung của học sinh tiểu học là thích đợc khen hơn chê, hạn chế chê các em trong học tập, rèn luyện Tuy nhiên, nếu ta không biết kết hợp tâm lý từng học sinh mà cứ quá khen sẽ không có tác dụng kích thích Đối với những em chậm tiến bộ, thờng rụt rè, tự ti, vì vậy tôi luôn luôn chú ý nhắc nhở, gọi các em trả lời hoặc lên bảng làm bài Chỉ cần các em có một “tiến bộ nhỏ” là tôi tuyên dơng ngay, để từ đó các em sẽ cố gắng tiến bộ và mạnh dạn, tự tin hơn Đối với những
em học khá, giỏi phải có những biểu hiện vợt bậc, có tiến bộ rõ rệt tôi mới
khen.Chính sự khen, chê đúng lúc, kịp thời và đúng đối tợng học sinh trong lớp đã
có tác dụng khích lệ học sinh trong học tâp
Ngoài ra, việc áp dụng các trò chơi học tập giữa các tiết học cũng là một yếu
tố không kém phần quan trọng giúp học sinh có niềm hăng say trong học tập, mongmuốn nhanh đến giờ học và tiếp thu kiến thức nhanh hơn, chắc hơn Vì chúng ta
đều biết học sinh tiểu học nói chung, học sinh lớp hai nói riêng có trí thông minh khá nhạy bén, sắc sảo, có óc tởng tợng phong phú đó là tiền đề tốt cho việc phát triển t duy toán học nhng các em cũng rất dễ bị phân tán, rối trí nếu bị áp đặt, căng thẳng hay quá tải Hơn nữa cơ thể của các em còn đang trong thời kì phát triển hay nói cụ thể hơn là các hệ cơ quan còn cha hoàn thiện vì thế sức dẻo dai của cơ thể còn thấp nên trẻ không thể ngồi lâu trong giờ học cũng nh làm một việc gì đó trongmột thời gian dài Vì vậy muốn giờ học có hiệu quả thì đòi hỏi ngời giáo viên phải
đổi mới phơng pháp dạy học tức là kiểu dạy học :“ Lấy học sinh làm trung tâm.”,
hớng tập trung vào học sinh, trên cơ sở hoạt động của các em Trong mỗi tiết học, tôi thờng dành khoảng 2 – 3 phút để cho các em nghỉ giải lao tại chỗ bằng cách chơi các trò chơi học tập vừa giúp các em thoải mái sau giờ học căng thẳng, vừa giúp các em có phản ứng nhanh nhẹn, ghi nhớ một số nội dung bài đã học…b
Tóm lại: Trong quá trình dạy học ngời giáo viên không chỉ chú ý đến rèn
luyện kĩ năng, truyền đạt kiến thức cho học sinh mà còn phải quan tâm chú ý đến
việc: Khuyến khích học sinh tạo hứng thú trong học tập.
Trang 8C Kết luận
1 Kết quả nghiên cứu.
Nhờ áp dụng, kết hợp các biện pháp trên trong giảng dạy mà tôi đã thu đợc
những kết quả ban đầu trong việc dạy học Giải toán có lời văn “ ” nói riêng và
trong chất lợng môn Toán nói chung bởi vì “Giải toán có lời văn” là dạng toán khó
và mới của chơng trình thay sách Học sinh phải đặt lời giải trớc phép tính và kết quả của bài toán Nếu các em nắm chắc đợc cách giải toán ở lớp hai chắc chắn sau này các emhọc lên các lớp trên sẽ có điều kiện tốt hơn ở dạng toán khó hơn
Trong năm học trớc: (2005 – 2006) có những em khi giải toán còn đặt câu
lời giải nh: “Có tất cả bao nhiêu là: ” hoặc Hỏi số gà còn lại là: “Hỏi số gà còn lại là:”… ”…
Những lỗi đó đến nay không còn nữa, học sinh lớp tôi không những biết cách đặt câu lời giải hay, viết phép tính đúng mà còn biết cách trình bày bài giải đúng, đẹp Năm học 2006 – 2007 này tôi đợc phân công trực tiếp chủ nhiệm và giảng dạy lớp 2a Tổng số học sinh của lớp là 24 em Có 13 em nữ Các em phân bố rải rác ở các thôn Ngay từ đầu năm học mới, sau khi nhận lớp, tôi đã thử nghiệm ngay những ý tởng của mình Những kết quả mà các em đạt đợc sau những lần thi do nhàtrờng, Phòng GD, Sở GD ra đề đã cho thấy công sức tôi bỏ ra đã có kết quả nhất
định Năm học 2006 – 2007 lớp 2a do tôi trực tiếp chủ nhiệm và giảng dạy có kếtquả nh sau: (kết quả tính đến tháng 4)
Sĩ số Giải thành thạo Kĩ năng giải chậm Cha nắm đợc cách giải
24 em 15 em = 62,5 % 9 em = 37,5 % 0 em = 0%
Trang 9Có đợc kết quả nh vậy một phần nhờ tinh thần học tập tích cực, tự giác của học sinh, sự quan tâm nhắc nhở của phụ huynh học sinh, bên cạnh đó là các biện pháp giáo dục đúng lúc, kịp thời của giáo viên.
