1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

mot so cau hoi tháo luan va thi mon nhung van de co ban he thong chinh tri, NN va PL XHCN

20 214 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 176,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Khái niệm hệ thống chính trị Hệ thống chính trị theo nghĩa rộng là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ lĩnh vực chính trị của đời sống xã hội với tư cách là một hệ thống bao gồm các tổ chức, các chủ thể chính trị, các quan điểm, quan hệ chính trị, các quan điểm, quan hệ chính trị, hệ tư tưởng và các chuẩn mực chính trị, pháp luật... Theo nghĩa hẹp, hệ thống chính trị là khái niệm dùng để chỉ hệ thống các tô chức, các cơ quan thực hiện chức năne chính trị trong xã hội như các đảngchính trị, các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội có mối liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với quyền lực chính trị. Hệ thống chính trị xuất hiện gắn liền với sự xuất hiện của giai cấp, nhà nước. Quan hệ sản xuất đặc trưng cho một chế độ xã hội quy định bản chất và xu hướng vận động của hệ thống chính trị. Hệ thống chính trị biểu hiện và thực hiện đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền, do đó mang bản chất của giai cấp cầm quyền.

Trang 1

Câu 1: Trình bày các

quan hệ chính trị trong hệ

thống chính trị ở nước ta?

1 Khái niệm hệ thống

chính trị

Hệ thống chính trị theo

nghĩa rộng là khái niệm dùng

để chỉ toàn bộ lĩnh vực chính

trị của đời sống xã hội với tư

cách là một hệ thống bao

gồm các tổ chức, các chủ thể

chính trị, các quan điểm,

quan hệ chính trị, các quan

điểm, quan hệ chính trị, hệ tư

tưởng và các chuẩn mực

chính trị, pháp luật

Theo nghĩa hẹp, hệ thống

chính trị là khái niệm dùng

để chỉ hệ thống các tô chức,

các cơ quan thực hiện chức

năne chính trị trong xã hội

như các đảngchính trị, các cơ

quan nhà nước, các tổ chức

chính trị - xã hội có mối liên

hệ trực tiếp hay gián tiếp với

quyền lực chính trị

Hệ thống chính trị xuất

hiện gắn liền với sự xuất

hiện của giai cấp, nhà nước

Quan hệ sản xuất đặc trưng

cho một chế độ xã hội quy

định bản chất và xu hướng

vận động của hệ thống chính

trị Hệ thống chính trị biểu

hiện và thực hiện đường lối

chính trị của giai cấp cầm

quyền, do đó mang bản chất

của giai cấp cầm quyền

1.2 Hệ thống chính trị

XHCN Việt Nam

Hệ thống chính trị xã hội

chủ nghĩa Việt Nam là liên

minh các thiết chế quyền lực chính trị - xã hội gắn bó chặt chẽ với nhau, dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng thực hiện quyền lực nhân dân, quản lý và lãnh đạo xã hội vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Hệ thống chính trị nước ta bao gồm các bộ phận:

- Đảng Cộng sản Việt Nam; Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Các

tổ chức chính trị - xã hội;

Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam; Hội Liên hiệp Phụ

nữ Việt Nam; Hội Nông dân Việt Nam; Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;Hội Cựu chiến binh Việt Nam

2 Các quan hệ chính trị

- Quan hệ giữa người có chủ quyền và người được

ủy quyên

Trong hệ thống chính trị nước ta, công dân Việt Nam

là người có chủ quyền nhà nước Công dân Việt Nam thực hiện sự ủy quyền (bầu

cử dân chủ: tự do, phổ thông, trực tiếp và kín) để bầu ra các

cơ quan quyền lực nhà nước

và có thể bãi miễn các cơ quan đó Các cơ quan quyền lực nhà nước thay mặt nhân dân thực thi quyền lực nhà nước, thực chất là hiện thực hóa quyền, ý chí và lợi ích của nhân dân

Quyền lực chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam về thực chất là quyền lực do đảng viên ủy quyền tạo thành

Các tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở đều thay mặt đảng viên, mà cơ quan cao nhất là Đại hội đại biểu toàn quốc thực hiện quyền lực chính trị, thực hiện sự lãnh đạo nhà nước và xã hội Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội là các

cơ quan đại diện cho quyền

và lợi ích hợp pháp của thành viên hội viên, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, vừa tham gia vào đời sống chính trị của đất nước, vừa thực hiện chức năng xã hội đối với thành viên và hội viên của mình

- Quan hệ theo chiều ngang

Trong hệ thống chính trị nước ta, các quan hệ chính trị được xác lập do một cơ chế chủ đạo (và cũng là quan hệ chủ đạo) Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý

