Vì vậy, chúng tôi triển khai dự án “nghiên cứu tri thức địa phương vùng đồng bằng sông Cửu ong” tại địa bàn 2 ấp: ấp Phú Thọ A, xã Phú Thọ, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp và ấp Vàm Nao,
Trang 11
Báo cáo Nghiên cứu tri thức địa phương vùng Đồng Bằng sông Cửu Long
Thực hiện tại:
Ấp Phú Thọ A – xã Phú Thọ - huyện Tam Nông – tỉnh Đồng Tháp
và ấp Vàm Nao – xã Tân Trung – huyện Phú Tân – tỉnh An Giang
2013
Trang 22
Lời cảm ơn
Danh mục các cụm từ viết tắt
Giải thích các thuật ngữ
Mục lục
Lời cảm ơn 2
Danh mục các cụm từ viết tắt 2
Giải thích các thuật ngữ 2
Contents Error! Bookmark not defined I Giới thiệu về dự án 4
1 Tính cấp thiết của nghiên cứu 4
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
II Kết quả nghiên cứu 7
1 Khái quát về quá trình hình thành, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 7
Ấp Phú Thọ A – xã Phú Thọ - huyện Tam Nông – tỉnh Đồng Tháp 9
2 Hiện trạng hệ sinh thái 15
3 Quá trình khai thác hệ sinh thái tự nhiên 26
3.1 Sinh thái vùng ven sông (Vàm Nao) 26
3.1.1 Giai đoạn trước 1968 27
3.1.2 Giai đoạn 1968 – 1975 27
3.1.3 Giai đoạn 1975 – 2000 27
3.1.4 Giai đoạn 2000 – hiện nay 28
3.2.1 Giai đoạn trước năm 1962 31
3.2.2 Giai đoạn 1962 – 1965 31
Trang 33
3.2.3 Giai đoạn 1965 – 1975 32
3.2.4 Giai đoạn 1975 - 1982 33
3.2.5 Giai đoạn 1982 – 2000 34
3.2.6 Giai đoạn 2000 – nay 35
4 Các yếu tố tác động tới các hệ sinh thái và ảnh hưởng tới đời sống xã hội 38
IV Kết luận và khuyến nghị 45
1 Kết luận 45
2 Khuyến nghị 45
Phụ lục 47
Phụ lục 1: Thành phần nhóm nghiên cứu 47
Phụ lục 2: Lịch thời vụ 49
Phụ lục 3: Các loài thực vật tự nhiên 51
Phụ lục 4: Cây trồng 63
Phụ lục 5: Nông cụ 79
Phụ lục 6: Thủy sản tự nhiên 85
Phụ lục 7: Phương thức, ngư cụ đánh bắt 127
Trang 44
I Giới thiệu về dự án
1 Tính cấp thiết của nghiên cứu
Sông Mê Công là con sông đứng thứ hai về đa dạng sinh học trên thế giới, chỉ sau sông Amazon Sông Mê Công là nơi trú ẩn của gần 1500 loài cá khác nhau Sinh kế và văn hóa của các cộng đồng cư dân sống ở lưu vực sông Mê Công có liên hệ mật thiết với các chu kỳ tự nhiên của dòng sông Tuy nhiên, những thay đổi gần đây do tự nhiên và do con người đang đe dọa nguồn tài nguyên nước và dòng chảy tự nhiên, khiến vấn đề số lượng
và chất lượng nước ở đồng bằng sông Cửu Long gặp nhiều khó khăn
vực sông Mê Công Khu vực này được hình thành bởi quá trình lấn biển và bồi đắp phù sa của sông Mê Công Nông nghiệp và thủy sản là những lĩnh vực kinh tế chủ đạo Ngày càng nhiều những tác động đe dọa sinh kế và cuộc sống của hàng triệu người dân sống tại lưu vực này Tuy nhiên, nhận thức về tác động của các hoạt động phát triển cũng như các yếu tố tự nhiên đến môi trường và sinh kế của các cộng đồng địa phương c n hạn chế
Tại bất cứ địa phương nào, trong bất cứ hoàn cảnh nào, con người luôn biết cách
sử dụng tri thức phục vụ cho cuộc sống Những tri thức này là thành quả đúc kết của một quá trình lâu dài và được toàn thể cộng đồng địa phương công nhận và có ảnh hưởng to lớn đến nhận thức của cộng đồng Vì vậy, chúng tôi triển khai dự án “nghiên cứu tri thức địa phương vùng đồng bằng sông Cửu ong” tại địa bàn 2 ấp: ấp Phú Thọ A, xã Phú Thọ, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp và ấp Vàm Nao, xã Tân Trung, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang nhằm tìm hiểu tri thức địa phương về mối quan hệ giữa các yếu tố tác động và hệ sinh thái tự nhiên vùng đồng bằng sông Cửu Long Song song với quá trình nghiên cứu,
dự án cũng nhằm mục đ ch giúp tăng cường năng lực cho người dân địa phương và đề ra các giải pháp riêng của họ cho sử dụng bền vững nguồn tài nguyên nước ở đồng bằng sông Cửu Long
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu là xây dựng năng lực cho người dân địa phương, khuyến khích họ tham gia vào nghiên cứu và sử dụng tri thức địa phương của mình Người dân
Trang 55
có thể sử dụng các kết quả nghiên cứu để tham gia vào trao đổinhững vấn đề liên quan đến sinh kế của họ và nguồn tài nguyên thiên nhiên trong khu vực
Một số mục tiêu ngắn hạn chúng tôi hy vọng sẽ đạt được bao gồm:
- Người dân địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long sẽ tư liệu hóa những tri thức liên quan đến cuộc sống hàng ngày của họ như: đánh bắt, gieo trồng, lịch mùa vụ, lịch sử văn hóa địa phương
- Kết quả nghiên cứu sẽ được chia sẻ và sử dụng để đóng góp cho các hoạt động thúc đẩy sử dụng bền vững tài nguyên nước và an ninh lương thực ở Đồng bằng sông Cửu Long của WARECOD và Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam (VRN)
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung phân tích hai vấn đề chính:
- Các thành phần của hệ sinh thái tự nhiên, sự tác động qua lại giữa các thành phần, tầm quan trọng của hệ sinh thái tự nhiên đến sinh kế của người dân bản địa
- Các tác động của yếu tố con người thay đổi hệ sinh thái tự nhiên: trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt thủy sản,…
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu chỉ tập trung vào các phân t ch mang t nh định tính
- Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn 02 ấp đại diện cho hệ sinh thái vùng đồng bằng sông Cửu Long
- Nghiên cứu thực hiện trong thời gian 12 tháng (từ tháng 01/2013 đến tháng 12/2013)
4 Phương pháp nghiên cứu
Dự án sử dụng phương pháp nghiên cứu tri thức địa phương Nghiên cứu tri thức địa phương là nghiên cứu được thực hiện bởi chính người dân, gần đây đã trở thành một cách tiếp cận mới khác với hình thức nghiên cứu thông thường, nhằm khám phá kiến thức địa phương của người dân về môi trường và cách họ tương tác với nó Nghiên cứu phản ánh hiểu biết thực tế của người dân rất đa dạng và sâu sắc về các nguồn tài nguyên thiên nhiên và cách thức sử dụng nguồn tài nguyên một cách bền vững Nghiên cứu là
Trang 66
một cách khuyến kh ch những người dân bình thường thực hiện và sử dụng nghiên cứu
để cân bằng mối liên hệ giữa quá trình gìn giữ tri thức và phát triển
Nghiên cứu viên là người dân địa phương, được cán bộ dự án tập huấn cung cấp các kiến thức và kỹ năng cần thiết để tự thực hiện các hoạt động nghiên cứu, thu thập thông tin về kiến thức bản địa dưới sự giám sát của cán bộ dự án
Nghiên cứu được tiến hành theo các bước
Lựa chọn địa bàn nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu được lựa chọn thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, có mỗi quan hệ mật thiết với tài nguyên nước và ngành nghề chủ yếu của người dân bản địa là nông – ngư nghiệp
