Liên Xô cũ là một trong những đất nước mà phương pháp phát triển ngôn ngữ được nghiên cứu rất kỹ lượng với rất nhiều nhà sư phạm nổi tiếng mà chúng ta biết như: Chikhieva.E.I một tác giả
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BẠC THỊ TỎA
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI QUA HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN Ở TRƯỜNG MẦM NON
MƯỜNG GIÔN, QUỲNH NHAI, SƠN LA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Sơn La, năm 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BẠC THỊ TỎA
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI QUA HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN Ở TRƯỜNG MẦM NON
MƯỜNG GIÔN, QUỲNH NHAI, SƠN LA
Chuyên ngành: Khoa học Giáo dục
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: NGƯT TS Vũ Tiến Dũng
Sơn La, năm 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Bằng tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn:
TS Vũ Tiến Dũng – người đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này
Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Đại học, Thư viện, Ban chủ nhiệm khoa Tiểu học – Mầm non Trường Đại Học Tây Bắc, các ban ngành và tập thể lớp K55 ĐHGD Mầm non A đã tạo điều kiện cho em học tập và nghiên cứu để hoàn thành khóa luận này
Đồng thời em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, các cô giáo và các cháu mẫu giáo (5 - 6 tuổi) Trường Mầm non Mường Giôn, Quỳnh Nhai, Sơn La đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này
Với nội dung khóa luận này, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn!
Sơn La, tháng 05 năm 2018
Người thực hiện
Bạc Thị Tỏa
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Kết quả nhóm đối chứng theo các tiêu chí đánh giá mức độ phát triển ngôn ngữ của trẻ trường mầm non Mường Giôn……….………45 Bảng 3.2 Kết quả nhóm thực nghiệm theo các tiêu chí đánh giá mức độ phát triển ngôn ngữ của trẻ trường mầm non Mường Giôn ……… ……….46 Bảng 3.3 Kết quả hình thành mức độ phát triển ngôn ngữ của trẻ 5 – 6 tuổi qua hoạt động kể chuyện trước và sau khi thực nghiệm tác động……… ……… 47
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Khả năng diễn đạt của trẻ mầm non 5 - 6 tuổi qua hoạt động kể chuyện ở trường mầm non Mường Giôn, Quỳnh Nhai, Sơn La trước và sau khi thực nghiệm……….……… …… ………48 Biểu đồ 2: Khả năng hiểu từ của trẻ mầm non 5 - 6 tuổi qua hoạt động kể chuyện ở trường mầm non Mường Giôn, Quỳnh Nhai, Sơn La trước và sau khi thực nghiệm………49 Biểu đồ 3: Khả năng phát âm của trẻ mầm non 5 - 6 tuổi qua hoạt động kể chuyện ở trường mầm non Mường Giôn, Quỳnh Nhai, Sơn La trước và sau khi thực nghiệm……… …… …….49
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài khóa luận 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa của đề tài 5
7 Cấu trúc khóa luận 6
CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 7
1.1.1 Đặc điểm tâm lí của trẻ 5 - 6 tuổi 7
1.1.2 Khái niệm, chức năng, vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục trẻ 9
1.1.3 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 5 - 6 tuổi 13
1.1.4 Khái niệm, phân loại, vai trò của kể chuyện đối với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 15
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 18
1.2.1 Khảo sát thực trạng tổ chức hoạt động kể chuyện ở trường mầm non cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non Mường Giôn 18
1.2.2 Kết quả khảo sát……… 19
Tiểu kết chương 1 22
CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI QUA HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN 24
2.1 Một số yêu cầu trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động kể chuyện 24
2.2 Biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện 24
2.2.1 Khái niệm biện pháp 24
2.2.2 Biện pháp sử dụng các phương tiện trực quan trong giờ kể chuyện 24
2.2.3 Biện pháp kể chuyện diễn cảm 30
2.2.4 Biện pháp đàm thoại 31
2.2.5 Sử dụng phương pháp giảng giải 33
Trang 82.2.7 Biện pháp dạy trẻ tự kể lại truyện 35
2.2.8 Biện pháp giúp trẻ vận dụng ngôn ngữ mạch lạc trong giờ kể chuyện 36
2.2.9 Biện pháp kết hợp kể chuyện trong các hoạt động khác 37
2.2.10 Biện pháp thực hiện công tác tuyên truyền 38
2.2.11 Vận dụng phương pháp mới để tổ chức kể chuyện cho trẻ mẫu giáo 39
Tiểu kết chương 2 42
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 43
3.1 Mục đích thực nghiệm 43
3.2 Đối tượng, địa bàn, thời gian thực nghiệm 43
3.3 Điều kiện tiến hành thực hành thực nghiệm 43
3.4 Nội dung thực nghiệm 43
3.5 Quy trình tổ chức thực nghiệm 44
3.6 Tiến hành thực nghiệm 44
3.7 Chuẩn bị cho thực nghiệm……….44
3.8 Phân tích kết quả thực nghiệm 45
Tiểu kết chương 3 50
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 51
1 Kết luận 51
2 Kiến nghị 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO……….53 PHỤ LỤC
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài khóa luận
1.1 Ngôn ngữ tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người Nhờ ngôn ngữ mà con người khác xa so với động vật Ngôn ngữ là kho tàng trí tuệ của loài người, thước đo của văn minh, đồng thời là nơi lưu giữ, truyền tải tư duy nhân loại Ẩn sau ngôn ngữ là cả một nền văn hóa, ngôn ngữ là tinh hoa, là tiếng nói của dân tộc, có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống con người Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện để giao tiếp, mà nó còn giúp con người phát triển về trí tuệ, tình cảm thẩm mỹ, giáo dục trẻ một cách toàn diện bao gồm sự phát triển về đạo đức, tư duy nhận thức và các chuẩn mực hành vi văn hóa
1.2 Hiểu được tầm quan trọng của ngôn ngữ cho nên phát triển ngôn ngữ cho trẻ luôn là lĩnh vực được chú trọng đầu tiên Đặc biệt, trẻ 5 - 6 tuổi là lứa tuổi cuối cùng của tuổi mẫu giáo là giai đoạn then chốt để chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông, sự phát triển tâm sinh lí gần như hoàn chỉnh Vì vậy, trẻ cần phải được trang bị hết sức cẩn thận để đảm bảo cho lứa tuổi này vững tin bước vào môi trường học tập mới
1.3 Dạy trẻ từ những cái gần gũi, quen thuộc, đẹp đẽ, tươi sáng, giúp trẻ dễ tiếp thu và nhớ lâu, là nguồn cảm xúc lành mạnh, tưởng tượng phong phú và tư duy đúng hướng, giúp trẻ lĩnh hội tốt hơn những giá trị lớn của văn hóa dân tộc
và loài người Câu ca dao mẹ ru, truyện cổ tích bà kể, trò chơi dân gian chơi cùng bạn, cảnh sắc quê hương được thấy… những cái đó đã góp phần xây dựng nên tính cách tốt đẹp của bao thế hệ Do vậy phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động kể chuyện là rất phù hợp với trẻ Kể chuyện ở đây không đơn thuần là giáo viên kể và trẻ nghe, mà là lấy trẻ làm trung tâm, trẻ được tích cực hoạt động, được tự cảm nhận, trẻ được thỏa mãn xúc giác, nhãn quan và thể hiện
sự sáng tạo của mình
Ở độ tuổi này trẻ rất thích nghe những câu chuyện cổ tích, thần thoại, đồng thoại giữa các em và các nhân vật trong những câu chuyện có sự đồng điệu về tâm hồn và tình cảm, trẻ thích được thể hiện theo tính cách cũng như ngôn từ của những nhân vật trong các câu chuyện mà trẻ được nghe, được xem Những câu chuyện là một phần của cuộc sống gợi lên cho trẻ những xúc cảm lành mạnh, giúp trẻ nhận biết thế giới xung quanh, những mối quan hệ giữa con người với con người góp phần giáo dục thẩm mĩ Sự lôi cuốn, hấp dẫn của những câu chuyện làm trẻ say mê, chăm chú lắng nghe từ đó nhớ được
Trang 10tình tiết của chuyện, tích cực hoạt động trong kể chuyện, điều đó giúp cho quá trình nhận thức, chú ý, tư duy của trẻ phát triển, mở rộng vốn từ phát triển ngôn ngữ cho trẻ
Kể chuyện giúp trẻ phát triển năng lực tư duy, óc tưởng tượng sáng tạo, biết yêu quý cái đẹp, hướng tới cái đẹp Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những mục tiêu phát triển toàn diện cho trẻ mầm non, vì năng lực ngôn ngữ không phải là bẩm sinh di truyền nên việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là rất cần thiết đặc biệt là phát triển vốn từ Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua việc dạy trẻ kể chuyện làm phong phú đời sống tinh thần trẻ, đáp ứng được nhu cầu giao tiếp của trẻ, phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ, nhờ đó trẻ lĩnh hội được thông tin và tình cảm của người khác một cách chính xác Đồng thời, nó còn là điều kiện để phát triển tư duy, giúp trẻ tham gia các họat động vui chơi, học tập
