1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Ứng dụng phân tâm học trong nghiên cứu văn học việt nam

4 232 5

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 24,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu về Hồ xuân Hương qua cách tiếp cận của phân tâm học đáng chú ý là Nguyễn Văn Hanh, Đỗ Lai Thúy, Hà Văn Thùy.. Không thoả mãn với những cách tiếp cận của người đi trước xã hội

Trang 1

Ứng dụng phân tâm học trong nghiên cứu văn học Việt Nam

Nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn phân tâm học

Trong phân kỳ văn học trung đại Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu đã ứng dụng phân tâm học vào khảo sát, khai thác những điều còn bỏ ngỏ thuộc cá tính sáng tạo nhà văn Đặc biệt, trong dòng chảy một ngàn năm văn học đó hiện tượng Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương được giới học thuật xem như là “mỏ vàng” chưa khai thác hết Các nhà khoa học nghiên cứu văn chương đã làm rõ nhiều góc độ khác nhau trên các bình diện cơ bản của phân tâm học.Việc nghiên cứu ứng dụng phân tâm học vào xem xét Nguyễn Du

thông qua văn bản Truyện Kiều, nhìn chung có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng chủ yếu vẫn khai thác ở góc độ bản năng dục tính là chính Đáng chú ý nhất là hai công trình biên khảo của Nguyễn Ngọc Thiện vào năm 2002 với nhan đề Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX, cung cấp một cái nhìn toàn cảnh về các nghiên cứu trước và sau năm 75 về Truyện Kiều qua lăng kính phân tâm học, trong đó đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Trương Tửu: Nguyễn Du và Truyện Kiều (trước 1975) Qua công trình này,

Trương Tửu khai thác tâm lí cô kiều ở bản năng khát dục Theo ông ngoài biến cố chính là vụ cướp đến với gia đình Vương ông, Vương bà đã làm hệ lụy đến đời cô Kiều, đưa cô vào kiếp đoạn trường mười lăm năm lưu đày chỉ là “cái cớ” (nguyên nhân khách quan); nguyên nhân chính đẩy Kiều vào đoạn đời trôi nổi này là do “ thói đa tình” của chính Kiều (nguyên nhân chủ quan)

TrongNguyễn Du và Truyện Kiều có đoạn ông viết: “bị bế tắc sinh khí tác động trong nội bộ cơ thể và thần kinh đứa bé, làm ra

những tính ưa mộng, thích tưởng tượng, thèm những cảm giác lạ và nhất là tính dâm dục Tính này sinh ra cái mà người ta gọi một

cách thanh lịch là thói đa tình ở những thiếu niên phong lưu quyền quý Sự dâm dục ấy lại bị bản ngã tâm lí của thiếu niên và hoàn

cảnh luân lý gia đình kiềm tỏa không cho tự do phát triển Không được thỏa mãn, nó lẩn vào bên trong tâm hồn, tàn phá sự cân bằng của thần kinh hệ, quấy rối trí khôn đến náo loạn, thiêu đốt trí tưởng tượng và xúc động luôn luôn đến trái tim làm cho máu chảy khi nhanh khi chậm hơi thở khi dài khi ngắn Trạng thái sinh lí này dễ gây cho đưa bé một tính khí bất nhất, hoảng hốt về sầu muộn Dần dần đứa bé biến thành một con bệnh thần kinh, tâm trí lúc nào cũng sợ hãi bi thương và mạch nước lúc nào cũng chực sẵn sàng để mở nguồn Đó là trường hợp của Thúy Kiều, cuộc sống giàu sang nhàn hạ đã làm lệch thăng bằng bộ thần kinh của nàng”[1] Khẳng định mầm mống của căn bệnh thần kinh trong Kiều, Trương Tửu đi đến luận giải tiếp cho quan điểm của mình trong

đoạn Kiều viếng mộ Đạm Tiên: “bởi thế khi đi qua “nấm đất bên đường” khi biết đó là mồ vô chủ của Đạm Tiên thì Kiều liên tưởng đột ngột đến cuộc đời mình Liên tưởng để lo sợ Rồi đốt hương, rồi làm thơ đề tặng, rồi khóc lóc sụt sùi, kết bạn với vong hồn u hận: đó là triệu chứng của căn bệnh thần kinh đã đi vào thời kỳ khó chữa” [2] Theo Trương Tửu, Kiều là một người con gái từ nhỏ sớm bộc lộ bản năng khát dục ghê ghớm, ông cho rằng, giọt nước mắt mà Kiều khóc trước mộ Đạm tiên không phải là sự đồng cảm

mà là vì hoảng sợ, nàng tự thấy bất lực trước cuộc đời, nên linh cảm rằng thân thế mình sẽ bạc mệnh như người kỹ nữ xấu số kia:

“một thiếu nữ đương tơ, con nhà danh giáo mà đứng trước một nấm mồ vô chủ, lại đột nhiên có những ý tưởng cực kỳ táo

bạo: Sống làm vợ khắp người ta/ Hại thay! Thác xuống làm ma không chồng / Nào người phượng chạ loan chung/ Nào người tiếc lịch tham hồng là ai? Thì ta bắt buộc phải tin rằng đó là một tâm hồn vô cùng dâm đãng luôn luôn băn khoăn với những hình ảnh loan chung phượng chạ và luôn mơ tưởng đến những điều tiếc lục tham hồng Ở một người con gái nhà lương thiện mà có

những ý tưởng sớm sủa ấy thì thật là anh hoa phát tiết ra ngoài có phần hơi trâng tráo quá…Tất cả những triệu chứng ấy đều là những hình thức phát tiết của một thứ bệnh trạng thần kinh mà y học Tây Phương gọi là trạng thái ưu uất (hystérie)” [3] Cách hiểu của Trương Tửu chưa hẳn là sai hoàn toàn nhưng quá cực đoan, bởi nếu chỉ dựa vào bản năng gốc của con người mà quy kết cho

Kiều mang nặng mặc cảm chung đụng cả đoạn trường 15 năm thì chất hiện thực trong tác phẩm sẽ là gì ?, do vậy, công trình này

đứng về khách quan thì có đóng góp nhưng cũng có sai lệch Ngoài công trình biên khảo của Nguyễn Ngọc Thiện, đáng chú ý

thêm một số văn bản cũng nghiên cứu về Truyện Kiều dưới góc nhìn phân tâm học như Nguyễn Văn Hoàn với Tranh luận về truyện Kiều(1984), Trịnh Bá Đĩnh với Di sản Nguyễn Du và Thời gian (1998), Đỗ Lai Thúy Với Phê bình văn học: chòng chành mà tiến tới (in trong tạp chí văn học số 6/2000).

Nghiên cứu về Hồ xuân Hương qua cách tiếp cận của phân tâm học đáng chú ý là Nguyễn Văn Hanh, Đỗ Lai Thúy, Hà Văn Thùy Ở Nguyễn Văn Hanh khi nghiên cứu về Hồ Xuân Hương, ông đã đưa ra công thức đo tần xuất xung năng tâm lí của bà đi từ : "dồn nén

=> ẩn ức => thăng hoa" Công thức này về sau đã trở thành chiếc chìa khóa đi vào các tác phẩm có vấn đề tính dục của nữ sĩ họ

Hồ này Với Hà Văn Thùy lại nghiên cứu Hồ Xuân Hương theo tiến trình vận động tâm lí từ phản kháng đến nổi loạn Theo Hà Văn

Thùy thì : [“Văn học sử chỉ hé ra một chút tẻo tèo teo về thân thế và cuộc đời nữ sĩ họ Hồ nhưng lại khép kín không cho ta biết tí gì

về quá trình sáng tác của nữ sĩ Trong nghiên cứu văn chương, quá trình sáng tác là một chỉ dấu đặc biệt quan trọng cho thấy điểm xuất phát cùng sự hình thành, biến đổi về tư tưởng, phong cách của tác giả Do thiếu hiểu biết về quá trình sáng tác của Hồ Xuân Hương mà 50 bài thơ được coi như của bà tồn tại trong tư thế vừa ngẫu nhiên, vừa tản mạn Nhận ra hạn chế này nên nhiều nhà

nghiên cứu cố gắng sắp xếp chúng Ông Nguyễn Hữu Tiến trong Giai nhân di mặc ấn hành hồi đầu thế kỷ trước đã dựa vào thơ rồi

tưởng tượng ra một "biên niên tác", để qua đó dựng nên một tiểu sử Hồ Xuân Hương Ông Trần Thanh Mại viết: "Có lẽ chúng ta nên chia thơ xưa nay coi là của Hồ Xuân Hương ra làm ba loại: một loại gồm những bài có tính tư tưởng cao và có phương pháp nghệ thuật thanh nhã, một loại gồm những bài có yếu tố tục, những yếu tố đó nhằm một mục đích yêu cầu tiến bộ và loại thứ ba gồm