Trong các mối quan hệ này,

sự lãnh đạo của Đàng được xác định bằng các phương thức chủ yếu sau:

+ Lãnh đạo bằng cương lĩnh, đường lối, chủ trương, thông qua các nghị quyết của các tổ chức đảng từ nghị quyết đại hội Đảng đến nghị quyết chi bộ cơ sở Đường

Trang 2

lối, cương lĩnh của Đảng

được thể chế hóa, cụ thể hóa

trong Hiến pháp và pháp luật,

trong hệ thống văn bản pháp

quy của Nhà nước

+ Lãnh đạo bằng giáo dục,

tuyên truyền vận động nêu

gương

+ Lãnh đạo bằng công tác tổ

chức và cán bộ

+ Lãnh đạo bằng công tác

kiểm tra

Nhân dân làm chủ, trước hết

được xác định ở địa vị chủ

thể quyền lực Nhà nước Chỉ

nhân dân mới có chủ quyền

đối với quyền lực nhà nước

Nhưng nhân dân ủy quyền

cho các đại biểu của mình và

giám sát đại biểu đó trong

quá trình thực thi quyền lực

nhà nước

Nhân dân còn làm chủ bằng

các hình thức trực tiếp và

gián tiếp (thông qua các đại

biểu, các cơ quan dân cử và

các đoàn thể của dân) Ngày

nay, quyền làm chủ của nhân

dân ở nước ta không chỉ được

đảm bảo bằng Hiến pháp,

pháp luật mà còn bằng hệ

thống truyền thông, các

phương tiện thông tin đại

chúng, các cuộc vận động,

thông qua thực hiện quy chế

dân chủ cơ sở, thực hiện dân

biết, dân bàn, dân làm, dân

kiểm tra, thông qua vai trò

của Mặt trận Tổ quốc và các

đoàn thể nhân dân

Nhà nước quản lý xã hội

trước hết bằng hệ thống quy

phạm pháp luật, bằng hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước từ các bộ đến các

cơ sở, trong đó không loại trừ các biện pháp cưỡng chế để đảm bảo thực hiện sự nghiêm minh của pháp luật Nhà nước thực hiện quản lý trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, quản lý theo ngành hoặc lãnh thổ theo cấp

vĩ mô hoặc vi mô Nhà nước thực hiện sự quản lý bằng cả chính sách, các công cụ đòn bẩy khác

Mục tiêu của quản lý nhà nước là phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đảm bào cho nhân dân được làm tất cả những gì

mà pháp luật không cấm, phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế, nhằm phát triển nhanh và mạnh mẽ lực lượng sản xuất của đất nước

Quan hệ giữa Nhà nước với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

là quan hệ phối hợp hành động, được thực hiện theo Quy chế phối hợp công tác

do ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cơ quan hữu quan

ở từng cấp ban ngành

Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là người lãnh đạo Mặt trận vừa là thành viên của Mặt trận Vì vậy, quan hệ giữa Đảng và Mặt trận Tổ quốc vừa là quan hệ lãnh đạo vừa là quan hệ hiệp thương

dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động

Các thành viên của Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam phải tuân theo Điều lệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đồng thời vẫn giữ tính độc lập của tổ chức mình

- Quan hệ dọc từ Trung ương đến cơ sở

Quan hệ giữa Trung ương -địa phương và cơ sở của các

tổ chức trong hệ thống chính trị nước ta được tổ chức theo cấp hành chính gồm 4 cấp Trong đó, cấp dưới phải phục tùng cấp trên Trong mối quan hệ phân cấp, bao giờ cũng đi kèm với phân quyền nhất định, nhằm đảm bảo cho cấp dưới vừa đại diện cho lợi ích cấp trên và cả nước, đồng thời phát huy được sự năng động sáng tạo của địa phương

và cơ sở

- Quan hệ bên trong và bên ngoài hệ thống chính trị

Quan hệ giữa hai hệ thống chính trị là quan hệ của từng

tổ chức cấu thành hệ thống chính trị này với những bộ phận tương ứng của một hệ thống chính trị khác Tuy vậy, cũng cần khẳng định rằng, mối quan hệ giữa các nhà nước là quan trọng nhất Trong mối quan hệ này, vấn

đề đặt ra là song song với việc thừa nhận chủ quyền quốc gia là cơ bản trong quan

hệ quốc tế, vẫn chủ động và

Trang 3

tích cực hội nhập,vừa bảo vệ

chủ quyền quốc gia vừa cam

kết thực hiện các công ước,

các thỏa thuận quốc tế

CÂU 2: PHÂN TÍCH

ĐẶC TRƯNG CỦA NHÀ

NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ

HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT

NAM

1 Khái niệm nhà

nước pháp quyền xã hội

chủ nghĩa Việt Nam

Nhà nước pháp quyền xã

hội chủ nghĩa là nhà nước xã

hội chủ nghĩa thực sự của

dân, do dân, vì dân; tất cả

quyền lực nhà nước thuộc về

nhân dân; bảo đảm tính tối

cao của Hiến pháp, quản lý

xã hội theo pháp luật nhằm

phục vụ lợi ích và hạnh phúc

của nhân dân, do Đảng tiền

phong của giai cấp công

nhân lãnh đạo đồng thời chịu

trách nhiệm trước nhân dân

và sự giám sát của nhân dân.