và phát triển toàn diện
1.4 Mỗi trẻ đều có sự phát triển về tâm sinh lí, ngôn ngữ khác nhau, và ở mỗi vùng, miền lại càng khác nhau hơn Với trẻ em dân tộc thiểu số trước khi tới trường mầm non, đều sống trong môi trường tiếng mẹ đẻ, ít có môi trường giao tiếp tiếng Việt, đến trường trẻ vẫn thích giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ, chưa mạnh dạn, tự tin trong khi giao tiếp bằng tiếng Việt Giáo viên chưa có phương pháp, biện pháp phù hợp để có thể phát triển ngôn ngữ cho trẻ dân tộc thiểu số Bên cạnh đó, có một số giáo viên là người dân tộc Kinh không hiểu ngôn ngữ của trẻ dân tộc thiểu số Sự khác biệt về ngôn ngữ điều đó ảnh hưởng rất lớn đến việc phát triển ngôn ngữ của trẻ thông qua hoạt động kể chuyện, phát triển ngôn ngữ cho trẻ
Chính vì những lí do trên bằng sự hiểu biết và tâm huyết của mình, đồng thời dựa trên những tiếp thu, học hỏi những thành tựu nghiên cứu thành công
khác, chúng tôi đã lựa chọn đề tài khóa luận là: “Biện pháp phát triển ngôn ngữ
cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động kể chuyện ở trường Mầm non Mường Giôn, Quỳnh Nhai, Sơn La” làm khóa luận nghiên cứu
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ngôn ngữ là thành tựu lớn nhất của con người sáng tạo ra là một hệ thống tín hiệu đặc biệt Nó là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của các thành viên trong xã hội loài người, nhờ có ngôn ngữ con người có thể trao đổi cho nhau những hiểu biết, truyền cho nhau những kinh nghiệm, bày tỏ với nhau những nguyện vọng, ý muốn và cùng nhau thực hiện những dự định tương lai Vì thế, qua nhiều thời đại ngôn ngữ vẫn là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa
Trang 11học khác nhau như: triết học, tâm lí học, xã hội học, giáo dục học và đã đạt được những thành công to lớn
Liên Xô (cũ) là một trong những đất nước mà phương pháp phát triển ngôn ngữ được nghiên cứu rất kỹ lượng với rất nhiều nhà sư phạm nổi tiếng mà chúng
ta biết như: Chikhieva.E.I một tác giả có uy tín trong lĩnh vực nghiên cứu về sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo Ngoài ra còn có rất nhiều tác giả có những đóng góp quan trọng vào việc hình thành chuyên ngành phát triển ngôn ngữ của trẻ ở nước ta có thể kể đến các tác giả như:
- V.X.Mukhina với Tâm lí học mẫu giáo đã đi sâu nghiên cứu về tâm lí của
trẻ em trong độ tuổi mẫu giáo
Winhem Preyer với Trí óc của trẻ em đã miêu tả chi tiết về sự phát triển
của trẻ em, phát triển về vận động, hình thành ngôn ngữ và trí nhớ cụ thể thông qua cậu bé Alex
- A.B.Watson với Cơ sở tâm lí học của giáo dục mẫu giáo đã có những
nghiên cứu chuyên biệt về trẻ nhỏ từ mới sinh đến 6 tuổi
- M.M.Konoxva với Dạy nói cho trẻ trước tuổi đi học đã chỉ ra các hình
thức, biện pháp để nhằm dạy nói cho trẻ trước khi vào tuổi đi học
- A.N.Xookolop với Lời nói bên trong và tư duy đã nghiên cứu những vấn
đề lý luận về ngôn ngữ và tư duy của trẻ em
Ở Việt Nam, vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ cũng được đông đảo các nhà giáo dục quan tâm và đi vào nghiên cứu như:
Các tác giả như Nguyễn Quang Ninh, Bùi Kim Tuyến, Lưu Thị Lan,
Nguyễn Thanh Hồng với công trình Tiếng Việt và phương pháp phát triển lời
nói cho trẻ, đề cập tới tiếng Việt dựa vào đó tác giả xây dựng các phương pháp
nhằm phát triển và hoàn thiện lời nói cho trẻ
Tác giả Hoàng Thị Kim Oanh, Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức với
Phương pháp phát triển ngôn ngữ, các tác giả đã đưa ra các phương pháp nhằm
tăng vốn từ cho trẻ
Cuốn Giáo dục trẻ mẫu giáo qua truyện và thơ, Nguyễn Thu Thủy,
NXBGD, 1986 được cấu tạo theo 3 chương Trong chương II: Kể và đọc truyện cho trẻ mẫu giáo, tác giả đã đề cập đến một số vấn đề: Tìm hiểu tác phẩm văn học đó là các tác phẩm văn xuôi; Tác phẩm văn học dân gian Việt Nam; Truyện do các nhà văn trong và ngoài nước viết cho trẻ, truyện dân gian các nước
Trang 12Cuốn Tiếng Việt - văn học và phương pháp giáo dục, của tác giả Lương
Kim Nga, Nguyễn Thị Thuận, Nguyễn Thu Thủy (NXBGD - 1998) đã quan tâm đến cách dạy trẻ đọc thuộc thơ, kể lại chuyện và tiến hành các loại bài thơ cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học
Nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Phú và Lê Thị Ánh Tuyết với Phương
pháp làm quen với văn học ở mẫu giáo, nghiên cứu tìm ra phương pháp và hình
thưc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết, Phạm Hoàng Gia, Đoàn Thị Tâm với Tâm lí
học trẻ em lứa tuổi mầm non, đã tiến hành nghiên cứu tâm lý trẻ em qua các giai
đoạn phát triển
Luận án Tiến sĩ của Lưu Thị Lan nghiên cứu về Các biện pháp phát triển
ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn nói về các bước, giai đoạn hình thành
phát triển ngôn ngữ cho trẻ từ 1- 6 tuổi
Luận án Tiến sĩ Nguyễn Thị Oanh nghiên cứu về Cơ sở của việc tác động sư
phạm đến sự phát triển ngôn ngữ của tuổi Mầm non, dựa trên cơ sở của nghành sư
phạm đã nghiên cứu tới sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non
Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Khoa về Phương pháp phát triển ngôn ngữ
cho trẻ mẫu giáo từ 0 - 6 tuổi, đã nghiên cứu về sự phát triển vốn từ của trẻ qua
các độ tuổi và đưa ra phương pháp nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi mầm non
Các công trình nghiên cứu trên là những định hướng và là cơ sở quý báu để chúng tôi thực hiện đề tài khóa luận
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Xác định hoạt động kể chuyện đang thực hiện ở trường mầm non
- Triển khai hình thức tổ chức kể chuyện qua việc soạn giáo án và kết hợp
kể chuyện trong nhiều hoạt động khác nhằm phát triển ngôn ngữ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu một số cơ sở lí luận và thực tiễn có liên quan đến vấn đề nghiên cứu và khảo sát thực trạng sử dụng hoạt động kể chuyện cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non
- Xây dựng một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện
Trang 13- Tổ chức thực nghiệm để ứng dụng đề xuất tính khả thi của các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động kể chuyện ở trường mầm non Mường Giôn, Quỳnh Nhai, Sơn La thông qua hoạt động kể chuyện
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Tôi đã tiến hành điều tra ở trường mầm non Mường Giôn, Quỳnh Nhai, Sơn La
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Đọc sách, báo và các tài liệu có liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu Từ
đó, chọn lọc các lý thuyết thích hợp để xây dựng nên cơ sở lí luận cho đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Dùng phiếu Anket điều tra kết hợp với việc trao đổi những thông tin có liên quan đến về vấn đề nghiên cứu với các giáo viên ở trường mầm non, nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện
- Sử dụng phương pháp quan sát: quan sát những hoạt động của trẻ để đưa
ra các biện pháp hợp lí với tâm sinh lí của trẻ 5 - 6 tuổi
5.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Sử dụng phương pháp tác động đến một nhóm trẻ được chọn để thực nghiệm
- Xử lí kết qủa nghiên cứu bằng thống kê toán học
6 Ý nghĩa của đề tài
Trang 14- Đề xuất các biện pháp giúp trẻ 5 - 6 tuổi nâng cao việc phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động kể chuyện đạt được kết quả như mong đợi
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Những biện pháp mà khóa luận đề xuất mang tính khả thi sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động kể chuyện, góp phần nâng cao kết quả phát triển ngôn ngữ cho trẻ, nhất là trẻ người dân tộc thiểu số
7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, cấu trúc của khóa luận bao gồm có 3 chương, cụ thể:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động kể chuyện
