Hoàn thiện hệ thống marketing – mix tại Công ty cổ phần Quảng cáo và Thương mại Lạc Việt
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của đất nước các doanh nghiệp cũng khôngngừng vươn lên từ chỗ thực hiện sản xuất kinh doanh theo các chỉ tiêu pháplệnh do Nhà nước đặt ra, doanh nghiệp đã tự mình làm chủ hoạt động sản xuấtkinh doanh, tự tạo vốn, tự lập chiến lược kinh doanh, kế hoạch sản xuất kinhdoanh phù hợp với đặc điểm của công ty mình và thoả mãn tốt nhất nhu cầuthị trường Có thể nói cơ chế thị trường đã tạo ra rất nhiều cơ hội cho doanhnghiệp, tạo cho doanh nghiệp tính tự chủ trong khai thác cơ hội kinh doanhnhưng nó cũng đem đến không ít những khó khăn Vì thế, muốn thu được lợinhuận cao các công ty phải bằng mọi cách thu hút khách hàng về phía mình.Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng thành công trong việc tiếp cậnthị trường và dành thắng lợi trong cạnh tranh Đấy là lí do các công ty phải ápdụng marketing trong quá trình hoạt động của mình Cuộc chạy đua đang sôinổi hơn lúc nào hết Phần thắng thuộc về những công ty có chính sách kinhdoanh đúng đắn, trọng tâm của chính sách đó là chiến lược và sách lượcmarketing (4Ps) Công ty cổ phần quảng cáo và thương mại Lạc Việt cũngkhông nằm ngoài cuộc đua đó
Sau một thời gian nghiên cứu thực tập tại công ty và kết hợp với những
lý do trên em đã lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện hệ thống marketing – mix tại Công ty cổ phần Quảng cáo và Thương mại Lạc Việt” làm đề tài tốt nghiệp.
Kết cấu của đề tài bao gồm phần mở đầu, phần kết luận và ba chươngcủa phần nội dung chính là:
Chương 1: Lý luận chung về hệ thống Marketing – Mix trong doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng triển khai áp dụng hệ thống Marketing – Mix tại công ty.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống Marketing – Mix tại công ty.
Trang 2Chương 1
Lý luận chung về hệ thống Marketing – Mix trong doanh nghiệp nói
chung và trong doanh nghiệp quảng cáo nói riêng
1.1 Đặc điểm kinh doanh của công ty quảng cáo
Công ty quảng cáo đóng một vai trò vô hình nhưng vô cùng quan trọng trongmột chiến dịch quảng cáo bằng cách mã hoá những mục tiêu của doanh nghiệp thuêquảng cáo (thương mại hay phi thương mại) sang thành những hình ảnh, từ ngữ, âmthanh,… rồi đưa các thông điệp đã được mã hoá này lên các phương tiện truyềnthông để tiếp cận với khán giả mục tiêu Một công ty quảng cáo độc lập thườngphục vụ cho rất nhiều khách hàng vì thế mà họ có một đội ngũ chuyên viên lànhnghề, nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực marketing, kinh nghiệm giải quyết nhữngkhó khăn nảy sinh, có nhiều ý tưởng sáng tạo và sự hiểu biết về nhiều sản phẩmkhác nhau
Công ty quảng cáo thường tập trung phục vụ cho khách hàng ở các thành phốlớn vì có lượng khán giả đông đảo hơn, hệ thống truyền thông phát triển hơn ở cácnơi khác Nếu qui mô của công ty quảng cáo nhỏ thì chỉ có vài chuyên viên làmviệc, khi cần thiết họ mới ký hợp đồng thuê họa sĩ, diễn viên, thợ nhiếp ảnh,… làmviệc ngắn hạn Hầu hết các công ty quảng cáo đều mắc phải một khó khăn kháchquan vì quy luật của ngành quảng cáo là một công ty quảng cáo không được cùnglúc phục vụ cho hai khách hàng trong cùng một ngành sản phẩm cạnh tranh nênkhó có thể tránh khỏi sự “dị ứng” của khách hàng
Sản phẩm kinh doanh của các công ty quảng cáo có điểm khác biệt so vớicác loại hình kinh doanh khác, bao gồm kinh doanh sản phẩm vật chất và các dịch
vụ quảng cáo Sản phẩm vật chất gồm có bảng biển, pano tấm lớn, tấm nhỏ, logo,đèn LED, bảng điện tử PNV, quảng cáo trưng bày giới thiệu hàng hoá, kẻ biển hiệu
Trang 3quảng cáo,… mỗi sản phẩm vật chất này phải thoả mãn được tính nghệ thuật củamột sản phẩm hội họa tức là về mặt thẩm mỹ nó phải có giá trị tạo hình, giá trị nghệthuật của một tác phẩm, phải mang nặng tính chất nghệ thuật nhưng đồng thời nóphải có tính chất truyền thông, phải truyền đạt được ý muốn mà người thuê quảngcáo muốn truyền đến khách hàng mục tiêu hay công chúng của họ Thứ đến là cácdịch vụ quảng cáo bao gồm như tổ chức các sự kiện, cung cấp các dịch vụ quảngcáo như quảng cáo truyền hình, báo chí, hỗ trợ doanh nghiệp đăng ký kinh doanh,
tư vấn quảng cáo,… Các sản phẩm quảng cáo, cả sản phẩm quảng cáo vật chất vàdịch vụ quảng cáo đều phải thoả mãn được các nhu cầu của khách hàng là doanhnghiệp thuê quảng cáo và cả những nguời sử dụng các sản phẩm quảng cáo đó,những người tiếp nhận truyền thông
Nếu một sản phẩm quảng cáo chỉ thoả mãn được yêu cầu của khách hàng, làdoanh nghiệp, cơ quan tổ chức muốn làm truyền thông cho công chúng hay thịtrường mục tiêu của họ, nhưng khách hàng mục tiêu hay công chúng đó không tiếpnhận được thông điệp truyền thông, không tiếp nhận được đúng ý nghĩa mà doanhnghiệp, khách hàng muốn truyền đạt tức là việc truyền thông không đạt hiệu quả thìcoi như doanh nghiệp quảng cáo đó đã thất bại
1.2 Khái niệm và những nguyên lý chung của Marketing áp dụng
trong các công ty quảng cáo
Trang 4được lựa chọn là sản phẩm có giá trị đem lại sự thoả mãn cao nhất trên mộtđồng chi phí.
Thực chất của Marketing là làm việc với thị trường để biến các trao đổitiềm tàng thành hiện thực nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của conngười Người làm marketing cần phải xác định những đối tượng khách hàng,định rõ nhu cầu của họ,…thông qua các hoạt động chính như phát triển sảnphẩm, nghiên cứu thị trường, quảng cáo, định giá, phân phối, phục vụ,…
Trong môi trường kinh doanh luôn chứa đựng những biến động đòi hỏicác hoạt động marketing một mặt phải giải quyết thoả đáng các mối quan hệphát sinh giữa các yếu tố tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, mặt kháccần phải thích nghi các yếu tố bên trong doanh nghiệp với những thay đổi cáckhung marketing cùng với nhiều phương thức tiếp cận tốt hơn
1.2.2 Vai trò và sự cần thiết của việc áp dụng Marketing trong
doanh nghiệp quảng cáo
Ngoài các hoạt động chức năng như sản xuất, tài chính, nhân lực thìcông ty phải thực sự chú trọng đến chức năng kết nối doanh nghiệp với thịtrường, đó là chức năng quản trị marketing Marketing đóng vai trò hết sứcquan trọng trong việc quản trị hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp, thể hiện:
- Tối đa hoá sản lượng bán thông qua triển khai hệ thống chính sách vềsản phẩm, giá, phân phối, khuyếch trương
- Tối đa hoá sự thoả mãn của người tiêu dùng
- Tối đa hoá sự lựa chọn của người tiêu dùng
Với các vai trò cơ bản trên, hoạt động marketing đã trở nên hết sứccần thiết với cả người bán và người mua trong mọi lĩnh vực cuộc sống xã hộinói chung và lĩnh vực kinh doanh sản phẩm, dịch vụ quảng cáo nói riêng Đặcbiệt trong môi trường kinh doanh với sự cạnh tranh gay gắt giữa nhiều doanh
Trang 5nghiệp trên cùng một thị trường, nếu không có sự trợ giúp của các hoạt độngmarketing thì doanh nghiệp sẽ rất khó nắm bắt nhu cầu thị trường Khi thiếuhiểu biết về thị trường sẽ không có cơ sở đề ra chính sách tiếp cận thị trường,tối đa hoá lượng bán để tối đa hoá lợi nhuận, thậm chí sẽ không thoả mãnđược khách hàng dẫn đến nguy cơ mất dần khách hàng và cuối cùng là thấtbại trong cạnh tranh.