2 Đặc trưng của Nhà

nước pháp quyền xã hội

chủ nghĩa Việt Nam

Trong những năm đổi mới

vừa qua, Đảng ta đã từng

bước phát triển hệ thống quan

điểm, nguyên tắc cơ bản về

xây dựng Nhà nước pháp

quyền xã hội chủ nghĩa của

dân, do dân, vì dân Từ nhận

thức lý luận và thực tiễn xây

dựng nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa có thể khái

quát nhà nước pháp quyền xã

hội chủ nghĩa có những đặc trưng sau đây:

21 Đó là nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân;

bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

Gợi ý: Nhà nước của dân:

người dân được hưởng mọi quyền dân chủ, có quyền làm những việc pháp luật không cấm và có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật Đồng thời,

là người chủ cũng phải thể hiện năng lực, trách nhiệm làm chủ của mình

+ Toàn bộ công dân bầu ra Quốc hội - cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước, cơ quan duy nhất có quyền lập pháp

+ Quốc hội bầu ra Chủ tịch nước, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ + Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của Nhà nước, thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội và chấp hành pháp luật

+ Mọi công việc của bộ máy nhà nước trong việc quản lý xã hội đều thực hiện

ý chí của dân

Nhà nước vì dân

Đó là Nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân, không có đặc quyền đặc lợi, thực sự trong sạch, cần kiệm liêm chính Trong nhà nước đó,

cán bộ từ chủ tịch trở xuống đều là công bộc của dân Mọi hoạt động của chính quyền phải nhằm mục tiêu mang lại quyền lợi cho nhân dân và lấy con người làm mục tiêu phấn đấu lâu dài Trách nhiệm của Nhà nước là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của nhân dân

22 Đó là nhà nước tổ chức, hoạt động theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước về mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (bổ sung và phát triển năm 2011), Hiến pháp sửa đổi năm 2013 khẳng định:

“Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các

cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Điều 2) Điều

6 quy định nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước không những bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước, mà còn bằng dân chủ trực tiếp thông qua việc thực hiện quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân, trong đó có trưng cầu ý dân

Trang 4

về Hiến pháp (Điều 29 và

Điều 120)…

23 Đó là nhà nước được tổ

chức, hoạt động trên cơ sở

Hiến pháp và pháp luật,

bảo đảm tính tối cao của

Hiến pháp và luật trong đời

sống xã hội.

24 Đó là nhà nước tôn

trọng, thực hiện và bảo vệ

quyền con người, tất cả vì

hạnh phúc của con người;

bảo đảm trách nhiệm giữa

nhà nước và công dân, thực

hành dân chủ gắn với tăng

cường kỷ cương, kỷ luật.

Gợi ý: Trong hoạt động của

mình mọi cơ quan trong bộ

máy nhà nước, mọi cán bộ

công chức nhà nước đều phải

vì lợi ích của nhân dân và Tổ

quốc, lấy tinh thần phục vụ

hân dân làm phương châm

cho việc thực thi công vụ của

mình và phải chịu sự giám sát

của nhân dân Có cơ chế để

buộc cán bộ, công chức, viên

chức nhà nước phải thực sự

gần gũi với người dân trong

công tác cũng như trong sinh

hoạt cuộc sông hàng ngày

Trong lĩnh vực dân chủ và tự

do của công dân, nhà nước

phải ban hành pháp luật để

tạo lập được một cơ chế pháp

lý để thúc đẩy và bảo đảm

dân chủ của xã hội và của

công dân Một trong những

nhiệm vụ quan trọng trong

công tác xây dựng pháp luật

hiện nay là chú trọng đến

việc đổi mới hoàn thiện pháp

luật về dân chủ (cả dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp)