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 15Xúc cảm và tình cảm là nét tâm lí nổi bật của trẻ thơ, đặc biệt là trẻ lứa tuổi mẫu giáo Nhìn chung ở lứa tuổi này, tình cảm thống trị các mặt hoạt động tâm
lí của trẻ Chính vì vậy, nhận thức của trẻ mang đậm màu sắc cảm xúc, trẻ luôn
có nhu cầu được người khác quan tâm và cũng luôn bày tỏ tình cảm của mình đối với mọi người xung quanh và ngỡ ngàng trước những điều tưởng chừng như rất đơn giản Một bông hoa, một chiếc lá rơi, một con kiến tha mồi, hay một đêm trăng sáng cũng có thể làm trẻ xúc động một cách sâu sắc Chính đặc điểm đẹp đẽ nhạy cảm này, làm cho trẻ khi nghe kể chuyện, đọc thơ có thể dễ dàng hóa thân vào các nhân vật trong tác phẩm Trẻ thường có những phản ứng trực tiếp ngay lập tức thì khi tiếp xúc với tác phẩm trẻ có thể cười hoặc khóc, có thể sung sướng hay tức giận trước những sự kiện hay tác phẩm, những tình huống
mà nhân vật gặp phải Đó là phản ứng biểu thị trạng thái tâm lí của trẻ, những phản ứng này tương đương với nội dung cả tác phẩm và nó càng trở nên mạnh
mẽ nếu có sự đồng cảm của người lớn Chính vì vậy, ngôn ngữ, ngữ điệu, giọng điệu hoặc những cử chỉ điệu bộ của người đọc, người kể tác phẩm văn học cho người nghe là hết sức quan trọng, việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học ngoài kiến thức còn tạo ra cho trẻ một năng lực cảm nhận cái đẹp, một thái độ cảm nhận cuộc sống, một phong cách sống
Trẻ càng lớn tinh thần càng dần dần được ổn định sự hiểu biết của trẻ sẽ phong phú, phức tạp dần theo các mối quan hệ và những hiểu biết về thế giới xung quanh Như vậy, từ những cảm xúc tình cảm được nảy sinh trong quá trình cảm thụ tác phẩm văn học, trẻ sẽ biết yêu thương vạn vật xung quanh Cảm xúc chi phối mạnh mẽ tri giác và thái độ tập trung chú ý đặc biệt là hứng thú nhận thức, trẻ luôn hướng về một cái gì đó Mỗi hoạt động của trẻ đều kích thích cảm
Trang 16xúc, mỗi cảm xúc đều ảnh hưởng đến tri giác Nhà tâm lí học và sinh lí học người Anh Spen-xô cho rằng nhận thức của trẻ không chỉ được mã hóa bằng kí hiệu và biểu tượng mà còn bằng cả cảm xúc Cảm xúc tinh vi ấy, có chức năng tổng hợp và tổ chức thành các tổ hợp nhận thức thành cấu trúc cảm xúc - nhận thức còn là sự lặp lại quá trình này nhờ sự phát triển của các cấp độ tổ chức mà tạo nên sự phát triển của lí trí Như vậy, nguồn cảm xúc chẳng có mối quan hệ với nguồn kinh nghiệm cụ thể của trẻ mà còn gắn bó với tư duy và hành động của trẻ, nó trở thành một yếu tố tâm lí góp phần phát triển nhân cách của trẻ Như đã nói trên, trẻ em giàu cảm xúc, tình cảm cho nên sự tiếp nhận văn học của chúng cũng mang đậm màu sắc cảm xúc, theo quy luật tri thức kiểu tư duy trực quan hình tượng, nghĩa là những thứ mà chúng có thể mắt thấy tai nghe được Nhưng riêng với tác phẩm văn học nghệ thuật thì trẻ tiếp nhận bằng cả tâm hồn, trái tim những tình cảm hết sức hồn nhiên ngây thơ của mình Có thể nói trẻ em có lợi thế trong tiếp nhận cái đẹp trong văn học nghệ thuật
Ta thấy trong tiếp nhận tác phẩm văn học của trẻ ở lứa tuổi mầm non vấn
đề tri thức và kinh nghiệm là rất cần, nhưng quan trọng hơn vẫn là cảm xúc, đó
là năng lực hóa thân của các nhân vật với cái ngây thơ, đơn giản về sự giống nhau giữa các tác phẩm văn học cũng là hiện thực ngoài đời nên dễ dàng muốn chia sẻ
có ngôn ngữ mà trẻ có thể hình dung ra được những gì trẻ nhìn thấy Vì thế, nếu một trẻ mà ngôn ngữ kém phát triển thì trí tưởng tượng cũng nghèo nàn Tưởng
Trang 17tượng giúp trẻ xâu chuỗi được những sự vật, hiện tượng bằng trí tưởng tượng phong phú của mình và tích lũy được vốn biểu tượng trong từng hoạt động, sau
đó những thời điểm, hoàn cảnh cụ thể, trẻ sẽ có sự liên tưởng cần thiết Trẻ thơ cần có trí tưởng tượng vì vậy việc nuôi dưỡng trí tưởng tượng cho trẻ là một trong những nhiệm vụ của giáo dục mầm non
Có thể nói, tưởng tượng là một năng lực không thể thiếu để cảm thụ và sống với những tác phẩm văn học Trẻ đã sẵn có trong đầu trí tưởng tượng phong phú, bay bổng nên khi gặp những hình ảnh đẹp đẽ, kì ảo của tác phẩm văn học thì trí tưởng tượng của trẻ sẽ càng được thăng hoa Như vậy trí tưởng tượng của trẻ là tiền đề để chúng ta đưa những tác phẩm văn học đến với trẻ Trẻ dùng trí tưởng tượng của mình để tiếp thu những sáng tạo nghệ thuật và ngược lại, trí tưởng tượng phong phú sẽ chắp cánh cho những ước mơ những hoài bão
và sự sáng tạo của trẻ
1.1.2 Khái niệm, chức năng, vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục trẻ
1.1.2.1 Khái niệm về ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hệ thống các kí hiệu có cấu trúc, quy tắc và ý nghĩa, là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Đồng thời ngôn ngữ là phương tiện để phát triển tư duy, truyền đạt và tiếp nhận những nét đẹp của truyền thống văn hóa - lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác
Cũng có những cách hiểu khác về ngôn ngữ theo E.L.Ti khêeva - Nhà giáo
dục học Liên Xô cũ đã khẳng định rằng: “ Ngôn ngữ là công cụ để tư duy, là
chìa khóa để nhận thức, là vũ khí để chiếm lĩnh kho tàng kiến thức của dân tộc, của nhân loại Do đó, ngôn ngữ giữ vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống con người…”
Không chỉ vậy, ngôn ngữ tạo nên những con người có linh hồn, ngôn ngữ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành nên tư duy, nhân cách của con người, thúc đẩy quá trình tự điều chỉnh hành động chính bản thân mình Nhờ có ngôn ngữ mà con người trao đổi cho nhau những hiểu biết, truyền cho nhau những kinh nghiệm, tâm sự với nhau những nỗi niềm thầm kín,…
Đối với trẻ em, ngôn ngữ là phương tiện giúp trẻ hòa mình vào thế giới xung quanh một cách hiệu quả nhất Ngôn ngữ trở thành công cụ để trẻ bày tỏ suy nghĩ, những tâm tư, tình cảm, những mong muốn cá nhân của mình Bởi lẽ trẻ có nhu cầu rất lớn trong việc nhận thức thế giới xung quanh, mong muốn hòa nhập với xã hội của người lớn
Trang 181.1.2.2 Chức năng của ngôn ngữ
Ngôn ngữ có hai chức năng quan trọng nhất là hai chức năng: giao tiếp và
tư duy
a Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người
Giao tiếp là sự truyền đạt thông tin từ người này đến người khác với một mục đích nhất định nào đó Khi giao tiếp, người ta truyền đạt nhận thức, tư tưởng tình cảm… với nhau và tác động với nhau về mặt nhận thức, tình cảm và hành động Giao tiếp được thực hiện nhờ một công cụ chủ yếu và hữu hiệu nhất
là ngôn ngữ
Ngôn ngữ giúp cho con người lưu giữ những kinh nghiệm sản xuất để truyền từ đời này sang đời khác Ngôn ngữ giúp trao đổi tư tưởng tình cảm, xác lập các mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng xã hội Thông qua sự kết nối tập thể này, ngôn ngữ là một thứ công cụ để tổ chức xã hội, duy trì mối quan hệ giữa người với người trong xã hội (công cụ đấu tranh sản xuất và đấu tranh xã hội, giai cấp) Ngôn ngữ là công cụ giúp cho con người giao tiếp, trao đổi và đi đến hiểu biết lẫn nhau Không có sự hiểu biết ấy, không thể có hành động chung của con người trong cuộc đấu tranh chinh phục tự nhiên và xã hội Cho nên nếu không có một thứ ngôn ngữ chung cho cả cộng đồng dùng để giao tiếp, để thắt chặt các mối quan hệ thì xã hội cũng không thể tồn tại được Với ý nghĩa này, ngôn ngữ là một công cụ giao tiếp thì đồng thời cũng là một công cụ đấu tranh phát triển xã hội
b Ngôn ngữ là phương tiện tư duy của con người
Ngôn ngữ và tư duy cùng xuất hiện một lúc Ngôn ngữ là hiện tượng trực tiếp của tư duy và chỉ có con người - động vật cao cấp mới có tư duy Nói cách khác, chúng ta không thể tư duy nếu không có ngôn ngữ (không thể tư duy bằng các công thức hóa học, đường nét, nốt nhạc mà chỉ có thể tư duy bằng ngôn ngữ) Bởi thế, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ thường so sánh mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy gắn liền với nhau như hai mặt của một tờ giấy, như hình với bóng