Xu thế tất yếu của thị trường hiện nay là những đòi hỏi của giới tiêudùng về chất lượng sản phẩm, chất lượng phục vụ ngày càng tăng lên và đadạng hơn, việc áp dụng tư duy marketing để tiếp cận thị trường sẽ giúp nhậnthấy yêu cầu đa dạng của từng nhóm người tiêu dùng là gì và sẽ có chính sáchphân biệt để thoả mãn tất cả các đoạn thị trường mục tiêu
Marketing là một dạng hoạt động chức năng đặc thù của doanh nghiệp
Nó bao gồm nhiều hành vi của các bộ phận tác nghiệp khác nhau hay của cáccông đoạn hoạt động marketing khác nhau Vấn đề là làm sao để tất cả cáchoạt động tác nghiệp marketing đều hướng đến một mục tiêu là hiểu thấu đáo
và thoả mãn nhu cầu và ước muốn của khách hàng một cách ưu thế hơn đốithủ cạnh tranh để thực hiện thành công các mục tiêu kinh doanh của doanhnghiệp
Cũng như trong các doanh nghiệp kinh doanh khác, marketing trongdoanh nghiệp quảng cáo đóng một vai trò hết sức quan trọng Bộ phậnmarketing trong các doanh nghiệp quảng cáo luôn luôn phải bám sát kháchhàng Ban đầu, marketing tìm kiếm khách hàng cho doanh nghiệp, đó lànhững tổ chức, cơ quan hay doanh nghiệp muốn truyền thông tới công chúngcủa họ Sau khi đã có được khách hàng cho doanh nghiệp họ phải nghiên cứuxem khách hàng đó muốn truyền đạt thông tin gì tới công chúng, khách hàngmục tiêu của họ, làm thế nào để khách hàng của họ biết, mua và yêu thíchhàng hoá của doanh nghiệp muốn truyền thông? Nên dùng hình thức truyền
Trang 6thông nào là phù hợp? …Vì thế, marketing trong doanh nghiệp quảng cáo vừaphải thoả mãn nhu cầu khách hàng vừa phải thoả mãn được khách hàng mà tổchức, doanh nghiệp muốn truyền thông Chính vì có nhiệm vụ to lớn như thếnên marketing trong doanh nghiệp quảng cáo có một vai trò hết sức quantrọng trong sự phát triển, tăng doanh thu, lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Tóm lại, với khả năng giải quyết hầu hết các vấn đề của thị trường, đặcbiệt là những vướng mắc trong vấn đề dự trữ, tiêu thụ, tìm kiếm khách hàngmới, khách hàng tiềm năng,… marketing được xem như là một chức năngquan trọng trong doanh nghiệp Việc quản trị marketing phải mang tính hệthống qua quản trị marketing
1.3 Quá trình quản trị Marketing trong doanh nghiệp nói chung
và trong doanh nghiệp quảng cáo nói riêng
Tương ứng với quá trình sáng tạo và cung ứng giá trị của doanhnghiệp là quá trình hoạt động marketing Hoạt động marketing theo mộttrình tự nhất định gọi là quá trình marketing, quản trị các bước của quátrình marketing gọi là quản trị marketing
Quản trị marketing có thể thực hiện theo năm quan điểm khác nhau Một là “Quan điểm tập trung vào sản xuất” cho rằng người tiêu dùng
sẽ ưa thích nhiều sản phẩm được bán rộng rãi với giá hạ Vì vậy, nhữngnhà quản trị các doanh nghiệp cần phải tập trung vào việc tăng quy mô sảnxuất và mở rộng phạm vi tiêu thụ
Hai là “Quan điểm tập trung vào hoàn thiện sản phẩm” cho rằngngười tiêu dùng luôn ưa thích những sản phẩm có chất lượng cao nhất,nhiều công dụng và tính năng mới Vì vậy, các nhà quản trị các doanhnghiệp muốn thành công phải luôn tập trung mọi nguồn lực vào việc tạo racác sản phẩm có chất lượng hoàn hảo nhất và thường xuyên cải tiến chúng
Trang 7Ba là “Quan điểm tập trung vào bán hàng” tức là tập trung mọinguồn lực vào việc thúc đẩy tiêu thụ và khuyến mãi.
Bốn là “Quan điểm marketing định hướng khách hàng” là doanhnghiệp phải xác định đúng những nhu cầu và mong muốn của thị trường(khách hàng) mục tiêu, từ đó tìm cách đảm bảo nhu cầu và mong muốn đóbằng những phương thức có ưu thế hơn so với đối thủ cạnh tranh
Và cuối cùng là “Quan điểm marketing hướng đến sự kết hợp ba lợiích gồm người tiêu dùng, nhà kinh doanh và xã hội”
Trong năm quan điểm trên, quan điểm marketing định hướng kháchhàng và quan điểm marketing dựa trên sự kết hợp giữa ba lợi ích của kháchhàng, doanh nghiệp và xã hội là những quan điểm hiện đại nhất làm cơ sởcho quản trị marketing ở hầu hết các doanh nghiệp hiện nay
Quản trị marketing là phân tích, lập kế hoạch, thực hiện và kiểm traviệc thi hành các biện pháp nhằm thiết lập, củng cố, duy trì và phát triểnnhững cuộc trao đổi có lợi với những người mua đã được lựa chọn để đạtđược những mục tiêu đã định của doanh nghiệp
Hình 1.1: Sơ đồ các bước của quá trình marketing của doanh nghiệp
Phân tích các cơ hội marketing của doanh nghiệp bao gồm việc phântích hệ thống thông tin marketing và nghiên cứu marketing trong doanhnghiệp; việc phân tích môi trường marketing; việc phân tích thị trườngngười tiêu dùng và hành vi của người mua; việc phân tích thị trường các
Phân tích
các cơ hội
marketing
Phân đoạn và lựa chọn thị trường mục tiêu
Thiết lập chiến lược marketing
Hoạch định các chương trình marketing
Tổ chức thực hiện và kiểm tra các hoạt động marketing
Trang 8doanh nghiệp và hành vi mua sắm của doanh nghiệp; và việc phân tích cácngành và các đối thủ cạnh tranh.
Phân tích hệ thống thông tin marketing và nghiên cứu marketing để
có thể nắm bắt kịp thời những thay đổi của thị trường, những mong muốnthay đổi của khách hàng, những sáng kiến mới của đối thủ cạnh tranh, pháthiện những khách hàng tiềm năng hay những lỗ hổng thị trường,… để cónhững chiến lược, sách lược marketing phù hợp và đạt hiệu quả Trongcông ty quảng cáo thì đây vừa là bước tìm kiếm những thông tin về kháchhàng của công ty vừa phải tìm hiểu và nắm được thông tin của khách hàngmục tiêu hay công chúng của doanh nghiệp là khách hàng của công ty, tìmhiểu về đối thủ cạnh tranh, những hình thức quảng cáo mới, hình thức nàophù hợp hơn với từng doanh nghiệp, khách hàng,…
Phân tích môi trường marketing để tìm thấy những cơ hội mới vàphát hiện được những mối đe dọa trên thị trường, thích nghi với môi trườngkinh doanh không ngừng thay đổi Phân tích thị trường người tiêu dùng vàhành vi của người mua, phân tích thị trường các doanh nghiệp và hành vimua sắm của các doanh nghiệp để luôn hiểu được khách hàng, nắm bắt kịpthời những nhu cầu và mong muốn của khách hàng Với các công ty quảngcáo, do tính chất của sản phẩm, dịch vụ kinh doanh luôn đòi hỏi mới lạ, đặcsắc hơn các đối thủ cạnh tranh nên môi trường khách hàng và đối thủ cạnhtranh luôn cần được chú trọng và quan tâm hơn hết Việc phân tích cácngành và các đối thủ cạnh tranh giúp doanh nghiệp phát hiện được các đốithủ cạnh tranh, chiến lược, mục tiêu của họ, đánh giá được các mặt mạnh,mặt yếu của họ để từ đó có chiến lược kinh doanh phù hợp
Từ việc phân tích các cơ hội marketing, doanh nghiệp sẽ có cơ sở đểphân đoạn và lựa chọn các thị trường mục tiêu phù hợp với tính chất sảnphẩm, dịch vụ kinh doanh của mình
Trang 9Xác định được thị trường mục tiêu, doanh nghiệp có thể thiết lậpđược chiến lược marketing và hoạch định các chương trình marketing vềsản phẩm, giá cả, kênh phân phối và các chương trình truyền thông hiệuquả.
Việc tổ chức thực hiện và kiểm tra các hoạt động marketing là bướccuối cùng để quá trình quản trị marketing được hoàn thành có hiệu quả vàđúc rút ra được những kinh nghiệm cho việc thực hiện các chiến lượcmarketing khác trong tương lai
Kế hoạch marketing chiến lược phát triển những mục tiêu và chiếnlược marketing rộng lớn trên cơ sở phân tích tình hình hiện tại của thịtrường và cơ hội
Kế hoạch marketing chiến thuật vạch ra các chiến thuật marketing cụthể cho một thời kì bao gồm quảng cáo, truyền thông, đẩy mạnh kinhdoanh, định giá, kênh, dịch vụ
1.4 Chiến lược Marketing và sách lược Marketing
1.4.1 Khái niệm chiến lược Marketing, sách lược Marketing
Chiến lược marketing là một hệ thống luận điểm logic, hợp lý làm căn
cứ chỉ đạo một đơn vị hay một tổ chức tính toán cách giải quyết những nhiệm
vụ marketing của mình liên quan đến thị trường mục tiêu, hệ thống marketing– mix và mức chi phí cho marketing
Mục tiêu mà doanh nghiệp muốn đạt được trên thị trường như là khốilượng sản phẩm, thị phần được gọi là mục tiêu marketing và con đường màdoanh nghiệp dự định đi đến được mục tiêu marketing gọi là chiến lượcmarketing hay chiến lược marketing là cách mà doanh nghiệp thực hiện để đạtđược mục tiêu marketing
Những công cụ, phương pháp được sử dụng để thực hiện các chiếnlược marketing gọi là sách lược marketing
Trang 10Mỗi chiến lược marketing khác nhau sẽ có sách lược marketing khácnhau và do đó việc sử dụng các công cụ marketing – mix là khác nhau Việc
mô tả một sách lược marketing cụ thể là để hướng tới việc sử dụng chúng đểtiếp cận khách hàng mục tiêu
Mỗi chiến lược marketing đều chịu sự chi phối của mục tiêumarketing, về cơ bản, chiến lược marketing giải quyết các vấn đề như: Xácđịnh thị trường mục tiêu, xác định khách hàng trọng tâm, sản phẩm và dịch vụcủa công ty được định vị như thế nào? Công ty sẽ thực hiện những cải tiến,thay đổi gì liên quan đến sản phẩm, giá, kênh phân phối, kênh truyền thông?,
…
Việc ra quyết định chiến lược phụ thuộc vào kết quả phân tích và cácyếu tố môi trường, bên cạnh đó thì khả năng tư duy chiến lược và nghệ thuậtquản trị của người ra quyết định có ảnh hưởng rất lớn đến sự định hướngđúng đắn từ chiến lược đã chọn Và để vận dụng các sách lược marketing cầndựa trên sự phân tích môi trường kinh doanh thật khách quan, chiến lượcđược lựa chọn cần phải được cụ thể hoá thành các kế hoạch và chương trìnhhành động
1.4.2 Sách lược Marketing (4Ps) và tầm quan trọng của sách
lược Marketing 1.4.2.1 4P là gì?
