"Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm ngành hàng điện tử của công ty cổ phần Pico
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, tiêu thụ sản phẩm là hoạt động quan trọng hàng đầu trong qua trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Hoạt động tiêu thụ được thực hiện vào cuối mỗi chu kì kinh doanh, nó quyết định sự tồn tại của mỗi doanh nghiệp Thông qua hoạt động này doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu của khách hang qua đó đạt được mục tiêu đề ra của doanh nghiệp: đảm bảo việc thu hồi vốn, thực hiện lợi nhuận để tiếp tục sản xuất kinh doanh, góp phần mở rộng thị trường, nâng cao vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường
Trong thực tế hiện nay, công tác tiêu thụ sản phẩm vẫn chưa được các doanh nghiệp quan tâm đúng mức, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước Trong khi đó thị trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt giữa các doanh nghiệp cùng ngành, chính vì thế để tồn tại, doanh nghiệp phải đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm để đạt mức tăng trưởng trong nhiều năm, đây là điều không phải doanh nghiệp nào cũng thực hiện được Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm không còn là hoạt động mới mẻ mà đã trở thành mối quan tâm hàng đầu quan trọng của các nhà quản trị, nhà hoạch định chiến lược, các nhà quản lí kinh tế
Đứng trước mối quan tâm đó về công tác tiêu thụ sản phẩm ở các doanh
nghiệp, tôi đã chọn đề tài: "Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm ngành
hàng điện tử của công ty cổ phần Pico” để nghiên cứu trong chuyên đề thực
tập tốt nghiệp của mình Với tư cách là sinh viên, tôi viết đề án này với mục đích nhằm phân tích hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công ty, đánh giá những khó khăn và thuận lợi, để từ đó tìm ra những phương hướng và biện pháp nhằm hoàn thiện công tác tiêu thụ sản phẩm cảu công ty
Trang 2Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của chuyên đề được chia làm 3 phần chính:
Phần I: Lí luận chung về tiêu thụ sản phẩm
Phần II: Thực trạng về tiêu thụ sản phẩm ngành hàng điện tử ở công ty
cổ phần Pico
Phần III: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm
ngành hàng điện tử của công ty cổ phần Pico
Vì thời gian và trình độ lí luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế, do vậy đề án khó tránh khỏi sai sót nên rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo để tôi có thể hoàn thiện hơn kiến thức của mình
Trang 3Chương I: Lí luận chung về tiêu thụ sản phẩm
I.Khái niệm và vai trò của tiêu thụ sản phẩm trong cơ chế thị trường
1 Khái niệm của tiêu thụ sản phẩm
Theo nghĩa hẹp, tiêu thụ sản phẩm là quá trình chuyển giao hàng hóa cho khách hàng và được khách hàng chấp nhận thanh toán Theo cách hiểu này thì quá trình tiêu thụ sản phẩm kết thúc khi người bán hàng nhận được tiền và giao hàng cho người mua Như vậy tiêu thụ sản phẩm đồng nghĩa với hành vi bán hàng Theo nghĩa rộng, bán hàng và tiêu thụ sản phẩm cùng có kết quả là hàng hóa thực hiện được giâ trị và chuyển hóa quyền sở hữu Nói cách khác, tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị của hàng hóa, qua đó hàng hóa được chuyển từ hình thái vật chất sang hình thái tiền tệ và kết thúc một vòng luân chuyển vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, Nhưng quan điểm này chưa được hiểu một cách đầy đủ vì nó chỉ phù hợp với các doanh nghiệp hoạt đông trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung vì mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp chỉ là lợi nhuận Theo nghĩa rộng hoạt động tiêu thụ sản phẩm được hiểu là một quá trình kiuh tế gồm nhiều khâu từ giai đoạn nghiên cứu và
dự báo nhu cầu thị trường, định hướng kênh phân phối, tổ chức thực hiện chương trình tiêu thụ cho đến việc thực hiện các hoạt động dịch vụ trước, trong và sau khi tiêu thụ Trong nền kinh tế thị trường, khi có nhiều người sản xuất và kinh doanh cùng một chủng loại mặt hàng thì việc bán hàng luôn gặp khó khăn bởi sự cạnh tranh vô cùng khốc liệt của các đối thủ Do vậy việc tiêu thụ không chỉ đơn giản là việc bán hàng ở khâu cuối cùng mà phải bắt đầu ngay từ khi xuất hiện ý tưởng kinh doanh
Tóm lại tiêu thụ sản phẩm là tổng thể các biện pháp về mặt tổ chức, kinh
tế, kế hoạch nhằm thực hiện việc nghiên cứu và năm bắt nhu cầu thị trường,
Trang 4tổ chức tiêu thụ, chuẩn bị hàng hóa và xuất bán theo nhu cầu của khách hàng với chi phí kinh doanh nhỏ nhất nhằm tối đa hóa lợi nhuận.