Chức năng giao tiếp của ngôn ngữ gắn liền với chức năng thể hiện tư duy của ngôn ngữ Vì khi giao tiếp, con người phải nói với nhau một điều gì đấy (tư tưởng, tình cảm,…) Như vậy, ngôn ngữ không phải là một tổ hợp âm thanh đơn thuần, mà thực chất ngôn ngữ là nơi lưu giữ những kinh nghiệm của xã hội loài người Chức năng tư duy của ngôn ngữ có tính độc lập tương đối với chức năng
Trang 19giao tiếp Bởi vì, ngôn ngữ không phải chỉ cần đến khi chúng ta giao tiếp, mà cần đến ngay cả khi chúng ta suy nghĩ thầm lặng, khi độc thoại nội tâm
Hai chức năng giao tiếp và tư duy được thực hiện không tách rời nhau mà gắn bó chặt chẽ với nhau Khi tư duy, hoạt động giao tiếp vẫn diễn ra không ngừng và ngược lại khi giao tiếp, hoạt động tư duy vẫn diễn ra liên tục (để kiểm tra, điều chỉnh thông tin)
Ngôn ngữ và tư duy có những điểm khác biệt Ngôn ngữ là vật chất còn tư duy là tinh thần Đơn vị của tư duy (khái niệm, phán đoán, suy lí,…) không đồng nhất với đơn vị của ngôn ngữ (âm thanh, hình vị, câu…) Tư duy có tính nhân loại còn ngôn ngữ có tính dân tộc Tóm lại, ngôn ngữ và tư duy thống nhất nhưng không đồng nhất Chức năng của ngôn ngữ đối với tư duy là ngôn ngữ thể hiện tư tưởng và trực tiếp tham gia vào việc hình thành tư tưởng
1.1.2.3 Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ
a Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp của trẻ
Bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội Con người muốn tồn tại thì phải gắn bó với ngôn ngữ, không có ngôn ngữ con người không thể giao tiếp được, thậm chí không thể tồn tại được, nhất là trẻ em là một sinh thể yếu ớt rất cần đến sự chăm sóc và bảo vệ của người lớn
Giao tiếp là một hoạt động đặc trưng quan trọng của con người Ngôn ngữ
là phượng tiện giao tiếp quan trọng nhất Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể hiểu được nhau, cùng nhau hành động vì những mục đích chung: Lao động, đấu tranh, xây dựng và phát triển xã hội Ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu đặc biệt, có khả năng biểu hiện đến độ vạn năng và vô hạn những lời nói trong xã hội, ngôn ngữ là phương tiện được dùng phổ biến ở mọi nơi, mọi lúc trong sinh hoạt xã hội Con người dùng ngôn ngữ làm công cụ chung và chủ yếu để giao tiếp Không dùng ngôn ngữ, lập tức hoạt động giao tiếp sẽ bị kém hiệu quả hoặc ngưng trệ Cũng vì vậy, hầu hết kho tàng trí tuệ, tư tưởng, tình cảm đồ sộ của loài người đã được ngôn ngữ lưu trữ, truyền đi và phát huy tác dụng to lớn của nó
Do đó, ngôn ngữ chính là một trong những phương tiện thúc đẩy trẻ trở thành một thành viên của xã hội loài người, là một công cụ hữu hiệu để trẻ có thể bày tỏ những nguyện vọng của mình từ khi còn rất nhỏ, để người lớn có thể chăm sóc, giáo dục trẻ - là một điều kiện quan trọng để trẻ tham gia vào hoạt động và trong hoạt động hình thành nhân cách trẻ
Trang 20b Ngôn ngữ là công cụ để phát triển tư duy, nhận thức cho trẻ
Ngôn ngữ là công cụ để trẻ học tập, vui chơi Đây chính là hoạt động chủ đạo của trẻ mầm non Giống như việc dạy trẻ tiếng mẹ đẻ ở các cấp học khác, phát triển lời nói cho trẻ ở trường mầm non thực hiện mục tiêu “kép” Đó là, trẻ học để biết tiếng mẹ đẻ, đồng thời sử dụng nó như một công cụ để vui chơi, học tập Ngôn ngữ được tích hợp trong tất cả các loại hình hoạt động giáo dục, ở mọi lúc, mọi nơi Như vậy, ngôn ngữ cần cho tất cả các hoạt động và ngược lại, mọi hoạt động tạo cơ hội cho ngôn ngữ trẻ phát triển
Quá trình trưởng thành của trẻ bên cạnh thể chất là trí tuệ Công cụ để phát triển tư duy, trí tuệ chính là ngôn ngữ Ngôn ngữ chính là hiện thực (sự hiện hữu) của tư duy Tư duy của con người có thể hoạt động được (nhất là tư duy trừu tượng) cũng chính là nhờ có phương tiện ngôn ngữ Tư duy và ngôn ngữ có mối quan hệ mật thiết với nhau Nếu không có ngôn ngữ thì quá trình tư duy của con người không diễn ra được Ngôn ngữ làm cho các kết quả tư duy được cố định lại, do đó có thể khách quan hóa cho người khác và cho chủ thể tư duy Ngược lại, nếu không có tư duy với các sản phẩm của nó thì ngôn ngữ chỉ là những âm thanh vô nghĩa
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ không chỉ có mục đích tự thân Có ngôn ngữ, tư duy của trẻ được phát triển Đây là hai mặt của một quá trình biện chứng có tác động qua lại ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhau Ngôn ngữ phát triển làm cho tư duy phát triển Ngược lại, tư duy càng phát triển càng đẩy nhanh sự phát triển của ngôn ngữ
c Ngôn ngữ là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện
Sự phát triển toàn diện của trẻ bao gồm cả sự phát triển đạo đức hành vi văn hóa Điều gì tốt, điều gì xấu, cần phải ứng xử giao tiếp như thế nào cho phù hợp… không chỉ là sự bắt chước máy móc Ngôn ngữ phát triển sẽ giúp trẻ mở rộng giao tiếp Điều này giúp trẻ có điều kiện học hỏi những gì tốt đẹp xung quanh Cô giáo bằng lời cũng sẽ dễ dàng hơn trong việc giải thích, nêu gương, thuyết phục trẻ, giáo dục những hành vi đạo đức cho trẻ Đồng thời, ngôn ngữ phát triển giúp trẻ sớm tiếp thu những giá trị thẩm mỹ trong thơ ca, truyện kể, những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ đầu tiên người lớn đem đến cho trẻ từ những ngày thơ ấu Sự tác động của lời nói nghệ thuật là một hiện hữu giáo dục thẩm
Trang 211.1.3 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 5 - 6 tuổi
Nhìn chung đến cuối tuổi mẫu giáo (5 - 6 tuổi), trẻ đã có khả năng nắm được ý nghĩa của từ vựng thông dụng, phát âm gần đúng sự phát âm của người lớn (tức là phát âm chuẩn), biết dùng ngữ điệu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp
và đặc biệt là nắm được hệ thống ngữ pháp phức tạp bao gồm những quy luật ngôn ngữ tinh vi nhất về phương tiện cú pháp và phương tiện tu từ, trẻ nói năng mạch lạc và thoải mái
1.1.3.1 Đặc điểm vốn từ
Vốn từ của trẻ mẫu giáo (5 - 6 tuổi) tăng lên đáng kể Trẻ có khoảng 3000 -
4000 từ vào cuối tuổi thứ 6 Trẻ nắm được cách dùng trong thực tế ngữ pháp tiếng mẹ đẻ, cấu trúc ngữ pháp trong ngôn ngữ của trẻ tiếp tục được hoàn thiện Ngôn ngữ của trẻ đã có nội dung phong phú hơn và có cấu tạo phức tạp hơn so với trước đó Trẻ không chỉ trò chuyện về cái đang trực tiếp tri giác mà còn về cái đã tri giác trước đây hoặc về điều cha mẹ, cô giáo, các em khác kể lại Việc
mở rộng giao lưu ngôn ngữ như thế dẫn đến sự biến đổi cấu tạo ngôn ngữ của trẻ Bên cạnh tên, sự vật hành động, trẻ bắt đầu sử dụng rộng rãi các vị ngữ khác nhau: Cái ca là dùng để uống nước, cái ghế là dùng để ngồi, con ngựa dùng để kéo xe, cưỡi,…
- Về danh từ: nội dung ý nghĩa của từ được mở rộng phong phú hơn
ở những từ có ý nghĩa rộng Những từ chỉ nghề nghiệp người lớn tăng Ở trẻ còn
có những danh từ mang tính văn học: áng mây, đóa hoa… trẻ biết sử dụng một
số từ chỉ những khái niệm trừu tượng mặc dù trẻ chưa biết hết khái niệm của nó
- Về động từ: phần lớn là những động từ gần gũi, tiếp tục phát triển thêm những nhóm từ mới như: nhảy nhót, leo trèo, rơi lộp bộp,… những từ chỉ sắc thái khác nhau như: chạy vèo vèo, chạy lung tung, chạy loạn xạ Xuất hiện thêm những động từ có ý nghĩa trừu tượng như: giáo dục, khánh thành
Về quan hệ từ: trẻ biết sử dụng từ: nếu, thì, thế mà, nhưng,…
Trang 22Về các loại từ: trẻ biết nhiều từ đơn hơn từ ghép, trẻ hiểu nhiều từ láy và biết sử dụng chúng
Sự phát triển ngôn ngữ phụ thuộc khá lớn vào tính tích cực giao tiếp của
nó Những trẻ tích cực giao tiếp, tìm hiểu thì vốn từ phong phú, nhiều trẻ còn sáng tạo được thơ ca, kể chuyện cổ tích một cách sáng tạo
1.1.3.2 Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ
Lứa tuổi mẫu giáo lớn là thời kì bộc lộ tính nhạy cảm cao nhất đối với các hiện tượng ngôn ngữ, điều đó khiến cho sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc của trẻ đạt tốc độ khá nhanh và đến cuối tuổi mẫu giáo thì hầu hết trẻ em đều biết sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách thành thục trong sinh hoạt hàng ngày
Theo khảo sát của các nhà khoa hoc như P.Blômxki và Bulômam (Mỹ) thì