những bài có tính chất khêu gợi không lành mạnh, những bài có yếu tố dâm" (Nghiên cứu Văn học 1961, dẫn theo Ðỗ Lai Thuý, Hồ Xuân Hương - hoài niệm phồn thực, NXB Văn hoá Thông tin 1999) Ông Ðỗ Lai Thuý lại chia làm 6 mục: những bài vịnh vật, những

bài vịnh cảnh Thời gian cho thấy những cách sắp xếp trên đều bất cập Ông Nguyễn Hữu Tiến đã tiểu thuyết hoá đối tượng nghiên cứu của mình Cách phân chia của ông Trần Thanh Mại rơi vào thực dụng nên khiên cưỡng không thuyết phục Cách sắp

Trang 2

đặt của ông Ðỗ Lai Thuý không có giá trị học thuật mà chỉ là sự thay tập hợp tản mạn này bằng tập hợp tản mạn khác: cách phân

loại thành “phong cách môn”, “nhân đạo môn” theo Hồng Ðức quốc âm thi tập chỉ có ý nghĩa đối với những tác giả được biết rõ về

tiểu sử cũng như quá trình sáng tác”] [4] Với ý nghĩa ấy, Hà Văn Thùy nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương theo sự vận động từ tuổi trinh

nữ ở thời kì thứ nhất của tuổi hoa nữ với "cảm giác" bị bắt quả tang làm thơ dâm Từ phút giây bị bắt quả tang ấy, nàng thơ đa tình của thiếu nữ họ Hồ có cơ hội "bung phá" những ghìm nén bấy lâu, để rồi lại thất bại trước Chiêu Hổ Sau cái ngày gặp gỡ và bị

Chiêu Hổ giải mã bản thân ấy, nàng thơ của nữ sĩ họ Hồ đi vào cái quy luật ghìm xét của tính dục, Khóc ông phủ Vĩnh Tường là bài

thơ thể hiện cái nỗi niềm ấy của bà

Đỗ Lai Thúy trong Hồ Xuân Hương- Hoài niệm phồn thực (1999), cho rằng: “thơ Hồ Xuân Hương, theo tôi, cho đến nay còn tồn tại

một tam giác vấn đề: tác giả, văn bản và sự dâm tục Hai góc trên thì tình hình tư liệu hiện nay chưa cho phép, thậm chí chưa cho hướng giải quyết Vì thế, tôi chọn góc thứ ba, sự dâm tục, vừa liên quan đến sự tìm kiếm của tôi vừa, biết đâu đấy, có thể chỉ hướng cho sự nghiên cứu tiểu sử và văn bản Không thoả mãn với những cách tiếp cận của người đi trước (xã hội học, phân tâm học

Freud, nguyên lí hội hoá trang), tôi đi tìm một hệ hình (paradigme) nghiên cứu mới bằng cách đi ngược chiều lịch sử: thơ Hồ Xuân

Hương à văn hoá dâm tục (thời Hồ Xuân Hương) à Lễ hội phồn thực à thờ cúng phồn thực à tín ngưỡng phồn thực Vậy, cội nguồn

của thơ Hồ Xuân Hương là tín ngưỡng phồn thực(Culte de fécondité, lingaisme), một tín ngưỡng chung của nhân loại tôn thờ sự

sinh sôi nảy nở qua biểu tượng sinh thực khí, hình thành vào thời Đá Mới, khi xuất hiện trồng trọt và chăn nuôi” [5]

Qua những nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương của hai nhà nghiên cứu trên, chúng ta có thể rút ra một số nhận xét sau :

Phương pháp mà Hà Văn Thùy dùng để tiếp cận theo hướng xâu chuỗi sự kiện từ văn bản thơ của nữ sĩ họ Hồ có ba điểm đáng

chú ý: một là, cung cấp cách nhìn có cơ sở về quan điểm sáng tác của nhà thơ qua các thời kỳ Hai là, vì lấy cơ sở nghiên cứu là

văn bản, cho nên, những suy luận kế tiếp có thể sẽ đi đúng trọng tâm Ba là, phương pháp xâu chuỗi của Hà Văn Thùy không những có thể giải mã khúc mắc về văn bản, mà còn chỉ ra những hạn chế của cách tiếp cận văn bản từ hướng tiểu sử Tuy nhiên,