Lựa chọn nghiên cứu viên
Nhóm nghiên cứu viên này khoảng 12 -13 người được lựa chọn từ các hộ dân trong
ấp theo tiêu ch : đại diện cho các lứa tuổi lao động, dân tộc, giới và tôn giáo (nếu có) Điều quan trọng là các nghiên cứu viên được chọn phải có thời gian dành cho dự án và tình nguyện tham gia
Tập huấn nghiên cứu viên
Cán bộ dự án tập huấn 02 ngày cho các học viên, nhằm cung cấp các khái niệm, kiến thức và kỹ năng cần thiết trong quá trình nghiên cứu để tự thực hiện Ngoài ra trong từng chuyên đề cụ thể, các nghiên cứu viên c n được cung cấp các kiến thức và kỹ năng cần thiết liên quan đến các chủ đề, như: kỹ năng vẽ và mô tả các lát cắt ngang và dọc của khu vực nghiên cứu, kỹ năng vẽ và mô tả chuỗi thức ăn, lưới thức ăn,…
Lựa chọn chủ đề nghiên cứu
Xoay quanh mối quan hệ giữa hệ sinh thái tự nhiên và các tác động đến hệ sinh thái, trong đó chủ yếu là tác động từ các hoạt động phát triển, chủ đề nghiên cứu cụ thể
do nhóm nghiên cứu viên quyết định
Xác định các thông tin thu thập cho từng chủ đề
Đối với từng chủ đề, các nghiên cứu viên cùng nhau thảo luận theo nhóm nhỏ (3-4 người) Thông tin sau khi được thu thập, sẽ được các nhóm nhỏ trình bày cho cả nhóm nghiên cứu (bằng hình vẽ hoặc bảng biểu) để góp ý Mọi ý kiến đóng góp đều được báo cáo viên tiếp thu, giải trình Những ý kiến bất đồng đều được ghi nhận và phải được sự
Trang 7Hội thảo
khi tất cả các thông tin đã được thu thập và hệ thống hóa, dự thảo cuối cùng được các nghiên cứu được các cơ quan hữu quan để ý kiến áo cáo cuối cùng đ các cơ quan có liên quan Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, và chính quyền tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Mekongnet với mong muốn góp phần đưa ra một hình ảnh chi tiết hơn về sinh kế của người dân ở đồng bằng sông Cửu Long và vai trò của việc bảo tồn tài nguyên nước đối với đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và cả nước nói chung
Tổn ợp k t q ả n i n cứ
Kết quả nghiên cứu được nhóm cán bộ dự án và nhóm nghiên cứu viên tổng hợp
và phân tích, trình bày trong báo cáo
II Kết quả nghiên cứu
1 Khái quát về quá trình hình thành, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
Hai địa bàn nghiên cứu nằm trên hai tỉnh An Giang và Phú Thọ, có vị tr địa lý và quá trình hình thành, phát triển khác nhau:
Ấp Vàm Nao – xã Tân Trung – huyện Phú Tân – tỉnh An Giang
Vị trí địa lý
Ấp Vàm Nao nằm ở ngã ba giao giữa sông Vàm Nao và sông Hậu
- Phía Đông: giáp sông Vàm Nao Bờ bên kia thuộc địa bàn huyện chợ Mới, tỉnh An Giang
- Phía Tây: giáp với ã Tân H a được cắt bởi tỉnh lộ 954 cũ
Trang 8Nhưng có truyền thuyết khác: Do ngày ưa, sông Vàm Nao bây giờ về thượng nguồn giáp sông Tiền, nước chảy hiền h a Người dân thường đi theo hướng sông Tiền
Bà con đi uống hạ nguồn qua sông Vàm Nao tới ngã ba giáp sông Hậu, thấy nước chảy rất xiết làm ghe xuồng chìm dẫn đến chết người (hiện nay, tai nạn vẫn thường diễn ra vào tháng 5 âm lịch) Vì vậy, khi đi đến đây l ng người thường nao núng Từ đó mà hình thành tên gọi Vàm Nao Hiện ở ngã ba sông giáp sông Hậu vẫn có chợ Vàm Nao Phía trên thượng nguồn sông Tiền có chợ Thuận Giang
Vàm Nao là địa danh nổi tiếng về nguồn lợi thủy sản với đặc sản là cá Bông lau
Quá trình hình thành và phát triển
Giai đoạn trước 1975
Ấp có tên là ấp Mỹ Hóa 3, làng Hòa Hảo, Quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc
Dân số chưa thống kê chính xác, vào khoảng hơn 100 hộ Nhà cửa chủ yếu cất nhà sàn (vượt lũ), sàn thấp Quay mặt ra lộ, chừa khoảng rất rộng so với hiện nay Đường đất chìm trong nước vào mùa lũ “nắng bụi mưa bùn” Có 2 cầu ván (cầu mươn nhỏ và cầu Mươn ớn) do nhà nước làm (chế độ cũ) úc này, địa phương vẫn chưa có điện và sử dụng nước sông
Giai đoạn 1975-2003
- 1976_1977: Do quá trình sắp xếp lại tỉnh, đổi tên thành ấp Mỹ Hóa 3, xã Phú Hòa, huyện Phú Tân, tỉnh Long Châu Tiền
Trang 99
- Từ 1977-2003: Đổi tên là ấp Mỹ Hóa 3, xã Tân Hòa, Huyện Phú Tân, tỉnh An Giang
- Năm 2003, ấp Vàm Nao, xã Tân Trung, huyện Phú Tân được thành lập, do cắt 1 phần ấp Mỹ Hóa 3 và 1 phần ấp Hậu Giang 1 thuộc xã Tân Hòa Dân số tăng nhanh Nhà cửa sát nhau, nhà ở 2_3 lớp, nhà cập sát mé lộ chủ yếu ở nhà sàn trên cọc, mái lợp lá, ít hộ lợp tôn Giao thông băt đầu phát triển, từ từ nâng cấp Năm 1985 được nâng cấp 954 cũ
Ấp Phú Thọ A – xã Phú Thọ - huyện Tam Nông – tỉnh Đồng Tháp
Vị trí địa lý
Ấp Phú Thọ A năm cách vườn quốc gia Tràm chim khoảng 10km về phía Tây
- Phía Tây giáp ấp Long Phú
Quá trình hình thành và phát triển
- Năm 1962, ấp Phú Thọ A được thành lập, thuộc xã Phú Thọ, quận Đồng Tiến, tỉnh Kiến Phong, có khoảng 200 hộ với 1.400 nhân khẩu từ các nơi về Nhà ở thời đó bằng cây vẹt, lợp lá Kênh Đồng Tiến được cho đào nối sông Tiền với sông Vàm Cỏ
và để lập ấp Cùng năm, trạm y tế, trường tiểu học được xây dựng và hoạt động tới nay Nhà lồng chợ cũng được xây dựng trong năm 1962, những không có người bán Chính phủ hộ trợ tiền và lương thực Người dân tự kiếm cá và rau Nước sinh hoạt lấy từ kênh Đồng Tiến
Đường giao thông: lộ đất nối quận Đồng Tiến vối Quốc lộ 30
Tuyến dân cư: Người dân ở dọc kênh đồng tiến và dọc lộ, nhà
Chùa: Tam Hòa Tự, xây dựng năm 1963 (chùa lợp lá), 1965 do tiền dân đóng góp cho ông Nguyễn Văn Hu để xây kiên cố
Trang 1010
Đình thần: xây dựng từ 1969, đã qua 03 giai đoạn sửa chữa
Sau 30/04/1975: Đổi tên thành ấp Phú Thọ A, xã Phú Thành, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp Một số Việt kiều từ Camphuchia về được nhà nuớc hỗ trợ cây và lá lợp Nước sinh hoạt từ kênh Đồng Tiến
- 10/1983- nay: Đổi tên thành ấp Phú Thọ A, xã Phú Thọ, Tam Nông, Đồng Tháp Số
hộ tăng lên 615 hộ và 2557 khẩu Đây là giai đoạn cơ sở hạ tầng của ấp được xây dựng nhiều Năm 1985, nâng cấp lộ và rải đất đỏ Năm 2002 nâng cấp và rải nhựa thành TL 84 (do bị lũ năm 2000 tàn phá lộ bị hư hỏng gần hết) Từ 1985 đến 2000
là quá trình đào kênh ổ phèn, sau năm 2000 nước trong đồng không còn phèn Năm 2007 ây dựng đê bao 13 nuôi thủy sản (đê chạy qua 03 ấp: Phú Thọ A, Phú thọ B, ong Phú) Năm 2008 ây lại trạm y tế theo chuẩn quốc gia Khoảng năm
2000, trường tiểu học được xây mới, trường cũ đóng cửa, học sinh chuyển về học trường mới Nước máy bắt đầu từ 2008 Điện bắt đầu năm 1989 Năm 1993 bắt đầu nuôi cá
