“Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH Tuấn Vũ làm chuyên đề thực tập.”
Trang 1Lời mở đầu
Trong những năm qua, nước ta đã thực hiện vận hành nền kinh tế theo cơchế thị trường Môi trường kinh tế cạnh tranh đã tạo ra triển vọng điều kiệnthuận lợi cho các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp ngân hàng nóiriêng Sau khi hệ thống ngân hàng được tổ chức lại, trở thành hệ thống ngânhàng hai cấp theo nghị định 53/HĐBT, các ngân hàng thương mại được táchrời với tư cách là đơn vị kinh doanh tiền tệ mà mục tiêu chủ yếu của nó là tối
đa hoá lợi nhuận Nhưng đồng thời cơ chế thị trường với đầy rẫy những rủi robất trắc lại đặt các doanh nghiệp (trong đó có doanh nghiệp ngân hàng) trướcnhững thử thách khốc liệt bởi sự cạnh tranh để tồn tại và phát triển Rủi ro luôn là căn bệnh bẩm sinh vốn có của nền kinh tế thị trường Gắnliền với khả năng thu lợi nhuận cao thì bao giờ cũng xuất hiện những tiềmtàng rủi ro đối với nó Đáng chú ý là trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ khảnăng rủi ro đối với các doanh nghiệp ngân hàng là con số cộng khả năng rủi
ro đối với các doanh nghiệp trong các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tếquốc dân Bởi vì trong điều kiện cơ chế thị trường, nguồn vốn cho vay ngânhàng để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh - dịch vụ của các doanhnghiệp bao giờ cũng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn sản xuất kinhdoanh của họ
Như vậy bất kỳ rủi ro nào dù lớn hay nhỏ, xảy ra ở bất kỳ một doanhnghiệp sản xuất kinh doanh nào có quan hệ giao dịch tín dụng với ngân hàngcũng đều gây ra rủi ro cho ngân hàng Điều đó cho thấy vấn đề phòng ngừarủi ro trong hoạt động kinh doanh tín dụng của ngân hàng bao giờ cũng là mộtvấn đề được quan tâm hàng đầu vì nó có liên quan và tác động trực tiếp đến
sự sống còn của các ngân hàng
Trang 2Ơ nước ta vấn đề rủi ro tín dụng và các biện pháp phòng ngừa rủi ro tíndụng trong kinh doanh của các ngân hàng thương mại được đề cập đến từnhiều năm trước nhưng chủ yếu mới trên phương diện lý luận Cần có sự tổng kết rút kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của các ngân hàng.Nhận thức được mối nguy hiểm và hậu quả không lường trước do các rủi rotín dụng ngân hàng gây ra, cùng với những kiến thức đã được học và bài họcthu được trong đợt thực tập tại’ngân hàng nông nghiệp và phát triển nôngthôn huyện Cẩm Thuỷ-Thanh Hoá , em đã chọn đề tài: Một số giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Cẩm thuỷ-Thanh Hoá.
Chuyên đề này được chia thành 3 chương:
Chương I: Rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại
Chương II:Phân tích và đánh giá rủi ro tín dụng trong hoạt độngcho vay tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Cẩmthuỷ
Chương III:Một số giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại ngânhàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Cẩm Thủy_tỉnh Thanh Hóa
Do trình độ đang còn hạn chế nên chắc chắn chuyên đề thực tập tốt nghiệpnày không tránh khỏi những sai sót và khiếm khuyết Vì vậy em kính mongnhận được sự góp ý của các thầy cô cùng toàn thể cán bộ ngân hàng nôngnghiệp và phát triển nông thôn huyện Cẩm Thủy-Thanh Hóa, để chuyên đềđược hoàn chỉnh hơn
Chuyên đề này được thực hiện với sự hướng dẫn của thầy giáoPGS.TS.Nguyễn Cao Văn và cô giáoThS.Hoàng Bích Phương giảng viên
Trang 3khoa Toán kinh tế Đại học kinh tế Quốc dân Hà Nội và các cán bộ của ngânhàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Cẩm Thủy.
Chương I: Rủi ro tín dụng tại các ngân hàng
thương mại.
1.Ngân hàng thương mại và hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại.
1.1 Ngân hàng thương mại
1.1.1.Khái niệm về ngân hàng thương mại
Ngân hàng ra đời từ thế kỉ 15 và ban đầu hoạt động kinh doanh ngânhàng có nguồn gốc từ hoạt động kinh doanh của những người chủ kim hoàn.Thời xưa, khi vàng còn được sử dụng phổ biến làm tiền tệ, những thươngnhân giàu có thường gửi vàng vào các kho vốn rất an toàn của những ngườichủ kim hoàn nhờ giữ hộ Khi nhận vàng, những người chủ kim hoàn đó sẽcấp cho người gửi vàng một tờ giấy biên nhận để khi có nhu cầu, nhữngthương nhân này sẽ dùng chúng để lấy vàng ra
Cứ như vậy, cho đến khi trong xã hội xuất hiện các tổ chức chuyênthực hiện các hoạt động ngân hàng với 3 nghiệp vụ cơ sở là : nghiệp vụ huyđộng vốn, cho vay, nghiệp vụ thanh toán hộ thì lúc đó ngân hàng thực sự rađời
Có thể thấy rằng ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quantrọng trong nền kinh tế, là người cho vay chủ yếu đối với các cá nhân, hộ giađình, với các tổ chức kinh tế và với chính phủ Không chỉ cung cấp vốn vànhận tiền gửi, ngân hàng còn cung cấp cho khách hàng những dịch vụ rất đadạng khác như bảo lãnh, tư vấn, thanh toán …
Trang 4Người ta thường định nghĩa các ngân hàng theo chức năng và nhiệm vụcủa nó Đối với mỗi quốc gia, tuỳ vào quy định của luật pháp mà chức năng
và nhiệm vụ của ngân hàng là khác nhau Tuy nhiên, có thể định nghĩa một
cách tổng quan nhất là: Ngân hàng là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - và thực hịên nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Theo điều 20, luật các tổ chức tín dụng thì: “ ngân hàng thương mại là các doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật các tổ chức tín dụng