2 Vai trò của tiêu thụ sản phẩm đối với doanh nghiệp trong cơ chế thị trường:
2.1 Đối với doanh nghiệp:
Từ khi sản phẩm được sản xuất ra đến khi được đưa đến tay người tiêu dùng trải qua một chu kì liên tục bao gồm các hoạt động mua- sản xuất- bán Nếu một trong ba hoạt động trên bị gián đoạn toàn bộ toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ không thực hiện được hoặc không có hiệu quả Nếu tiêu thụ gặp khó khăn, doanh nghiệp sẽ gặp tổn thất rất lớn về vốn và khoản lợi nhuận lẽ ra phải thu được khi tiến hành đàu tư các hoạt động kinh doanh
Trong khi tiến hành sản xuất kinh doanh, bất cứ nhà đầu tư nào cũng muốn thu được nhiều hơn so với chi phí vốn bỏ ra, nghĩa là lợi nhuận luôn luôn dương Chính nhờ khoản chênh lệch đó doanh nghiệp mới có thể tồn tại
và mở rộng phát triển xuất kinh doanh Nếu doanh nghiệp mua các yếu tố đầu vào và tiến hành sản xuất trong khi sản phẩm tạo ra không bán được, doanh nghiệp không còn vốn cho hoạt động ở các chu kì kinh doanh tiếp theo và đứng trước nguy cơ phá sản Như vậy, hoạt động tiêu thụ chính là cơ sở để doanh nghiệp có điều kiện đảm bảo về mặt tài chính cho các chu kì kinh doanh tiếp theo
Tiêu thụ tốt cũng là điều kiện đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra một cách bình thường liên tục, nhịp nhàng và đều đặn, điều này khác với nền kinh tế tập trung, các doanh nghiệp chỉ cần tiến hành hoạt động sản xuất còn hoạt động khác đã có cơ quan khác thực hiện Việc mua các yếu tố đầu vào ở đâu, khối lượng bao nhiêu, sản xuất bao nhiêu và sản phẩm làm ra bán ở đâu đều được chỉ định bởi các cơ quan hành chính cấp trên Do vậy trong cơ chế này doanh nghiệp không bao giờ phải lo lắng đến việc tiêu thụ và
Trang 5tồn kho Nhưng còn trong cơ chế thị trường là một khâu quan trong không thể thiếu trong quá trình tái sản xuất mở rộng và phát triển quy mô doanh nghiệp.Tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng thị trường, tăng thị phần cũng như duy trì mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng Thị phần là tỉ lệ về số lượng sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ được so với toàn bộ dung lượng thị trường hay so với các đối thủ cạnh tranh Muốn mở rộng thị trường và tăng thị phần thì cần phải tăng cường công tác tiêu thụ, tăng khối lượng bán bằng nhiều biện pháp Để có thể phát triển thì doanh nghiệp cần phải tiêu thụ được số lượng lớn sản phẩm, chủng loại sản phẩm phải được thay đổi liên tục, phong phú hơn cho phù hợp với nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng thì mới có thể mở rộng thị trường và tăng thị phần Thêm vào đó thông qua hoạt động tiêu thụ doanh nghiệp phải thường xuyên duy trì và cải thiện mối quan hệ với khách hàng Bởi lẽ tiêu thụ
là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng, doanh nghiệp muốn bán ra được sản phẩm cho người tiêu dùng thì phải nắm bắt được thông tin cần thiết
mà khách hàng yêu cầu để từ đó có biện pháp thỏa mãn một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng
Tiêu thụ sản phẩm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và vị thế uy tín của doanh nghiệp Quy mô, tốc độ tiêu thụ hàng hóa có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động chung của doanh nghiệp Khi tốc