- Từ năm 1985, nhà quay về mặt lộ, sàn cao 2.5m (trước 1985, sàn cao <1.0m) Nhà kiên cố bắt đầu cất từ năm 2003 trở lại, đến nay có 25 nhà Còn lại là nhà cây lợp tôn tiện nghi trong gia đình uất hiện nhiều sau năm 2000, như: Tivi, e máy, điện thoại di động,…
Ngoài những điểm khác biệt về vị tr địa lý, quá trình hình thành như trên, cả hai địa phương đều thuộc vùng đồng bằng Sông Cửu Long và có nhiều những đặc điểm chung về sinh kế, phong tục tập quán, kiến trúc nhà ở,…
Sinh k
Nông nghiệp và ngư nghiệp là nghề chủ đạo tại cả hai địa phương Thời kỳ mới thành lập, ngư nghiệp (chủ yếu là đánh bắt tự nhiên) chiếm ưu thế so với nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi)
Trong quá trình phát triển, nông nghiệp (mà chủ yếu là trồng lúa và hoa màu) ngày càng đóng vai tr quan trọng hơn đối với sinh kế của người dân địa phương
Khác biệt giữa hai địa phương trong thời điểm hiện tại là trong khi tại ấp Phú Thọ
A, bà con vẫn canh tác chủ yếu là cây lúa thì tại ấp Vàm Nao, chủ yếu là làm rẫy Yếu tố thị trường đóng vai tr quyết định đến sự khác biệt này
Trang 1111
Một số ngành nghề thủ công, như: Dệt chiếu, se nhang, làm gạch Ngoài ra tại địa phương, hiện nay đã uất hiện một số nghề mới (may mặc, làm đẹp, dịch vụ internet, du lịch nông nghiệp), dịch vụ nông nghiệp, như: bơm nước, xới, thuốc, phân bón,…
Đánh bắt thủy sản tự nhiên vẫn luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với đời sống và sinh kế của bà con nhưng vì nhiều nguyên nhân, bao gồm cả nguyên nhân tự nhiên và nguyên nhân do con người đã làm nguồn lợi thủy sản ở địa phương suy giảm nghiêm trọng, ảnh hưởng tới sinh kế và cơ cấu kinh tế của địa phương
Phong tục tập quán
Cũng giống như đa số các địa phương khác tại vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và Việt Nam nói chung, một số lễ hội truyền thống đặc trưng được tổ chức hàng năm tại địa phương
Tết nguyên đán: cúng ông bà ngày 30 tết, ấp Vàm Nao theo phật giao Hòa Hảo cúng rước ông bà, cha mẹ ngày 28 tết (cúng mặn) Gia đình sum hợp, con cháu tụ hợp chúc thọ ông bà cha mẹ Ngày 29, 30 và mùng một, cúng tương (ăn chay) để tỏ lòng từ
bi
Rằm tháng giêng (Thượng Nguyên) là lễ phật giáo Hòa Hảo Đồng đạo đến chùa
An Hòa Tự cúng phật, cầu được bình an Chùa có đãi cơm chay, nước uống (cà phê đá), thuốc tây, thuốc lá Đồng đạo đến đều có chổ nghĩ ngơi Đồng đạo mặc áo dài nâu, dâng hương, hoa Theo quan niệm của phật giáo Hòa Hảo: đèn (tượng trưng cho ánh sáng), hoa (tượng trương cho thơm tho và tinh khiết), nhang (bán mùi quế trượt) và nước (tấm lòng trong sạch) Nếu ai không có điều kiện đi cúng chùa, thì cúng ở nhà Vì ở nhà có thờ
3 ngôi: Cửu huyền thất tổ ông bà, ngôi tam bảo, bàn thông thiên
Tết Đoan Ngọ: Con cháu tụ họp em như ăn tết nửa năm Mọi người cúng tại nhà, gồm: mâm cơm, cá dọn lên bàn thờ cúng Ngày ưa, món đặc biệt được nhiều gia đình cúng là bánh xèo (không bắt buộc), hiện nay còn ít
Ngoài ra với đặc trưng tôn giáo riêng, 2 địa phương nói trên có những lễ hội riêng biệt
Lễ cúng Đình Thần (10/5): Người dân đến đình cầu quốc thái dân an, cầu nguyện chín thế giới bình an Trước 1975, cúng chay, nay cúng mặn (heo quay, xôi)
Lễ Sáng Lập Đạo (18/5): Trong 03 ngày (16-18) Đồng đạo tới rất đông dâng bông cho chùa, cầu nguyện cho thế giới bình an Trong thời gian lễ hội, Có nhiều trạm đãi miễn
Trang 1212
phí thức ăn, nước uống, thuốc men, có chổ nghĩ ngơi Xung quanh có hội chợ Tại các ấp
có treo đèn màu, cờ hoa trang tr theo đường và nhà Đặc biệt, trong ngày 18/5, có tổ chức biểu diễn và thi cộ đèn (Hai Bà Trưng cưỡi voi, Phù Đổng Thiên Vương, rồng, phụng,…) giữa các xã Sau lễ, các cộ đèn về biểu diễn tại xã nhà
Rằm tháng Bảy (trung nguyên):Tổ chức giống như rằm tháng Giêng
Rằm tháng Mười (hạ nguyên): Tổ chức giống như rằm tháng Giêng
Tháng 11: Ngày 25/11 (ngày Đản Sinh): Tổ chức giống ngày 18 tháng 5
Ngoài ra phải kể đến một số lễ hội mới được hình thành nhưng rất giàu giá trị nhân văn, được đông đảo cộng đồng địa phương hưởng ứng
Lễ xuốn lưới cá bông lau (05/11 âm lịch): Trước đây, hàng năm các hộ dân sống
nghề chài lưới thường tổ chức tại gia đình lễ xuống lưới cá bông lau, với ý nghĩa cúng Bà Cậu bắt được nhiều cá Từ năm 2012, Hội nông dân tổ chức, tập hợp các ngư dân cùng đến cúng chung, tạo thành lễ hội cá Bông lau Hình thức như sau: úc nước lớn ban ngày, gom các ghe lưới lại, đậu ở cồn Dĩa, hướng mũi ghe vào bờ, mổi ghe cúng bông (vạn thọ, trang), trà nước, cháo, gạo muối và 01 con vịt luộc Đặt tất cả các vật cúng lên bàn (trên bờ) Trên bàn có 1 ly nước, 3 ly rượu, 3 bình bông Hai người cao tuổi (áo dài khăn đóng
có thể thay bằng áo bà ba) cầu nguyện, mỗi người đốt 3 cây nhang, các ngư dân ếp hàng dài phía sau 2 cụ, quay mặt về sông để cầu nguyện Sau đó, các ghe chạy ra sông thả
mẻ lưới đầu tiên
Lễ thả cá (sau rằm tháng giêng - 19 hoặc 20/giêng): Bắt đầu từ năm 2011, với ý nghĩa
tái tạo và bảo vệ nguồn lợi thủy sản ngày một suy giảm, người dân và chính quyền địa phương huyện Phú Tân đã tổ chức lễ thả cá tại ấp Vàm Nao với sự tham gia của hàng trăm người ượng cá thả các loại về sông Vàm Nao khoảng 7-10 tấn/năm, do các mạnh thường quân đóng góp Trong khoảng 1 tháng sau thả cá không được đánh bắt trên sông Các cơ quan chức năng và người dân cùng giám sát
Tập tục
Cưới hỏi
Ngày ưa có 6 lễ, gồm:
- Nạp thể: thăm d ý kiến người lớn, đôi trai gái
- Vấn danh hỏi tên họ tuổi đôi trai gái
- Nạp kiết: coi tuổi xong rồi có khai trầu, bánh, trà
Trang 1313
- Nạp trưng: nạp tiền đồng, mâm đ
- Thỉnh kì: lễ nói
- Thân ngh nh: rước dâu
Ngày nay giảm bớt còn 3 lễ, sau cưới 3 ngày có lễ phản bái (tuy nhiên không bắt buộc)
- Giáp lời: hai bên trai gái gặp nhau ở nhà gái, nhà trai mang bánh trà đến nhà gái
- Nói: chính thức nhận dâu rể, lại ông bà cha mẹ Có lên đôi đèn Nhà trai trình lể vật cho nhà gái (tiền, lễ vật ), không bắt buộc từ 4 mâm trở lên (tất cả lể vật đều số chẳn)_có kiến mâm, có đãi ăn tại nhà gái
Ma chay
Với quan niệm “tử thì tán” , nên người dân không để lâu mà chôn nhanh nhất có thể trừ trường hợp con cháu chưa về đủ Gia chủ không nhận tiền phúng điếu, chỉ nhận nhang đèn và bánh trái Đa số gia chủ chỉ đãi cơm chay Khi đưa ra nghĩa trang, gia chủ không rãi giấy tiền vàng bạc, không đốt vàng mã 7 ngày đầu tiên, gia chủ cúng 3 chén cơm mỗi bữa ăn
Đám Giỗ: đa số cúng chay, khách đến có thể ăn mặn
Y học cổ truyền