và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch
vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán “
1.1.2 Vai trò ,chức năng của các ngân hàng thương mại.
1.1.2.1 Chức năng là trung gian tài chính.
Có thể nói khi thực hiện chức năng này, các ngân hàng đóng vai trò làcầu nối giữa người cần vốn và người thiếu vốn, với hoạt động chủ yếu là biếntiết kiệm thành đầu tư thể hiện trong sơ đồ sau:
Uỷ thác đầu tư Đầu tưNgười cần vốn ở đây là các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chitiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập nên cần được
Trang 5Như vậy, ngân hàng thương mại với vai trò là trung gian tài chính đãthu hút những khoản vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để hình thànhnên quỹ cho vay rồi lại tiếp tục đem cho vay với nền kinh tế Với chức năngnày, ngân hàng thương mại đã đem lại lợi ích cho tất cả các bên trong mốiquan hệ này bao gồm: người gửi tiền, ngân hàng và người đi vay, đồng thờithúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
1.1.2.2 Chức năng trung gian thanh toán.
Ngân hàng thương mại làm chức năng trung gian thanh toán khi nóthực hiện việc thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền gửitrong tài khoản của khách hàng để thanh toán hộ tiền hàng hoá và dịch vụhoặc nhập vào tài khoản của khách hàng những khoản thu nhập của họ nhưtiền bán hàng hóa hay những khoản thu khác Như vậy có nghĩa là ngân hàngđóng vai trò là thủ quỹ của các cá nhân và các doanh nghiệp hay nói rộng rangân hàng là thủ quỹ của nền kinh tế Để việc thanh toán được nhanh chóng
và thuận tiện cũng như để tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho khách hàngnhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu,các loại thẻ…Tuỳ theo yêu cầu mà mà khách hàng có thể lựa chọn phươngthức thanh toán cho phù hợp
Ngân hàng thực hiện chức năng này trên cơ sở thực hiện chức năngtrung gian tài chính Bởi vì thông qua nhận tiền gửi, ngân hàng đã mở chokhách hàng một tài khoản để theo dõi các khoản thu, chi và từ đó, khách hàngđặt ngân hàng vào vị trí trung gian để thanh toán hộ cho mình
1.1.2.3 Chức năng tạo phương tiện thanh toán.
Phương tiện thanh toán ở đây có thể hiểu đơn giản là những gì có thểđược dùng để thanh toán tiền hàng hóa hoặc dịch vụ Ban đầu phương tiện
Trang 6thanh toán được chấp nhận chỉ là tiền hoặc vàng_ phương tiện thanh toán phổbiến nhất Ngày nay, cùng với sự phát triển của hệ thống tài chính và của cácngân hàng và cùng với các hình thức thanh toán mới, các phương tiện thanhtoán cũng trở lên đa dạng và phong phú hơn rất nhiều.
Việc tạo tiền tín dụng có thể xảy tại một ngân hàng riêng lẻ thông quaviệc nó biến một khoản cho vay thành tiền có thể chi tiêu được dưới tênngười vay Nhưng nói chung, việc tạo tiền tín dụng thường có sự tham gia của
cả hệ thống ngân hàng thương mại Tiền có thể được tạo ra khi các khoản tiềngửi được sinh sôi trên cơ sở các dòng tín dụng từ ngân hàng nay đến ngânhàng khác Mức mở rộng tiền gửi phụ thuộc vào hệ số mở rộng tiền gửi Hệ
số này, đến lượt nó lại chịu tác động bởi các yếu tố như: tỉ lệ dự trữ bắt buộc,
tỉ lệ dự trữ vượt mức và tỉ lệ giữ tiền mặt so với tiền gửi thanh toán của côngchúng
Với chức năng này, hệ thống ngân hàng thương mại làm tăng phươngtiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ững nhu cầu thanh toán, chi trả của xãhội Nó cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và lưu thông tiền tệ.Một khối lượng tín dụng mà ngân hàng thương mại cho vay làm tăng khảnăng tạo tiền của ngân hàng thương mại, từ đó làm tăng lượng tiền cung ứng
1.1.3 Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại.
1.1.3.1 Nghiệp vụ huy động vốn (hay nhận tiền gửi).
Đối với bất kì một doanh nghiệp nào, vốn cũng là một yếu tố quantrọng không thể thiếu được Người ta không thể kinh doanh mà không có vốn
để mua sắm trang thiết bị, thuê nhân công hay để đầu tư vào sản xuất Đốivới ngân hàng thì đây là yếu tố sống còn vì không như doanh nghiệp, ngânhàng kinh doanh một loại hàng hoá đặc biệt, đó là tiền hay tư bản (vốn) Bên
Trang 7cạnh việc phải luôn phải đảm bảo lượng vốn tối thiểu để có thể hoạt độngtheo quy định của ngân hàng nhà nước thì giá trị của nguồn vốn trong mỗingân hàng sẽ quyết định khả năng được cho vay của các ngân hàng đó.Những ngân hàng có vốn lớn sẽ cho vay được nhiều hơn, thu lợi nhuận caohơn, bên cạnh đó tính thanh khoản cũng tốt hơn các ngân hàng khác dẫn đếnrủi ro cũng thấp hơn Do vậy các ngân hàng thương mại luôn tìm cách huyđộng được ngày càng nhiều vốn hơn và thường xuyên chăm lo việc tăngtrưởng nguồn vốn kinh doanh của mình Vốn huy động là những giá trị tiền tệ
mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức và cá nhân trong xã hội thôngqua các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán…và là nguồn vốn chủ yếu để dùnglàm nguồn vốn kinh doanh Huy động vốn có thể coi là nghiệp vụ đầu tiêncủa các ngân hàng để duy trì sự tồn tại của mình được thể hiện trong nhữngnghiệp vụ sau
Nhận tiền gửi
Phát hành giấy tờ có giá
Vay ngân hàng nhà nước hay các tổ chức tín dụng khác
Vay trên thị trường chứng khoán bằng cách phát hành chứng khoán
…
1.1.3.2.Nghiệp vụ sử dụng vốn.