Marketing là một nội dung chủ chốt trong quá trình quản trị marketing,
đó là tập hợp các công cụ mà công ty sử dụng để theo đuổi mục tiêu của mìnhtrên thị trường đã chọn Marketing – mix là tập hợp những công cụ marketing
mà công ty sử dụng để theo đuổi những mục tiêu marketing của mình trên thịtrường mục tiêu
Trong marketing – mix có đến hàng chục công cụ khác nhau.Mc.Carthy đã đưa ra một cách phân loại các công cụ này theo 4 yếu tố gọi
Trang 11là 4P Đó là sản phẩm (product), giá cả (price), phân phối (place), và xúctiến hỗn hợp (promotion) Kinh doanh quảng cáo và thương mại là lĩnh vựckinh doanh dịch vụ, marketing – mix trong ngành này không chỉ có 4P kểtrên mà còn có 3P khác là con người (people), dịch vụ khách hàng(provision of customer services), và quá trình cung ứng dịch vụ (process ofservice asembly) Đó không chỉ đơn thuần là các chữ P bổ sung mà gópphần quan trọng để đánh giá một dịch vụ Cụ thể 7P yếu tố là:
- Giá cả: gồm chính sách và thông lệ áp dụng cho giảm giá, trợ cấp, cácthời hạn thanh toán và thời hạn tín dụng,…Giá là biến số duy nhất củamarketing – mix tạo doanh thu cho doanh nghiệp Các quyết định về giá luôngắn với kết quả tài chính của doanh nghiệp
Thông tin về giá luôn giữ vị trí quan trọng trong việc đề xuất cácquyết định kinh doanh Do đó quản trị giá được coi là một trọng tâm của quảntrị marketing
- Sản phẩm, dịch vụ: Gồm các thuộc tính của sản phẩm hay dịch vụcung cấp cho khách hàng, thoả mãn nhu cầu của khách hàng, được đưa rachào bán trên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm, sử dụng haytiêu dùng Đây là nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất trong hệ thốngmarketing – mix
- Kênh phân phối: Là một tập hợp các doanh nghiệp và cá nhân độc lập
và phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá trình đưa hàng hóa từ người sản xuấtđến người tiêu dùng Hay đây là một nhóm các tổ chức và cá nhân thực hiệncác hoạt động làm cho sản phẩm hoặc dịch vụ sẵn sàng cho người tiêu dùnghoặc người sử dụng công nghiệp để họ có thể mua và sử dụng
- Truyền thông khuyếch trương: Gồm quảng cáo, bán hàng và thúc đẩybán hàng, dịch vụ,… Đây là một trong 4 nhóm công cụ chủ yếu củamarketing – mix mà doanh nghiệp có thể sử dụng để tác động vào thị trường
Trang 12mục tiêu nhằm đạt mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp Bản chất của hoạtđộng xúc tiến chính là truyền tin về sản phẩm và doanh nghiệp tới khách hàng
để thuyết phục họ mua Vì vậy có thể gọi đây là hoạt động truyền thôngmarketing
- Dịch vụ khách hàng: (hay còn gọi là chăm sóc khách hàng – customercare), là tất cả những điều mà chúng ta có thể và cần thiết phải làm để đápứng nhu cầu và mong muốn của khách hàng
- Quá trình dịch vụ: Là quá trình từ khi khách hàng lựa chọn dịch vụ,thực hiện việc mua sắm đến khi khách hàng sử dụng xong dịch vụ Là quátrình doanh nghiệp cung cấp những hệ thống dịch vụ có quan hệ mật thiết vớinhau tạo chuỗi giá trị lợi ích lớn nhất cho khách hàng
- Con người: Là công cụ quan trọng để tạo nên giá trị của công ty nhất
là với những công ty dịch vụ Con người là chủ thể chịu trách nhiệm cho từngyếu tố trong các chiến lược và hoạt động tiếp thị hay bán hàng của công ty
1.4.2.2 Tầm quan trọng của Marketing - Mix
` Doanh nghiệp muốn tồn tại thì dứt khoát phải có các hoạt động chứcnăng như: sản xuất, tài chính, quản trị nhân lực,… Nhưng các chức năng quản
lý sản xuất, quản lý tài chính, quản lý nhân lực chưa đủ đảm bảo cho doanhnghiệp tồn tại và lại càng không có gì đảm bảo chắc chắn cho sự thành đạtcủa doanh nghiệp, nếu tách rời nó khỏi một chức năng khác - chức năng kếtnối mọi hoạt động của doanh nghiệp với thị trường Chức năng này thuộc mộtlĩnh vực quản lý khác là quản lý marketing Chỉ có marketing mới có vai tròquyết định và điều phối các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với thịtrường, có nghĩa là đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theohướng thị trường, biết lấy thị trường – nhu cầu và ước muốn của khách hànglàm chỗ dựa vững chắc nhất cho mọi quyết định kinh doanh của doanh
Trang 13nghiệp 4P chính là những khía cạnh của marketing, dùng để thực hiện nhữngmục tiêu marketing của doanh nghiệp.
4P của doanh nghiệp chỉ cho doanh nghiệp thấy được khách hàng củadoanh nghiệp là ai? Họ tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp như thếnào? So với sản phẩm, dịch vụ của thương hiệu cạnh tranh, sản phẩm, dịch vụcủa công ty có những hạn chế và ưu thế gì? Công ty nên định giá sản phẩm,dịch vụ của mình như thế nào là phù hợp, nên tăng hay giảm giá với đốitượng khách hàng nào và vào khi nào? Làm thế nào để khách hàng biết, yêuthích và tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ của công ty?,…
Với các công ty kinh doanh dịch vụ, ngoài 4P trên còn có thêm 3Pkhác cũng không kém phần quan trọng là con người (people), dịch vụ kháchhàng (provision of customer service) và quá trình cung ứng dịch vụ (process
of service asembly) Các yếu tố này giúp công ty nên có những dịch vụ saubán hàng nào và cho những sản phẩm dịch vụ nào?; Loại dịch vụ nào doanhnghiệp có khả năng cung cấp nhất?; Công ty nên tự tổ chức lực lượng bánhàng hay dựa vào lực lượng khác? …
Cả 7P trên đều có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệphoạt động trong lĩnh vực dịch vụ nói chung và công ty Lạc Việt nói riêng,giúp công ty ngày cung ứng dịch vụ với chất lượng cao hơn, sức cạnh tranhcao hơn và đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng
1.5 Hệ thống Marketing – Mix và ảnh hưởng của hệ thống Marketing
– Mix đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
1.5.1 Chính sách sản phẩm và ảnh hưởng của chính sách sản phẩm
đến hoạt động của công ty
1.5.1.1 Nội dung của chính sách sản phẩm của các công ty nói
chung và các công ty quảng cáo nói riêng
a Khái niệm sản phẩm trong kinh doanh dịch vụ
Trang 14Sản phẩm là mọi thứ có thể chào bán trên thị trường để chú ý, muasắm, sử dụng hoặc tiêu dùng, có thể thoả mãn được một mong muốn hoặc nhucầu.
Sản phẩm là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất của marketing – mix.Chiến lược sản phẩm đòi hỏi phải đưa ra những quyết định hài hoà về danhmục sản phẩm, chủng loại sản phẩm, nhãn hiêu, thương hiệu,…
Khi nói về sản phẩm người ta thường quy nó về một hình thức tồn tạivật chất cụ thể và do đó nó chỉ bao hàm những thành phần hoặc yếu tố có thểquan sát được Trong marketing, sản phẩm được hiểu ở một quy mô rộng lớnhơn Sản phẩm là tất cả những cái, những yếu tố có thể thoả mãn nhu cầuhoặc ước muốn được đưa ra chào bán trên thị trường với mục đích thu hút sựchú ý mua sắm, sử dụng hoặc tiêu dùng Theo quan điểm này sản phẩm baohàm cả những vật thể hữu hình (hàng hoá) và vô hình (dịch vụ), bao hàm cảcác yếu tố vật chất và phi vật chất
Sản phẩm được hiểu là bao gồm cả hàng hóa và dịch vụ Một sản phẩm
có thể bao gồm một ý tưởng, một dịch vụ, một hàng hóa hay một sự kết hợpcác yếu tố này
Dịch vụ là một quá trình hoạt động bao gồm các nhân tố không hiệnhữu, giải quyết các mối quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng hoặc tàisản của khách hàng mà không có sự thay đổi quyền sở hữu Sản phẩm củadịch vụ có thể trong phạm vi của sản phẩm vật chất
Trên giác độ hàng hoá, dịch vụ là hàng hoá vô hình mang lại chuỗi giátrị thoả mãn một nhu cầu nào đó của thị trường
Những quyết định về sản phẩm phải luôn dựa vào bộ phận tiếp thị vàthông tin để có được thông tin về mọi mặt như phân tích về nhu cầu của thịtrường, thông tin về khách hàng,… để từ đó thiết kế sản phẩm cũng như đưa
Trang 15ra các quyết định có liên quan đến đặc tính của sản phẩm, chuỗi sản phẩm(product line), hệ sản phẩm (product mix), nhãn hiệu, bao bì,…
b Khái niệm sản phẩm quảng cáo
Quảng cáo là việc người bán sử dụng các phương tiện truyền thông
có trả tiền để truyền đi thông tin thuyết phục về sản phẩm, dịch vụ hay doanhnghiệp tới khách hàng và thúc đẩy họ mua
Quảng cáo là dịch vụ kinh doanh thông tin mang tính phi cá nhân vềsản phẩm (hàng hóa, dịch vụ) hoặc ý tưởng do một bên thuê mua thông quacác phương tiện thông tin đại chúng nhằm thuyết phục hoặc ảnh hưởng đếnhành vi của một số đối tượng nào đó
Quảng cáo là dịch vụ kinh doanh vì bên thuê quảng cáo phải trả tiền