khi ứng dụng thực tiễn vào nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương, trong trường hợp này của Hà Văn Thùy đã biểu hiện những thiếu sót cơ bản Một là, vì hướng xâu chuỗi đặt nặng vấn đề suy ý, dù cho sự suy ý ấy có cơ sở là văn bản, song dễ đi vào áp đặt chủ quan và chưa hẳn những suy luận ấy đúng với ý đồ thơ Hồ Xuân Hương Bởi vì, những cách xa về văn hóa, về lối suy tư cho phép chúng ta khẳng định điều đó Hơn nữa ý định về tiền văn bản của thơ nữ sĩ họ Hồ này biến tấu phức tạp theo mỗi chặng đường sáng tác Vì vậy, hướng xâu chuỗi của Hà Văn Thùy thực ra là việc phân loại văn bản thơ của bà, dựa trên những tương đồng về mặt ý tưởng, về quan niệm mà suy ý cho chuỗi sự kiện ấy ảnh hưởng tới cuộc đời sáng tác của nhà thơ Đó có thể là cách đẩy văn bản vào sự cưỡng chế của chính nó Hai là, Hà Văn Thùy có nói “văn học sử chỉ hé ra một chút tẻo tèo teo về thân thế và cuộc đời nữ sĩ họ Hồ nhưng lại khép kín không cho ta biết tí gì về quá trình sáng tác của nữ sĩ", song chính tác giả cũng vướng phải lối viết tiểu sử khi diễn giải thơ Hồ Xuân Hương Lối xâu chuỗi sự kiện thơ của họ Hồ trong hướng tiếp cận của Hà Văn Thùy thực ra là lối viết khác của phê bình tiểu sử Vì khi nghiên cứu mỗi chặng đường thơ của Hồ Xuân Hương, Hà Văn Thùy đều dựa vào tiểu sử của bà Trong thời kỳ thứ nhất, để diễn giải về sự hình thành "dục tính" dưới góc nhìn của chúng ta về thơ nữ sĩ, Hà Văn Thùy dựa vào gia cảnh của bà, để rồi suy ý thơ bà Trong bài viết có đoạn "theo như những nét tiểu sử hiện có thì thân sinh Hồ Xuân Hương là thày đồ, thuộc một dòng văn học của vùng quê văn hoá nổi tiếng là làng Quỳnh Ðôi xứ Nghệ ra Kinh dạy học Mẹ bà là người con gái xứ Ðông thuần hậu Thuở nhỏ Hồ Xuân Hương được học chữ, học làm thơ và cố nhiên học tam tòng tứ đức Nàng là một khuê nữ dẫu

không đài các cũng nền nếp con nhà Ta nhận ra điều này trong bài thơ Bánh trôi nước…Bài thơ là lời tự giới thiệu cho thấy tác giả

là thiếu nữ chỉn chu, khiêm nhường, cùng với bề ngoài tròn trặn hấp dẫn còn có một tâm hồn trong trắng, có tấm lòng son Người

thiếu nữ này cũng khao khát tình yêu và biết yêu chân thành thể hiện qua bài Mời trầu… Khách đến chơi hay mối manh gì đó, nàng

thiếu nữ mời trầu Khiêm nhường lắm vì nàng chỉ có được trầu hôi! Bưng cơi trầu rưng rưng mời khách mà lòng nàng thầm ước ao: duyên thắm lại, đừng xanh bạc như thói đời! Ta như nhìn thấy bàn tay nàng run run, miệng ấp úng lời mời chân thành đến tội nghiệp! Ở hai bài thơ trên, hoàn toàn không có chút gì dâm tục mà chỉ thấy mối chân tình đến tận cùng của người con gái khát khao hạnh phúc” [6] Vậy xét đến cùng, cái mà Hà Văn Thùy gọi là hướng tiếp cận xâu chuỗi "chúng tôi nhận ra phải xâu sợi chỉ đỏ xuyên suốt những bài thơ rời rạc của Xuân Hương thành một chuỗi” thực ra là cách nói khác của phê bình tiểu sử Hơn nữa, bản thân phương pháp này mâu thuẫn lại chính ý tưởng của tác giả Trước khi luận giải, tác giả có nói: “để làm việc này, chúng tôi sắp xếp

những bài thơ hiện có theo quá trình chúng có thể được sáng tạo ra, từ đó mong sẽ dựng lên một lý lịch tâm hồn, thấy được