Sau khi đã huy động được vốn thì tuỳ theo mục tiêu và chiến lược kinhdoanh của từng ngân hàng mà nguồn vốn đó sẽ được sử dụng với mục đíchriêng nhằm đảm bảo khả năng sinh lời và an toàn cho ngân hàng Các hoạtđộng sử dụng vốn chủ yếu của ngân hàng bao gồm:
Cho vay bao gồm cho vay tiêu dùng, cho vay thương mại, cho vay
cá nhân…
Trang 8 Đầu tư vào các dự án, phương án sản xuất kinh doanh hay các côngtrình xây dựng.
Tài trợ các hoạt động của chính phủ
Kinh doanh chứng khoán, góp vốn liên doanh
Cấp tín dụng bao gồm cho vay, bảo lãnh, cho thuê và chiết khấugiấy tờ có giá
1.1.3.3 Nghiệp vụ trung gian.
Ngân hàng làm trung gian thanh toán, thực hiện thanh toán chokhách hàng bằng cách phát hành các phương tiện thanh toán không dùng tiềnmặt như séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi hay mở các tài khoản phát hành sechay thẻ tín dụng tuỳ thuộc vào yêu cầu của khách hàng
Thực hiện tư vấn cho khách hàng về đầu tư tài chính, đầu tư chứngkhoán, thực hiện dịch vụ ngân hàng đại lý, nhận kí gửi uỷ thác tài sản quý củakhách hàng
Dịch vụ càng đa dạng và có chất lượng cao thì càng thu hút thêm nhiềukhách hàng, nâng cao tính cạnh tranh của ngân hàng và khuếch trương hìnhảnh về ngân hàng đó Do vậy xu hướng của một ngân hàng hiện đại là theohướng đa dạng hoá dịch vụ theo hình thức ngân hàng đa năng
1.2 Tín dụng ngân hàng.
1.2.1 Khái niệm về tín dụng.
Có thể thấy rằng không chỉ đối với hệ thống ngân hàng thương mại màngay cả đối với các tổ chức, các trung gian tài chính trong nền kinh tế, tíndụng cũng được coi là hoạt động quan trọng nhất Không những chiếm tỉtrọng lớn trong tổng tài sản, nó còn là hoạt động mang lại thu nhập lớn nhấtvới mức độ rủi ro cũng rất cao
Trang 9Theo điều 49 luật các tổ chức tín dụng thì việc cấp tín dụng của các tổchức tín dụng là những hoạt động được thực hiện dưới hình thức: “cho vay,chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính
và các hình thức khác theo quy định của ngân hàng nhà nước”
Vậy có thể tổng kết lại là, tín dụng ngân hàng là các hoạt động tài trợcủa ngân hàng bao gồm cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, cho thuê và những hoạtđộng khác theo quy định của luật Quan hệ tín dụng là quan hệ hình thành trên
cơ sở cung ứng vốn giữa nơi thừa và nơi thiếu vốn được xây dựng theo banguyên tắc: có thời hạn, có hoàn trả và có đền bù Điều này có nghĩa là khimột quan hệ tín dụng được xác định thì nó sẽ xác lập ngay thời hạn vaykhoản vốn đó cùng với thời hạn hoàn trả và những quy định đền bù nếu có sự
vi phạm trong việc thực hịên các cam kết Mặc dù hình thức biểu hiện của tíndụng là sự di chuyển vốn từ người cho vay sang người đi vay, song thực chấtđây chỉ là sự di chuyển của quyền sử dụng vốn còn quyền sở hữu vẫn thuộc
về người cho vay Do vậy có thể thấy rằng trong quan hệ tín dụng thì quyền
sở hữu và quyền sử dụng là tách rời nhau Điều đó lại nảy sinh một vấn đề làliệu vốn vay có quay trở lại khi hết thời hạn vay hay không? Chính vì vậy màquan hệ tín dụng chỉ hình thành trên cơ sở lòng tin hay sự tín nhiệm củangười cho vay về khả năng hoàn trả nợ đúng hạn của người vay Sự tin tưởngnày được tạo lên bởi những yếu tố như: tư cách người vay, giá trị tài sản thếchấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của khoản vay và tính hiệu quả của dự án xinvay
1.2.2 Phân loại tín dụng ngân hàng.
1.2.2.1 Các hình thức tín dụng phân theo thời gian.
Theo thời gian thì tín dụng gồm có:
Trang 10 Tín dụng ngắn hạn: bao gồm những khoản cấp tín dụng có thời hạncho vay dưới 12 tháng Thời hạn thực tế được xác định phù hợp với nhu cầuthực tế chu chuyển vốn Các khoản tín dụng này thường chủ yếu tài trợ chonhu cầu vốn lưu động ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn hạn của kháchhàng.
Tín dụng trung và dài hạn: là những khoản tín dụng có thời hạn trên
12 tháng Tín dụng trung hạn có thời hạn cho vay và gia hạn nợ không quá 5năm, kể từ ngày cho vay đến khi trả hết nợ Tín dụng dài hạn có thời hạn chovay trên 5 năm Những khoản tín dụng này thường được sử dụng để làm nhàhoặc đầu tư vào các công trình xây dựng mang tính thương mại cũng như các
dự án đầu tư khác
Việc phân loại theo thời gian là rất quan trọng vì nó liên quan đến khảnăng hoàn trả khoản vốn của khách hàng cũng như yếu tố an toàn và sinh lờicủa khoản tín dụng đó
1.2.2.2 Phân loại theo hình thức.
Có thể thấy tín dụng gồm bốn hình thức chủ yếu sau:
Chiết khấu: Chiết khấu là nghiệp vụ tín dung ngắn hạn, trong đókhách hàng chuyển nhượng thương phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng đểnhận một số tiền bằng mệnh giá trừ lãi chiết khấu và hoa hồng phí Ngân hàng
sẽ tiến hành thu nợ ở người thụ lệnh, nếu là hối phiếu, hoặc ở người pháthành nếu là lệnh phiếu, khi đến hạn thanh toán
Cho vay: là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụnggiao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thờigian ấn định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi (theoquyết định 1627/2001/QĐ-NHNN)
Trang 11 Bảo lãnh: Theo quyết định 283/2000-NHNN thì bảo lãnh là cam kếtbằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhậnbảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên đượcbảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa
vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trảcho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay
Cho thuê: là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàngthuê theo những thoả thuận nhất định Sau một thời gian nhất định (được quyđịnh trong hợp đồng) khách hàng phải trả cả gốc và lãi cho ngân hàng Chothuê gồm hai hình thức: cho thuê tài chính (hình thức tài trợ tín dụng trung vàdài hạn) và cho thuê vận hành