Tại ấp Vàm Nao, trước 1975 sử dụng cây thuốc địa phương Người bệnh đi hốt thuốc phải mang theo cây thuốc để đóng góp cho nhà thuốc Sau khi khám bệnh, ngoài vị được cho, số nhà thuốc còn thiếu người nhà bệnh nhân tự kiếm bổ sung vào toa thuốc được kê
Sau 1975, Thuốc Nam phát triển mạnh do trồng tại chổ và sưu tầm các nơi (thông liên kết, trao đổi với các nhà thuốc khác) Vì vậy, ngoài cung cấp cho dân địa phương nhà thuốc còn cung cấp cho các địa phương khác, nhưng vẫn duy trì ý thức tự sưu tầm thuốc đóng góp cho nhà thuốc Nhà thuốc điều trị khoảng 30-40 bệnh nhân/ ngày Một số trang thiết bị được người dân đóng góp cho tổ Y học cổ truyền, như: e cứu thương, thiết bị châm cứu,…
Tại ấp Phú Thọ A, việc sử dụng cây thuốc địa phương cũng tương đối phổ biến, nhưng lượng cây thuốc tìm được tại địa phương không phong phú bằng Bà con vẫn thường uyên đến các địa điểm khác để hái hoặc xin thuốc về sử dụng tại địa phương
Hoạt động từ thiện
Trang 14Nhà sàn là chọn lựa của người dân trong vùng từ bao đời nay Kiến trúc nhà sàn đơn giản Ph a trước là hàng ba, nơi tiếp khách và có bàn thờ thông thiên kế đến là nơi tiếp khách và nơi đặt bàn thờ Cửu huyền thất tổ ông bà và ngôi tam bảo Phía sau là phong ngủ Bên hông hoặc phía sau là bếp
Trước đây, nhà thường dựng trên các cột bằng đá tự nhiên được đẽo cho vuông vức, có chiều cao khoảng 0,7-1,0m Sàn và cột được làm bằng gỗ Mái lợp lá Ph a dưới sàn không được gia chủ sử dụng Đây là phần sẽ ngập khi nước lũ lên cao
Hiện nay, về kiến trúc không có thay đổi lớn Tuy nhiên nhà lợp lá không còn, thay vào đó là tôn hoặc ngói Cột đẽo bằng đá tự nhiên không c n được nhiều người dân sử dụng Thay vào đó, người dân sử dụng cột bê tông với chiều cao từ 1,8-2,3m (nhà sàn cao hơn trước) Ph a dưới sàn được tận dụng để chứa đồ và sinh hoạt trong mùa khô (do mát hơn trên sàn) Có một số ít hộ dân đã làm nhà đúc, không sử dụng gỗ cho sàn và cột
Trang 1515
2 Hiện trạng hệ sinh thái
Hai địa phương trên nằm ở các vị trí khác nhau nên các vùng sinh thái cũng có những điểm khác nhau Tiểu hệ sinh thái tại ấp Vàm Nao đặc trưng cho hệ sinh thái ven sông cái, là vùng được khai phá sớm nhất trong quá trình chinh phục những vùng đất ngập nước của con người, các vùng sinh thái cơ bản đó là:
- Vùng cồn
Trang 16Thực vật
- Cây tự nhiên: Vừng (Ngày ưa mọc nhiều nhất Hiện nay còn rất ít), bằng lăng, gáo vàng, trâm bầu, cà na, cò ke, bứa, bình bác trái, đủng đỉnh, lùn, nưa, dây lăng, các loại cỏ
Trang 1717
- Cây trồng: Cây lấy gỗ: sao, còng, bạch đằng+ tre (nhiều nhất), gòn, gáo trắng (ăn trái), dây thuốc cá, trúc, tầm vong Cây ăn trái: oài + m t+ chuối (nhiều nhất), Dừa, mãng cầu, mận, ổi, cóc (ăn trái), khế, chanh, bưởi, trâm, sơ ri, l ng mức, vú sữa,
đu đủ…
Động vật
- Động vật tự nhiên: chuột, rắn, nhái, ếch, ốc, rắn mối, kì nhong, cua, dế, cá mùa nước (cá lóc, cá rô, cá sặc, cá trê, cá lau kiếng, cá lòng tong bay, cá thác lác, cá còm, cá nàng hai, cá ét… giống các loại cá sông không có bông lau, cá hú, cá phèn, cá ba sa, cá dồ cờ), tôm lóng, tôm càng, tép Ve ve, tu hú (năm nay uất hiện nhiều nhất so với các năm trước); Chim (Cò, ốc cao, chằng nghịch, còng cọc, bìm bịp, sáo – nhiều nhất ngoài đồng, cu cườm, rẽ quạt, chày chày, sa xả, dơi muổi, én, se sẻ - nhiều nhất ở theo nhà, nhạn,…), ong v giẻ, ong sắt, ong ruồi, ong mật…
- Chăn nuôi: bò, vịt ta, vịt xiêm, gà, heo, bồ câu, thỏ, ngỗng, gà lôi, chó, mèo Cá nuôi: cá tra, cá lóc, cá rô, cá điêu hồng, cá phi, hường, lươn, cá tai tượng, cá mè vinh, cá chim trắng, cá trê trắng Trong đó cá tra, cá rô phi, cá điêu hồng phổ biến nhất
Trang 1818
2.2 Vùng cồn
Quá trình hình thành: Ngày ưa, mặt sông Vàm Nao nằm sát trục lộ giao thông Do
quá trình bồi lắng, nổi lên cồn úc đầu cồn nổi lên thì thực vật hoang dã mọc rất nhiều Đầu tiên là bồng bồng (đâu có bồng bồng thì có cồn nổi) Cồn mới nổi lên thì tr n năm
1978 nước lớn nhất, bồi lên thêm đoạn nhọn cuối cồn Sau khi bên Tân H a làm đê bao, nước từ trong đê bị đẩy ra ngoài sông (nước cỏ) nên cồn không còn bồi nữa
Mô tả đặc điểm: Phân ra 2 vùng rõ rệt, lưng cồn phần ngoài được bồi lắng nhiều
hơn là đất pha cát (25 ha) Còn trong hậu cồn do kênh mương lớn đẩy nước cỏ ra, không được bồi lắng nhiều, thấp hơn so với cồn 1m, là đất bùn (trầm thủy - 20 ha) nước ngập quanh năm So với nước lớn, cồn cao hơn trên 1m Nhìn chung đất cồn là đất cát pha, do phù sa bồi đắp, nên màu mỡ rất nhiều
Hệ thực vật trên cồn : rau mác, rau sam, rau muống, rau dừa, rau chay, cây Nghể,
cây nga, cây sậy, đế, rau diệu nước (nằm dưới nước, khô ròng mới lên), cỏ cú, cỏ chỉ, cây lác, cây bồng bồng
Trang 1919
Hệ động vật trên cồn: Chuột, rắn, nhái, ếch, cóc, ốc, rắn mối, kỳ nhông, chim én,
chim sâu, cò, sáo, quắc, cúm núm, bìm bịp, cào cào, châu chấu.Cồn cát: Chuột, cóc, ếch, nhái, rắn, rắn mối, kỳ nhông, trùng, dế, kiến, cào cào, sâu bọ, chim, cò
Trầm thủy hậu cồn: hến, ốc đắng (ốc quắng), cua, ốc bươu, ốc đá, dẹm, Tôm, tép,
lươn, lịch,
Cá đen: cá lóc, cá rô, cá trê, cá sặc, cá lau kiếng (xuất hiện từ khoảng năm 2005), cá rô phi
2004-Cá trắng: các mè vinh, cá linh, cá he, cá mè lúi, cá cóc, cá đỏ mang, cá cày, cá tra,
cá linh cám, cá kết, cá chèng bầu, cá chèng lá, cá lưỡi trâu, cá sửu, cá cơm, cá chốt, cá lăng, cá l ng tong, cá thiểu, cá bống (đen, trắng, tượng), cá trạch, cá xác, cá chày, cá lòng tong bay, cá ngựa, cá leo, cá nhái, cá liềm kiềm, cá chim nước ngọt, cá dồ đém, cá hột mít (cá dằm), cá dảnh, cá mè trắng
Vào mùa khô khi nước sông rút xuống, số lượng và chủng loại các loài thủy sản giảm do một số loài theo d ng nước quay trở lại sông chính
Cá đen: cá lóc, cá rô, cá trê, cá sặc, cá lau kiếng (xuất hiện từ khoảng năm 2005), cá rô phi
2004-Cá trắng: cá trạch, cá hột mít (cá dằm), cá mè vinh, cá dảnh, cá ngựa, cá bống,
…c n tương đối đủ, chỉ có số lượng giảm xuống (20% so với mùa nước)
Trên sông: cá út, cá ba sa, cá hú, cá dứa, cá phèn, cá xác ốc, cá dồ cờ, cá bông lau,
cá hô
Trang 20Động vật sinh sống tự nhiên: chuột, rắn, ếch, nhái, chim cò,cua, ốc, hến,…
Mùa lũ: bà con trồng toàn bộ ấu
Động vật tự nhiên: chuột, rắn, chim, cò, cua, ốc, các loại cá tập trung trú ẩn rất nhiều (bao gồm cả cá đen, cá trắng)
Trang 2121
Riêng tại ấp Phú Thọ A: toàn bộ đất trầm thủy tự nhiên trong quá khứ đã được con người cải tạo, đánh phèn và chuyển hoàn toàn sang canh tác nông nghiệp Các dấu vết của hệ sinh thái tự nhiên gần như đã biến mất