sự chuyển biến của nữ sĩ về con người, tư tưởng cũng như phong cách sáng tạo”, theo đó thì, điều xâu chuỗi theo quan điểm của

tác giả là xâu chuỗi thời gian làm nên văn bản, chứ không phải là xâu chuỗi dữ kiện nghĩa của văn bản để đi đến kết luận cho

sự hình thành một “lý lịch tâm hồn” Hơn nữa, phương pháp mà Hà Văn Thùy đặt ra trên cơ sở “sắp xếp những bài thơ hiện có

theo quá trình chúng có thể được sáng tạo ra” là điều bất khả Vì việc phân chia chính xác thời điểm văn bản được sáng tác đến

bây giờ cũng chỉ là phỏng đoán vì, thơ nôm của Hồ Xuân Hương là thơ bình dân, vì vậy ban đầu chúng được lưu truyền bằng

phương pháp truyền thống của văn học dân gian là “truyền miệng”, vậy thì thật khó có thể chứng minh cho cách lý giải trên của Hà Văn Thùy là có cơ sở và hợp lý Hơn nữa, điều chúng ta có thể làm cho một sự suy ý là căn cứ vào bản thân văn bản, chứ không

phải là quá trình làm nên văn bản Hơn nữa “quá trình chúng có thể được sáng tạo ra” là quá trình chưa hoàn tất, và điều đó cho

thấy việc Hà Văn Thùy nghi vấn về những sáng tác của Hồ Xuân Hương (điều này là đúng!) mâu thuẫn với toàn bộ diễn giải của tác giả Khi chúng ta vẫn còn nghi vấn về những sáng tác của nữ sĩ họ Hồ có thể không phải của bà, vậy thì thật khó để kết luận chính

xác cho sự hình thành “một lý lịch tâm hồn” từ quá trình xâu chuỗi Do đó, theo chúng tôi, nghiên cứu của Hà Văn Thùy chưa thể

Trang 3

làm vừa lòng độc giả, nhưng từ bài nghiên cứu của tác giả, những diễn giả đi sau có thể xem đó như là hướng tiếp cận về mặt phương pháp

Hướng tiếp cận của Đỗ Lai Thúy khắc phục được vấn đề phân chia thời điểm hình thành văn bản Nhưng, một mặt nào đó cũng có

thể xem như là cách “gán nghĩa” cho thơ Hồ Xuân Hương Ông nói “cội nguồn của thơ Hồ Xuân Hương làtín ngưỡng phồn thực (Culte de fécondité, lingaisme), một tín ngưỡng chung của nhân loại tôn thờ sự sinh sôi nảy nở qua biểu tượng sinh thực khí,

hình thành vào thời Đá Mới", đó là cách mà chúng ta suy diễn vấn đề Bởi vì, có thể Hồ Xuân Hương nuôi ý hướng về điều đó, nhưng cơ sở để cho "hoài niệm" của bà trong văn bản chưa hẳn hoàn toàn thuộc về vô thức tập thể như Đỗ Lai Thúy quan niệm Đôi khi điều đó nằm trong chính "ý thức" muốn vượt thoát thực tại của nữ sĩ họ Hồ Hơn nữa, từ văn bản để suy ngược về thế giới quan sơ khai của văn hóa, theo tôi là cách làm mạo hiểm Vì thứ nhất, hướng đi ấy sẽ dẫn văn bản vào sự bão hòa với những văn

bản khác, vì, chúng ta cũng có thể suy ngược Truyện Kiều, suy ngược Hoa Tiên truyện, vậy thì cá tính Hồ Xuân Hương nằm ở đâu?

Thứ hai, hướng tiếp cận ấy có thể dẫn văn bản vào sự tối nghĩa, vì đánh mất đi thực tiễn trải nghiệm của diễn giả với hình tượng Để

làm được điều mà tác giả Hồ Xuân Hương- Hoài niệm phồn thực đặt ra, diễn giả cần phải mượn "một nguyên cớ khách quan" để

dẫn nhập vào văn bản, vậy thì "ý tứ" của văn bản nằm ở đâu?