1.2.2.3 Phân loại theo tài sản đảm bảo.
Căn cứ vào tài sản bảo đảm có thể chia tín dụng thành hai loại: tín dụng
có tài sản bảo đảm và tín dụng không có tài sản bảo đảm
Tín dụng có tài sản bảo đảm: là những khoản tín dụng được bảođảm bằng uy tín của khách hàng hoặc của người thứ ba (tín chấp) hoặc bằngcầm cố, thế chấp tài sản của người xin vay Tài sản bảo đảm được coi lànguồn thu nợ thứ hai khi nguồn thu nợ thứ nhất không đủ hoặc không thu hồiđược Cam kết đảm bảo là cam kết của người nhận tín dụng về việc dùng tàisản của mình đang sở hữu hoặc sử dụng, hoặc khả năng trả nợ của người thứ
ba để trả nợ khách hàng
Tín dụng không cần tài sản bảo đảm: là các khoản tín dụng cấp chokhách hàng mà không yêu cầu có tài sản bảo đảm hay cam kết bảo đảm Đốitượng khách hàng thường là những khách hàng có uy tín, khách hàng thườngxuyên có lãi, khách hàng truyền thống có quan hệ tốt với ngân hàng, có tìnhhình tài chính vững mạnh, hoặc là món vay tương đối nhỏ so với vốn của
Trang 12người vay Ngoài ra, các khoản cho vay đối với các tổ chức tài chính lớn,công ty lớn… hay cho vay theo chỉ thị của chính phủ thì không cần tài sảnbảo đảm.
1.2.2.4 Phân loại tín dụng theo rủi ro.
Trong mọi lĩnh vực hoạt động của ngân hàng đều tiềm ẩn nhiều rủi rođặc biệt là trong hoạt động tín dụng Người ta phân loại rủi ro trong hoạt độngngân hàng theo từng mức độ nghiêm trọng khác nhau để có các cách xử lýriêng Tín dụng phân loại theo rủi ro gồm hai loại: Tín dụng lành mạnh và tíndụng có vấn đề
Tín dụng lành mạnh là các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao
Tín dụng có vấn đề là các khoản tín dụng có dấu hiệu không lànhmạnh như khách hàng trì hoãn trong việc lập báo cáo, chậm trả lãi, tiến độthực hiện kế hoạch không như đã cam kết
1.2.3.Vai trò của tín dụng trong nền kinh tế
Vai trò tín dụng thể hiện trong những chức năng cơ bản sau:
Một là, tín dụng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ theo nguyên tắc
có hoàn trả Điều này có nghĩa là tín dụng là chiếc cầu nối giữa nguồn cungứng vốn và cầu về vốn
Hai là, thông qua hoạt động huy động những nguồn tiền tạm thời nhàn
rỗi trong dân cư để cho vay, cùng với thanh toán không dùng tiền mặt, tíndụng góp phần thúc đẩy vòng quay của tiền, tăng tiết kiệm tiền mặt và giảmlượng tiền trong lưu thông nhờ đó tiết kiệm chi phí và thời gian
Ba là, tín dụng góp phần kiểm soát các hoạt động kinh tế thông qua
việc phản ánh mức độ phát triển của nền kinh tế như khối lượng tiền tệ nhànrỗi trong xã hội hay nhu cầu vốn từng thời kì…
Trang 131.3 Rủi ro và lí thuyết phòng ngừa rủi ro tại các ngân hàng thương mại.
1.3.1.Khái niệm và phân loại rủi ro.
1.3.1.1 Khái niệm.
Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi cấp tíndụng cho một khách hàng Tức là khả năng khách hàng không trả được nợtheo hợp đồng gắn liền với mỗi khoản tín dụng mà ngân hàng cấp cho họ.Hoặc nói một cách cụ thể hơn, rủi ro tín dụng là luồng thu nhập dự tính manglại từ các tài sản có sinh lời của ngân hàng có thể không được hoàn trả đầy đủxét cả về mặt số lượng và thời hạn
Trong điều kiện bình thường, phần lớn các tài sản tài chính do cácdoanh nghiệp phát hành và được đầu tư bởi chính ngân hàng đều được đảmbảo với mức xác suất cao, lãi thu được thường dưới dạng cố định Nhưng khi
có rủi ro xảy ra, mặc dù xảy ra với xác suất thấp, nhưng mức vốn có thể mấtlại không giới hạn
Tuy nhiên nói một cách chính xác ta có thể định nghĩa rủi ro tín dụng
như sau: “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất cho ngân hàng
do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ vốn
và lãi”.
1.3.1.2 Phân loại.
Có rất nhiều tiêu thức để phân loại rủi ro tại các ngân hàng thương mạinhưng thường thì người ta phân chia rủi ro tín dụng theo các cách sau:
Trang 14 Phân loại theo tài sản có gồm: rủi ro trong quản lí và kinh doanhkho quỹ, rủi ro tín dụng, rủi ro trong kinh doanh chứng khoán, rủi ro trongcho thuê, bảo lãnh….