Cần phải xác định chế độ pháp lý về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước trong việc đảm bảo và tôn trọng quyền công dân Nhà nước phải xây dựng và hoàn thiện những thể chế, cơ chế về phòng chống, trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí vô trách nhiệm, lạm quyền Cần phải quy định rõ chế độ trách nhiệm và các hình thức xử lý nghiêm đối với cán bọ, công chức, viên chức có nhũng hành vi về qun liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm và xử lý nghiêm minh những hành vị này không kể người đó là ai, giữ chức vụ cao hay thấp Có như vậy mới xây dựng được

bộ máy nhà nước trong sạch vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả

25 Đó là nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân sự giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận

Việc thực hiện giám sát và phản biện xã hội phải gắn với việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; bảo vệ

quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tăng cường đồng thuận xã hội

và mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân

Việc tổ chức thực hiện giám sát và phản biện xã hội cần có lộ trình thích hợp, phù hợp với năng lực tổ chức thực hiện của ủy ban MTTQVN, các tổ chức thành viên và điều kiện thực tế ở mỗi cấp; thời gian đầu cần tiến hành thí điểm, sau đó rút kinh nghiệm để triển khai diện rộng; định kỳ sơ kết, tổng kết nhằm nhân rộng các cách làm tốt, rút kinh nghiệm cách làm chưa hiệu quả, đề xuất sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn để bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ hiệu quả, thiết thực

26 Đó là nhà nước thực hiện đường lối hòa bình, hữu nghị với nhân dân các dân tộc và các nhà nước trên thế giới trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thố của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và cùng có lợi; đồng thời tôn trọng và cam kết thực hiện các công ước, điều ước, hiệp ước quốc tế

đã tham gia, ký kết, phê chuẩn.

Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định nội dung cơ bản của chính sách đối ngoại

Trang 5

của nhà nước ta nhưng có sự

sửa đổi, bổ sung cho thích

hợp với tình hình mới Điều

12 Hiến pháp năm 2013 quy

định:

“Nước Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam thực hiện

nhất quán đường lối đối

ngoại độc lập, tự chủ, hòa

bình, hữu nghị, hợp tác và

phát triển; đa phương hóa, đa

dạng hóa quan hệ, chủ động

và tích cực hội nhập, hợp tác

quốc tế trên cơ sở tôn trọng

độc lập, chủ quyền và toàn

vẹn lãnh thổ, không can thiệp

vào công việc nội bộ của

nhau, bình đẳng, cùng có lợi;

tuân thủ Hiến chương Liên

hợp quốc và điều ước quốc tế

mà Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam là thành

viên; là bạn, đối tác tin cậy và

thành viên có trách nhiệm

trong cộng đồng quốc tế vì

lợi ích quốc gia, dân tộc, góp

phần vào sự nghiệp hòa bình,

độc lập dân tộc, dân chủ và

tiến bộ xã hội trên thế giới”

Câu 3: Làm rõ vai trò của pháp luật xã hội chủ nghĩa ? Liên hệ thực tế ở nước ta về vai trò điều chỉnh của pháp luật.

1 Khái niệm pháp luật xã hội chủ nghĩa:

Pháp luật xã hội chủ nghĩa

là hệ thống những quy tắc xử

sự chung do nhà nước xã hội chủ nghĩa ban hành hoặc thừa nhận thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và đại đa

số nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và được đảm bảo thực hiện bằng bộ may nhà nước và phương thức tác động của nhà nước, trên cơ sở giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế của nhà nước nhằm xây dựng chế độ

xã hội chủ nghĩa.

2 Vai trò của pháp luật xã hội chủ nghĩa

Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, không thể không khẳng đinh vai trò quan trọng của pháp luật đối với quản lý nhả nước, quản lý xã hội

Vai trò của pháp luật được thể hiện ở những khía cạnh sau đây:

a Vai trò của pháp luật đối với kinh tế

Pháp luật là phương tiện hàng đầu xác định địa vị pháp lý bình đẳng đối với các chủ thể tham gia quan hệ kinh tế; tạo lập các "khung pháp lý" để các chủ thể quản

lý nhà nước dựa vào các chuẩn mực pháp lý để

Pháp luật là phương tiện lâm cho các quan hệ kinh tế trở thành quan hệ pháp luật

VD: Điều 7 Quyền của doanh nghiệp (luật doanh nghiệp 2014)

1 Tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm.

2 Tự chủ kinh doanh và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh; chủ động điều chỉnh quy mô và ngành, nghề kinh doanh.

3 Lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân

bổ và sử dụng vốn.