độ tiêu thụ hàng hóa cao thì vòng quay vốn tăng lên, hiệu quả sử dụng công suất máy móc thiết bị đạt mức cao, từ đó giảm chi phí hạ giá thành sản phẩm
và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Nó cũng phản ánh được những cố gắng của doanh nghiệp trong việc đổi mới công nghệ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, giải quyết được mâu thuẫn giữa chất lượng, mẫu mã sản phẩm với giá bán và quan trọng hơn cả là đẩy mạnh công tác tiêu thụ sẽ góp phần tạo dựng và giữ gìn uy tín của doanh nghiệp
Trang 62.2 Đối với xã hội
Về mặt xã hội tiêu thụ sản phẩm góp phần đảm bảo cho quá trình sản xuất của xã hội diễn ra một cách binh thường, liên tục đảm bảo sự cân đối giữa cung và cầu của nền kinh tế quốc dân Tiêu thụ góp phần vào việc ổn định xã hội, tạo điều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng phát triển Nhờ hoạt động tiêu thụ sản phẩm mà sản phẩm sản xuất ra được đưa đến tay người tiêu dùng để thỏa mãn nhu cầu của xã hội, không những thế tiêu thụ sản phẩm còn
có tác dụng kích cầu, kích thích các nhu cầu tiềm ẳn của khách hàng Đặc biệt hoạt động này là cầu nối kinh tế giữa các vùng trong nước, giữa các quốc gia
và khu vực trên thế giới
Nhờ có tiêu thụ sản phẩm mà doanh nghiệp làm ăn có lãi, thu được lợi nhuận, đồng thời để thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm thì doanh nghiệp phâỉ thuê rất nhiều nhân công phục vụ cho các hoạt động tiêu thụ sản phẩm, chính vì vậy tiêu thụ sản phẩm có vai trò quan trọng trong việc giải quyết công ăn việc làm, đảm bảo thu nhập cho người lao động và nâng cao đời sống tinh thần cho người dân, đồng thời đóng góp vào ngân sách nhà nước và thực hiện các nghĩa vụ xã hội
II Nội dung của hoạt động tiêu thụ sản phẩm
1 Điều tra nghiên cứu nhu cầu tiêu thụ sản phẩm
Trước khi đề cập đến điều tra nghiên cứu nhu cầu tiêu thụ sản phẩm, chúng ta phâỉ hiểu thế nào là thị trường bởi sản phẩm hàng hóa của mỗi doanh nghiệp muốn đưa đến tay người tiêu dùng nhất thiết phải được tiêu thụ trên thị trường
Theo cách hiểu cổ điển, thì thị trường là nơi diễn ra quá trình trao đổi buôn bán, hay nói cách khác là nơi người mua và bán gặp nhau trao đổi hàng hóa theo nhu cầu
Trang 7Theo cách hiểu hiện đại, thị trường là sự kết hợp giữa cung và cầu, trong
đó người mua và bán hoàn toàn bình đẳng, cùng cạnh tranh Số lượng người mua và người bán nhiều hay ít phản ánh quy mô của thị trường
Nói tóm lại, khái niệm thị trường dù có thay đổi đến đâu cũng không tách rời sự phân công lao động xã hội Bất cứ ở đâu có sự phân công lao động
xã hội thì ở đó có sản xuất hàng hóa và thị trường Thị trường chẳng qua chỉ
là sự biểu hiện của phân công lao động xã hội và do đó nó có thể phát triển đến vô cùng theo thời gian
Theo phạm vi hoạt động của doanh nghiệp trên thị trường người ta có thể phân ra:
- Thị trường trong nước: là nơi tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trong phạm vi quốc gia nơi doanh nghiệp sản xuất Thị trường trong nước còn
có thể chia làm thị trường địa phương và thị trường khu vực
- Thị trường nước ngoài : là nơi tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp ở bên ngoài quốc gia nơi doanh nghiệp sản xuất