Phân loại theo nguyên nhân và các yếu tố tác động gồm có:
+Rủi ro từ phía khách hàng: khách hàng thua lỗ, sản phẩm lỗi thời ,cạnh tranh gay gắt…
+ Rủi ro hoạt động: rủi ro thông tin, rủi ro nhân sự…
+ Rủi ro tài chính: chi phí vốn thay đổi, tỷ giá biến động, lạmphát,nợ quá hạn…
+ Rủi ro thuế: Thuế thu nhập, thuế giá trị gia tăng (VAT)
+ Rủi ro pháp lý
Phân loại theo có khả năng phòng ngừa trước rủi ro
+ Rủi ro có thể phòng ngừa được như rủi ro thanh khoản…
+Rủi ro không phòng ngừa được như rủi ro thị trường, thiên tai…Hiện nay, các ngân hàng thương mại thường quan tâm đến sáu loại rủi
ro phổ biến và gây ra hậu quả lớn cho hoạt động của ngân hàng là:
Rủi ro tín dụng: là tình trạng người đi vay không trả, hoặc khôngtrả đúng hạn hoặc không trả đầy đủ cả gốc và lãi cho ngân hàng
Rủi ro thanh khoản: là tình trạng ngân hàng không có khả năngthanh toán để đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng dẫn đến việc phải vaynóng với lãi suất cao để đáp ứng nhu cầu chi trả tiền mặt
Rủi ro thị trường: Sự thay đổi lãi suất gây ra những khó khăn lớncho các nhà quản lí danh mục tài sản của ngân hàng (thường là những tài sảntài chính như chứng khoán đầu tư, trái phiếu chính phủ) có lãi suất cố định,
Trang 15khi lãi suất thị trường thay đổi dẫn đến giá trị của các tài sản này cũng thayđổi làm cho khả năng mất vốn của ngân hàng khi bán các loại tài sản này tănglên.
Rủi ro lãi suất: Rủi ro xảy ra khi lãi suất thay đổi ngoài dự kiến ảnhhưởng tới chi phí và thu nhập của ngân hàng
Rủi ro thu nhập: là rủi ro tác động tới kết quả hoạt động của ngânhàng Thu nhập giảm không thể dự đoán trước được do những yếu tố bêntrong hay ngoài ngân hàng tác động
Rủi ro phá sản: là rủi ro đối với khả năng tồn tại lâu dài của ngânhàng
Bên cạnh đó có thể kể ra một số loại rủi ro sau như rủi ro lạm phát, rủi
ro tỷ giá hối đoái, rủi ro chính trị……
1.3.2 Những nguyên nhân chính gây ra rủi ro tại các ngân hàng thương mại.
Có thể thấy có ba nguyên nhân chủ yếu sau gây ra những rủi ro tronghoạt động kinh doanh của ngân hàng:
Trang 161.3.2.3 Từ phía thị trường.
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro tín dung xuất phát từ bên ngoài
Đó là do những thay đổi trên thị trường vượt quá khả năng phán đoán củangân hàng như thay đổi lãi suất và tỷ giá, khủng hoảng nợ dây chuyền haynhững thay đổi trong chính sách của ngân hàng nhà nước hay các quyết địnhcủa chính phủ
1.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro.
1.3.3.1 Chỉ tiêu về rủi ro tín dụng.
Các ngân hàng thường sử dụn g các chỉ tiêu sau để đánh giá rủi ro tíndụng:
Nợ quá hạn và tỉ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ
Nợ khó đòi và tỉ lệ nợ khó đòi trên tổng dư nợ
Tính đa dạng hoá của tài sản
Tình hình tài chính và phương án của người vay
Đảm bảo tiền vay
Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng
Môi trường hoạt động của người vay
1.3.3.2 Chỉ tiêu phản ánh rủi ro thanh khoản
Bao gồm chỉ tiêu về tỉ lệ thanh khoản bao gồm: thanh khoản về tiềngửi, thanh khoản tài sản, thanh khoản tín dụng, khe hở thanh khoản hay cácnhóm chỉ tiêu như:
Chỉ số về trạng thái tiền mặt
Chỉ số về chiết khấu thanh khoản
Chỉ số về năng lực cho vay
Trang 17 Chỉ số tiền nóng.
Tỷ số đầu tư ngắn hạn trên vốn nhạy cảm
1.3.3.3 Chỉ tiêu phản ánh rủi ro lãi suất.
Khe hở lãi suất
Sự thay đổi của lãi suất thị trường
Trang 18Chương II:Phân tích và đánh giá rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
huyện Cẩm Thủy
2.1.Tình hình hoạt động kinh doanh
2.1.1 Kết quả hoạt động kinh doanh
Trong 3 năm gần đây, từ năm 2006 – 2008, nguồn vốn kinh doanh củaNHNN& PTNT Cẩm Thuỷ đã tăng từ 40345 triệu đồng lên 82633 triệuđồng Doanh số cho vay, thu nhập qua mỗi năm đã có những bước phát triển
rõ rệt Thể hiện qua bảng tổng hợp kết quả hoạt động kinh doanh trong 3 năm
từ 2006-2008 sau đây:
Trang 19Bảng 1: Kết quả hoạt động kinh doanh trong 3 năm 2006-2008.
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Tăng giảm so với năm 2006
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Tăng giảm so với năm 2007
Tuyệt đối Tương
Tương đối (%)
Trang 20IV Dư nợ quá hạn 803,1 1.52 1217,4 1.52 414,4 51,6 2643,6 2.3 1426,2 117,2
Trang 21Qua bảng tổng hợp về kết quả hoạt động kinh doanh trong 3 năm từ2006-2008 của NHNo & PTNT Cẩm Thuỷ, ta nhận thấy:
- Về Nguồn vốn:
Tổng nguồn vốn kinh doanh tính đến thời điểm ngày 31/12/2008 đạt
82633 triệu đồng, tăng 24241triệu đồng (tương đương 41,51%) so với năm
2007, cao hơn so với mức tăng 18047 triệu đông của năm 2007 so với năm
2006 Cụ thể:
Tổng nguồn vốn năm 2008, tăng trưởng nguồn vốn đạt 104% kếhoạch của NNNo & PTNT tỉnh Thanh Hoá giao:79454triệu đồng.Đây là một kết quả rất đáng khích lệ do năm 2007 tăng trởng nguồnvốn chỉ đạt 98,3% kế hoạch của NHNo & PTNT tỉnh Thanh Hoágiao
Cơ cấu trong nguồn vốn kinh doanh đã có bước tiến rõ rệt khi tỷtrong nguồn vốn ngắn hạn và không kỳ hạn năm 2008 chỉ còn chiếm21,5% và 18,21%, giảm so với năm 2007 là 28,45% và 23,04%
- Về công tác tín dụng:
Tổng dư nợ đến 31/12/2008 đạt 119473 triệu đồng, tăng 34845 triệuđồng so với năm 2007 tương đương 43,5%(thấp hơn so với tốc độ 51,4%trong năm 2007) và đạt 100% kế hoạch tỉnh giao Trong đó:
Dư nợ ngắn hạn: 67812,83triệu đồng tăng 24666,83 tương đương57,2%, chiếm tỷ trọng 59% tổng dư nợ
Dư nợ trung, dài hạn: 47124,17 triệu đồng, tăng 10178,17 triệu đồng, tốc
độ tăng 27,5%, chiếm tỷ trọng 41%
Dư nợ xấu 2643,6 triệu đồngtương đương 117,2%, chiếm tỷ lệ 2,3% tổng
dư nợ, cao hơn so với mức tăng 17,37% của năm 2007
Trang 22- Về kết quả Tài chính:
Tổng thu năm 2008 đạt 13392,8 triệu đồng, tăng 51,2%, thấp hơn mứctăng 60,8% trong năm 2007 Trong khi đó tổng chi trong năm 2008 chiếm76,01% tổng thu, tăng so với mức 73% trong năm 2007, nhưng thu nhập vẫntăng từ 2588,8 triệu đồng lên 3108,5 triệu đồng