2.4 Sông chính
2.4.1 Vùng dòng chính
Mô tả đặc điểm: Vùng 3 độ sâu 12m- 25m, rộng khoảng 700-750m (từ 12m bờ phải
tới độ sâu 10m bên bờ trái) Đây là vùng nước chảy mạnh, đặc biệt là vào mùa lũ Nước của d ng ch nh đục do mang nhiều phù sa và không bị ảnh hưởng bởi nước cỏ từ trong các lạch hai bên bờ sông đổ ra Tại d ng ch nh, thường tập trung các loại cá lớn, như bông lau Việc đánh bắt diễn ra hầu như quanh năm Tuy nhiên đối với cá bông lau, việc đánh bắt chủ yếu diễn ra trong 05 tháng từ tháng 11 đến tháng 3 âm lịch đánh bắt cá lớn, như cá bông lao
Trang 2222
Ngã 3 sông Hậu đến 1/3 sông VN rất nhiều cá đánh bắt bằng giăng câu, lưới, chất chà, dớn Trunng bình đánh bắt được khoảng 35 tấn/năm (c n 20% so với trước), cá dảnh nhiều nhất
Trang 2323
Mô tả đặc điểm: đoạn tiếp giáp (tính từ độ sâu 0-4m) bờ sông Vàm Nao chảy qua
địa phận ấp khoảng 1200m và đoạn tiếp giáp bờ sông Hậu chảy qua địa phận ấp khoảng 1000m Mùa lũ, nước chảy 01 chiều Riêng mùa khô, nước chảy 02 chiều
Vùng ti p giáp bờ phải sông Vàm Nao - bờ bồi: Đáy lài do bồi, có 03 nhánh rạch
nhận và đổ nước vào sông: Lòng hồ lớn, Lòng hồ nhỏ, Tư Đáo Do ảnh hưởng của nước trong ruộng ra (nước cỏ), làm cá chết tại chổ (theo kinh nghiệm người dân) Dòng chảy yếu hơn Ngày ưa: nước nhiều, phù sa nhiều, được bồi đắp nhiều Ngày nay, do ngược lại
Mùa khô: có rau muống, lục bình, bồng bồng ven bờ
Mùa lũ: Riêng Bồng bồng chết do ngập Các loại tôm cá tăng nhiều gấp 3 lần so mùa khô Đặc biệt cá ngoại lai tăng nhanh (rô phi) Tuy nhiên so ngày ưa, số lượng và
k ch thước đều giảm nhiều
Ngư cụ: lưới giăng, lờ, lọp tôm, chài Hiện nay, các hình thức bửng mé, giăng câu không còn Thay thế vào đó là ung điện
Vùng ti p giáp bờ trái sông hậu – bờ lở: Vách đứng, do bờ trái ( thuộc H.Chợ Mới)
bị lở Vì luồng chính của sông Vàm Nao nằm gần bờ trái (Chợ Mới) Mùa mưa (lũ), lưu lượng lớn, nước chảy mạnh và nước đục hơn bờ phải Các loại cá cũng giống bên bờ phải Đặc biệt, cá có gai thường ở vùng này
2.4.3 Vũng xoáy
Mô tả đặc điểm: Vũng oáy nằm ở giao điểm giữa sông Vàm Nao và sông Hậu Xưa
vũng rộng 100-200m tùy theo mùa, Ngày nay bề rộng thu hẹp lại 60-100m So với ngày
ưa, v ng oáy ngày nay giảm đi khoảng 50-70% Người dân thường đưa thuyền tránh xa vũng oáy để an toàn
Các loại cá thường tập trung bên rìa vũng oáy Nước tại vòng xoay trong vào mùa khô và đục vào mùa mưa Mùa khô, không có oáy nước, vì lưu lượng nước từ thượng nguồn đổ về ít
Tại tâm vòng xoáy là đất sét, c n ung quanh là đất cát pha
Ngay tại tâm vũng oáy không có cá, do nước xoáy mạnh Cá bị oáy nước nên dạt khoảng 200m về phía hạ lưu, cá tập trung nhiều và chia thành 02 tầng như sau:
- Tầng 1 (< 0.5m): Cá Lòng tong, cá lìm kìm, nhái
Trang 2424
- Tầng 2: (> 0.5m): cá thiểu ở độ sâu 1-1,5m cá cóc, ngát, hú ở độ sâu 10-30m Còn
độ sâu hơn có cá Hô
Nguyên nhân bị cạn kiệt:
Cá bị cạn kiệt do thuốc BVTV trong nông nghiệp và do đánh bắt bằng điện Từ năm 2011-2012, Nhà nước đã chủ trương thả cá về sông với tổng số 21 tấn các loại
Cá Hô, Đuối: ngày nay rất it, có thể do đánh bắt quá nhiều và ghe thuyền đi lại quá nhiều (tiếng động nhiều), nên cá không cư trú ở ngã ba Vàm Nao (theo kinh nghiệm của ngư dân)
2.4.4 Bún cá, rúng cá
Mô tả đặc điểm: Sông Mê Công đổ về Việt Nam chia thành hai nhánh sông Tiền và
sông Hậu Sông Vàm Nao chia nước sông Tiền cho sông Hậu Hai dòng chảy giáp nhau (sông Hậu và Sông Vàm Nao) tạo thành v ng oáy nước bên bờ Chợ Mới hình thành vùng nước sâu hơn và tạo ra búng cá ở hạ lưu cách oáy nước khoảng 100m Mùa khô ở búng nhiều cá hơn, do mùa lũ nước đổ rất nhanh cá không dựa lại búng nhiều được
Trang 2525
Phân bố tần nước:
Các loại cá trên sông Vàm Nao tập trung tại đây và chia thành các tầng như sau: -Tầng 1 (cận mặt nước): Các loài cá tạp, cá lòng tong, liềm kiềm, thiểu, cơm, nhái -Tâng 2 (cách mặt nước 10m): Tập trung các loại các thông thường: Dảnh, cá mè vinh, thác lát, mè hôi, he…
-Tầng 3 (cách mặt nước 40m): Tập trung các loài cá quí hiếm: ăng, hô, bông lau,
Trang 2626
Lòng hồ: rộng 8-10m, sâu: (Mùa khô: ròng 2.0m, lớn 3,5m; Mùa mưa: >3.5m ) Ngày ưa, l ng hồ cạn hơn do bối lắng, sau được xáng cạp mấy năm gần đây, nên sâu như hiện nay
Phân biệt lòng lạch, lòng hồ:
- Lòng lạch: hẹp hơn l ng hồ Nước ròng: mặt nước còn 20cm-25cm
- Lòng hồ: rộng hơn l ng lạch Nước ròng: mặ nước còn từ 80cm-1,5m
Phân bố tần nước:
- Tầng 1 (0.0 - 0.1m): liềm kiềm, lòng tong, thiểu;
- Tầng 2 (0.1- 0,6m): mè vinh, linh, dảnh, các loài cá trắng (xuất hiện trong mùa mưa)
- Tầng 3 (>0.6m): các loại cá đen, ốc, hến…
Nước trong và mát ở mùa khô Mùa mưa, nước quây (nước đục) Dụng cụ đánh bắt: chài (mùa khô, không dùng chài, do hiệu quả thấp), lưới (mắt lưới 2-7cm), dớn, chà (hiện nay, cấm sử dụng do cản trở giao thông) Đặc biệt, dớn là dụng cụ đánh bắt chủ yếu
ở lòng hồ và lòng lạch So với ngày ưa, lượng cá giảm khoảng 60% -70%
3 Quá trình khai thác hệ sinh thái tự nhiên
Mặc dù phải kể tới các thay đổi do yếu tố tự nhiên tác động, nhưng các hoạt động phát triển của con người vẫn đóng vai trò chủ đạo dẫn đến sự thay đổi của hệ sinh thái tại địa phương
Dựa trên các thay đổi mang t nh bước ngoặt, nhóm nghiên cứu viên địa phương
đã ác định đối với mỗi hệ sinh thái, các giai đoạn thay đổi là khác nhau
3.1 Sinh thái vùng ven sông (Vàm Nao)
à vùng được khai thác từ lâu đời, quá trình biến đổi của hệ sinh thái vùng ven sông (Vàm Nao) diễn ra chậm hơn và chia làm 4 giai đoạn chính:
- Giai đoạn trước năm 1968
- Giai đoạn năm 1968 – 1975
- Giai đoạn năm 1975 – 2000
- Giai đoạn năm 2000 – hiện nay
Trang 2727
3.1.1 Giai đoạn trước 1968
Cánh đồng ấp Vàm Nao mần lúa nổi, khoảng tháng 4, tháng 5 xạ, tháng 10, 11 cắt Còn lại trồng dưa hấu, bắp, đậu, khoai cao, thuốc lá, mè những diện tích nhỏ hẹp cặp theo sông cái (khoảng 1-2 ha) Dần dần dân mới có trí thức, sau khoảng năm 1968 có mở mần lúa thần nông (đông uân, hè thu nhưng diện t ch t, năng suất thấp) Chủ yếu cày bừa bằng trâu bò, xạ tay và thu hoạch thủ công Giai đoạn này bà con đa số không chăm sóc, một số ít làm cỏ, cắt tay gom lại bằng cộ cho b đạp
Lúa trồng chủ yếu sử dụng cho nhu cầu tại địa phương
Một số ít bà con sử dụng phân hữu cơ (phân dơi, phân b là ch nh)
3.1.2 Giai đoạn 1968 – 1975