để thông tin về sản phẩm hoặc ý tưởng của mình được một số đối tượng nào
đó biết đến Quảng cáo mang tính phi cá nhân vì nó nhắm đến một nhómngười chứ không chỉ riêng lẻ một cá thể nào đó, bên thuê mua quảng cáo cóthể là doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm, dịch vụ nào đó hay là một tổ chứcphi lợi nhuận, họ thuê quảng cáo qua các phương tiện truyền thông đại chúng,qua các kênh thông tin để được nhiều người biết đến mình hoặc sản phẩm củamình
Sản phẩm quảng cáo là sản phẩm của sự phối hợp các công đoạn từmục tiêu, ý đồ và có ý tưởng sáng tạo đến việc thực hiện các ý tưởng đó bằngcác phương tiện truyền thông để phục vụ mục đích truyền thông của kháchhàng
Sản phẩm quảng cáo bao gồm cả sản phẩm vật chất như pano, ápphích, bảng biển,…và các sản phẩm dịch vụ như tổ chức sự kiện, tư vấnquảng cáo, ý tưởng quảng cáo,…Tùy theo mục tiêu marketing, mục tiêutruyền thông của khách hàng mà có biện pháp sử dụng công cụ truyền thôngphù hợp và đạt hiệu quả cao
Trang 16c Nội dung chính sách sản phẩm của các công ty quảng cáo
Chính sách sản phẩm (product policy) là những chiến lược, kế hoạch,định hướng về sản phẩm của công ty, về tất cả những gi công ty đưa ra thịtrường để tạo ra sự chú ý của người tiêu dùng nhằm thoả mãn nhu cầu muasắm, sử dụng hay mong muốn nào đó Chính sách sản phẩm có vị trí đặc biệtquan trọng, là cơ sở giúp công ty xác định phương hướng đầu tư, thiết kế sảnphẩm sao cho phù hợp với thị hiếu khách hàng, hạn chế rủi ro, cũng như chỉđạo các chiến lược kinh doanh khác nhau liên quan đến sản phẩm
Vấn đề chính sách sản phẩm càng trở nên quan trọng và phức tạp đốivới những công ty đang tiến hành mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh haythâm nhập thị trường mới Khách hàng ở mỗi thị trường khác nhau sẽ cónhững đòi hỏi khác nhau, do đó việc thực hiện chính sách sản phẩm như thếnào cho phù hợp là công việc rất khó khăn Vì vậy, mỗi chính sách sản phẩmthường được áp dụng riêng cho từng loại sản phẩm
Chính sách đa dạng hóa sản phẩm Tùy theo mục đích mà công ty theođuổi có thể lựa chọn đa đạng hóa chủng loại sản phẩm như cung cấp nhiềuhơn các bảng biển, dịch vụ quảng cáo,…phục vụ cho nhiều đoạn thị trườngkhác nhau hay cung cấp một chủng loại trên thị trường rộng lớn
Chính sách chất lượng sản phẩm Sản phẩm, dịch vụ do công ty tạo ra
có chất lượng tốt hơn, đúng theo quy cách mà khách hàng yêu cầu, giá cả hợp
lý, hình ảnh khác biệt về đặc điểm, cung cách phục vụ so với sản phẩm, dịch
vụ cùng loại trên thị trường giúp khách hàng nhận biết sản phẩm, dịch vụ củadoanh nghiệp dễ dàng
Chính sách không ngừng cải tiến mẫu mã, hình ảnh sản phẩm, dịch vụ.Nghiên cứu, phát triển về kiểu dáng, hình ảnh, chất lượng sản phẩm, dịch vụngày càng hoàn thiện hơn, khác biệt hơn so với đối thủ cạnh tranh, nâng cao
vị trí thương hiệu trên thị trường
Trang 17Chính sách đẩy mạnh hơn các hoạt động trước và sau bán hàng, lànhững hoạt động về tìm hiểu nhu cầu, mong muốn về sản phẩm, dịch vụ củakhách hàng trước bán hàng và bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa, sau bán hàng.
1.5.1.2 Phạm vi ảnh hưởng của chính sách sản phẩm đến kết quả
hoạt động của công ty
a Ảnh hưởng của chính sách sản phẩm đối với định vị và thương hiệu
Tùy theo chính sách sản phẩm của doanh nghiệp mà có phương phápđịnh vị phù hợp cho thương hiệu sản phẩm
Nếu chính sách sản phẩm, dịch vụ của công ty là sản xuất sản phẩm vàcung cấp dịch vụ độc đáo khác biệt với các sản phẩm, dịch vụ khác hay dẫnđầu về giá thành thấp nhất hay khai thác thị trường chuyên biệt thì sẽ lựa chọnđịnh vị rộng cho thương hiệu sản phẩm
Nếu chính sách sản phẩm của công ty là theo một lợi ích chuyên biệtnào đó tức là sản phẩm hứa hẹn một lợi ích duy nhất ví dụ như tide trắngsạch, comfort thơm lâu,…; hay theo một thuộc tính hoặc một đặc điểm nào đónhư ôtô chạy bằng xăng thay bằng diezen,…; theo công dụng hay ứng dụngtức là sản phẩm tốt nhất cho một ứng dụng nào đó như Nike là giầy tốt nhấtcho những cuộc đua,…; theo đối thủ cạnh tranh tức là sản phẩm có điểmmạnh hay điểm độc đáo so với những sản phẩm cạnh tranh như Coca – Cola
đỏ rực còn Pepsi xanh, Kodak màu vàng còn Konica xanh nước biển,…; theochủng loại một sản phẩm nào đó như Biti’s là dép xang đan, Kodak là phimchụp hình,…; theo chất lượng và giá cả như Sphone là “tiết kiệm hơn và côngbằng hơn”; hay theo người sử dụng như Diana siêu mỏng định vị cho nhómphụ nữ năng động, thì sẽ lựa chọn định vị đặc thù cho thương hiệu sản phẩm
Nếu chính sách sản phẩm là theo chất lượng, nâng cao, giữ nguyên haygiảm chất lượng (giảm bớt tính năng cho phù hợp với nhu cầu thị trường)
Trang 18doanh nghiệp có thể lựa chọn định vị giá trị cho thương hiệu sản phẩm như:Đắt tiền hơn để có chất lượng cao hơn, giữ nguyên giá nhưng chất lượng caohơn, giữ nguyên chất lượng song giá rẻ hơn, giảm chất lượng song giá rẻ đirất nhiều và chất lượng cao hơn song giá lại rẻ hơn.
Như vậy, chính sách sản phẩm ảnh hưởng trực tiếp đến việc định vị vàthương hiệu của công ty trên thị trường Sản phẩm, dịch vụ càng tốt thì càngchiếm được cảm tình của khách hàng, thương hiệu càng thành công, nổi tiếng
và càng in đậm trong tâm trí khách hàng
b Ảnh hưởng của chính sách sản phẩm đến các chữ P khác
Sản phẩm là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất trong hệ thốngmarketing – mix , nó là tất cả các lợi ích mà công ty định chào bán cho kháchhàng và họ cảm nhận được Tuy nhiên, trên thị trường kinh doanh nhu cầukhách hàng, thị hiếu, công nghệ, tình hình cạnh tranh luôn thay đổi công ty sẽluôn phải có chính sách sản phẩm phù hợp để tồn tại và phát triển
Nhưng, nếu chỉ quan tâm tới chính sách sản phẩm không cũng chưa
đủ, khách hàng sẽ không biết công ty có sản phẩm mới nếu không có chươngtrình truyền thông phù hợp, khách hàng cũng không thể mua được hoặc phảikhó khăn mới mua được sản phẩm nếu sản phẩm không được phân phối đếnđịa điểm tiêu thụ và xác định giá bán như thế nào là phù hợp vừa thỏa mãnkhách hàng mà vẫn tăng doanh thu, lợi nhuận cho công ty? Tất cả những điều
đó cho thấy, mỗi chính sách sản phẩm đưa ra đều có tác động trực tiếp đếncác chữ P khác trong marketing – mix của công ty
Tùy vào mục tiêu kinh doanh để xây dựng chính sách sản phẩm phùhợp, và tùy theo mỗi chính sách sản phẩm công ty cần xây dựng các chiếnlược truyền thông có hiệu quả để sản phẩm được khách hàng, công chúng biếtđến và dần có nhu cầu sử dụng sản phẩm, hoặc ngay khi có nhu cầu sử dụng
Trang 19sản phẩm, dịch vụ thì sẽ nhớ ngay đến sản phẩm, dịch vụ của công ty, mỗichính sách sản phẩm mới sẽ cần có một chiến lược truyền thông mới, chọnphương tiện truyền thông nào là phù hợp với nhóm khách hàng tiềm năng,khách hàng hiện có hay tất cả công chúng?; Chọn công cụ truyền thông nào,quảng cáo, khuyến mại hay bán hàng trực tiếp?,…là những câu hỏi luôn cầnđặt ra cho mỗi chính sách sản phẩm mới của công ty; Cần xác định các kênhphân phối và giá cả phù hợp để sản phẩm có thể dễ dàng đến tay khách hàngvới giá cả hợp lý mà khách hàng chấp nhận được Với chính sách sản phẩmmới này thì công ty có thể bán ở đâu, bán được khoảng bao nhiêu sản phẩm,dịch vụ ở địa điểm đó và bán với mức giá bao nhiêu ở các đoạn thị trườngkhác nhau?,
Như vậy, sản phẩm là yếu tố quan trọng nhất trong 4P nhưng các Pkhác trong marketing – mix cũng không kém phần quan trọng tạo nên thươnghiệu, doanh thu và lợi nhuận cho công ty, đảm bảo cho quá trình kinh doanhcủa công ty được phát triển bền vững Do đó, khi đưa ra mỗi chính sách sảnphẩm mới cần xem xét mối quan hệ hay ảnh hưởng của nó đến các chữ Pkhác để có thể tối đa hóa lợi nhuận và nâng cao hình ảnh thương hiệu của sảnphẩm, dịch vụ và công ty trong tâm trí khách hàng
1.5.2 Chính sách giá
1.5.2.1 Khái niệm giá
Trong trao đổi và giao dich giá cả được gọi bằng những tên khác nhau,song thuật ngữ này luôn là biểu tượng về giá trị, lợi ích kinh tế của sản phẩmđược tính bằng tiền “Giá là lợi ích được đo bằng tiền”; “Giá cả là cách thứcthể hiện giá trị của sản phẩm” (Hermawan Kartajaya Marketing tại Sao Kim.Trang 248)
Trang 20Giá là biến số duy nhất của Marketing – mix tạo doanh thu cho doanhnghiệp Các quyết định về giá luôn gắn với kết quả tài chính của doanhnghiệp.