Theo mức độ chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp chia ra:
- Thị trường hiện tại : là phần thị trường mà doanh nghiệp đang chiếm lĩnh
- Thị trường tiềm năng: là phần thị trường mà doanh nghiệp chưa khai thác hết được và có thể mở rộng khi có điều kiện nhất định
Đứng trên góc độ chuyên môn hóa sản xuất kinh doanh người ta chia thị trường ra:
- Thị trường hàng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
- Thị trường hàng nông, lâm, thủy sản
- Thị trường hàng cơ khí, điện tử, hóa chât, vật liệu xây dựng…
Nhu cầu thị trường là tổng kì vọng cần được đáp ứng của một tập hợp đối tượng khách hàng trong một phạm vi không gian thời gian cụ thể
Trang 8Nghiên cứu dự báo nhu cầu thị trường là hoạt động đầu tiên và rất quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Nghiên cứu thị trường là việc tìm kiếm và khai thác các cơ hội kinh doanh xuất hiện trên thị trường để tìm kiếm các giải pháp nhằm thích ứng với đòi hỏi của thị trường Rõ ràng,nếu doanh nghiệp có khả năng thích ứng với động thái của thị trường ,doanh nghiệp đó mới có điều kiện tồn tại và phát triển Mặt khác, trên thị trường còn có rất nhiều doanh nghiệp khác cùng hoạt động, doanh nghiệp nào cũng đặt yêu cầu mở rộng thị trường và đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ sản phẩm của mình Bởi vậy, để đảm bảo giành thắng lợi trong cạnh tranh và tránh được những bất trắc, rủi ro trong kinh doanh, mỗi doanh nghiệp phải hiểu biết cặn kẽ thị trường và khách hàng trên thị trường ấy Nghĩa là doanh nghiệp phải biết làm tốt công tác nghiên cứu thị trường
Khi nghiên cứu thị trường tiêu thụ sản phẩm ,doanh nghiệp phải giải đáp được những vấn đề sau:
- Đâu là thị trường có triển vọng nhất đối với sản phẩm của doanh nghiệp Về bản chất đây chính là việc phân đoạn thị trường mục tiêu mà doanh nghiệp phải làm, bởi lẽ không doanh nghiệp nào có thể đáp ứng được nhu cầu của tất cả các đối tượng ở các phạm vi không gian khác nhau
- Khả năng của doanh nghiệp trên thị trường đó ra sao? Nghĩa là xem thị trường đó cần gì, khối lượng, chất lượng, giá cả là bao nhiêu?
- Doanh nghiệp cần sử dụng những biện pháp gì để đáp ứng nhu cầu nhằm tăng khối lượng hàng hoá bán ra
Như vậy, mục tiêu của nghiên cứu thị trường là xác định khả năng tiêu thụ các sản phẩm của doanh nghiệp Từ việc nghiên cứu các cơ hội kinh doanh, doanh nghiệp đưa ra các quyết định về chính sách sản phẩm của mình
để thoả mãn nhu cầu thị trường
Trang 9Trong thực tế hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp đều coi trọng việc nghiên cứu thị trường Tuỳ theo quy mô của từng doanh nghiệp và chiến lược kinh doanh trong từng thời kỳ mà có thể sử dụng các phương pháp nghiên cứu thị trường thích hợp Nhưng nói chung, các doanh nghiệp đều phải nghiên cứu khái quát và nghiên cứu chi tiết thị trường, cụ thể là :
• Nghiên cứu khái quát thị trường, thực chất là nghiên cứu môi trường
vĩ mô như tổng cung cầu hàng hoá, giá cả, chính sách của Nhà nước về kinh doanh mặt hàng đó
• Nghiên cứu chi tiết thị trường, thực chất là việc nghiên cứu các đối tượng mua bán hàng, nhu cầu và yêu cầu của khách hàng đối với loại hàng hoá doanh nghiệp định sản xuất kinh doanh