bộ óc của con người liên tục học tập có thể chứa được lượng kiến thức tương đương với trên nửa triệu cuốn sách Nếu trí lực bình thường của con người đạt ở lứa tuổi thanh niên là 100% thì ở độ tuổi 4 - 7 tuổi trẻ đạt được khoảng 80% khối lượng kiến thức ấy Đặc biệt, trẻ 5 - 6 tuổi đã bắt đầu hình thành năng lực phân tích năng lực tổng hợp, biết so sánh nặng - nhẹ, to - nhỏ và phân biệt được khá nhiều màu sắc, hình khối Trẻ bắt đầu biết tư duy và suy diễn trừu tượng, thích bắt chước, mô phỏng hành vi, lời nói các nhân vật mà trẻ được xem trên vô tính truyền hình hoặc do người khác kể cho nghe
Ở độ tuổi này trẻ có thể tiếp thu sự chỉ dẫn, huấn luyện và trả lời khá rõ ràng những vấn đề đặt ra bằng những câu hỏi thích thú, hấp dẫn Các câu hỏi mà trẻ đặt ra ngày càng cụ thể hơn, chúng muốn tìm hiểu nguyên nhân, những sự kiện mà chúng quan sát được, tìm cách dự đoán kết quả của các sự kiện đó Điều cần chú ý, ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn là ngôn ngữ tự kỉ, đó là ngôn ngữ hướng vào chính bản thân trẻ, ít phục vụ cho việc giao tiếp nhưng là phương tiện tư duy nhạy cảm dễ vui, dễ buồn
Đặc điểm nổi bật nhất trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn là
sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc Ngôn ngữ mạch lạc là dấu hiệu của sự phát triển tư duy của trẻ Nếu trước đây trẻ sử dụng ngôn ngữ tình huống là chủ yếu thì giờ đây, trẻ ít sử dụng ngôn ngữ tình huống, thay vào đó là ngôn ngữ ngữ cảnh Người lớn có thể hình dung được những điều mà trẻ định mô tả mà không cần tình huống trước mặt trẻ Đồng thời với ngôn ngữ ngữ cảnh là ngôn ngữ giải thích Ở độ tuổi này, trẻ có nhu cầu giải thích cho các bạn cùng độ tuổi về nội dung trò chơi, cách tạo ra đồ chơi và nhiều điều khác Không những thế, trẻ còn muốn giải thích cho người lớn những điều mà trẻ cần họ hiểu Ngôn ngữ giải
Trang 23thích đòi hỏi đứa trẻ phải trình bày ý kiến của mình theo một trình tự nhất định, phải nêu bật những điểm chủ yếu và những mối quan hệ liên kết các sự vật, hiện tượng một cách hợp lí để người hiểu được Có nghĩa là phải có tính chặt chẽ, mạch lạc Sang tuổi thứ 6, trẻ có thể đặt các câu chuyện miêu tả hay theo một chủ đề nào đó cho trước một cách tương đối tuần tự và rõ ràng nhưng vẫn cần đến mẫu lời nói của cô giáo Kỹ năng truyền đạt trong lời kể, thái độ xúc cảm của mình đối với các sự vật, hiện tượng trong câu chuyện của trẻ vẫn còn chưa phát triển đầy đủ Ngôn ngữ mạch lạc là điều kiện, phương tiện quan trọng để phát triển nhân cách nói chung, tư duy nói riêng của trẻ
Có thể nói tuổi mẫu giáo lớn là ngưỡng cửa để phát triển trí tuệ một cách thuận lợi để hướng trẻ dần vào hoạt động học tập và ngôn ngữ là chìa khóa giúp trẻ bước đầu vào thế giới tri thức
1.1.4 Khái niệm, phân loại, vai trò của kể chuyện đối với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ
1.1.4.1 Khái niệm
Truyện kể là những tác phẩm nghệ thuật được tác giả sắp xếp các tình huống và xây dựng hệ thống nhân vật theo dụng ý chủ quan của tác giả nhưng vẫn đảm bảo các yếu tố khách quan
Kể chuyện là một hình thức hoạt động của con người thông qua một sắc thái giọng của mình và các phương tiện kể biểu cảm khác nhau làm cho tác phẩm cất lên tiếng nói, tạo cho tác phẩm một bức tranh âm thanh tương ứng Dạy trẻ kể chuyện là dạy trẻ biết sử dụng các phương thức kể chuyện kể lại những câu chuyện mà mình đã được nghe, được chứng kiến, được tham gia qua
đó để giáo dục tình cảm đạo đức, ngôn ngữ cho trẻ
1.1.4.2 Phân loại truyện trong chương trình giáo dục mầm non
a Truyện cổ tích
Truyện cổ tích là sự đúc kết, khái quát những khát vọng từ xa xưa của loài người, luôn ước mơ vươn tới một cuộc sống tốt đẹp, hạnh phúc, thấm đượm tình yêu thương
Truyện cổ tích mang đậm yếu tố kì ảo, trong truyện luôn có một đấng siêu nhiên như: bà tiên, ông bụt nhưng có thể chỉ là một cây gậy, hạt dẻ, cái sọ dừa Đấng siêu nhiên ấy luôn ở mọi nơi, mọi chỗ, luôn theo dõi mọi người để khi cần thì sẽ kịp thời ra tay cứu giúp Đây chính là yếu tố nhân văn cơ bản của truyện
cổ tích làm cho nó tạo được một sức hấp dẫn bền lâu đối với loài người, đặc biệt
Trang 24là đối với trẻ thơ Như chúng ta đều biết trẻ thơ luôn có một tâm hồn trong sáng, luôn nhạy cảm với cái tốt, cái đẹp, cái cao thượng, có thể nói rằng truyện cổ tích
là một bài học đạo đức có tác động mạnh mẽ và hiệu quả đối với trẻ thơ
Ví dụ truyện “ Thạch Sanh” với những nội dung cốt truyện hấp dẫn, với những tình tiết diễn biến li kì của truyện nó đã làm nên một sức hút mạnh mẽ đối với trẻ Trẻ có thể ngồi nghe một cách tập trung, trẻ luôn dõi theo những nhân vật, có sự căng thẳng hồi hộp với những tình tiết gay cấn Trẻ dường như đang sống trong câu chuyện Thạch Sanh Trẻ cũng muốn trở thành một người dũng cảm như Thạch Sanh
b Truyện đồng thoại
Đồng thoại là thể loại truyện cho trẻ em trong đó loài vật và các vật vô tri,
vô giác được nhân cách hóa để tạo nên một thế giới thần kỳ, thích hợp với trí tưởng tượng của các em
Bằng những hình tượng ngộ nghĩnh ngây ngô của các con vật, truyện đồng thoại đã khơi dậy ở trẻ những cảm xúc thú vị, khiến cho trẻ từ một thính giả thụ động trở thành một người tham gia tích cực vào các sự kiện của các nhân vật vốn chỉ là cây cỏ, vật vô tri vô giác mà trở thành người bạn thân thiết cùng vui cùng buồn
Như trong truyện “ Bồ công có hiếu” khi bồ công mẹ không còn kiếm được mồi cho con thì vạch bụng ra cho con mổ thức ăn trong bụng mình, nó tự nguyện chết cho đàn con được sống Khi trẻ nghe câu chuyện này trẻ đã có những biểu hiện cảm xúc của mình như: trẻ buồn, có trẻ khóc khi bồ công mẹ chết
Như vậy, có thể nói rằng truyện đồng thoại tác động mạnh mẽ đến đời sống tình cảm của trẻ, trẻ hòa nhập vào tác phẩm mà quên đi ranh giới giữa
Trang 25Như vậy, chúng ta thấy rằng, mỗi thể loại truyện đều có những đặc điểm, ý nghĩa giáo dục riêng đối với trẻ Mỗi trẻ, mỗi độ tuổi đều có những cách khác nhau Vì vậy giáo viên cần lựa chọn những câu chuyện phù hợp đặc điểm của từng độ tuổi
Thông qua hoạt động kể chuyện, bồi dưỡng cho trẻ những tri thức thông thường về tự nhiên và đời sống xã hội Song chức năng cơ bản của môn kể chuyện là kích thích sự linh hoạt của trí tuệ, mở ra một chân trời mới cho trí tưởng tượng, làm phong phú các hình thức màu sắc của lý tưởng sống đang từng bước hình thành trong tâm trí trẻ Những ánh mắt vui tươi, những tiếng cười sảng khoái, không khí thư giãn thoải mái trong giờ kể chuyện tạo ra sự gần gũi thông cảm, lòng tin cậy giữa người kể và người nghe đặc biệt giữa cô và trẻ Kể chuyện cũng như là một biện pháp tốt giúp trẻ rèn luyện thói quen chú ý và đó là điều kiện cần cho sự tiếp thu tri thức khoa học
1.1.4.3 Vai trò của kể chuyện đối với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ
Kể chuyện không chỉ là một phương tiện hiệu quả mạnh mẽ trong việc giáo dục trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ mà nó còn là phương tiện phát triển ngôn ngữ cho
trẻ hiệu quả nhất Nhà vằn M.Goocki đã khẳng định “ Văn học là nghệ thuật của
ngôn từ” Ngôn từ là chất liệu để xây dựng lên hình tượng văn học Các hình
tượng làm phong phú thêm xúc cảm, tình cảm đem đến cho trẻ những hình tượng tuyệt diệu của ngôn từ dân tộc Từ những hình tượng trong truyện trẻ nhận thức được tính rõ ràng chính xác của từ, sự hoàn hảo của câu với cấu trúc ngữ pháp phong phú Những câu chuyện cổ dân gian là sự mẫu mực của ngôn ngữ giản dị, có nhịp điệu nó mở ra trước mắt trẻ sự biểu cảm ngôn ngữ
Kể chuyện giúp trẻ rèn kỹ năng nghe nói, phát triển ngôn ngữ mạch lạc Ngôn ngữ mạch lạc là phương tiện vạn năng, đặc sắc, trọn vẹn và có hiệu quả giao tiếp có văn hóa Chúng ta đều biết rằng các tác phẩm chuyện kể vốn là các văn bản nghệ thuật, văn bản thẩm mĩ chứa đựng những nội dung, tư
Trang 26tưởng, chủ đề nhất định và nó được diễn đạt bằng ngôn ngữ hàm xúc, giàu hình ảnh, giàu sức biểu cảm, sinh động Tiếp xúc với ngôn ngữ nghệ thuật ở trẻ nảy sinh thái độ sáng tạo ngôn ngữ, sáng tạo trong biểu cảm lời nói, ý thức lời hay, ý đẹp, hứng thú sáng tạo ra những câu chuyện sáng tạo, hình thành ở trẻ phong cách sống
Cần dạy trẻ phát âm và dùng ngữ điệu đúng, thích hợp khi sử dụng tiếng mẹ