Bà con chuyển sang canh tác lúa thần nông, đến năm 1975 không c n canh tác lúa mùa Giai đoạn này bà con bắt đầu sử dụng phân bón hóa học, khoảng 20kg/công Thuốc trừ sâu, bảo vệ thực vật rất ít sử dụng Năng uất thu hoạch vụ đông uân khoảng 30-35 dạ/công, vụ hè thu khoảng 20-25 dạ/công Sâu bệnh giai đoạn này hầu như t, công chăm sóc chủ yếu là làm cỏ
Về hoa màu, dưa hấu bi (500kg/công), đậu các loại (4 dạ/công, giống nội địa); khoai cao ít (củ cái giá thấp hơn củ giáo), canh tác theo công thức 1 lúa 1 màu trên nền diện tích trồng đất lúa trước kia
Về kỹ thuật, bà con chủ yếu dùng sức trâu bò là chính, một số ít cày bằng máy móc Phơi đất, bừa cho nước vào trục, xạ tay, cắt tay, đập bồ sau này dùng máy suốt đạp chân hoặc chạy máy (xuất hiện khoảng năm 1972-1973) nhưng chưa phổ biến Bạn hàng thu mua cho thương lái chở đi các tỉnh khác bán Địa phương hỗ trợ nông dân bằng cách cho máy dầu, hướng dẫn cách trồng, bón phân, mở ra tổ đường nước, cấp máy bơm nước cho hộ tại đường nước
3.1.3 Giai đoạn 1975 – 2000
Năng uất lúa giai đoạn này đã tăng so với giai đoạn trước, vào khoảng 40-42 dạ/công vụ đông uân Tổng diện tích trồng màu giai đoạn này tăng lên khoảng 20ha, trong đó khoảng 90 công khoai cao, đậu bắp các loại khoảng 45 công
Đối với khoai cao, phân bón sử dụng vào khoảng 2-3 bao/công trước năm 1980 tăng lên thành 4-5 bao/công sau năm 1990 Đối với bắp, phân bón khoảng 1 bao/công, đậu cũng 1 bao/công
Trang 28Giai đoạn này đánh dấu sự xuất hiện của máy móc trợ giúp cho bà con nông dân Ngoại trừ công tác xạ, cắt, gom lúa, còn lại máy móc được đưa vào sử dụng và hỗ trợ đắc lực cho bà con Không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tại địa phương, giai đoạn này lúa cũng bắt đầu được xuất sang các địa phương khác và uất khẩu
Nhà nước ủng hộ cho bà con nông dân, mở tập đoàn cho bà con vay vốn, trang trải giống, thuốc và chi trả bằng lúa hoặc tiền sau thu hoạch góp phần thúc đẩy nông nghiệp tại địa phương phát triển mạnh mẽ Công tác khuyến nông, hướng dẫn canh tác,
sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật cũng được tăng cường
3.1.4 Giai đoạn 2000 – hiện nay
Bà con vẫn giữ hình thức canh tác lúa nếp và màu cho đến năm 2012 trước khi chuyển hẳn sang canh tác màu vào cuối năm 2012
Năng uất lúa nếp vụ đông uân khoảng 600kg/công năm 2000 tăng lên 900kg/công vào năm 2012 Vụ hè thu cũng tăng từ 300kg/công năm 2000 lên 500-60kg/công năm 2012 Năng uất tăng nhưng cũng đồng nghĩa với lượng phân bón sử dụng tăng lên, khoảng 50-65kg/công, trong khi chi phí cho thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật cũng tăng lên tương đương 2/3 chi ph phân bón và cho đến năm 2012 thì chi ph này c n cao hơn chi ph phân bón Công chăm sóc cũng thay đổi rất nhiều so với trước kia, việc thăm đồng diễn ra thường uyên hơn do sâu bệnh hoành hành và nhu cầu đảm bảo kinh tế trong khi hầu như không tốn công làm cỏ (xịt thuốc diệt cỏ), làm đất (sử dụng máy móc), thu hoạch (sử dụng máy gặt đập liên hợp)
800-Nguyên nhân kể từ năm 2012 bà con bỏ trồng nếp chuyển hết sang canh tác màu
là do giá trị kinh tế và năng uất của hoa màu cao hơn
Khoai cao thu nhập bình quân 20 triệu/công, giá thấp nhất khoảng 12 triệu/công, cao nhất 30 triệu/công Công tầm lớn 2,8 – 3 tấn/công Nếu trúng giá 1 rẫy bằng 7 ruộng phân trung bình 5 – 6 bao/công (cồn); đồng 7 – 9 bao/công Chi phí thuốc 5 – 6 triệu/công
Trang 2929
Tổng cộng 32 ha Trên đồng năm 2000 khoảng 20 – 30 công khoai (10%), đến 2010 khoảng
160 công (50%) đến năm 2012, 180 – 200 công Ớt 1 – 2% đến 2012 lên 20% Bắp 1 – 2% năm
2010 không thay đổi đến 2012 lên 10%
Phân bón năm 2000 5bao/công đến năm 2012 từ 7 – 9 bao/công Thuốc BVTV cho khoai năm 2000 t hơn tiền phân (khoảng 50%); đến 2012 tiền thuốc cao hơn tiền phân Bắp 2000 phân 1 bao, thuốc nhỏ hơn hoặc bằng 50% tiền phân…Ớt 2000 trồng ớt hiểm Sài Gòn, ớt sừng trâu chỉ thiên (giồng nội địa), chi phí thuốc cao hơn phân Sau 2000 nhập giống ớt và bắp lai nước ngoài Sau năm 2005 có giống bắp mới
Cồn giảm 30% phân bón so với trồng khoai, ớt, bắp trên đồng đối với màu, nhưng thuốc BVTV không giảm Bắt đầu xuất khẩu màu từ năm 2000 Từ giai đoạn 2000 – 2012, chỉ trồng ớt, khoai, bắp, mía
Về thủy sản, các loài thủy sản từng tập trung rất nhiều tại địa phương, sức đa dạng về chủng loại và dồi dào về số lượng Đặc trưng là cá Bông lau Vùng tiếp giáp bãi bồi thường tập trung các loài cá nhỏ, cá lớn thường theo dòng chảy Tiếp giáp bờ lở có
cá gai Ngoài ra còn có các loài quí hiếm như: cá hô, cá đuối trên 100 kg
Hiện tại, do công cụ đánh bắt mang tính hủy diệt như cào điện, ung điện, các loài
cá đã giảm số lượng từ 70-80%, thậm chí một số loài giảm tới hơn 95% Giảm nhiều nhất là: cá hô, cá sửu, cá đuối, cá leo, cá lăng, tôm, tép, đặc biệt cá hô, cá đuối hầu như không còn xuất hiện
Trước năm 1990, sản lưởng đánh bắt thủy sản rất cao, có thể lên tới 100kg/đêm Cụ thể với hình thức đặt dớn, trước 1990, người ngư dân có thể thu từ 10-20kg/bầu dớn/lần đặt Tương tự như vậy là lưới thả, cũng thu từ 10-20kg/lần thả Trong khi đó hiện nay, bà con chỉ có thể thu về từ 1-2kg/lần, hoặc thậm ch t hơn
50-Giai đoạn trước 1990, ngư cụ đánh bắt thô sơ, nhưng kể từ năm 1990 trở về đây những ngư cụ thô sơ, quy mô nhỏ dần mai một, thay vào đó là các ngư cụ mang tính hủy diệt cao như: ung điện, lưới 3 màng
Mùa khô, các công cụ đánh bắt phổ biến như:
- Cặp bờ: ngư dân đặt dớn, lờ, lợp
- Sâu từ 3 – 12m: chất chà
- Đoạn sâu từ 12m kéo sang bờ lở: giăng lưới, cào, chài rê…
Trang 30Cho đến giai đoạn 1990-hiện nay, nhu cầu đánh bắt tăng cao, nguồn lợi thủy sản giảm do nhiều lý do, mặc dù số lượng hộ tham gia đánh bắt chỉ còn khoảng 10-20% dân số, tuy nhiên quy mô đánh bắt tăng, sản lượng đánh bắt lớn và chủ yếu đánh bắt với mục tiêu kinh tế làm cho nguồn lợi thủy sản bị ảnh hưởng lớn
Thực tế cho thấy, rất nhiều loài thủy sản hiện tại là đặc sản không hề được đánh giá cao trong quá khứ (khi nguồn lợi thủy sản còn dồi dào, và có nhiều hơn rất nhiều những loài quý hiếm)
Việc số lượng cá tự nhiên giảm cũng dẫn đến việc địa phương phải chuyển sang nuôi thủy sản Một số loài thủy sản ngoại lai cho giá trị kinh tế cao như rô phi Tuy nhiên cũng có những loài ngoại lai gây nguy hại cho môi trường và hệ sinh thái tự nhiên như cái lau kiến
3.2 Hệ sinh thái vùng xa sông (Phú Thọ A)
Là vùng khai thác sau và bị nhiễm phèn nặng, sự biến đổi của hệ sinh thái tại địa phương này có những điểm khác biệt so với vùng ven sông Tác động của bàn tay con người rõ rệt và mạnh mẽ hơn thông qua các giai đoạn:
- Giai đoạn trước năm 1962
- Giai đoạn năm 1962 – 1965
- Giai đoạn năm 1965 – 1975
- Giai đoạn năm 1975 – 1982
- Giai đoạn năm 1982 – 2000
- Giai đoạn năm 2000 – hiện nay
Trang 3131
3.2.1 Giai đoạn trước năm 1962
Từ năm 1959 khai phá kênh nhân tạo Đồng Tiến đến năm 1962 thành lập ấp Hệ sinh thái dạng hoang hóa, chưa có yếu tố con người tác động
Địa hình đất trầm thủy với chủ yếu là lung bào Thực vật chủ yếu là cỏ, năng Hệ động vật đa dạng phong phú Vào mùa nước lên, cá từ sông lớn tràn vào đồng theo
d ng nước Đất chủ yếu là đất phèn, chưa có khả năng canh tác
3.2.2 Giai đoạn 1962 – 1965
Năm 1962, sau khi tiến hành quy khu lập ấp, dân cư bắt đầu phát triển, khoảng 200
hộ Chủ yếu giai đoạn này, dân cư nhận sự hỗ trợ của của nhà nước Ngoài việc nhận hỗ trợ, sinh kế chủ yếu của người dân là đánh bắt thủy sản
Với dân số thấp, khoa học kĩ thuật chưa phát triển và nhu cầu chưa cao, việc đánh bắt chỉ mang tính chất tự cung tự cấp quy mô gia đình Các phương thức, dụng cụ đánh bắt thô sơ: đặt lợp, câu, giăng lưới, làm tum đâm, đánh cá soi,…
Mặc dù giai đoạn này đã uất hiện yếu tố con người và bắt đầu tác động đến hệ sinh thái tự nhiên, nhưng những tác động này chưa đáng kể
Trang 3232
Đất vẫn bị phèn nhiều chưa thể canh tác với diện tích lớn Ngoài một phần diện tích cặp theo mé kênh được chuyển đổi thành đất thổ cư và khoảng 30% diện t ch đất canh tác, chủ yếu đất đai vẫn là đất trầm thủy với hệ động thực vật như giai đoạn trước năm 1962
Đến năm 1965, bà con bắt đầu làm lúa 1 vụ, gieo xạ khoảng tháng ba âm lịch – trước nước quay – (riêng vùng gò có thể gieo xạ muộn vào tháng tư) đến tháng 11 thu hoạch Diện tích gieo trồng nhỏ, cặp theo kênh Đồng Tiến Thu hoạch chỉ đủ phục vụ sinh hoạt gia đình (khoảng 2-3 dạ lúa/công)
Phương thức chăm sóc lúa giai đoạn này hết sức đơn giản Sau khi làm đất, làm
cỏ, và gieo xạ xong, bà con không sử dụng thêm bất cứ loại phân bón hay thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật nào Một kinh nghiệm được bà con rút ra trong thời điểm này đó là nếu mực nước dâng cao thì mất mùa (do lúa bị đứt chân)
Sau khi thu hoạch vào tháng 11, chỉ một số ít các hộ sử dụng diện tích nhỏ đất cặp
mé kênh trồng hoa màu như dưa (chủ yếu), bắp,…
3.2.3 Giai đoạn 1965 – 1975
Giai đoạn này dân số bắt đầu tăng, vào khoảng 300 hộ dân, chủ yếu sống dọc theo
mé kênh
Diện tích canh tác bắt đầu tăng, gấp từ 2-3 so với năm 1965 khi bắt đầu canh tác
Đã bắt đầu xuất hiện những nông cụ máy móc trong sản xuất nông nghiệp như máy cày
úc này, đất hoang hóa đã được khai hoang 70%, còn lại 30% là đất hoang hóa Trong đó, 50% diện t ch đã canh tác, còn lại khoảng 20% được cày xới hàng năm để xả phèn nhưng chưa canh tác Năng suất lúa mùa đạt khoảng 220kg/công
Trang 3333
Đến giữa và cuối giai đoạn này, phân bón đã bắt đầu được sử dụng, chủ yếu là phân 3 màu (NPK) và phân ure ượng phân sử dụng ít, khoảng 20kg/công đất Chưa có hướng dẫn công thức bón hợp lý
Trong khi chủng loại không thay đổi, số lượng ngư cụ và quy mô đánh bắt thủy sản tự nhiên tăng lên 3-4 lần Ví dụ, trong giai đoạn 1962-1965, đường ven chỉ khoảng 50-
70 thước, thì giai đoạn này đường ven lên tới 500-700 thước Diện tích khai thác thủy sản đồng nhất với diện t ch được mở rộng để canh tác lúa Những gia đình có kinh tế tương đối khá, sử dụng lợp lờ là chủ yếu Trong thời gian này, các mương, đìa nhân tạo cũng bắt đầu được bà con đào Mương nhân tạo phục vụ cho việc dẫn nước tưới tiêu, đìa phục vụ việc đánh bắt cá vào thời điểm sau khi nước rút
Việc đánh bắt không còn chỉ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng tại địa phương, một
số loài như cá lóc, tôm có thể vận chuyển và có giá trị kinh tế cao được đánh bắt cho mục
đ ch kinh tế ượng thủy sản tự nhiên hầu như chưa có dấu hiệu suy giảm
3.2.4 Giai đoạn 1975 - 1982
Dân số ấp giai đoạn này vào khoảng 400 hộ
Diện t ch đất hoang đã được khai hoang hoàn toàn Diện t ch đã canh tác vào khoảng 70%
Đến khi bờ bao manh xuất hiện (khoảng những năm 1980-1982), bà con bắt đầu canh tác lúa 2 vụ trên diện tích lúa 1 vụ trước đây, c n diện t ch trước đây vẫn còn hoang hóa, bà con bắt đầu canh tác lúa 1 vụ Phân bón sử dụng nhiều gấp đôi so với giai đoạn trước, khoảng 40kg/công Ngoài phân 3 màu và phân ure, bà con bắt đầu sử dụng phân DAP, phân lân, phân đạm, phân Kali Giai đoạn này công tác khuyến nông đã bắt đầu
Trang 3434
được áp dụng, cách thức, công thức bón đã được chuyển giao đến bà con Năng suất lúa
vụ đông uân khoảng 350kg/công và vụ hè thu khoảng 200-220kg/công
Việc khai thác thủy sản tự nhiện ngày càng gia tăng với khối lượng và quy mô lớn bắt đầu gây ra sự suy giảm nguồn lợi thủy sản tự nhiên
T nh đến giai đoạn này, khí hậu và thời tiết tương đối ôn hòa, dựa trên kinh nghiệm, bà con có thể đoán trước được những diễn biến của khí hậu và thời tiết
Cho đến năm 1980, giống lúa chủ yếu được trồng tại địa phương và giống lúa nàng đùm đuôi trâu T nh từ thời điểm gieo trồng cho đến khi thu hoạch là 6 tháng Sản lượng trung bình 220kg/công trong khi đó công chăm sóc không nhiều
3.2.5 Giai đoạn 1982 – 2000
Dân số giai đoạn này tăng lên khoảng xấp xỉ 600 hộ dân
Đây là giai đoạn có ý nghĩa quyết định đến việc thay đổi hệ sinh thái Trong vòng gần 20 năm, việc bao đê khép k n đã hoàn thành
Kể từ khi xuất hiện vào cuối giai đoạn trước, lúa 2 vụ đã phát triển mạnh trong giai đoạn này đặc biệt từ năm 1988-2000 Các giống lúa mới có đặc điểm chung là thời gian từ khi gieo trồng đến khi thu hoạch ngắn hơn (khoảng 3 tháng rưỡi) như giống Thần Nông Tám, HT6, ong Đình, A3 Năng suất thu hoạch được cũng cao hơn Khoảng 400kg/công
vụ đồng xuân và 350kg/công vụ hè thu Với hệ thống kênh rạch được xây dựng và gia cố dần dần, diện t ch đất phèn ngày càng giảm, diện t ch đất có thể canh tác ngày càng tăng lên, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tại địa phương và uất bán ra các nơi khác Tuy nhiên bắt đầu từ giai đoạn này, lượng phân bón sử dụng ngày càng gia tăng, tương đương gấp đôi giai đoạn trước, từ 50-70kg/công Bà con cũng mất công chăm sóc (làm đất, làm cỏ, tưới bón, thăm nom đều đặn)
Trang 3535
Giai đoạn này chính thức đánh dấu việc thay đổi môi trường cư trú của thủy sản vào mùa nước lên Toàn bộ lung bào tự nhiên đã được san bằng, hệ thống kênh xổ phèn hoàn chỉnh, lúa canh tác quanh năm, gần như không c n môi trường cho cá cư trú Cuối giai đoạn này bắt đầu xuất hiện ngày càng nhiều những ngư cụ đánh bắt mang tính hủy diệt như: dớn, lưới ba màng và đặc biệt là các phương tiện sử dụng điện