Theo chúng tôi cần suy ngược lại cách mà Đỗ Lai Thúy đã làm Từ hoài niệm phồn thực, chúng ta có "cơ hội" được biết trước những vấn đề liên quan đến văn bản Nhưng biết trước là để dọn chỗ cho sự biết sau, nghĩa là từ cái biết trước ấy cho phép ta lựa chọn

"một cách tiếp cận đúng đắn", tức hòa nhập vào văn bản theo một hướng hợp lý Trên cơ sở, diễn giả sống trong văn bản thì những

ý tứ như "mặc cảm tính dục", "mặc cảm hoạn" cũng như "giấc mơ sinh thực khí", "giấc mơ được chung đụng" theo đó có cơ sở để

tồn tại Vậy xét cho cùng, sống trong văn bản, là một với văn bản có lẽ là hướng tiếp cận ít cực đoan và tương đối hợp lý.

***

Nghiên cứu văn học hiện đại Việt Nam dưới góc nhìn phân tâm học

Với việc ứng dụng phân tâm học vào nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại, nhiều học giả đi sâu giải mã những nghi hoặc của văn bản, và bước đầu đạt được một số thành tựu đáng kể Học giả ứng dụng phân tâm học vào nghiên cứu văn học Việt Nam sớm nhất

sau 1975 có lẽ kể đến Phạm Văn Sĩ Trong Về tư tưởng và văn học phương Tây hiện đại(NXB ĐH và THCN, 1986), bên cạnh việc

lược khảo và giới thiệu những trào lưu triết học có thể ứng dụng vào nghiên cứu văn học như hiện sinh chủ nghĩa, cấu trúc luận, siêu thực, phân tâm học, hiện tượng học, ông đã khái lược sự ảnh hưởng của phân tâm học Freud trong văn học sài gòn trước

1975 Phạm Văn Sĩ chỉ ra những nhược điểm trong khi ứng dụng phân tâm học Freud vào nghiên cứu cũng như sáng tác văn học của một số nhà văn, nhà lý luận – phê bình Những nghiên cứu của Phạm Văn Sĩ hẳn chưa thể thuyết phục và toàn diện bằng

những nghiên cứu sau này, nhưng vớiVề tư tưởng và văn học phương Tây hiện đại, ông đã phác thảo được phần nào diện mạo văn

học Việt Nam trước giải phóng, trong đó có dòng văn học chịu ảnh hưởng của phân tâm học và dòng văn học hiện sinh Sau Phạm

Văn Sĩ ít lâu, Đỗ Lai Thúy có bài viết Đi tìm ẩn ngữ trong thơ Hoàng Cầm, tác giả vận dụng lý thuyết về vô thức của S Freud đi sâu

"lý giải mặc cảm tính dục ấu thơ, mặc cảm hoạn của nhân vật trữ tình trong tác phẩm" Nguyễn Thành có bài Ảnh hưởng của phân tâm học Freud trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng (Tạp chí Văn học số 4-1997) và sau này được in trong công trình Vũ Trọng Phụng – Một tài năng độc đáo được nhà xuất bản văn hóa thông tin ấn hành năm 2000, Nguyễn Thị Hồng Nam sử dụng phân tâm

học để nghiên cứu những vấn đề của tiềm thức trong thơ Hàn Mặc Tử (Tạp chí Cửa Việt, số 7-2000) Cũng trong tạp chí Cửa Việt

số 4 - 2000, Nguyễn Hoàng Đức có bài Dục tính, chân móng hay đỉnh tháp văn chương? Bài viết khái quát những vấn đề cơ bản

của "dâm tính" và "dục tính" trong văn học, trong đó đặt ra vấn đề cần phải xem những mặt của dục tính như trọng tâm của nghiên cứu và sáng tạo văn học, là việc làm nghiêm túc Các nhà văn, nhà nghiên cứu cần xem dục tính trong văn học như vấn đề cơ bản

của đời sống thực Đặc biệt hơn cả, là công trình của Trần Thị Mai Nhi: Văn học hiện đại - Văn học Việt Nam: Giao lưu và gặp gỡ.