Thông tin về giá luôn giữ vị trí quan trọng trong việc đề xuất các quyếtđịnh kinh doanh Quản trị giá được coi là một trọng tâm của quản trịmarketing
Giá là yếu tố có tác động nhanh trong marketing – mix, đồng thời giáchịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, và ảnh hưởng đến nhiều yếu tố như lợinhuận, doanh thu, thị phần, sản lượng Giá cũng là một yếu tố mà khách hàngcân nhắc trước khi quyết định mua dịch vụ
Giá cũng là một trong những yếu tố linh hoạt nhất của marketing – mix,trong đó nó có thể thay đổi nhanh chóng, không giống như các tính chất củasản phẩm và những cam kết của kênh Đồng thời việc định giá và cạnh tranhgiá là cả những vấn đề được đặt ra cho nhiều uỷ viên quản trị kênh
1.5.2.2 Vai trò của chính sách giá
Giá có vai trò quan trọng đối với chiến lược marketing Vào giai đoạnđầu của chu kỳ sống của sản phẩm, dịch vụ, giá thường được dùng để xâmnhập vào một thị trường mới (Sản phẩm, dịch vụ có giá thấp hơn so với đốithủ cạnh tranh sẽ thu hút khách hàng) Ở giai đoạn sau của chu kỳ sống củasản phẩm, dịch vụ giá được dùng làm phương tiện duy trì thị phần, để bảo vệ
vị trí hiện có và chống lại các đối thủ cạnh tranh Hơn nữa, giá là phương tiện
để doanh nghiệp thực hiện mục tiêu tài chính, đem lại lợi nhuận cho doanhnghiệp
Giá là một thành tố quan trọng của chiến lược marketing hỗn hợp Sửdụng giá có thể đạt được các mục tiêu sau:
Trang 21Đầu tiên là sự tồn tại của sản phẩm, dịch vụ trên thị trường Trong thịtrường cạnh tranh gay gắt thì doanh nghiệp cần đặt giá thấp hơn so với đối thủcạnh tranh để tăng khả năng cạnh tranh.
Thứ hai, giá là công cụ để tối đa hoá lợi nhuận Trong những điều kiệnthuận lợi doanh nghiệp có thể đặt giá cao để thu được lợi nhuận Ví dụ nhưkhi doanh nghiệp có vị thế độc quyền hay dẫn đầu thị trường thì họ có thểthực thi chính sách này Khi công ty Quảng cáo Lạc Việt lần đầu tiên áp dụngbảng quảng cáo điện tử PNV tại Việt Nam, họ là nhà cung cấp duy nhất sửdụng công nghệ mới nhất này Do đó họ cũng theo đuổi chiến lược hớt vángnhằm tối đa hóa lợi nhuận
Thứ ba, dùng giá để chiếm lĩnh thị trường Doanh nghiệp đặt giá thấp
để mở rộng thị phần nhằm bành trướng, loại bỏ các đối phương khác yếu hơn
ra khỏi thị trường
Thứ tư, có thể dùng giá để thể hiện chất lượng hàng đầu Khi doanhnghiệp có những lợi thế nhất định, họ có thể đặt giá cao để chứng tỏ chấtlượng hàng đầu
1.5.2.3 Nội dung của chính sách giá
a Định giá chào hàng
Khi doanh nghiệp tung sản phẩm mới vào thị trường, họ có thể chọnmột trong hai kiểu chiến lược giá là: Chiến lược giá hớt phần ngon và chiếnlược giá bám chắc thị trường
Khi áp dụng chiến lược giá hớt phần ngon, các doanh nghiệp thườngđặt giá bán sản phẩm của mình ở mức cao nhất có thể cho những đoạn ngườimua sẵn sàng chấp nhận sản phẩm mới đó Khi mức tiêu dùng giảm xuống họ
có thể giảm giá để thu hút những khách hàng vốn nhạy cảm về giá Bằng cáchnày, doanh nghiệp bán sản phẩm mới sẽ đạt được mức doanh thu và lợi nhuậncao ngay ở giai đoạn đầu của chu kỳ sống sản phẩm
Trang 22Tuy nhiên, chiến lược giá hớt phần ngon chỉ có thể áp dụng trong điềukiện mà: Mức cầu sản phẩm mới cao, khách hàng không nhạy cảm về giá; Giáthành đơn vị sản phẩm khi sản xuất hàng loạt nhỏ, tổng chi phí phát sinhkhông đủ triệt tiêu hết lợi nhuận của doanh nghiệp; Giá lúc đầu cao khôngnhanh chóng thu hút thêm những đối thủ cạnh tranh mới; Và giá cao góp phầntạo nên hình ảnh về một sản phẩm có chất lượng cao.
Với các doanh nghiệp quảng cáo, có thể áp dụng chiến lược giá hớtphần ngon khi áp dụng công nghệ mới nhất, độc quyền vào sản phẩm, dịch vụquảng cáo, hay sản phẩm và dịch vụ quảng cáo của họ hoàn hảo hơn dịch vụcủa các doanh nghiệp khác Chiến lược này có thể áp dụng với hầu hết cácsản phẩm, dịch vụ trong doanh nghiệp kinh doanh quảng cáo khi sản phẩmdịch vụ đó có chất lượng cao, độc đáo hơn hẳn trên thị trường quảng cáo
Cạnh đó, nhiều doanh nghiệp lại ấn định mức giá bán cho sản phẩmmới của họ thấp nhằm theo đuổi mục tiêu “giành được thị phần lớn” và lợinhuận trong dài hạn Sản phẩm mới của những doanh nghiệp này thường cótuổi thọ dài Nhờ vào việc bán giá ban đầu thấp, thị phần sẽ gia tăng nhanhchóng, họ sẽ khai thác được hiệu quả theo quy mô, giá có thể tiếp tục giảmxuống mà vẫn thu được lợi nhuận mong muốn Các doanh nghiệp áp dụngchiến lược này khi: Thị trường rất nhạy cảm về giá, giá thấp có sức thu hútkhách hàng với số lượng lớn; Chi phí sản xuất và phân phối hạ xuống cùngvới việc tích lũy được kinh nghiệm sản xuất; Giá thấp sẽ khuyến khích cạnhtranh thực tế và tiềm ẩn
Các doanh nghiệp kinh doanh quảng cáo áp dụng chiến lược này vớicác sản phẩm như pano tấm lớn, dịch vụ quảng cáo trên truyền hình, trên báochí, hay quảng cáo trên các bảng điện tử mà thời gian quảng cáo khoảng 2năm trở lên,…
b Điều chỉnh giá
Trang 23Có 6 chiến lược điều chỉnh giá cơ bản là: Định giá hai phần, định giátrọn gói, định giá theo nguyên tắc địa lý, chiết giá và bớt giá, định giá khuyếnmại và định giá phân biệt.
Chiến lược định giá hai phần áp dụng cho các doanh nghiệp kinh doanhdịch vụ Một phần của mức giá người tiêu dùng chi trả cho người cung ứng đểđược quyền sử dụng sản phẩm ở mức tối thiểu, phần thứ hai là họ chi trả cho
những tiêu dùng vượt quá mức tối thiểu Ở các doanh nghiệp kinh doanh dịch
vụ quảng cáo thì phần giá thứ hai chính là phần chi trả cho các dịch vụ phụthêm như căng treo lại bạt pano bị rách do điều kiện thời tiết hay thay đổi củakhách hàng, các dịch vụ ăn uống, vui chơi giải trí trong tổ chức sự kiện,…
Chiến lược định giá trọn gói tức là thay vì bán các sản phẩm riêng lẻ,người bán sẽ tập hợp một số sản phẩm, dịch vụ để bán chúng thành bộ hoặctrọn gói Doanh nghiệp quảng cáo đa sản phẩm, dịch vụ có thể kết hợp quảngcáo pano, bảng biển và quảng cáo truyền hình hay tổ chức lễ ra mắt cho mộtsản phẩm, doanh nghiệp hay tổ chức nào đó,…
Ở các vùng địa lý khác nhau mức giá cho sản phẩm, dịch vụ có thểkhác nhau do chi phí vận chuyển, thu nhập, văn hóa xã hội, thị trường,…Quảng cáo cho bảng xoay ba mặt lật - Trivision ở các thành phố lớn sẽ có giácao hơn ở các tỉnh lẻ,…
Chiết giá và bớt giá được doanh nghiệp áp dụng để khuyến khíchkhách hàng trong việc mua và thanh toán Các doanh nghiệp quảng cáo có thểgiảm giá cho một hợp đồng quảng cáo dài hạn, giảm giá bán cho các sảnphẩm quảng cáo mà khách hàng thanh toán bằng tiền mặt hay thanh toánnhanh cho các hóa đơn mua hàng
Chiến lược định giá khuyến mại được thực hiện trong một thời giannhất định nhằm mục đích hỗ trợ cho các hoạt động xúc tiến bán
Trang 24Khi áp dụng giá phân biệt, doanh nghiệp sẽ bán những sản phẩm cùngloại với những giá khác nhau cho các khách hàng khác nhau Ví dụ như vị tríđặt pano quảng cáo đẹp, có tầm nhìn xa, rộng và thoáng, bắt mắt sẽ có giá caohơn những pano ở vị trí có tầm nhìn gần, khó bắt mắt hơn,…
c Thay đổi giá
Trong nhiều trường hợp do biến đổi của môi trường kinh doanh, doanhnghiệp buộc phải chủ động tăng hoặc cắt giảm giá
Doanh nghiệp cần tăng giá khi chi phí tăng lên để ổn định lợi nhuậnhay khi cầu tăng quá mức so với cung, doanh nghiệp có thể tăng giá để giatăng lợi nhuận
Khi tỷ phần thị trường giảm sút doanh nghiệp cần giảm giá để tăng thịphần, khi dư thừa năng lực sản xuất hay khi cần khống chế thị trường doanhnghiệp cũng phải chủ động cắt giảm giá để đảm bảo cho hoạt động kinhdoanh của mình
d Cạnh tranh qua giá
Khi phải đối phó với việc đối thủ cạnh tranh thay đổi giá doanhnghiệp cần cẩn thận xem xét giai đoạn chu kỳ sống của sản phẩm, tầm quantrọng của mặt hàng đang bị cạnh tranh trong danh mục sản phẩm của mình,nguồn lực của đối thủ cạnh tranh, quan hệ giữa giá thành và khối lượng, ý đồcủa đối thủ cạnh tranh, phản ứng có thể có của những đối thủ cạnh tranh khác
và những cơ hội khác của doanh nghiệp để có biện pháp đối phó hợp lý, kịpthời
Trong mỗi trường hợp, doanh nghiệp có thể giảm giá thấp hơn đốithủ cạnh tranh nếu đủ năng lực tài chính và không vi phạm pháp luật, giữnguyên giá nhưng đẩy mạnh quảng cáo, khuyến mại hay nâng giá đồng thờicải tiến chất lượng, mẫu mã sản phẩm để tăng hình ảnh cạnh tranh cho doanhnghiệp
Trang 251.5.3 Chính sách phân phối
1.5.3.1 Khái niệm và vai trò của chính sách phân phối
Theo quan điểm marketing, kênh phân phối là một tập hợp các doanhnghiệp và cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá trình đưahàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng
Kênh phân phối có vai trò cơ bản là giúp doanh nghiệp đưa sản phẩmđến người tiêu dùng với đúng mức giá họ có thể mua, đúng chủng loại, sốlượng, chất lượng họ cần, đúng thời gian và địa điểm mà họ yêu cầu Nó làcon đường mà hàng hóa được lưu thông từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng.Nhờ có mạng lưới kênh phân phối mà khắc phục được những khác biệt vềthời gian, địa điểm và quyền sở hữu giữa người sản xuất với người tiêu dùngcác hàng hóa và dịch vụ
1.5.3.2 Nội dung của chính sách phân phối nói chung
Dựa vào đặc điểm của sản phẩm, đặc điểm của thị trường, đặc điểm củacác trung gian thương mại, dựa vào khả năng nguồn lực của doanh nghiệp,…
mà doanh nghiệp quyết định lựa chọn kênh phân phối nào cho phù hợp
Với các hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng cá nhân, tùy tính chất của hànghóa, dịch vụ doanh nghiệp có thể sử dụng một trong bốn kênh phân phối sau:
Trang 26Hình 1.2: Sơ đồ các kênh cho hàng hóa tiêu dùng cá nhân
Ngoài ra còn có những kênh nhiều cấp hơn, tuy nhiên kênh càng nhiều cấp càng ít có khả năng kiểm soát nó
Đối với hàng hóa và dịch vụ công nghiệp cũng có bốn kênh phổ biến như sau:
Hình 1.3: Các kênh phân phối phổ biến cho hàng hóa công nghiệp
.