3.2.6 Giai đoạn 2000 – nay
Dân số ổn định vào khoảng hơn 600 hộ dân, diện t ch đất tự nhiên đã được khai thác hoàn toàn cho mục đ ch ăn và canh tác nông nghiệp, ngư nghiệp
Các giống lúa vẫn liên tục được luân chuyển chủ yếu dựa theo kinh nghiệm học hỏi từ các địa phương lân cận và hướng dẫn của cán bộ khuyến nông Các giống lúa đặc trưng như: 4900, VND-20 vụ đông uân hay giống 6976, 4218 cho vụ hè thu với thời gian sinh trưởng từ 90-105 ngày là các giống được ưa chuộng Về cơ bản, để thích ứng với tình hình thời tiết thay đổi, sâu bệnh nhiều hơn, các giống lúa mới hướng đến năng suất cao hơn, chống chịu sâu bệnh, chống chịu gió
Giá thành các giống lúa mới cao hơn khoảng 300-500/kg so với giống lúa cũ nhưng năng suất cao hơn
Năng uất vụ đông uân khoảng 600-700kg/công Năng uất vụ hè thu khoảng 500kg/công Năng uất vụ 3 khoảng 500-600kg/công Phân bón khoảng 50-60kg/công
Tuy nhiên, sâu bệnh nhiều càng làm tăng lượng thuốc trừ sâu bón vào cây và đất, cũng như lượng phân bón sử dụng quá nhiều làm cho chất lượng đất giảm Việc bao đê tăng vụ làm cho đất không được bồi dưỡng phù sa thường uyên như trước, chất đất vì vậy cũng được dự đoán diễn biến theo chiều hướng đi uống Chi phí cho thuốc bảo vệ thực vật vào khoảng ½ chi phí phân bón
Trang 3636
Đến năm 2012, tại địa phương đã hoàn thành bao đê khép k n khoảng diện tích
2300 công đất, canh tác 3 vụ lúa Việc canh tác tăng vụ, theo nhóm nghiên cứu viên địa phương có thể có lợi về mặt kinh tế nhưng rất thấp Thậm chí, có thể không thu về nguồn lợi nào, chỉ đủ chi ph công chăm sóc và đầu tư ban đầu
Dựa trên các kết quả phân tích về các giai đoạn biến đổi nói trên chúng ta nhận thấy quy luật chung của sự thay đổi đó là đi từ hệ sinh thái tự nhiên đa dạng và phong phú, con người bằng những tri thức và kỹ thuật ngày càng tiên tiến đã tiến hành cải tạo
và khai thác tiệm cận mức tối đa các nguồn tài nguyên để tạo lợi ích về mặt kinh tế
Trang 37nghiệp 50% DT khai phá)
Hệ sinh thái tư nhiên biến mất Khai phá toàn bộ DT (sinh thái nông nghiệp 70%)
Hệ sinh thái nông nghiệp
Hệ sinh thái nông nghiệp
-
-
- Nàng Đùm
- 220kg/công (1979) 350kg/công
-
- Tnông 8,732, HT6
-
- 400- 500kg/công 300- 350kg/công
-
-
- 600-700kg/công 500kg/công 500-600kg/công ĐX:4900,VND20 HT:6976, 4218 (Giống 90-110 ngày)
Kỹ thuật
canh tác
Cày và xới Thu hoạch sau lũ, bị phèn
Chủ động nước hoàn toàn sau 2006-2007
Phân bón
các loại
½ phân bón
Chi ph tương đương phân bón
so trước 2000
Trang 3838
Xét về khía cạnh kinh tế, những nỗ lực này là hết sức đáng ghi nhận Từ công cuộc cải tạo đất phèn để canh tác, đến việc bao đê điều tiết nước, tăng vụ Nó đại diện cho sức mạnh ý chí bền bỉ và tinh thần sáng tạo không ngừng của cộng đồng địa phương
Tuy nhiên, xét về khía cạnh bảo tồn, việc khai thác (đôi khi quá mức) lại đem đến những ảnh hưởng không hề nhỏ không chỉ trong thời điểm hiện tại, mà có thể kéo dài đến tương lai
Cùng nhìn lại các lát cắt về sự thay đổi của các hệ sinh thái qua các thời kỳ Trước giai đoạn năm 1975, mối quan hệ giữa hệ sinh thái tự nhiên và phát triển kinh tế nằm ở mức bền vững Cho đến năm 1990, việc đánh bắt, khai thác quá mức dẫn đến hệ sinh thái
tự nhiên và nguồn lợi tại địa phương diễn biến theo chiều hướng suy giảm
4 Các yếu tố tác động tới các hệ sinh thái và ảnh hưởng tới đời sống xã hội
4.1 Yếu tố khách quan
Thời ti t bất t ường
Nhóm nghiên cứu viên địa phương đã ghi nhận những sự thay đổi bất thường của thời tiết và khí hậu chỉ bắt đầu diễn ra trong khoảng 30 năm trở lại đây, tức khoảng từ năm 1980
Giai đoạn trước đó, với kinh nghiệm, người dân địa phương có thể dự đoán được
sự thay đổi của con nước, tốc độ dòng chảy… Giai đoạn từ 1980 trở lại đây, thời tiết trở nên khó dự đoán hơn, kèm theo đó là dịch bệnh cũng gia tăng, là một trong những yếu
tố khách quan ảnh hưởng đến hệ sinh thái tự nhiên, dẫn đến những thay đổi theo chiều hướng tiêu cực
Ản ưởn t ượng nguồn
Cũng là yếu tố tự nhiên, nhóm nghiên cứu viên ghi nhận những thay đổi từ thượng nguồn ảnh hưởng đến địa phương Các thay đổi chủ yếu do nhóm nghiên cứu viên đưa ra là sự thay đổi dòng chảy và lượng thủy sản cũng như phù sa bồi đắp
Trang 3939
Tại ngã ba sông Vàm Nao, vũng oáy hình thành do hai d ng nước từ sông Vàm Nao và sông Hậu giao nhau từng có thời điểm rộng trên 200m, và được mô tả là nỗi khiếp sợ của tàu bè qua lại nơi đây
“Vào lúc nước về, nằm ở trong nhà cũng nghe thấy tiếng nước oáy”
- Ông Võ Thành Trang, nghiên cứu viên ấp Vàm Nao - Hiện tại, k ch thước vũng oáy đã thu hẹp chỉ còn từ 100m đường kính, và dòng chảy cũng hiền h a hơn rất nhiều Trong khi đó, lượng thủy sản từ thượng nguồn về địa phương cũng giảm đáng kể chưa rõ nguyên nhân
Nhóm nghiên cứu viên cũng đề cập đến yếu tổ phát triển tại thượng nguồn, tuy nhiên lượng thông tin nhóm nghiên cứu viên có được là không đủ để đi đến các kết luận
về việc liệu yếu tổ này đã tác động đến hệ sinh thái tự nhiên hay chưa
Theo tổ chức sông ngòi quốc tế:
“Tr n Q ốc đã có các k hoạch xây dựng bậc thang thủy điện tám đập tại t ươn
lư sôn M Côn (Lancan ) C o đ n nay, ba dự án đã o n t n Dự án thứ tư – Xianwan (đập Tiểu loan)– bắt đầ tíc nước hồ chứa năm nay, v ít n ất hai dự án
k ác đan được xây dựng Những dự án này sẽ l m t ay đổi mạnh mẽ chu kỳ hạn –lũ
tự nhiên của sông Mê Công và chặn dòng phù sa, ản ưởng tới hệ sinh thái và sinh
k của hàng triệ n ười sống ở vùng hạ lư tại Burma, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam Các tác động tới mực nước v n ư trường vẫn đan đươc i n ận dọc biên giới T ái Lan v L o.”
Trong khi đó, chính phủ ào cũng đã thông báo đến các quốc gia trong Ủy hội sông Mê Công về việc xây dựng 2 con đập: Xayaburi và Don Sahong, kèm theo một kế hoạch xây dựng 12 bậc thang thủy điện thượng nguồn của sông Mê Công
Nhóm nghiên cứu viên đã ác định ít nhất 50/63 loài thủy sản được trong nghiên cứu là loài di cư dọc sông Một số t là loài di cư từ hạ nguồn đến địa phương sinh sản trước khi quay trở về hạ nguồn sinh trưởng, còn lại đa số là loài di cư lên thượng nguồn sinh sản, cá con hoặc trứng cá sau đó theo d ng nước về sinh trưởng tại địa phương Những loài cá di cư này đóng vai tr hết sức quan trọng trong lưới thức ăn