"Tác giả đã đề cập đến nhiều vấn đề thông qua tác giả, tác phẩm cụ thể và được phân thành hai giai đoạn: Văn học hiện đại trong văn học Việt Nam trước cách mạng tháng Tám 1945 và Văn học hiện đại dưới hình thức văn học hiện sinh ở miền Nam Việt Nam trong những năm 60-70 Riêng văn học giai đoạn 1975-2000, tác giả nhấn mạnh đến sự sáng tạo của nhà văn trong các tác phẩm tiêu biểu của Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp…" [7] Cũng trong hướng nghiên cứu chuyên sâu, Nguyễn Thị Bình có

bài Một phương diện đổi mới quan điểm nghệ thuật về con người của văn xuôi Việt Nam từ sau 1975, tác giả cho rằng: “chúng tôi

thấy nhiều nhà văn bổ khuyết phần thiếu hụt, phần phiến diện trong quan niệm về con người bằng cách đào sâu vào thế giới tâm linh (…) Việc xem xét con người ở phần tâm linh sẽ đem đến các giá trị nhân văn mới, nâng văn học ta lên một trình độ nhận thức

có tính phổ quát, giàu ý nghĩa triết học, nhân sinh quan phổ biến” [8] Vấn đề phân tâm học trong văn học về sau được nhiều nhà

nghiên cứu quan tâm đi sâu, có thể kể đến Phùng Đình Mẫn với Lý Luận về nhân cách của S.Freud và ảnh hưởng của nó đến phương pháp xây dựng đời sống tâm lý nhân vật trong đô thị miền Nam dưới thời Mỹ- Ngụy (giai đoạn 1954 -1975) , Lê Nam Hải với Từ lý thuyết phân tâm học tiếp cận một số tác giả và tác phẩm văn học đương đại Việt Nam , Hoàng Đức Dũng với Chủ nghĩa S.Freud và biểu hiện của nó trong văn học tình dục miền Nam Việt Nam trước 1975… “Nhìn chung, các luận văn cao học nói trên

đã dẫn dụng và soi rọi từ các lý thuyết, phạm trù của phân tâm học Freud… qua hình tượng và quá trình miêu tả tâm lý nhân vật,

quan tâm đến những trạng thái tình cảm và những mặc cảm tính dục ấu thơ, mặc cảm hoạn và phần nào mặc cảm Ơđip trong từng

hình tượng nhân vật” [9]

***

Trang 4

Trong chuỗi hành trình, trải nghiệm và tiếp nhận phân tâm học từ 1975 đến nay trên các mặt khác nhau của đời sống văn hóa, văn học là bộ phận tiếp nhận đầy đủ hơn cả Các nhà văn tiếp nhận và không ngừng sáng tạo dựa trên lý thuyết về Phân tâm học phù hợp với tình hình đất nước qua các giai đoạn Đã có lúc, họ tưởng như ngã quỵ (giai đoạn đầu), một phần là do tình hình chính

trị-xã hội của đất nước chưa cho phép, phần khác là do công chúng tiếp nhận những sáng tác được xem là có ý thức cách tân về bút pháp này, chưa thực sự cởi mở; ở họ vẫn còn quen với lối viết cũ đã thành rãnh sâu trong ý thức tiếp nhận Tuy nhiên, với những gì

đã đạt được, Phân tâm học chứng minh thuyết phục với độc giả về sự tồn tại hợp lý và có giá trị của nó Điều đó, một mặt khẳng định đất nước đã đổi thay theo đúng tinh thần nhân loại, mặt khác cũng khẳng định ý thức tiếp nhận của công chúng Việt Nam là đúng đắn, là tiến bộ, là hợp quy luật của tri thức loài người

[1] Nguyễn Ngọc Thiện (2001), Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX, T.1, NXB Lao động, H, tr 647-648

[2] Nguyễn Ngọc Thiện (2001), Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX, Sđd, tr 649

[3] Nguyễn Ngọc Thiện (2001), Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX, Sđd, tr 650

[4] Hà Văn Thùy - Hồ Xuân Hương từ phản kháng đến nổi loạn, nguông : Talawas.org

[5] Phi Hùng- Đỗ Lai Thúy, phê bình văn học, con vật lưỡng thể ấy, nguồn tạp chí Sông Hương 01.12.2008

[6] Hà Văn Thùy - Hồ Xuân Hương từ phản kháng đến nổi loạn, nguồn : Talawas.org

[7] Hồ Thế Hà (2008), Yếu tố phân tâm học trong truyện ngắn Việt Nam 1986 – 2005, Đề tài khoa học cấp bộ, Đại học khoa học Huế

[8] Dẫn theo Hồ Thế Hà (2008), Yếu tố phân tâm học trong truyện ngắn Việt Nam 1986 – 2005, Sđd

[9] Dẫn theo Hồ Thế Hà (2008), Yếu tố phân tâm học trong truyện ngắn Việt Nam 1986 – 2005, Sđd

Ngày đăng: 04/06/2018, 15:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w