4 Chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng.

Pháp luật là phương tiện củng cố và bảo vệ những nguyên tắc vốn có của nền kinh tế thị trường

Pháp luật còn là phương tiện bảo vệ lợi ích kinh tế tốt nhất cho các bên tham gia hoạt động kinh tế trong trường hợp xảy ra tranh chấp kinh tế, vi phạm hợp đồng kinh tế

b Vai trò của pháp luật đối với hệ thống chính trị

Đối với sự lãnh đạo của Đảng, pháp luật là phương

tiện để thể chế hóa đường lối, chủ trương chính sách của

Trang 6

Đảng, làm cho đường lối đó

có hiệu lực thực thi và bắt

buộc chung trên quy mô toàn

xã hội Pháp luật là phương

tiện để Đảng kiểm tra đường

lối của mình trong thực tiễn

Mặt khác, pháp luật còn là

phương tiện phân định rõ

phương thức lãnh đạo của

Đảng và chức năng quản

lý,điều hành của Nhà nước

- Đối với nhà nước, pháp

luật là cơ sở pháp lý tổ chức

và hoạt động của chính mình,

là sự ghi nhận về mặt pháp lý

trách nhiệm của nhà nước đối

với xã hội và cá nhân, công

dân, là phương tiện quản lý

có hiệu lực đối với mọi mặt

đời sống xã hội Pháp luật là

phương tiện chứa đựng trong

nó sự kết hợp giữa thuyết

phục và cưỡng chế, giữa tập

trung và dân chủ, giữa năng

động, sáng tạo với kỷ cương,

kỷ luật Do đó, khi thực hiện

các chức năng của mình, nhà

nước không thể không sử

dụng phương tiện pháp luật

VD: Luật tổ chức Chính

phủ năm 2001, Luật tổ chức

HĐND và UBND năm

2003, quy định rõ về cơ cấu

tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn

của Chính phủ, HĐND,

UBND,

- Đối với các tổ chức chính

trị - xã hội, pháp luật là cơ sở

pháp lý bảo đảm cho nhân

dân tham gia vào quản lý nhà

nước, quản lý xã hội thông

qua các tổ chức chính trị - xã

hội của mình Pháp luật thể chế và phát triển nền dân chủ

xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân

Nhân dân dựa vào pháp luật

để phàn ứng, đấu tranh với các hành vi lạm quyền, cưỡng chế ngoài quy định của pháp luật

Điều 30 Hiến pháp 2013 quy định rõ: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với

cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”.

c Vai trò của pháp luật đối với đạo đức và tư tương

- Đối với đạo đức, pháp luật

xã hội chủ nghĩa bảo vệ và phát triền đạo đức xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tính công bằng, chủ nghĩa nhân đạo, tự do, lòng tin và lương tâm con người Sự ghi nhận bằng pháp luật các nghĩa vụ, đạo đức trước xã hội nhằm củng

cố và bảo vệ hạnh phúc gia đình, giáo dục thế hệ trẻ, khuyến khích sự giúp đỡ đồng chí, tính lương thiện, trung thực thể hiện vai trò của pháp luật

Luật hôn nhân gia đình 2014

Luật Bình đẳng giới 2006

- Đối với tư tưởng, có thể nói, pháp luật là phương tiện đăng tải thế giới quan khoa học, các tư tưởng tiến bộ và các giá trị nhân loại Vì thế,

pháp luật xã hội chủ nghĩa có vai trò quan trọng trong củng

cố và nâng cao nhận thức tư tưởng cho con người dưới chủ nghĩa xã hội

d Vai trò của pháp luật đối với quá trình hội nhập quốc tế

Pháp luật là công cụ, phương tiện thực hiện chủ trương, chính sách đối ngoại của các quốc gia trên trường quốc tế Đồng thời, pháp luật còn là phương tiện bảo vệ lợi ích hợp pháp cho các chủ thể trong quá trình hội nhập quốc tế

Điều 12 Hiến pháp 2013: 

“Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa,

đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam là thành viên; là bạn, đối tác tin cậy

và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”

Trang 7

Liên hệ thực tế ở nước ta

về vai trò điều chỉnh của

pháp luật:

Điều chỉnh pháp luật được

hiểu là việc nhà nước dựa

vào pháp luật, sử dụng 1 loạt

các phương tiện pháp lý đặc

thù (quy phạm pháp luật, văn

bản áp dụng pháp luật, quan

hệ pháp luật, những hành vi

thực hiện quyền và nghĩa vụ

pháp lý) để điều chỉnh các

quan hệ xã hội, tác động đến

các quan hệ xã hội theo

hướng nhất định  

Cơ chế điều chỉnh của pháp

luật: Là hệ thống thống nhất

các phương tiện, quy trình

pháp lý thông qua đó thực

hiện sự tác động của pháp

luật lên các mối quan hệ xã

hội nhằm thực hiện những

nghĩa vụ và mục đích nhà

nước đặt ra.