2.1.2 Thực trạng hoạt động cho vay.
Bảng 2: Tình hình hoạt động cho vay (2006-2008)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
So với năm 2006
Số tiền
Tỷ trọng (%)
So với năm 2007
Tuyệt đối Tương
đối(%)
Tuyệt đối
Tương đối(%)
(Nguồn số liệu: Báo cáo tổng kết hàng năm của chi nhanh NHNN & PTNT Hyện
Cẩm Thuỷ Tỉnh Thanh Hoá: 2006, 2007, 2008)
Trang 23- Về doanh số cho vay:
Doanh số cho vay năm 2007 đạt 52670 triệu đồng tăng 16360 triệuđồng so với năm 2006, tương đương với mức tăng 45% Đến năm 2008,
doanh số cho vay tăng lên 25005,02 triệu đồng tương đương 47,5% đạt 77675,02 triệu đồng và là mức tăng ấn tượng nhất trong những năm gần đây
tại NHNN & PTNT Cẩm Thuỷ
Trong cơ cấu doanh số cho vay, thì cho vay ngắn hạn luôn chiếm tỷ lệvượt trội so với cho vay trung và dài hạn và tăng dần theo từng năm, điều nàycho thấy hoạt động cho vay của NHNN & PTNT Cẩm Thuỷ đang tiến triểntốt và đi đúng hướng
- Về tình hình dư nợ:
Năm 2006, dư nợ ngắn hạn đạt 25869 triệu đồng đồng it hơn 1099 triệuđồng so với dư nợ trung và dài hạn nhưng 2 năm sau đó dư nợ ngắn hạn đãchiếm tỷ lệ cao hơn so với dư nợ trung và dài hạn, tuy nhiên năm 2008 tỷtrọng dư nợ trung, dài hạn lại giảm so với năm 2007 từ 46,13% xuống còn41% do mức tăng trưởng dư nợ ngoại tệ giảm xuống
- Về dư nợ quá hạn:
Trong 3 năm qua, tỷ lệ dư nợ quá hạn có những biến động rất đáng chú
ý, nếu như trong 2 năm 2006 và 2007 tỷ lệ dư nợ quá hạn giữ nguyên ở mức1.52% thì đến năm 2008 đã tăng lên mức 2,3% Điều này chứng tỏ chất lượngtín dụng còn thấp và tiềm ẩn rất nhiều rủi ro trong tương lai nếu như ngânhàng không kịp thời có những biện pháp khắc phục
Trang 242.2.Phân tích đánh giá rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tai ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Cẩm thuỷ
2.2.1.Các mô hình sử dụng trong phân tích
2.2.1.1Mô hình định tính
a Phân tích tín dụng
1) Người cho vay có thể được tín nhiệm không?
Câu hỏi này để trả lời đòi hỏi phải xem xét 6 khía cạnh của người xinvay cụ thể như sau:
+ Tư cách của người vay: Cán bộ tín dụng phải chắc chắn người xin vay
có mục đích tín dụng rõ ràng và có thiện chí trả nợ khi đến hạn Khi mục đíchxin vay là rõ ràng thì cán bộ tín dụng vẫn cần phải xem xét điều này có phùhợp với chính sách tín dụng hiện hành của ngân hàng không? Mặc dù mụcđích xin vay của khách hàng là tốt, thì cán bộ tín dụng cũng phải xem xétngười xin vay có sử dụng vốn vay đúng không? Rồi thiện chí và nỗ lực củangười xin vay trong việc hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn Nếu thấy người vaygiả dối trong kế hoạch sử dụng nợ và trả nợ, thì cán bộ tín dụng từ chối chovay để tránh rủi ro tín dụng xảy ra sẽ gây tổn thất cho ngân hàng
+ Năng lực của người vay: Cán bộ tín dụng cần phải biết chắc chắnngười xin vay phải có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp lý đối với hợpđồng tín dụng Đồng thời cán bộ tín dụng cần phải biết chắc chắn rằng ngườiđại diện cho công ty ký hợp đồng phải là người được ủy quyền hợp pháp củacông ty Một hợp đồng tín dụng mà được ký kết bởi người không được ủyquyền có thể không thu hồi được nợ, tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng
+ Thu nhập của người cho vay: Tiêu chí thu nhập người vay tập trungvào câu hỏi: Người cho vay có khả năng tạo ra đủ tiền để trả nợ? Nhìn chung,
Trang 25người vay có ba khả năng để tạo tiền, đó là: luồng tiền từ doanh thu bán hàng,bán thanh lý tài sản, tiền từ phát hành chứng khoán nợ hay chứng khoán vốn.Bất cứ nguồn thu nào từ ba khả năng này đều có thể sử dụng để trả nợ chongân hàng Tuy nhiên, nguồn thu thứ nhất được ngân hàng ưu tiên nhất và coiđây là nguồn thu đầu tiên, là căn bản để trả nợ cho ngân hàng.