đẻ Trong cuộc sống hàng ngày, khi giao tiếp với trẻ người lớn phải phát âm rõ ràng, phát âm đúng để trẻ bắt chước, tập cho trẻ phát âm đúng các âm tiết của tiếng
mẹ đẻ, luyện cho trẻ biết sử dụng ngữ điệu đúng, thích hợp với những hoàn cảnh, tâm trạng cụ thể Việc dạy trẻ phát âm đúng, sử dụng ngữ điệu thích hợp còn được thực hiện thông qua hoạt động vui chơi, hoạt động học tập, đặc biệt là trong giờ kể chuyện cho trẻ nghe và khi trẻ kể chuyện cho người khác nghe
Qua tác phẩm truyện kể trẻ không chỉ học được tiếng mẹ để mà còn thấy được sự phong phú của tiếng Việt
Trên thực tế chúng ta có thể thấy rằng những đứa trẻ nếu ít tiếp xúc với tác phẩm văn học, tác phẩm thơ thì ngôn ngữ của trẻ ít xuất hiện ngôn ngữ mang tính nghệ thuật Ngược lại khi những đứa trẻ được thưởng thức, tiếp xúc với văn học, truyện kể thường xuyên được nghe kể chuyện và tham gia vào hoạt động kể chuyện thì ngôn ngữ của trẻ phát triển hơn đồng thời còn hình thành và nảy sinh những ngôn ngữ mang tính nghệ thuật
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Khảo sát thực trạng tổ chức hoạt động kể chuyện ở trường mầm non cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non Mường Giôn
1.2.1.1 Mục đích khảo sát
Quá trình khảo sát nhằm tìm hiểu:
- Thực trạng về trình độ giáo viên đang trực tiếp giảng dạy trẻ mẫu giáo (5
1.2.1.2 Nội dung khảo sát
- Tìm hiểu nhận thức của giáo viên về việc dạy trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tổ chức hoạt động kể chuyện, ghi chép các biện pháp giáo viên sử dụng
Trang 27- Nghiên cứu giáo án (kế hoạch) hướng dẫn trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi kể chuyện
- Đánh giá thực trạng phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện
1.2.1.3 Đối tượng khảo sát
- Giáo viên dạy lớp mẫu giáo lớn (6 cô)
- Trẻ mẫu giáo lớn (50 trẻ)
1.2.1.4 Địa bàn khảo sát
- Trường Mầm non Mường Giôn, Quỳnh Nhai, Sơn La
1.2.1.5 Thời gian khảo sát
- Từ tháng 01 năm 2018 đến tháng 05 năm 2018
1.2.1.6 Phương pháp khảo sát
* Phương pháp khảo sát bằng phiếu Anket
+ Đối với giáo viên:
- Mục đích: Tiến hành khảo sát, để thu thập ý kiến của các giáo viên mầm non nhằm tìm hiểu về nhận thức về tác động của truyện tới sự phát triển của trẻ đặc biệt là sự phát triển của ngôn ngữ của trẻ, nhận thức của giáo viên trong việc phát triển ngôn ngữ của trẻ thông qua hoạt động kể chuyện
- Các bước tiến hành:
Bước 1: Phát phiếu khảo sát cho giáo viên
Bước 2: Tiến hành phân tích, tổng hợp kết quả theo nội dung khảo sát Bước 3: Nhận xét thực trạng, phân tích nguyên nhân dẫn đến thực trạng + Đối với trẻ
- Mục đích: Sử dụng các phiếu đánh giá thực trạng ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo (5 - 6 tuổi) nhằm tìm hiểu mức độ ngôn ngữ của trẻ
1.2.2 Kết quả khảo sát
1.2.2.1 Kết quả khảo sát đối với trẻ
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát mức độ phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện theo phiếu đánh giá Đánh giá 50 trẻ tại 2 lớp trường Mầm non Mường Giôn, Quỳnh Nhai, Sơn La trong đó có 2 dân tộc:
Trang 28- Dân tộc Kinh có: 11 trẻ
- Dân tộc Thái có: 39 trẻ
Đối với trẻ dân tộc Thái khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt chưa tốt, vốn từ
ít, trẻ còn ngọng (b, v, l, đ), phát âm sai ( cây với cay, xẻng với xảnh) Dù là ở nhà hoặc ở trong giờ học hay trong khi chơi trẻ giao tiếp với nhau chủ yếu bằng tiếng Thái Điều đó gây nên khó khăn trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ, đặc biệt là trong giờ kể chuyện
Bảng 1.1: Các tiêu chí đánh giá thực trạng phát triển ngôn ngữ của trẻ
thông qua hoạt động kể chuyện
+ Bình thường + Khó khăn + Không diễn đạt được
Giỏi Khá Trung bình Yếu
+ Bình thường + Chậm
+ Không hiểu
Giỏi Khá Trung bình Yếu
+ Trung bình + Chậm + Sai
Giỏi Khá Trung bình Yếu
Bảng 1.2: Kết quả khảo sát thực trạng ngôn ngữ của 25 trẻ lớp lớn
trường mầm non Mường Giôn, Quỳnh Nhai, Sơn La
Trang 29Khả năng hiểu từ 5 10 8 2 20% 40% 32% 8%
Từ bảng trên cho ta thấy mức độ phát triển ngôn ngữ của trẻ còn thấp Do vậy việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động kể chuyện là rất cần thiết
1.2.2.2 Kết quả khảo sát đối với giáo viên
Thực trạng trình độ đào tạo của giáo viên trực tiếp giảng dạy trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non được điều tra
+ Trình độ đào tạo:
- Giáo viên có trình độ Đại học sư phạm mầm non là: 5 giáo viên
- Giáo viên có trình độ Cao đẳng sư phạm mầm non là: 1 giáo viên
- Giáo viên có trình độ Trung cấp sư phạm Mầm non là: Không có
- Sơ cấp sư phạm mầm non: Không có
- Chưa qua đào tạo: Không có
+ Thâm niên công tác:
- Dưới 5 năm: 1 giáo viên
- Từ 5 – 10 năm: 4 giáo viên
- Từ 15 năm trở lên: 1 giáo viên
Qua số liệu điều tra trên, ta thấy tại các trường mầm non mà chúng tôi tiến hành khảo sát phần lớn giáo viên có trình độ từ cao đẳng trở lên đến đại học và
đa số giáo viên có thâm niên công tác lâu năm tại các lớp lớn Đây cũng là điều kiện thuận lợi cho việc chăm sóc và giáo dục trẻ lứa tuổi mẫu giáo lớn
+ Thực trạng nhận thức của giáo viên về việc nâng cao chất lượng hoạt động cho trẻ nhằm phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động kể chuyện
Tôi thực hiện điều tra 6 giáo viên của trường mầm non Mường Giôn Sau khi điều tra, chúng tôi thấy nhận thức của giáo viên như sau:
- Khi hỏi về: “Cô nhận thức thế nào về tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện ?” Tất cả các giáo viên được điều tra điều cho rằng hoạt động kể chuyện có tác động mạnh đến sự phát triển vốn từ, khả năng phát âm, hiểu nghĩa của từ và khả năng nói mạch lạc
Trang 30- Khi được hỏi về: “Cô đã dùng những phương pháp và biện pháp gì để phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện?” thì có:
100% giáo viên sử dụng phương pháp đàm thoại, giảng giải và kết hợp sử dụng phương pháp bằng tranh
- Trong quá trình giảng dạy cũng như các hoạt động nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ, cô đã gặp những khó khăn gì? Phần lớn cô giáo cho rằng trẻ chủ yếu là con em dân tộc, không được tiếp xúc nhiều với ngôn ngữ phổ thông nên khó cho việc giao tiếp và diễn đạt cho trẻ hiểu
- “Trong quá trình giảng dạy trẻ, cũng như các hoạt động nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ thì cô sử dụng tiếng Việt hay tiếng Thái, vì sao?” Các cô giáo đều phải sử dụng cả tiếng Việt và tiếng thái, vì trẻ dân tộc Thái không hiểu được vấn đề thì bắt buộc cô phải giảng giải bằng tiếng Thái
Đối với nghiên cứu của tôi thì những phương pháp cơ bản như các giáo viên đưa ra vẫn được áp dụng Tuy nhiên, tôi đã đi sâu hơn, khai thác một cách sáng tạo nhất đối với từng phương pháp Ngoài ra tôi cũng bổ sung thêm những phương pháp mới và sáng tạo hơn, đặc biệt là có khả năng lôi cuốn hơn so với các biện pháp cơ bản nêu trên để đạt được hiệu quả cao trong việc nâng cao được vốn từ, phát triển ngôn ngữ cho trẻ Bởi lẽ, trẻ mẫu giáo nói chung là lứa tuổi luôn thích khám phá những điều mới lạ, thú vị và phương pháp mới chính là cách hướng dẫn trẻ hiệu quả nhất
Tiểu kết chương 1
Trong chương này, khóa luận đã đề cập đến những cơ sở lý luận và thực tiễn về ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo (5 - 6 tuổi) và khả năng tiếp nhận, diễn đạt truyện của trẻ Đặc biệt, khóa luận đi nghiên cứu về đặc điểm và vai trò của truyện đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ Thông qua truyện, trẻ thu nhận được các biểu tượng một cách chính xác hóa bằng ngôn ngữ
Trẻ em ngay từ những năm đầu tiên của cuộc đời đã có nhu cầu dùng ngôn ngữ để giao tiếp, để khám phá môi trường xung quanh Trong đó, việc sử dụng truyện để nhằm giúp trẻ giao tiếp, tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh được coi là vấn đề hết sức quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ
Hơn nữa, qua truyện còn góp phần giúp trẻ phát triển trí tuệ, phẩm chất đạo đức,… trẻ còn tập trung vận dụng các tri thức mà trẻ đã tiếp thu, lĩnh hội được