Các yế tố trong cơ chế điều

chỉnh của pháp luật:

+ Yếu tố 1: Quy phạm pháp

luật Đây chính là sự mô hình

hóa các hành vi xử sự trong

quan hệ xã hội  

+ Yếu tố 2: là các Quyết

định áp dụng pháp luật của

các cơ quan nhà nước có

thẩm quyền có tính cá biệt,

cụ thể, nhằm đảm bảo đưa

các yêu cầu của quy phạm

pháp luật vào cuộc sống;

hoặc bảo đảm sự xuất hiện

các quan hệ pháp luật hoặc

bảo đảm sự thực hiện quyền

và nghĩa vụ  

+ Yếu tố 3: là các quan hệ pháp luật Trên cơ sở quy phạm pháp luật và các quyết định áp dụng pháp luật được ban hành theo sáng kiến hoặc trên cơ sở xuất hiện các sự pháp lý khác, các quan hệ pháp luật phát sinh với nội dung là các quyền và nghĩa chủ thể  

+ Yếu tố 4: là các hành vi thực tế của các chủ thể quan

hệ pháp luật thực hiện quyền

và nghĩa vụ của mình  

Câu 4: PHƯƠNG HƯỚNG, XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ?

1 Khái niệm pháp luật xã hội chủ nghĩa:

Pháp luật xã hội chủ nghĩa

là hệ thống những quy tắc xử

sự chung do nhà nước xã hội chủ nghĩa ban hành hoặc thừa nhận thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và đại đa số nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và được đảm bảo thực hiện bằng bộ may nhà nước và phương thức tác động của nhà nước, trên cơ sở giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế của nhà nước nhằm xây dựng chế độ

xã hội chủ nghĩa

2 Khái niệm Hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa

Hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa là tổng thể các quy phạm PL có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, được phân định thành các chế định PL, các ngành luật và được thể hiện trong các văn bản quy phạm

PL do các cơ quan NN có thẩm quyền ban hành theo những trình tự thủ tục và các hình thức nhất định

3 Phướng hướng xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật nước ta hiện nay

Yêu cầu khách quan, cấp bách của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật xuất phát

Trang 8

từ chính yêu cầu của việc xây

dựng Nhà nước pháp quyền

Việt Nam xã hội chủ nghĩa

của dân, do dân và vì dân,

bảo đảm phát huy quyền làm

chủ của nhân dân, thực hiện

được yêu cầu quản lý xã hội

bằng pháp luật Yêu cầu

khách quan đó còn xuất phát

từ đòi hỏi xây dựng và phát

triển thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa và chủ động

hội nhập kinh tế khu vực và

thế giới Mặt khác, yêu cầu

khách quan, cấp bách đó còn

bắt nguồn từ đòi hỏi phải

khắc phục những yếu kém,

hạn chế, bất cập của hệ thống

pháp luật hiện hành và công

tác tổ chức thực hiện pháp

luật của Nhà nước ta

Xây dựng và hoàn thiện hệ

thống pháp luật và tổ chức

thực hiện pháp luật phải quán

triệt những quan điểm có tính

nguyên tắc là bảo đảm sự phù

hợp giữa ý chí chủ quan với

thực tế khách quan trong xây

dựng và hoàn thiện hệ thống

pháp luật; bảo đảm tính dân

chủ, pháp chế, khoa học

trong xây dựng pháp luật;

bảo đảm tính hiệu quả của

việc điều chỉnh pháp luật

Đồng thời phải bảo đảm sự

tương thích giữa pháp luật

quốc gia với pháp luật quốc

tế mà Nhà nước ta đã tham

gia ký kết hoặc gia nhập

Trong điều kiện Đảng cầm

quyền phải bảo đảm tăng

cường sự lãnh đạo của Đảng

đối với hoạt động xây dựng

và hoàn thiện hệ thống pháp luật tổ chức thực hiện pháp luật

Mục tiêu của hoạt động xây dựng pháp luật trong thời tjian tới là phấn đấu đến 2020 xây dựng được hệ thống pháp luật tương đối đầy đủ đồng

bộ, thống nhất, khả thi, đủ về

số lượng và bảo đảm về chất lượng, có tính ổn định, tất cả các lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội đều được điều chinh trực tiếp bằng các

bộ luật và luật nhằm phát huy vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước và quản lý

xã hội, trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường, nhưng bảo đảm định hướng xã hội chu nghĩa và phát triển bền vững, đồng thời bảo đảm chủ động hội nhập và mở cửa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Đề đạt được mục tiêu trên đây cần xây dựng được chiến lược Chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật cho cả giai đoạn 2005-2020 và từng khóa Quốc hội, từng kỳ họp Quốc hội đồi mới quy trình lập pháp, lập quy, tăng cường năng lực xây dựng dự thảo luật của Chính phủ, đổi mới

và nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc hội

Căn cứ vào mục tiêu và những định hướng nói trên,

xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong thời gian tới cần tập trung vào

những nội dung cơ bản sau đây:

- Trong lĩnh vực kinh tế:

cần tập trung hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp, pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, pháp luật về sở hữu; xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tài chính công, pháp luật về thuế; pháp luật về bảo

vệ tài nguyên, môi trường; pháp luật về thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường bất động sản

- Trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, khoa học – công nghệ: tiếp tục xây dựng và

hoàn thiện pháp luật về giáo dục, đào tạo nhằm tạo ra cơ

sở pháp lý cho việc cải cách một cách căn bản toàn diện nền giáo dục quốc gia phù hợp với thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hoàn thiện pháp luật về khoa học và công nghệ nhằm thúc đẩy thị trường khoa học và công nghệ phát triển, khuyến khích đầu tư cho nghiên cứu khoa học, gắn nghiên cứu với ứng dụng

- Trong lĩnh vực xã hội:

trước hết coi trọng hoàn thiện pháp luật về chăm sóc và bảo

vệ sức khỏe cho nhân dân, hoàn thiện pháp luật về dân tộc và tôn giáo; hoàn thiện pháp luật về báo chí và xuất bản; quan tâm việc xây dựng

Trang 9

và ban hành các văn bản quy

phạm pháp luật đảm bảo thực

hiện các chính sách công

bằng xã hội, về xóa đói giảm

nghèo về bảo vê người tiêu

dùng, về giúp đỡ và tư vấn

pháp luật Đồng thời tiếp tục

hoàn thiện pháp luật để đấu

tranh phòng chống các tệ nạn

xã hội có hiệu lực và hiệu

quả hơn

- Trong lĩnh vực an ninh,

quốc phòng và trật tự, an

toàn xã hội: cần coi trọng

việc xây dựng và hoàn thiện

pháp luật về bảo vệ biên giới,

pháp luật trong việc dấu tranh

phòng chống tội phạm và vi

phạm pháp luật; rà soát và

pháp điển hóa pháp luật về

trật tự, an toàn giao thông

- Trong lĩnh vực tổ chức

và hoạt động của bộ máy

Nhà nước: tiếp tục hoàn

thiện pháp luật về tổ chức và

hoạt động của bộ máy nhà

nước bao gồm pháp luật về tổ

chức Quốc hội, I~uật TỔ

chức Chính phủ, Luật TỔ

chức Viện Kiểm sát nhân

dân, Luật Tổ chức Tòa án

nhân dân, Luật Tổ chức Hội

đồng nhân dân và ủy ban

nhân dân các cấp Gắn với

các văn bản luật nêu trên cần

tiếp tục hoàn thiện pháp luật

về tổ chức, hoạt động của các

cơ quan điều tra, cơ quan thi

hành án bổ trợ tư pháp Tất

cả nội dung đổi mới tổ chức

hoạt động của bộ máy nhà

nước phải đáp ứng yêu cầu

xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân do dân, vì dân

Cùng với việc đẩy mạnh công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong một nhà nước pháp quyền, điều quan trọng hơn là đảm bảo cho các quy định của pháp luật phải được thi hành trên thực tế Muốn vậy phải đẩy mạnh các hoạt động

tổ chức thực hiện pháp luật

mà trước hết là công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục, giải thích, hướng dẫn thực hiện pháp luật mở rộng các hoạt động dịch vụ và tư vấn pháp lý trong xã hội Chấn chỉnh các tổ chức và hoạt động của luật sư, công chứng, giám định, hộ tịch, thi hành án Đương nhiên việc đổi mới tổ chức hoạt động của các cơ quan tư pháp bảo đảm cho các cơ quan này thực hiện đúng chức năng luật định có ý nghĩa quan trọng và quyết định trong tổ chức thực hiện pháp luật

VẤN ĐỀ 5: Trình bày các nguyên tắc và yêu cầu của Pháp chế XHCN Liên hệ thực tế về việc thực hiện các nguyên tắc Pháp chế XHCN ở nước ta hiện nay Khái niệm pháp chế XHCN

Pháp chế XHCN là chế độ của đời sống chính trị - xã hội; trong đó Nhà nước quản

lý Xh bằng Hiến pháp và Pháp luật; các cơ quan Nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị

xã hội, các tổ chức xã hộ -nghề nghiệp, các tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế và mọi công dân đều phải tôn trọng

và thực hiện Hiến pháp, Pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác Mọi vi phạm Pháp luật đều bị xử lý theo Hiến pháp và Pháp luật