Cán bộ tín dụng cần đánh giá luồng tiền của khách hàng cụ thể: Kháchhàng có mức tăng trưởng của thu nhập phải ổn định trong quá khứ và phảiduy trì chắc chắn trong tương lai
+ Bảo đảm tiền vay: Cán bộ tín dụng cần tìm hiểu để biết người vay có
sở hữu một tài sản nào có giá trị, có chất lượng cao để hỗ trợ cho khoản vay.Tuy nhiên cán bộ tín dụng cần phải chú ý tới các yếu tố khác như: tuổi thọ,điều kiện, mức độ chuyên dụng của tài sản người vay đặc biệt chú ý đến khíacạnh công nghệ
+ Cán bộ tín dụng và nhà phân tích tín dụng cần phải biết được xu hướnghiện hành về công việc kinh doanh và ngành nghề của người vay, cũng nhưđiều kiện kinh tế xã hội có ảnh hưởng như thế nào đến khoản tín dụng Đểlàm được điều này đòi hỏi ngân hàng cần phải duy trì các phai dữ liệu thôngtin liên quan đến khách hàng như mẫu báo cáo có liên quan, các bài tạp chí,các báo cáo nghiên cứu
+ Kiểm soát: Nói chung cần tập trung vào các vấn đề như những thay đổitrong pháp luật và quy chế có ảnh hưởng xấu đến người vay và yêu cầu tíndụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn của ngân hàng về quản lýchất lượng tín dụng
2) Hợp đồng tín dụng phải được kí kết đúng đắn và hợp lệ
Cán bộ tín dụng phải có trách nhiệm và làm thoả mãn yêu cầu đồngthời của hai đối tượng là người vay và chủ nợ của ngân hàng Điều này đòihỏi hợp đồng tín dụng phải đáp ứng được nhu cầu vốn của người vay theo
Trang 26một kế hoạch trả nợ thuận lợi Đồng thời cán bộ tín dụng phải có khả năng cốvấn tài chính cho khách hàng, đồng thời hướng dẫn khách hàng hoàn thànhđơn xin vay.
Một hợp đồng tín dụng hợp lệ phải bảo vệ được quyền lợi của ngânhàng bằng cách quy định những điều khoản giới hạn hoạt động của ngườivay, nếu các hoạt động này đe doạ khả năng thu hồi vốn của ngân hàng
3) Ngân hàng có thể đòi nợ thuận lợi bằng tài sản đảm bảo
Trong khi những công ty lớn và khách hàng có hệ số tín nhiệm caokhông cần có đảm bảo tín dụng Những khách hàng còn lại thường được yêucầu phải có biện pháp bảo đảm tín dụng như cầm có, thế chấp tài sản hay bảolãnh trả nợ của người thứ ba
Khi nhận đảm bảo tín dụng, ngân hàng phải xác định rõ ràng và chínhxác những tài sản nào có thể là đối tượng có thể gán nợ và có thể bán được,đồng thời phải chứng minh được văn bản cho các chủ nợ khác biết rằng mình
là người hợp pháp có quyền chiếm đoạt tài sản khi người vay không trả đượcnợ
Các loại đảm bảo tín dụng thông thường:
+ Tài khoản phải thu: Ngân hàng nhận đảm bảo tín dụng bằng quy định
tỷ lệ % giá trị của tài khoản phải thu (bán hàng chịu, hay tín dụng thươngmại) theo số liệu trên bảng cân đối tài chính Khi khách hàng của người vaythanh toán tiền hàng mua chịu, thì số tiền này được dùng để trả nợ cho ngânhàng
+ Bao thanh toán: Ngân hàng có thể mua tài khoản phải thu của ngườivay theo tỷ lệ % nhất định theo giá trị ghi sổ Tỷ lệ này phụ thuộc chất lượng
và thời hạn của khoản phải thu Bởi vì ngân hàng đã mua các khoản phải thu
Trang 27(chuyển giao quyền sở hữu), nên ngân hàng sẽ thông báo cho khách hàng củangười vay là khoản tiền thanh toán mua hàng chịu sẽ trả trực tiếp cho ngânhàng.
+ Hàng tồn kho: Ngân hàng cũng có thể nhận hàng tồn kho, nguyên liệucủa người vay làm tài sản cầm cố Khoản đảm bảo tín dụng này, thông thườngngân hàng chỉ cho vay một tỷ lệ % nhất định trên giá trị thị trường hiện hànhcủa tài sản cầm cố, nhằm phòng ngừa hàng hoá giảm giá Tài sản cầm cố cóthể do người vay sở hữu hoàn toàn, nhưng giấy tờ sở hữu phải do ngân hàngnắm giữ
+ Thế chấp tài sản cố định: Các ngân hàng cũng có thể chấp nhận bảođảm tín dụng bằng tài sản cố định như đất đai, công trình gắn liền với đấtđai…
+ Bảo lãnh của bên thứ ba: Khi người vay không có đảm bảo tín dụng thìphải có một bên thứ ba đứng ra bảo lãnh Nghĩa là bên thứ ba cam kết với bêncho vay là sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho người vay, nếu người vaykhông trả được nợ khi đến hạn
b Kiểm tra tín dụng
Các điều kiện cấp tín dụng thường thay đổi theo thời gian, có ảnhhưởng đến điều kiện tài chính của người vay và khả năng hoàn trả nợ củakhách hàng Rồi những biến động trong nền kinh tế làm suy yếu một số công
ty và làm tăng tín dụng một số công ty khác Do vậy cán bộ tín dụng phảinhạy cảm với những diễn biến như vậy và định kỳ kiểm tra tất cả các khoảntín dụng cho đến khi chúng đến hạn
Những nguyên lý chung đang được áp dụng tại hầu hết các ngân hàngbao gồm:
Trang 28 Tiến hành kiểm tra định kỳ tất cả các loại tín dụng theo định kỳ nhấtđịnh, ví dụ định kỳ 30, 60, hay 90 ngày đối với khoản tín dụng nhỏ và vừa;còn đối với những khoản tín dụng lớn hơn phải thường xuyên hơn.