Qua kết quả đã đạt đợc trên, tôi thấy số học sinh yếu đã không còn, số học sinh khá giỏi tăng So với năm học trớc thì kết quả trên thật là một điều đáng mừng
Điều đó cho thấy những cố gắng trong đổi mới phơng pháp dạy học của tôi đã có kết quả khả quan Những thầy cô giáo trờng bạn trong lần thanh tra trờng khi dự giờ lớp tôi cũng đã công nhận lớp học sôi nổi, nắm kiến thức vững chắc Đó chính
là động lực để tôi tiếp tục theo đuổi ý tởng của mình
Với kết quả này, chắc chắn khi các em học lên các lớp trên, các em sẽ vẫn tiếptục phát huy hơn nữa với những bài toán có lời văn yêu cầu ở mức độ cao hơn
II BàI HọC KINH NGHIệM
Qua những vớng mắc thực tế, cùng với lòng say mê, nhiệt tình nghiên cứu và
áp dụng thực tế vào lớp học do tôi chủ nhiệm đã giúp tôi hoàn thành ý tởng của mình Mỗi lần thực hiện, vận dụng vào thực tế lớp học tôi lại rút ra đợc một vài kinh nghiệm sau:
- Ngời giáo viên phải thực sự có lòng nhiệt tình, say mê với nghề nghiệp, vớilơng tâm trách nhiệm của ngời thầy
- Trong quá trình giảng dạy phải luôn nắm bắt, đúc rút những vớng mắc, khókhăn thực tế ở lớp mình dạy, để từ đó nghiên cứu tìm ra hớng giải quyết tốt nhất
- Mỗi biện pháp giáo dục của giáo viên phải đợc thực hiện đúng thời điểm,
đúng nội dung ở từng bài học
- Không nên quá phụ thuộc vào sách giáo viên, vì sách giáo viên chỉ là tài liệu hớng dẫn – tham khảo, không thể áp dụng đại trà với mọi đối tợng học sinh trong lớp đợc
- Cần quan tâm, động viên, khuyến khích, giúp đỡ các em vợt qua mọi khó khăn để học tập tốt hơn
- Trong quá trình hớng dẫn giải toán có lời văn ( ở lớp 2 ) giáo viên cần lu
ý hơn nữa tới việc hớng dẫn cho các em cách đặt câu lời giải cho hay, cho xúc tích Vì việc thực hiện phép tính các em đều có thể nêu đợc ngay sau khi đọc xong đề toán
Trang 10- Để giúp học sinh có kĩ năng giải toán thành thạo, ngời giáo viên cần chú
ý nhiều đến kĩ năng: nghe - đọc – nói – viết trong môn Tiếng việt Luyện kĩ nănghỏi - đáp giúp các em có vốn từ ngữ lu thông hơn, giúp các em dễ dàng đặt câu lời giải cho bài toán
- Phải cố gắng khắc phục các sai lầm của các em trong mỗi bài, mỗi phần, mỗi dạng toán, tránh để các sai lầm dồn lại sẽ khó giải quyết
- Điều rất quan trọng nữa là sự mềm mỏng, kiên trì uốn nắn học sinh của giáo viên trong mọi lúc của giờ học
- Trong từng tiết học, ngời giáo viên cũng cần tìm ra nhiều biện pháp, nhiều hình thức hoạt động học tập nh: Làm việc chung với lớp, làm việc cá nhân, làm việc theo nhóm…b và tập trung chú ý tới cả 3 đối tợng để giúp các em học tốt hơn
- Ngời giáo viên cần phải luôn luôn có ý thức học hỏi và trau dồi kiến thức
để đáp ứng với yêu cầu ngày một đổi mới của xã hội Muốn thế, ngời giáo viên phảigiành nhiều thời gian để nghiên cứu, tự tìm tòi trong các tài liệu có liên quan, tham gia tích cực vào các lớp nghiệp vụ do ngành, trờng tổ chức Điều quan trọng nhất trong dạy học là: Lòng yêu nghề và trình độ chuyên môn của mỗi giáo viên
- Nếu đợc thực hiện đồng bộ, đúng lúc, kịp thời các biện pháp trên, tôi tin rằng chất lợng môn toán nói chung và phần giải toán có lời văn nói riêng của các
em lớp 2 sẽ có kết quả nhất định và là nền móng vững chắc để các em học tốt hơn ởcác lớp sau
- Với một vài kinh nghiệm này, tôi mong muốn đợc đóng góp một phhần
nhỏ vào việc nâng cao chất lợng dạy học nói chung và với dạng bài Giải toán có “
lời văn ” trong môn Toán 2 nói riêng
Tôi rất mong nhận đợc những ý kiến đóng góp, bổ sung của hội đồng khoa học, của các đồng nghiệp để tôi hoàn thiện mình hơn góp phần nâng cao chất lợng dạy và học