Nhà SXNhà SX
Nhà SX
Người TDNhà bán lẻ
Nhà B.buôn
Người TDNhà bán lẻ
Nhà B.buônĐại lýNhà SX
Nhà bán lẻ
Người TDNgười TD
Người
SDCN
Người SDCN
Nhà PPCN
Người SDCN
Đại lý
Người SDCN
Nhà PPCNĐại lýNhà SXNhà SX
Trang 27Chú giải:
Nhà SX – Nhà sản xuất
Nhà B.buôn – Nhà bán buôn
Người TD - Người tiêu dùng
Nhà PPCN – Nhà phân phối công nghiệp
Người SDCN - Người sử dụng công nghiệp
Trong một số trường hợp, nhà sản xuất sử dụng phân phối song song, một dạng phân phối mà ở đó doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu của những người mua khác nhau nhờ sử dụng hai hoặc nhiều loại kênh khác nhau cho cùng mộtloại sản phẩm So với kênh phân phối hàng tiêu dùng thì kênh phân phối sản phẩm và dịch vụ công nghiệp đảm nhiệm nhiều chức năng phân phối do đặc trưng của sản phẩm (tư liệu sản xuất) và thị trường (người tiêu dùng công nghiệp)
1.5.3.3 Nội dung của chính sách phân phối áp dụng cho các công
ty quảng cáo nói riêng
Trong kinh doanh quảng cáo có ba loại hình công ty quảng cáo, mỗiloại công ty này tùy theo sản phẩm, dịch vụ quảng cáo họ kinh doanh mà ápdụng các kênh phân phối khác nhau
Một công ty quảng cáo đa dịch vụ có thể cung cấp cho khách hàng củamình tất cả các dịch vụ cần thiết để phát triển, sáng tạo và thực hiện một mụcquảng cáo hoàn chỉnh Vì hoạt động kinh doanh của họ khá hoàn chỉnh nênsản phẩm, dịch vụ của họ có thể được cung cấp trực tiếp cho bên thuê quảngcáo, dịch vụ mà không phải thông qua một cấp trung gian nào, hoặc qua mộtcấp trung gian nếu nó cung cấp một số phần của sản phẩm hay dịch vụ chocác công ty quảng cáo chuyên biệt hay các đơn vị quảng cáo đơn lẻ để hoànthiện các sản phẩm, dịch vụ quảng cáo cho khách hàng của các đơn vị, công
ty này
Trang 28Những đơn vị quảng cáo đơn lẻ có thể chỉ là một phòng sáng tạo haymột cơ quan mua phương tiện truyền thông và cả những công ty quảng cáochuyên biệt (chuyên cung cấp những sản phẩm, dịch vụ quảng cáo trong cáclĩnh vực chuyên môn như y tế, kinh doanh, các khách hàng có văn hóa, ngônngữ khác) đều cung cấp trực tiếp sản phẩm, dịch vụ của họ cho khách hàng.
Ngày nay, trong mọi lĩnh vực nói chung hay trong quảng cáo nói riêng,theo sự phát triển của kinh tế, nhiều công ty, đơn vị quảng cáo không chỉ hoạtđộng kinh doanh đơn lẻ mà có sự hỗ trợ lẫn nhau Nhiều khi các công tyquảng cáo đa dịch vụ cung cấp sản phẩm, dịch vụ của minh cho các đơn vịhay công ty quảng cáo khác, nhưng cũng có khi họ cần các công ty đơn vịquảng cáo khác hỗ trợ để hoàn thành sản phẩm, dịch vụ của mình theo nhucầu của khách hàng, khi đó sẽ có nhiều kênh phân phối khác nhau, nhưngkênh phân phối chủ yếu của hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnhvực quảng cáo đều có hình thức phân phối trực tiếp tới tay khách hàng
1.5.4 Chính sách xúc tiến hỗn hợp
1.5.4.1 Khái niệm và bản chất của chính sách xúc tiến hỗn hợp
Trong các doanh nghiệp dịch vụ hay quảng cáo, chức năng xúc tiến của
họ cũng bao gồm việc truyền các thông điệp đến khách hàng quá khứ, kháchhàng hiện tại và khách hàng tiềm năng Mức truyền thông tối thiểu nhất làkhách hàng cần nhận được thông tin về sự tồn tại của sản phẩm, dịch vụ vàmục đích cuối cùng là thuyết phục họ tin tưởng và mua sản phẩm, dịch vụ củadoanh nghiệp
Chiến lược xúc tiến hỗn hợp là một trong bốn nhóm công cụ chủ yếucủa marketing – mix mà doanh nghiệp có thể sử dụng để tác động vào thịtrường mục tiêu nhằm đạt mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp Bản chấtcủa các hoạt động xúc tiến chính là truyền tin về sản phẩm và doanh nghiệp
Trang 29tới khách hàng để thuyết phục họ mua Vì vậy có thể gọi đây là các hoạt độngtruyền thông marketing.
Xúc tiến hỗn hợp bao gồm các thành tố như quảng cáo, quan hệ vớicông chúng, bán hàng trực tiếp và khuyến mại Mỗi thành tố này lại bao gồmcác thành tố con, tuỳ theo mục tiêu kinh doanh và mục tiêu marketing, mỗidoanh nghiệp sẽ lựa chọn cho mình phương thức truyền thông thích hợp
1.5.4.2 Tầm quan trọng của chính sách xúc tiến hỗn hợp
Chiến lược xúc tiến là tiến trình xây dựng và duy trì một hỗn hợptruyền thông nhằm vào thị trường mục tiêu để thu hút khách hàng, đóng gópvào mục đích tiếp thị ngắn hạn cũng như dài hạn của công ty
Xúc tiến hỗn hợp là một trong bốn phần tử cấu thành chủ yếu củamarketing – mix Những người làm marketing phải biết cách sử dụng quảngcáo, kích thích tiêu thụ, marketing trực tiếp, quan hệ quần chúng và bán hàngtrực tiếp để thông báo đến khách hàng mục tiêu sự tồn tại và giá trị của sảnphẩm, dịch vụ
Xúc tiến thực chất là quá trình truyền thông marketing, có các vai trò làthông báo, thuyết phục và nhắc nhở Qua các nội dung thông điệp, doanhnghiệp thông báo cho khách hàng về sự có mặt của sản phẩm trên thị trường,thuyết phục họ về các ưu việt của sản phẩm so với các sản phẩm cạnh tranh,
và nhắc nhở họ nhớ đến sản phẩm khi có nhu cầu
Thông qua chiến lược xúc tiến hỗn hợp, doanh nghiệp thông tin chokhách hàng tiềm năng biết được những lợi thế của sản phẩm Do vậy xúc tiếngiúp doanh nghiệp tăng doanh số của các sản phẩm hiện tại, tạo ra sự nhậnbiết và ưa thích của khách hàng đối với sản phẩm mới, và xây dựng một hìnhảnh tốt đẹp về doanh nghiệp
Một chiến lược truyền thông hiệu quả giúp doanh nghiệp xây dựngnhận thức tích cực về thương hiệu và hình ảnh thương hiệu, góp phần hình
Trang 30thành nên cấu trúc nhận biết về thương hiệu trong tâm trí khách hàng, tácđộng đến thái độ phản hồi của khách hàng và làm tăng giá trị thương hiệu.