Xây dựng kế hoạch, chương trình, nội dung quá trình kiểm tra mộtcách thận trọng và chi tiết, bảo đảm rằng những khía cạnh quan trọng nhất củamỗi khoản tín dụng phải được kiểm tra bao gồm: xem xét kế hoạch trả nợ củakhách hàng, chất lượng và điều kiện tài sản đảm bảo tín dụng, tính đầy đủ vàhợp lệ của hợp đồng tín dụng, đánh giá điều kiện tài chính và những dự báo
về người vay, đánh giá xem khoản tín dụng có tuân thủ chính sách cho vaycủa ngân hàng không?
Kiểm tra thường xuyên các khoản tín dụng lớn, bởi vì nếu cáckhoản tín dụng lớn mà xảy ra gây tổn thất có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đếnđiều kiện tài chính của ngân hàng
Quản lý chặt chẽ và thường xuyên các khoản tín dụng có vấn đề,tăng cường kiểm tra giám sát khi phát hiện những dấu hiệu không lành mạnhliên quan đến khoản tín dụng của ngân hàng
Tăng cường kiểm tra tín dụng khi nền kinh tế có những biểu hiện đixuống, hoặc những ngành nghề sử dụng nhiều tín dụng của ngân hàng có biểuhiện những vấn đề nghiêm trọng trong phát triển
c Xử lý tín dụng có vấn đề
Các khoản tín dụng có vấn đề thường bao gồm các trường hợp: Ngườivay không thể trả đúng hạn một hay nhiều kỳ, tài sản đảm bảo tín dụng giảmđáng kể Do vậy các chuyên gia xử lý tín dụng của ngân hàng cần phải có cácbiện pháp hạn chế và xử lý nhằm hạn chế rủi ro tín dụng như:
- Tận dụng tối đa để thu hồi đầy đủ nợ đã cho vay
Trang 29- Khẩn trương khám phá và báo cáo kịp thời mọi vấn đề thực chấtliên quan đến tín dụng, mọi chậm trễ đều làm cho tình hình tín dụng xấu hơn.
- Trách nhiệm xử lý tín dụng có vấn đề phải độc lập với chức năngcho vay nhằm tránh những xung đột có thể xảy ra với quan điểm của cán bộtín dụng trực tiếp cho vay
- Chuyên gia xử lý tín dụng cần hội ý khẩn với khách hàng về các giảipháp có thể, đặc biệt là tinh giảm chi phí, tăng nguồn thu, và tăng cường côngtác quản lý
- Dự tính những nguồn thu có thể dùng để thu nợ có vấn đề
- Chuyên gia cần tiến hành nghiên cứu nghĩa vụ thuế và những tranhchấp xem khách hàng còn nghĩa vụ tài chính nào chưa thực hiện
- Đối với doanh nghiệp, chuyên gia cần đánh giá chất lượng, năng lực
và sự nhất quán trong quản lý, đồng thời trực tiếp tiến hành khảo sát các hoạtđộng và các tài sản của doanh nghiệp
- Chuyên gia phải cân nhắc mọi phương án có thể hoàn thành việc thuhồi nợ có vấn đề, bao gồm cả việc thoả thuận gia hạn nợ tạm thời nếu kháchhàng chỉ gặp khó khăn trước mắt, hoặc tìm kiếm giải pháp nhằm tăng cườnglưu chuyển tiền tệ cho khách hàng
d Hệ thống chỉ tiêu tài chính đánh giá khách hàng
1) Nhóm chỉ tiêu thanh khoản
Chỉ tiêu thanh toán nhanh hay tức thời: là khả năng chuyển tài sản lưuđộng thành tiền một cách nhanh chóng, người ta sử dụng chỉ tiêu thanh toántheo một trong hai cách sau:
+ Chỉ tiêu thanh toán tức thời
Trang 30Các tài sản lưu động chuyển thành tiền tức thời Chỉ tiêu thanh toán tức thời = -
Nợ ngắn hạn+ Chỉ tiêu thanh toán ngắn hạn
Tài sản lưu động Chỉ tiêu thanh toán ngắn hạn = -
Nợ ngắn hạn+ Chỉ tiêu vốn lưu động ròng
Chỉ tiêu vốn lưu động ròng = Tài sản lưu động - Nợ ngắn hạn
2) Nhóm chỉ tiêu hoạt động
Nhóm chỉ tiêu hoạt động đo lường mức độ hiệu quả trong việc sử dụngtài sản của doanh nghiệp Có ba chỉ tiêu chính về hoạt động của doanhnghiệp:
+ Vòng quay hàng tồn kho
Giá vốn hàng bánVòng quay hàng tồn kho = -
Hàng tồn kho bình quân + Kỳ thu nợ bình quân
Tài khoản phải thu bình quân
Kỳ thu nợ bình quân =
-Doanh số bán chịu hàng ngày bình quân
Trang 31+ Vòng quay tổng tài sản
Doanh thu hàng nămVòng quay tổng tài sản = -
Tổng tài sản3) Nhóm chỉ tiêu đòn bẩy
Nhóm chỉ tiêu đòn bẩy phản ánh quy mô nợ so với vốn cổ phần củadoanh nghiệp, đồng thời là bằng chứng về khả năng hoàn trả các khoản nợcủa doanh nghiệp trong dài hạn
+ Tỷ số nợ trên tổng tài sản
Tổng dư nợ
Tỷ số nợ =
-Tổng tài sản + Khả năng trả lãi tiền vay
Lợi nhuận trước thuế và lãi vayKhả năng trả lãi tiền vay = -
Chí phí lãi vay4) Nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời
+ Tỷ lệ sinh lời trên doanh thu
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ lệ sinh lời của doanh thu =
-Doanh thu
Trang 32+ Tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu
Lợi nhuận sau thuế ROE = -
Vốn chủ sở hữu+Tỷ lệ sinh lời trên tổng tài sản
Lợi nhuận sau thuế ROA = -
t
Y 0 1 1 2 2
Điều kiện để quá trình AR(p) hội tụ là 1 i 1 ,i 1 , 2 , ,p
Và trường hợp đặc biệt quá trình trung bình trượt bậc q có dạng:
q t q t