Nguyên tắc của pháp chế XHCN

Nguyên tắc của Pháp chế XHCN là những tư tưởng chủ đạo, cơ bản thể hiện bản chất

và đặc điểm của Pháp chế XHCN Gồm những nguyên tắc cơ bản sau đây:

Thứ nhất, Bảo đảm sự thống nhất của pháp chế trên vi mô toàn quốc

Pháp chế thống nhất nghĩa

là trên quy mô toàn quốc chỉ

có một nền pháp chế duy nhất, không có và không thể

có pháp chế của phương này hay của địa phương khác

Trang 10

Thứ hai, Bảo đảm hiệu lực

pháp lý cao nhất của Hiến

Pháp

Hiến pháp là văn bản pháp

luật có giá trị pháp lý cao

nhất; những văn bản khác kể

cả văn bản pháp luật đều phụ

thuộc vào hiệu lực của hiến

pháp, được ban hành trên cơ

sở hiến pháp và nhằm cụ thể

hoá, thực hiện hiến pháp

Không có quá trình cụ thể

hoá đó thì những quy định

của hiến pháp, sẽ khó khăn

khi đi vào đời sống xã hội

Thứ ba, Thực hiện pháp

luật là nguyên tắc bắt buộc

chung đối với mọi người,

không có ngoại lệ

Pháp luật phải được triệt để

tuân theo và chấp hành

nghiêm chỉnh, không cho

phép một ngành, một cơ

quan, hoặc một cá nhân nào

đó tự cho phép mình không

thực hiện những quy định của

pháp luật khi mà những quy

định đó đang còn hiệu lực,

chưa bị sửa đổi hoặc chưa bãi

bỏ Sự tuân theo và chấp

hành đó là vô điều kiện

Thứ tư, Nguyên tắc phải

chịu trách nhiệm pháp lý bắt

buộc khi vi phạm Pháp luật

Trách nhiệm pháp lý là bắt

buộc đối với tất cả những ai

đã vi phạm pháp luật Những

người vi phạm pháp luật nhất

thiết phải bị xử lý Không

một người nào có thể biện

bạch cho những hành vi vi

phạm pháp luật của mình, dù

người đó ở cương vị nào trong xã hội, hoặc do bất kỳ

lý do nào gây nên

Yêu cầu của Pháp chế XHCN

Bảo đảm cho pháp luật phải được ban hành và tổ chức thực hiện thống nhất trong phạm vi cả nước

Hiến pháp là văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất Bảo đảm hoạt động lập pháp, lập quỹ được đúng đắn, kịp thời, đúng thẩm quyền, thể hiện được ý chí và quyền

uy của Nhà nước trong tổ chức và điều hành mọi hoạt động xã hội

Bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, mọi vi phạm pháp luật phải được xử lý nghiêm minh, không chấp nhận bất

kỳ một đặc quyền hay ngoại

lệ nào

Phải phát hiện được mọi hành vi vi phạm pháp luật để

xử lý công minh theo pháp luật Kiên quyết đấu tranh chống những biểu hiện lợi dụng chức quyền để vi phạm pháp luật, hoặc dung túng bao che cho những hành vi phạm pháp

Liên hệ thực tiễn

Thành tựu

Từng bước hoàn chỉnh hệ thống PL Đặc biệt là Hiến Pháp

Xây dựng và ban hành Pháp luật thể hiện được ý chí, chuyện vọng của người dân

Việc thực thi pháp luật nghiêm minh

Hạn chế

Vẫn còn tư tưởng cục bộ địa phương Một số ít văn bản pháp luật ban hành chưa có

sự thống nhất hoặc chưa phù hợp với Hiến pháp, Pháp luật hoặc còn có sự chồng chéo trong ban hành và thi hành các văn bản dưới luật

Không ít trường hợp cán bộ, công chức Nhà nước, đã lợi dụng chức quyền coi thường pháp luật, không tôn trọng quy định của Nhà nước, lạm quyền, vượt quyền, độc đoán

và chuyên quyền

Tình trạng vi phạm pháp luật ngày càng gia tăng về số lượng vụ việc, nghiêm trọng

về tính chất

Cán bộ, công chức nhà nước

và nhân dân còn nhiều người không hiểu pháp luật, không nắm vững các quyền và nghĩa

vụ của mình trong những hành vi xử sự cụ thể

Người công dân lại không biết sử dụng pháp luật để đấu tranh, thậm chí né tránh trước những hành vi phạm pháp, họ không am hiểu pháp luật

Giải pháp

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Pháp chế XHCN

Tiếp tục xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật Tích cực chủ động tổ chức thực hiện pháp luật, đưa pháp luật và trong đời sống

Ngày đăng: 04/06/2018, 15:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w