Trong các doanh nghiệp quảng cáo, xúc tiến hỗn hợp cũng đóng vai tròrất quan trọng Đó chính là công cụ giúp các doanh nghiệp đến được vớikhách hàng, giúp khách hàng biết được những tính năng ứng dụng, tính ưuviệt và lợi ích của sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp Giúp những kháchhàng có nhu cầu về mỗi loại sản phẩm hay dịch vụ dễ dàng biết và tìm đếnvới doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh doanh trên thịtrường, xây dựng thương hiệu của mình ngày càng mạnh, được khách hàng ưachuộng Việc xây dựng được một chiến lược truyền thông hiệu quả cũng giúpdoanh nghiệp xây dựng mối quan hệ thân thiết cũng như duy trì lâu dài mốiquan hệ này với khách hàng
1.5.4.3 Các công cụ sử dụng trong truyền thông marketing
a Quảng cáo
Quảng cáo là hoạt động nhằm giới thiệu sản phẩm (dịch vụ) của doanhnghiệp cho khách hàng, làm cho khách hàng chú ý đến, quen biết, có thiệncảm và ngày càng có nhiều thiện cảm hơn đối với sản phẩm của doanhnghiệp Như vậy, mục đích của quảng cáo là thu hút, lôi cuốn khách hàngbằng các biện pháp giới thiệu, truyền tin thích hợp Chính sách quảng cáo củamột thời kì kinh doanh chiến lược gắn với chu kì sống của sản phẩm, thựctrạng và dự báo thị trường, vị trí của doanh nghiệp, mục tiêu cụ thể của quảngcáo,…
Đối tượng của quảng cáo có thể là doanh nghiệp, có thể là sản phẩmcủa doanh nghiệp Cả hai đối tượng trên đều cần được quảng cáo và có sự tácđộng hỗ trợ lẫn nhau Trong đó, thông thường quảng cáo thì doanh nghiệptiến hành thường xuyên, tác động lâu dài tới khách hàng, quảng cáo sản phẩm
Trang 31gắn với thời kì trước, trong khi sản xuất và cung cấp một loại sản phẩm nàođó.
Ngân sách quảng cáo phải được xác định theo phương pháp thích hợp:
- Theo tỉ lệ cố định trên doanh thu của kì đã qua
- Theo tỉ lệ không cố định, thậm chí có thể tăng tỉ lệ dành cho ngânsách quảng cáo trong trường hợp doanh thu giảm
- Theo mục tiêu quảng cáo: thông qua việc xác định mục tiêu quảngcáo và thực hiện mục tiêu quảng cáo
Các phương tiện quảng cáo hiện nay rất phong phú, đa dạng, nên phảixuất phát từ đặc điểm của sản phẩm mà lựa chọn và kết hợp các phương tiệnkhác nhau như báo chí, phát thanh, truyền hình, hội chợ, triển lãm,…Tuỳthuộc từng loại phương tiện quảng cáo mà đặt ra vấn đề lựa chọn thời điểm vàđịa điểm quảng cáo thích hợp
Các yêu cầu quan trọng nhất đặt ra cho quảng cáo là:
- Dung lượng quảng cáo phải cao thì thông tin quảng cáo phải ngắngọn, cụ thể, rõ ràng,…
- Tính nghệ thuật phải cao nhằm thu hút sự quan tâm của khách hàng.Muốn vậy, các thông tin cần truyền đạt hấp dẫn, gây được sự chú ý của kháchhàng
- Thông tin phải đảm bảo độ tin cậy cao sẽ làm tăng tính hiệu quả củaquảng cáo
Đánh giá hiệu quả quảng cáo thông qua việc xác định kết quả mà hoạtđộng quảng cáo mang lại Mặt khác, tiến hành hoạt động quảng cáo phát sinhchi phí rất lớn nên xác định chi phí kinh doanh cho hoạt động quảng cáo cũng
là một vấn đề quan trọng cần phải chú ý tới
Trang 32b Quan hệ công chúng
Quan hệ với công chúng là một công cụ xúc tiến gián tiếp nhằm mụcđích xây dựng một hình ảnh tốt đẹp trong con mắt công chúng về doanhnghiệp và sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp
Đối với những doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ, do dịch vụ có tính
vô hình và đánh giá về nó mang nhiều tính chủ quan nên quan hệ với côngchúng có vai trò quan trọng, nó thúc đẩy hình thức thông tin truyền miệng vềdoanh nghiệp và sản phẩm và dịch vụ
Quan hệ với công chúng có khả năng ảnh hưởng đến mức độ biết đếncủa công chúng và một phần chi phí của quảng cáo Công ty không phải trảtiền mua không lượng và thời lượng của phương tiện truyền thông mà chỉphải trả tiền cho đội ngũ nhân viên để biên soạn, phát hành các tài liệu và xử
lý những tình huống xảy ra Nếu công ty xây dựng được một tư liệu hay thì cóthể được tất cả các phương tiện truyền tin sử dụng và khi đó giá trị quảng bácủa nó rất cao
c Bán hàng trực tiếp
Bán hàng trực tiếp (bán hàng cá nhân) là một thành tố quan trọngtrong chiến lược truyền thông hỗn hợp Đây là dạng truyền thông hai chiều, làquá trình tương tác trực tiếp giữa khách hàng và người bán hàng Qua đóngười bán tìm hiểu, khám phá và đáp ứng các nhu cầu khác nhau của kháchhàng Qua bán hàng cá nhân có thể xây dựng mối quan hệ thân thiết, lâu dàigiữa khách hàng và doanh nghiệp
Bán hàng trực tiếp bao gồm những mối quan hệ trực tiếp giữa ngườibán và các khách hàng hiện tại và tiềm năng Nó là hình thức giao tiếp mangtính chọn lọc cao, cho phép người bán phản ứng linh hoạt đáp ứng các nhucầu khác nhau của khách hàng, tiết kiệm thời gian cho họ
Trang 33Trong bán hàng trực tiếp, người bán hàng không chỉ là người phátngôn, mà còn là tai mắt của nhà cung cấp sản phẩm, dịch vụ vì họ thườngxuyên tiếp xúc với khách hàng Họ có thể cung cấp các nguồn thông tinmarketing một cách chính xác về nhu cầu, thị hiếu, mong muốn, khen chê củakhách hàng đối với dịch vụ, về các hoạt động cạnh tranh trên thị trường, Dovậy doanh nghiệp cần duy trì một lực lượng bán hàng, tổ chức và quản lý họmột cách khoa học.
Mục tiêu khuyến mại thay đổi tuỳ theo thị trường mục tiêu Đối vớikhàch hàng cuối cùng, mục tỉêu khuyến mại là khuyến khích tăng mức sửdụng hay dùng thử với khách hàng tương lai (khách hàng chưa dùng hoặcđang dùng thương hiệu khác) Đối với các trung gian phân phối, mục tiêu củakhuyến mại là khuyến khích bán hàng vào các thời kỳ ngoài vụ đông kháchhoặc phản ứng lại chiến lược xúc tiến của đối thủ cạnh tranh
Đối với khách hàng cuối cùng có thể sử dụng các công cụ khuyến mạinhư: dùng thử miễn phí, tham quan, tư vấn, khuyến khích bằng giảm giá,phiếu thưởng giảm giá, quà tặng, Đối với các trung gian trong kênh phânphối có thể sử dụng các công cụ khuyến mại như: Tăng tỉ lệ hoa hồng trongmột thời gian ngắn, tổ chức thi đua bán hàng nhằm khuyến khích các nhânviên bán hàng nỗ lực bán hàng
Trang 341.5.5 Chính sách dịch vụ khách hàng
Thực chất của dịch vụ khách hàng là hướng các hoạt động của doanhnghiệp dịch vụ vào khách hàng, đó là quá trình phân tích, tìm hiểu và giảiquyết mối quan hệ giữa tổ chức dịch vụ và khách hàng mục tiêu Khách hàngngày càng trở nên phức tạp, nhu cầu mong muốn của họ ngày càng chi tiết,tinh tế hơn thì chất lượng nhu cầu cũng cao hơn Do đó, nhiều công ty đãnghiên cứu cải tiến dịch vụ khách hàng nhằm giành lợi thế cạnh tranh trongkinh doanh
Việc thực hiện dịch vụ khách hàng có quan hệ chặt chẽ tới việc phânphối các yếu tố của marketing – mix, những yếu tố này hợp thành hậu cần củadịch vụ khách hàng Dịch vụ khách hàng ngày càng trở nên quan trọng, đặcbiệt đối với những loại dịch vụ cạnh tranh gay gắt và nhu cầu tăng trưởngchậm Với sự thay đổi nhu cầu thị trường thường xuyên, yếu tố cơ bản đểphân biệt các công ty dịch vụ là chất lượng phục vụ khách hàng, người tiêudùng rất nhạy cảm với vấn đề này Các đối thủ thường xem dịch vụ kháchhàng như một vũ khí cạnh tranh lợi hại và không ít doanh nghiệp đã gặt háithành công
Những yếu tố chi phối dịch vụ khách hàng là:
+ Sự thay đổi mức độ mong đợi: người tiêu dùng đã thay đổi mức độmong đợi theo chiều hướng tăng lên, dịch vụ nhiều giá trị hơn
+ Vị trí của dịch vụ khách hàng ngày càng trở nên quan trọng hơn.+ Phục vụ cho nhu cầu của chiến lược quan hệ Dịch vụ khách hàngthiết lập được các mối quan hệ với khách hàng và duy trì lâu dài thông quaviệc tăng giá trị dịch vụ cho người tiêu dùng một cách hệ thống
+ Sự thay đổi nhận thức về dịch vụ khách hàng trong các doanh nghiệpdịch vụ Các doanh nghiệp dịch vụ đều thừa nhận một phạm vi rộng lớn củadịch vụ khách hàng
Trang 35Chính sách dịch vụ khách hàng: Các công ty luôn quan tâm để xâydựng chích sách dịch vụ khách hàng hiệu quả bằng những công việc sau:
+ Xác định nhiệm vụ của dịch vụ Doanh nghiệp cần bảo đảm nhữngcam kết về giá trị dịch vụ cung ứng cho khách hàng
+ Xác định mục tiêu của dịch vụ khách hàng Xác định vị trí dịch vụkhách hàng, xác định những yếu tố quan trọng của dịch vụ khách hàng, sựbiến động của các yếu tố trên các loại thị trường mục tiêu
Trang 36Chương 2 Thực trạng áp dụng hệ thống Marketing – Mix tại công ty cổ phần
Quảng cáo & Thương mại Lạc Việt
2.1 Đặc điểm tổ chức kinh doanh của công ty
2.1.1 Khái quát tổng quát về của công ty
2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
Được hình thành tử ngày 31/02/2003 với số vốn điều lệ là1.800.000.000 VNĐ theo đăng ký kinh doanh số 0103003461, Công ty cổphần Quảng cáo và Thương mại Lạc Việt đã phát triển ngày càng lớn mạnh
và đang dần khẳng định vị trí, uy tín của mình trên thị trường quảng cáo ViệtNam
Năm 2003, Công ty cổ phần Quảng cáo Lạc Việt được thành lập vàhoạt động kinh doanh với chức năng là làm dịch vụ trong các loại hìnhquảng cáo như: Pano tấm lớn, biển hiệu, biển đèn, biển hộp, in bạt Hiflex, inHifi,… Quảng cáo báo chí, quảng cáo trên truyền hình, tổ chức chương trình
PR - sự kiện,… Thiết kế tạo mẫu, cung cấp các sản phẩm, quà tặng cao cấp,
in ấn lịch độc quyền, lịch phong cảnh, tổ chức du lịch, kinh doanh nhà hàng,khách sạn, kinh doanh bất động sản, văn phòng cho thuê, xây dựng, kinhdoanh siêu thị, thiết kế nội thất,…Công ty đã và đang cộng tác với nhiềukhách hàng lớn như: Viettel, VNPT, Vietnam Airlines, Vinafaco, Agribank,Vinamilk, Prudential, Vinashin, Hoa Sen Group, Kinh Băc city, PJCO,Thượng Đình, Vietcombank, điện tử Hanel, xi măng Bỉm Sơn, sàn gỗ ThiênTân, bánh kẹo Tràng An, phân lân Văn Điển,…
Tôn chỉ kinh doanh của công ty là “Niềm tin cho mọi thương hiệu”, lấychất lượng sản phẩm dịch vụ và tín độ là kim chỉ nam cho công tác quản lý và
Trang 37điều hành, đảm bảo kinh doanh phát triển, tăng lợi nhuận, tạo thu nhập caocho người lao động và đóng góp ngân sách cho Nhà nước ngày càng tăng.