Thông qua nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp có thể dự báo được nhu cầu thị trường về tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, để từ đó làm căn cứ lên
kế hoạch sản xuất vâ tiêu thụ sản phẩm của mình
2 Xây dựng chiến lược, kế hoạch tiêu thụ sản phẩm
• Sản xuất chế tạo sản phẩm
Kết quả của việc nghiên cứu thị trường là việc doanh nghiệp sẽ quyết định lựa chọn cơ cấu sản phẩm của mình để tiêu thụ Do vậy , doanh nghiệp phải tiến hành tổ chức sản xuất chế tạo sản phẩm để đáp ứng nhu cầu Tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp mà xác định có tiến hành sản xuất chế tạo hay không Chẳng hạn, với các doanh nghiệp thương mại thì họ chỉ mua hàng vào rồi lại bán ra thì giai đoạn sản xuất chính là hoạt động mua vào Còn đối với các doanh nghiệp công nghiệp, thì việc sản xuất chế tạo sản phẩm là việc phải làm Hơn nữa, việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm có liên quan mật thiết với nhau và tác động tương hỗ trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 10• Hoàn thiện sản phẩm
Đối với những sản phẩm có kết cấu phức tạp , đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao thì không phải chỉ sản xuất xong là được mà phải qua một số khâu hoàn thiện nữa mới được chấp nhận đem đi tiêu thụ Bởi lẽ, ngày nay sản phẩm hàng hoá nào muốn tiêu thụ được nhanh thì ngoài sản phẩm cốt lõi ra còn có thể có sản phẩm bổ xung đi kèm Quá trình hoàn thiện sản phẩm thường bao gồm các hoạt động sau :
+ Kiểm tra chất lượng: đây là công việc vô cùng quan trọng , nó quyết định xem sản phẩm sản xuất ra có đạt yêu cầu, tiêu chuẩn để đem đi tiêu thụ không Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường, chất lượng gần như là mục tiêu hàng đầu, nó vừa kích thích được người tiêu dùng mua hàng mà qua đó cũng thể hiện được uy tín, hình ảnh của doanh nghiệp
Vì thế , sản phẩm nhất thiết phải qua kiểm tra chất lượng và chỉ sản phẩm nào
đủ tiêu chuẩn, qui cách mới được mang đi tiêu thụ trên thị trường
+ Ghép đồng bộ sản phẩm : như đã nói, khi sản phẩm có kết cấu phức tạp nhiều bộ phận thì có thể có các sản phẩm bổ xung đi kèm thì để cung ứng cho người tiêu dùng những sản phẩm hoàn chỉnh thì cần phải ghép đồng bộ chúng lại Chẳng hạn, như chiếc tivi được ghép với bộ điều khiển và bảng hướng dẫn sử dụng rồi mới được bao gói cẩn thận
+ Bao gói sản phẩm : đây là giai đoạn cuối cùng trong quá trình hoàn thiện sản phẩm Hàng hoá đưa ra bán trên thị trường rất cần thiết phải bao gói Bởi lẽ , bao gói không những có tác dụng bảo vệ cho sản phẩm khỏi hư hỏng
mà còn góp phần quảng cáo khuếch trương đưọc hình ảnh nhãn hiệu uy tín của doanh nghiệp và kích thích người mua hàng
• Định giá bán sản phẩm
Giá đòi hỏi không những chỉ bù đắp những chi phí trong sản xuất, mà còn phải đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp Vì thế, doanh nghiệp phải nắm
Trang 11chắc các thông tin về chi phí sản xuất thông qua hạch toán giá thành Doanh
nghiệp phải biết rõ sản phẩm cần phải bán được với giá nào
Để tăng sản lượng bán ra thì việc định giá cũng giữ vai trò quan trọng Nên chọn giá nào và giá nào được thị trường chấp nhận, điều này tuỳ thuộc vào thực tế thị trường Nếu có nhiều người cùng chào hàng một loại sản phẩm thì sẽ khó khăn hơn trong việc bán trên giá so với trường hợp chỉ có một người chào hàng