Trang 31vào cuộc sống Nhờ đó mà trẻ nhớ được ngôn ngữ, đồng thời tạo ra các tình huống nhằm giúp trẻ sử dụng vốn từ đã tích lũy được một cách triệt để
Cũng trong chương này, chúng tôi nêu lên những vấn đề về thực trạng trong phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động kể chuyện cho trẻ 5 - 6 tuổi tại trường mầm non Thực tế cho thấy, giáo viên chưa linh hoạt, sáng tạo trong việc dạy trẻ đọc, kể các tác phẩm văn học, giáo viên chưa có các biện pháp hiệu quả để phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua giờ kể chuyện Những cơ sở
lý luận và cơ sở thực tiễn trên là những định hướng quan trọng để tôi xây dựng các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện
Trang 32CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI
QUA HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN 2.1 Một số yêu cầu trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động kể chuyện
- Với đa số trẻ trong lớp học là dân tộc Thái, cho nên giáo viên cần sử dụng chuẩn tiếng Việt và biết tiếng Thái sẽ thuận lợi trong quá trình giảng dạy Giáo viên có thể giải thích cho trẻ hiểu những điều khi cô giải thích bằng tiếng Việt
mà trẻ chưa hiểu
- Giáo viên lựa chọn câu chuyện phù hợp với độ tuổi của trẻ Không nên kể cho trẻ cho trẻ nghe truyện có bạo lực hoặc lời nói thô tục, chuyện về chết chóc, hành hạ tàn bạo hay một vấn đề nào khiến trẻ em sợ hãi
- Giáo viên thiết kế giờ dạy trẻ kể chuyện phải sáng tạo, luôn tạo được sự mới mẻ, tạo được bầu không khí sôi động, hứng thú cho trẻ, từ đó đạt được mục tiêu phát triển ngôn ngữ thông qua áp dụng các biện pháp mà khóa luận đề xuất
- Vận dụng quan điểm tích hợp, lấy trẻ làm trung tâm, trẻ luôn được tự cảm nhận, hệ thống câu hỏi cô đưa ra phải hướng trẻ vào hoạt động, giáo viên gợi mở
để trẻ tự phát hiện ra những chi tiết trong truyện
- Trong quá trình dạy kể chuyện, giáo viên luôn tạo tình huống để trẻ trả lời, được hoạt động, luôn khuyến khích, khen ngợi trẻ
- Chuẩn bị của giáo viên: nắm vững (thuộc) nội dung của truyện, tập kể trước khi cho trẻ nghe; chuẩn bị đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn; sưu tầm tranh ảnh, bài thơ, bài hát, trò chơi có nội dung gần gũi với nội dung truyện kể
2.2 Biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện
2.2.1 Khái niệm biện pháp
Biện pháp là các cách làm, cách giải quyết các vấn đề cụ thể, đưa ra những cách thức cụ thể nhằm áp dụng vào giải quyết các vấn đề về ngôn ngữ cho trẻ mầm non, giúp trẻ phát triển số lượng vốn từ, cấu trúc ngữ pháp và khả năng nói mạch lạc
2.2.2 Biện pháp sử dụng các phương tiện trực quan trong giờ kể chuyện
2.2.2.1 Ý nghĩa
Trang 33Sử dụng các phương tiện trực quan trong việc kể chuyện cho trẻ là phương pháp đặc biệt quan trọng và có hiệu quả, bởi nó phù hợp với tư duy trực quan hình tượng của trẻ Vừa nghe cô giáo kể, vừa được tiếp xúc với biểu tượng trực quan trẻ sẽ hình thành những biểu tượng mới, qua đó, khả năng tri giác của trẻ cũng phát triển, và đó cũng là tiền đề để thúc đẩy tư duy phát triển
Việc sử dụng trực quan còn gợi cho trẻ những xúc cảm và tình cảm thẩm
mĩ, giúp trẻ biết rung động trước mỗi vẻ đẹp của các hình tượng nghệ thuật được thể hiện trong tác phẩm giúp trẻ hiểu tác phẩm nhanh hơn
2.2.2.2 Yêu cầu
- Các phương tiện trực quan phải đảm bảo thẩm mỹ về hình dáng, màu sắc
và phù hợp với nội dung tác phẩm
- Kích thước phải tương quan với các vật khác và phù hợp với không gian lớp học
- Không trang trí quá nhiều vào đồ dùng trực quan tránh làm trẻ bị phân tán không tập trung vào nội dung chính tác phẩm
- Khi sử dụng trực quan phải kết hợp nhuần nhuyễn tự nhiên với dùng lời
- Tùy từng thời điểm và mục đích mà ta sử dụng trực quan đảm bảo tính hệ thống và logic của tác phẩm
- Việc phối hợp giữa ngôn ngữ diễn cảm với hình tượng tạo hình sẽ giúp cho sự cảm nhận tác phẩm của trẻ đạt hiệu quả cao hơn
- Giáo viên phải tập sử dụng trực quan cho thành thạo trước khi sử dụng trực quan để kể chuyện cho trẻ nghe
2.2.2.3 Cách sử dụng
Việc sử dụng các phương tiện trực quan trong kể truyện bao gồm:
a Tranh ảnh - bạn đồng hành của những câu chuyện
Hình ảnh minh họa là một loại đồ dùng trực quan hết sức thông dụng, quen thuộc, phong phú và quan trọng
Khi cảm nhận tác phẩm văn học trẻ mẫu giáo rất cần sự có mặt của đồ dùng trực quan Như cách gọi của T.A.Cô-menxki thì tranh minh họa được coi như là một “quy tắc vàng”
Tranh minh họa làm cho tác phẩm trở nên sống động, rõ ràng và phải thể hiện được những điểm, những chi tiết trọng tâm bộc lộ tinh thần tác phẩm và cần đạt được những yêu cầu sau:
Trang 34+ Màu sắc gợi cảm xúc, hứng thú trẻ nhưng cũng cần có điểm để gây chú ý
ấn tượng thị giác Tranh không thể vụn vặt, các tình tiết, hình ảnh trong tác phẩm cần phải được lựa chọn và xác định tính chất một cách tóm tắt, khái quát
để trẻ có thể tưởng tượng ra nội dung của sự kiện, tư tưởng của tác phẩm Bằng phương tiện biểu hiện, người họa sĩ phải làm nổi bật hình ảnh của mình và tính thẩm mỹ của tác phẩm chính là điểm thống nhất giữa hình ảnh và văn bản
Ví dụ: Truyện “ Ngôi nhà hoa quả” cô có thể sử dụng tranh ảnh hoa quả và kết hợp lời kể
+ Kích thước tranh cần có tỉ lệ thích hợp Tranh minh họa dùng trong tiết học thường có tỉ lệ khoảng 45cm x 27cm để phù hợp với việc tri giác gần, thuận lợi cho trẻ lật giở tranh
Tranh tỉ lệ phù hợp, màu đẹp bao giờ cũng lôi cuốn sự chú ý của trẻ Trẻ càng nhỏ thì tranh cần phong phú, hấp dẫn về màu sắc như vậy trẻ sẽ tập trung vào giờ học hơn và hiểu nội dung của truyện một cách dễ dàng
Khi cho trẻ xem tranh, cô nên để trẻ quan sát và cảm nhận, sau đó cô hướng trẻ vào những chi tiết quan trọng, hấp dẫn Nhiệm vụ của người giáo viên là dạy trẻ hiểu được ý nghĩa của tranh, chuyển từ quan sát toàn bộ không mục đích sang quan sát có thứ tự và điều cần đạt ở trẻ là trẻ kể được truyện khi xem tranh Muốn làm được như vậy, giáo viên phải có sự tìm hiểu, hiểu nội dung bức tranh một cách đúng đắn và sâu sắc, có thể sử dụng nhiều dạng câu gợi ý khác nhau để giúp trẻ sau tiết học có thể kể được một câu chuyện với môi trường xung quanh qua bức tranh mà trẻ quan sát
Khi cho trẻ xem tranh về “Củ cải”, cô hỏi trẻ bức tranh nói về cái gì? Chúng ta có thể đặt tên cho bức tranh này là gì? Các con hãy kể một câu chuyện
về bức tranh hãy xem trong cuộc sống của chúng ta có những gì giống với bức tranh Điều này sẽ giúp trẻ không xa vào thế giới ảo mà vẫn liên tưởng được thế giới hiện thực trong cuộc sống
b Sử dụng đồ chơi
Đồ chơi là người bạn thân thiết của trẻ em, nó là phương tiện giúp trẻ em làm quen với thế giới xung quanh, là nguồn vui của trẻ Đồ chơi giúp trẻ nhớ lại những ấn tượng, kinh nghiệm đã có, đồng thời đồ chơi cũng đáp ứng nhu cầu tích cực của trẻ, phát triển óc sáng tạo, tư duy, tưởng tượng của trẻ Nếu trẻ nhìn thấy đồ chơi đẹp hấp dẫn sự chú ý của trẻ mà còn có ý nghĩa to lớn trong sự phát triển óc thẩm mỹ và năng lực cảm thụ cái đẹp của trẻ
Trang 35Đồ chơi dạy trẻ kỹ năng kể chuyện mang đến cho trẻ niềm vui thích và qua
đó phát triển trí tuệ, tình cảm, tiếng nói riêng của trẻ Giáo viên giúp trẻ xây dựng câu chuyện về đồ chơi quen thuộc đối với trẻ, kể chuyện theo đồ chơi giúp trẻ phát triển khả năng tri giác, tư duy, phát triển lời nói tích cực, khả năng diễn đạt rõ ràng, mạch lạc Thông qua kể chuyện theo đồ chơi, trẻ rèn luyện được cách phát âm đúng, sử dụng câu, cách diễn đạt ý có logic với đồ chơi, đặt ra những câu chuyện nhỏ miêu tả về đồ chơi
Quan sát đồ chơi và cho trẻ nghe truyện đã cụ thể hóa, giải quyết các nhiệm
vụ từ vựng và ngữ pháp Từ câu chuyện cô giáo kể cho trẻ nghe, khi nhìn vào đồ chơi trẻ đã biết lựa chọn những định ngữ cần thiết, tổ chức hình thức ngữ pháp tương ứng để kể chuyện Như vậy, sử dụng đồ chơi để bắt đầu những câu chuyện kể của giáo viên đã có tác dụng rất hữu ích đối cho trẻ Khi cô hỏi trẻ về câu chuyện mà cô vừa kể, trẻ sẽ chú ý đến đặc trưng bề ngoài của sự vật, hiện tượng như: Màu sắc, hình khối, chất liệu, từ đó trẻ lựa chọn, so sánh, định nghĩa