Từ khi thành lập, Công ty cổ phần Quảng cáo và Thương mại Lạc Việt
đã trải qua những chặng đường phát triển sau:
Năm2003, Công ty cổ phần Quảng cáo Lạc Việt được thành lập với sốlượng nhân viên là 30 người và số vốn ban đầu là 1.800.000.000 VNĐ Đâychính là tiền thân của công ty cổ phần Quảng cáo và Thương mại Lạc Việt
Tháng 02/2004, Công ty đã đưa bảng quảng cáo điện tử LED (Lightemitting diode – có nghĩa là đi ốt phát quang – là các đi ốt có khả năng phát raánh sáng hay tia hồng ngoại, tử ngoại) đa sắc màu đầu tiên vào Việt Nam đểphục vụ cho lễ hội chào xuân 2004 tại Quảng trường Cách mạng Tháng tám
và phối hợp với trung tâm thông tin triển lãm Hà Nội thực hiện quảng cáo tạingã tư Đinh Tiên Hoàng – Tràng Tiền (Hồ Hoàn Kiếm), Hà Nội
Năm 2005, nhằm phát triển thêm các lĩnh vực kinh doanh mới, thoảmãn thêm nhu cầu thị trường, Công ty cổ phần Quảng cáo Lạc Việt được đổitên thành Công ty cổ phần Quảng cáo và Thương mại Lạc Việt
Tháng 05/2004, Công ty đã lắp đặt bảng quảng cáo LED đa sắc màuthứ hai tại nút giao thông Kim Liên – Hà Nội
Tháng 08/2005, Công ty đã đưa xe ôtô LED màu chuyên dụng vào thựchiện quảng cáo tại Việt Nam
Năm 2006, Công ty đã giới thiệu công nghệ bảng quảng cáo điện tửhoàn toàn mới trên thị - PANA NIGHT VISION (PNV) được đối tác HànQuốc phát minh và chế tạo trong năm 2006
Tháng 06/2007, bảng quảng cáo điện tử PNV đầu tiên ở Việt Nam đượccông ty Lạc Việt lắp đặt tại khu vực hồ Trúc Bạch – Hà Nội
Tháng 03/ 2008, Công ty Lạc Việt đã lắp đặt bảng quảng cáo điện tửPNV thứ hai tại toà nhà Thuận Kiều Plaza – TP Hồ Chí Minh
Trang 38Tháng 12/ 2008, công ty Lạc Việt đã lắp đặt bảng quảng cáo điện tửPNV thứ ba tại công viên văn hoá Đầm Sen – TP Hồ Chí Minh.
Mục tiêu của công ty là tối đa hoá giá trị của cổ đông và theo đuổichiến lược phát triển kinh doanh dựa trên những yếu tố chủ lực sau:
- Mở rộng thị phần tại các thị trường hiện tại và thị trường mới
- Phát triển toàn diện danh mục sản phẩm, dịch vụ
- Phát triển các sản phẩm, dịch vụ mới
- Xây dựng và phát triển thương hiệu
- Tiếp tục nâng cao quản lý hệ thống kinh doanh, sản xuất
Trong quá trình phát triển, công ty đã ngày càng mở rộng và phát triểnphong phú hơn lĩnh vực kinh doanh của mình Ban đầu, khi mới bước vàothị trường quảng cáo Việt Nam, với những kinh nghiệm còn non kém, nguồnlực còn hạn chế thì Lạc Việt mới chỉ bắt tay tham gia vào lĩnh vực quảngcáo trên báo chí, in lịch, pano tấm nhỏ, tờ rơi, bandrall, bảng biển quảng cáocho các cửa hàng,…
Sau khi tham gia thị trường một năm, tức là đầu năm 2004 thì công ty
đã mở rộng thêm lĩnh vực kinh doanh của mình là: Quảng cáo truyền hình,quảng cáo pano tấm lớn, biển bảng ngoài trời, cung cấp các sản phẩm quảngcáo trên các chất liệu đa dạng như bandrall, áo mũ,…; Xây dựng các chươngtrình quảng cáo khuyếch trương sản phẩm, tổ chức và thực hiện các buổi họpbáo, hội nghị khách hàng, ; Dàn dựng các chương trình nghệ thuật; Thiết kế
mỹ thuật ứng dụng, thi công showroom, gian hàng triển lãm và sân khấubiểu diễn; Là đại lý bán vé máy bay, tổ chức du lịch trong và ngoài nước,kinh doanh bất động sản,…
Trang 392.1.1.2 Các nguồn lực của công ty
Công ty cổ phần Quảng cáo và Thương mại Lạc Việt được thành lậpvới nguồn vốn điều lệ ban đầu là 1,8 tỷ VNĐ Trong đó, vốn góp của các cổđông lớn chiếm hơn 80% tổng nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm:
- Bà Doãn Thị Hồng Nhung
- Ông Doãn Học Phòng
- Ông Nguyễn Đình Tạo
- Ông Doãn Ngọc Khoa
Nguồn vốn còn lại là vốn góp của các cổ đông khác và vốn vay từNgân hang Thương mại cổ phần Quân Đội
Công ty Lạc Việt luôn nỗ lực hướng tới mục tiêu phát triển bền vững
và trở thành một công ty quảng cáo chuyên nghiệp, dựa vào nội lực củachính mình và mở rộng hợp tác với các công ty, tập đoàn công nghệ khôngchỉ trong lĩnh vực quảng cáo mà cả trong lĩnh vực thương mại, liên kết vớicác công ty, hiệp hội quảng cáo trong và ngoài nước để có mối liên hệ hợptác chặt chẽ trong kinh doanh
Công ty phát triển dựa trên một nền tảng quy trình sản xuất và côngnghệ tiên tiến, hiện đại, hệ thống quản lý tiên tiến, chuyên nghiệp và tinhọc hoá ở mức độ cao đặc biệt là trong lĩnh vực thiết kế, nhằm giải quyếttốt hơn nhu cầu của khách hàng, thoả mãn mong muốn của thị trường.Công ty cũng không ngừng tìm kiếm và nghiên cứu về nhu cầu, hành vi củakhách hàng tiềm năng để có những quyết định quảng cáo hữu hiệu nhất,mới mẻ và đặc sắc
Trong suốt quá trình phát triển, công ty luôn chú trọng học hỏi, tìmkiếm các công nghệ mới để phát triển các hoạt động kinh doanh trong công
ty, đáp ứng nhu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của khách hàng cũng như của thịtrường, đưa ra những quảng cáo mới lạ, đặc sắc thu hút công chúng, xây dựng
Trang 40thương hiệu thành công cho khách hàng cũng như ngày càng phát triểnthương hiệu của công ty.
Công ty luôn coi trọng vấn đề con người trong chiến lược phát triển củacông ty, luôn coi vấn đề nhân lực là vấn đề quan trọng hàng đầu trong sựnghiệp phát triển của mình Chính vì thế, công ty luôn cố gắng tạo môi trườnglàm việc tốt nhất để nhân viên có thể học hỏi, phát triển kỹ năng sáng tạocũng như kỹ năng nghề nghiệp chuyên môn của mình Bên cạnh đó, công tycòn có chính sách quản lý nhân viên với chế độ tăng thưởng lương phù hợp đểthu hút và phát triển đội ngũ nhân viên có trình độ và kinh nghiệm cao phục
vụ cho công ty trong tương lai
Hiện nay, công ty đã xây dựng được đội ngũ nhân viên giàu tri thức, kỷluật cao, có tinh thần đoàn kết - nhất trí, năng động , sáng tạo trong tư duy vàhành động, ham học hỏi,… Đội ngũ cán bộ công nhân viên của công ty hiệnnay hơn 60 người, trong đó hơn 92% là hiểu biết công nghệ thong tin, 60% cótrình độ đại học và sau đại học, là cử nhân các ngành tài chính, kinh tế,marketing,
Cùng với sự phát triển của công ty và sự quan tâm sâu sát của lãnh đạocông ty, các cán bộ công nhân viên luôn được tạo mọi điều kiện tốt về môitrường làm việc, các chế độ đãi ngộ xứng đáng với năng lực Những điều nàygiúp các cán bộ công nhân viên có thể yên tâm công tác và cống hiến chocông ty, cũng như thu hút được ngày càng nhiều nguồn nhân lực có chấtlượng cao về làm việc lâu dài tại công ty
Ngoài những nguồn lực bên trong, công ty vẫn luôn chú trọng pháttriển các nguồn lực bên ngoài Công ty có một hệ thống nhà cung cấp cácnguồn lực đầu vào, các nguyên vật liệu cần thiết cho mỗi dự án công việc Do
đó, khi công ty nhận được một đề án công việc sẽ không mất nhiều thời giancho việc chuẩn bị, công việc luôn được hoàn thành trong thời gian nhanh nhất