và chuyển từ lời kể chuyện của cô sang lời kể của mình và truyện của cô giáo sẽ trở thành mẫu cho trẻ Giáo viên hướng dẫn trẻ xây dựng câu chuyện của mình với các đồ chơi với một mối liên hệ với nhau Trong khi cho trẻ xem đồ chơi, kể chuyện, cô nên khuyến khích trẻ sử dụng ngôn ngữ hội thoại, lời hô, gọi, lời nói trực tiếp… kích thích trẻ biểu lộ thái độ về các nhân vật giống như trong tranh Nếu trẻ gặp khó khăn trong câu chuyện khi đặt lời kể, cô có thể đưa mẫu hoặc đàm thoại với trẻ theo một hàm ý nào đó
Ví dụ trong truyện “ Xe đu và xe ca”.Trước khi tiến hành kể cho trẻ nghe thì cô có thể cho trẻ quan sát, hoạt động với đồ chơi là xe đu và xe ca, sau đó cô hỏi trẻ có biết câu chuyện gì về xe đu và xe ca không rồi sau đó cô kể chuyện
c Sử dụng phương tiện nghe nhìn hiện đại
Các loại phương tiện nghe nhìn hiện đại như: đĩa hình, băng đĩa, ghi âm, máy nghe nhạc, máy tính, máy chiếu,…
Như chúng ta đã biết sự bùng nổ của công nghệ thông tin nói riêng và khoa học công nghệ nói chung đang tác động mạnh mẽ vào sự phát triển mọi mặt của đời sống xã hội Để đáp ứng được sự phát triển chung và nhu cầu thực tế của xã hội thì việc vận dụng công nghệ thông tin và các trang thiết bị hiện đại vào dạy học là hết sức cần thiết, giúp cho giáo viên truyền tải kiến thức nhanh nhất tới trẻ và luôn luôn được cập nhật thông tin một cách chính xác, hiệu quả
Nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, nghành giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực và đẩy
Trang 36phát triển đã mở ra hướng đi mới cho ngành giáo dục mầm non trong việc đổi mới phương pháp và hình thức dạy để nâng cao chất lượng dạy học
Trên thực tế, có nhiều bài giảng nội dung kiến thức khó đòi hỏi phải có hình ảnh trực quan sinh động và chính xác, giáo viên lại không có điều kiện cho trẻ tham quan thực tế thì việc khai thác các tư liệu, phim ảnh trên Internet là một thành tựu có tính đột phá nhân loại, là một công cụ vô cùng hiệu quả cho việc khai thác tư liệu hình ảnh, nội dung, tư liệu bài giảng cho trẻ mang tính chân thực, phong phú Trong bài giảng điện tử trẻ có thể làm quen với các hiện tượng
tự nhiên, xã hội mà trẻ khó có thể bắt gặp trong thực tế Thông qua những giờ học có áp dụng công nghệ thông tin và sử dụng các bài giảng điện tử, những hình ảnh đẹp, sống động được truyền tới trẻ một cách nhẹ nhàng, góp phần hình thành cho trẻ nhận thức về cái đẹp, biết yêu cái đẹp, mong muốn tạo ra cái đẹp trong cuộc sống và những kỹ năng cần thiết đối với lứa tuổi mầm non Với những hình ảnh, sinh động, hấp dẫn sẽ kích thích được trí tưởng tượng, sáng tạo của trẻ, trẻ hứng thú tham gia kể và kể chuyện một cách sáng tạo
d Sử dụng vật thật
Việc sử dụng vật thật cũng là phương pháp nhằm gây hứng thú mạnh mẽ đối với trẻ, làm tăng tính sinh động, hấp dẫn của câu chuyện Vì vậy, khi lựa chọn, giáo viên cần phải chọn thật kỹ, vừa đảm bảo an toàn cho trẻ, vừa đạt tính thẩm mỹ cao, phù hợp với bài giảng và đạt hiệu quả cao Dùng các vật thật như: hoa quả… cho trẻ quan sát, sờ, nắm, ngửi nếm… trước hoặc sau khi kể chuyện
Ví dụ: Với truyện “Sự tích hoa hồng”, thì trước khi kể chuyện cô cho trẻ quan sát, cầm, ngửi những bông hoa hồng, có thể kết hợp đàm thoại với trẻ nhằm tạo hứng thú cho trẻ, từ đó dẫn dắt trẻ vào câu chuyện
Vật thật còn được hiểu là các hiện tượng trong giới thiên nhiên như: mây, mưa, sấm, chớp, sông, núi, nhà cửa…
e Sử dụng đồ dùng mô phỏng lại sự vật hiện tượng
Là mô phỏng các sự vật hiện tượng như: tranh vẽ, con rối, mô hình,… Loại trực quan này rất phong phú và đa dạng, dễ kiếm, dễ bảo quản có thể dùng lâu hơn là vật thật
Những đồ dùng trực quan khi đem ra kể chuyện cho trẻ không còn đơn thuần là vật vô tri vô giác mà thật sự đã được các cô giáo thổi hồn vào đó trở thành những người bạn của trẻ thơ
Trang 37Ví dụ: Khi dạy trẻ kể chuyện “Ba cô gái” Cô có thể sử dụng mô hình trong
đó có hình ảnh của ba cô con gái, bà mẹ, và sóc con Cô có thể trang trí thêm mô hình cây cối, nhà cửa…
f Những kí hiệu quy ước
Là loại trực quan cần phải nhắc đến trong việc dạy trẻ kể chuyện đó là ngôn ngữ, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ của giáo viên khả năng dung cảm sự hiểu biết của
cô sẽ được bộc lộ qua ngôn ngữ, qua ánh mắt, nét mặt, điệu bộ… Và qua đó cô
sẽ làm sống dậy các hình tượng trong câu truyện thu hút sự chú ý và giúp trẻ cảm nhận nội dung câu chuyện một cách sâu sắc Nếu giọng kể của cô rời rạc, thiếu diễn cảm gương mặt cô thờ ơ, không bộc lộ cảm xúc thì dù các loại trực quan cô sử dụng dù có phong phú đến đâu, đẹp đến đâu, hiện đại đến đâu cũng khó có thể gây được hấp dẫn đối với trẻ
Có thể coi đây là một trong những mấu chốt của sự thành công trong việc dạy trẻ kể diễn cảm
Ví dụ: Dạy trẻ kể truyện “Ba cô gái” cô kể giọng của bà mẹ yếu ớt và nét mặt ủ rũ đúng với hoàn cảnh của bà mẹ
Nhìn chung, sử dụng trực quan trong việc dạy trẻ kể chuyện sẽ gợi cho trẻ những xúc cảm nghệ thuật sâu sắc tiếp thu được những từ ngữ giàu hình tượng
và ghi nhớ truyện nhanh hơn
Đồ dùng trực quan là nguồn thông tin thẩm mỹ với tư cách là một phương tiện dạy học, nó hỗ trợ đắc lực trong việc cho trẻ làm quen với câu chuyện trong việc kết hợp ngôn ngữ đọc và kể để trẻ cảm thụ truyện
Với trẻ mẫu giáo thì tư duy trực quan hình tượng chiếm ưu thế rất lớn, tiếp thu ngôn ngữ để hình thành biểu tượng về cuộc sống được phản ánh trong truyện còn hạn chế nên trẻ rất cần đồ dùng trực quan Ở mỗi câu chuyện, không chỉ là
sự thông báo nêu ra những sự kiện này hay sự kiện khác của cuộc sống, mà con người với đầy đủ hình dáng, tính cách tất cả thế giới đa dạng, sinh động của các loài vật, các bức tranh thiên nhiên với sự phong phú của màu sắc, âm thanh được
vẽ lên bằng ngôn ngữ
Vì vậy, có thể nói việc lựa chọn và sử dụng đồ dùng trực quan trong giờ
kể chuyện là một khâu hết sức quan trọng Thêm nữa nó còn góp phần to lớn trong giờ kể chuyện Chính vì lẽ đó mà khi lựa chọn đồ dùng trực quan để đưa vào sử dụng cần hết sức sáng tạo, đảm bảo tính an toàn đối với cô và trẻ Ngoài ra, còn thể hiện được tính thẩm mỹ cao nhằm gây hứng thú lớn đối với trẻ trong mỗi tiết học nói chung và đặc biệt là giờ kể chuyện nói riêng
Trang 382.2.3 Biện pháp kể chuyện diễn cảm
2.2.3.1 Mục tiêu và ý nghĩa
Kể diễn cảm là cách sử dụng sắc thái giọng kể có kèm theo cử chỉ điệu bộ, nét mặt để truyền đạt những ý nghĩa, tư tưởng, tình cảm của tác giả gửi gắm trong tác phẩm và cả những ý nghĩa, thái độ, tâm trạng, cảm xúc của người kể đến với người nghe
kể bằng giọng thủ thỉ, chậm hơn đọc, kể truyền cảm với việc trình bày tác phẩm một cách khéo léo làm cho lượng thông tin được giãn ra để trẻ đỡ căng thẳng khi theo dõi Và phối hợp với giọng kể với những cử chỉ, điệu bộ,… Tất cả những điều đó giúp trẻ thâm nhập sâu hơn, hiểu rõ hơn ý ngĩa của truyện Với sự cảm thụ riêng của cô, ý ngĩa của tác phẩm đã vượt ra khỏi văn bản Lời kể của cô như
đã bổ sung tạo nên mối quan hệ thân mật, gần gũi giữa cô và trẻ
2.2.3.3 Cách thực hiện
Kể diễn cảm tác phẩm văn học là một loại hình nghệ thuật phức tạp, đòi hỏi phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và rèn luyện một cách công phu thì mới thể hiện được thành công Thêm nữa, để rèn luyện kể diễn cảm trước hết phải xác định giọng điệu của tác phẩm Giọng điệu là thanh âm cơ bản của tác phẩm, nó tựa như một cái nền trên đó người kể vẽ nên những bức tranh, những sự kiện, những nhân vật… một cách sinh động Trên cơ sở đó giọng điệu cơ bản của người kể vận dụng những sắc thái đa dạng để làm cho tình tiết truyện trở nên sinh động và
có sức thuyết phục với người nghe Bên cạnh đó tính logic trong truyện cũng là một tròn những yếu tố quan trọng để trình bày tác phẩm Tác phẩm truyện phải được kể theo trình tự không gian và thời gian một cách logic và hợp lí thì người nghe mới tiếp nhận một cách chính xác về nội dung và hình thức của tác phẩm
đó Ngoài ra, người kể phải chú ý đến việc ngắt giọng, nhịp điệu và cường độ của tác phẩm Việc ngắt giọng đúng chỗ, xác định đúng nhịp điệu nhanh, chậm,