• Phương thức giao nhận và thanh toán
Sau khi xác định được mức giá của những sản phẩm tung ra tiêu thụ trên thị trưòng thì doanh nghiệp cần dự kiến và lựa chọn hình thức giao nhận hàng hoá và thanh toán để đảm bảo tính hiệu quả cao và phải phù hợp với điều kiện của các bên Vì đây là một trong những điều khoản quan trọng quyết định vào việc có ký kết được hợp đồng tiêu thụ của doanh nghiệp hay không
Hình thức giao nhận chính là cách thức tổ chức, điều phối, vận chuyển hàng hoá từ nơi sản xuất đến các địa điểm tiêu thụ Để tạo ra sự linh hoạt có hiệu quả , doanh nghiệp phải lựa chọn phương án vận chuyển và địa điểm giao nhận thích hợp Việc lựa chọn phương thức vận chuyển còn phụ thuộc rất nhiều vào các loại phương tiện vận chuyển hiện có trên thị trường và khả năng khai thác các phương tiện đó trong quá trình phân phối Đồng thời, cùng với việc thoả thuận về địa điểm giao nhận hàng hoá thì rất dễ xuất hiện mâu thuẫn về lợi ích giữa các chủ thể vì nó liên quan đến khối lượng, thời gian và khả năng chấp nhận giá Để giải quyết mâu thuẫn đó, cần thiết phải lựa chọn được phương tiện vận chuyển có thể đáp ứng được yêu cầu về thời gian của khách hàng trong mối quan hệ với khối lượng và chi phí cũng như khả năng chấp nhận giá Đồng thời , phải đảm bảo được giao nhận đúng quy định , đáp ứng yêu cầu về số lượng, chất lượng trước sự chứng nhận của các bên
Trang 12Sản phẩm chỉ được coi là tiêu thụ khi đã chuyển giao khách hàng và được khách hàng trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán Có thể nói, thanh toán là khâu trọng tâm trong tiêu thụ và là cái doanh nghiệp quan tâm hơn cả Việc chọn các phương thức thanh toán phù hợp và áp dụng hợp lý với từng đối tượng khách hàng là vấn đề rất quan trọng, nó có thể ảnh hưởng tới nhiều mặt của doanh nghiệp Hơn nữa , việc lựa chọn hợp lý các hình thức thanh toán còn đảm bảo an toàn trong kinh doanh và nhằm hạn chế rủi ro trong thanh toán và tiêu thụ của doanh nghiệp Trong điều kiện hiện nay, người ta đưa ra nhiều phương thức thanh toán như trả tiền mặt, séc, trả tiền trước khi giao hàng, đặt cọc, trả chậm từng phần, trả sau, hàng đổi hàng Do vậy, doanh nghiệp nào thực hiện dưới chế độ thanh toán đơn giản gọn nhẹ , thuận lợi và phù hợp với khả năng của khách hàng thì doanh nghiệp đó có cơ hội kéo được đông đảo khách hàng về với mình
3 Xây dựng kênh tiêu thụ và mạng lưới tiêu thụ sản phẩm
Đây là một nội dung cơ bản của hoạt động tiêu thụ mà mỗi doanh nghiệp phải thực hiện Sản phẩm của doanh nghiệp dù có chất lượng cao nhưng nếu không tiếp cận được với người tiêu dùng thì sẽ không thể tiêu thụ được hoặc nếu có thể tiêu thụ được cũng chỉ với khối lượng rất nhỏ vì khi đó doanh nghiệp và khách hàng không có mối quan hệ nào với nhau Như vậy bên cạnh việc phát triển , nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, các doanh nghiệp phải quan tâm đến việc xây dựng và củng cố các kênh phân phối làm nhiệm
vụ giao hàng đến thị trường mục tiêu với thời gian và số lượng đúng yêu cầu Nhưng trước hết chúng ta phải hiểu thế nào là kênh phân phối
Kênh phân phối sản phẩm được hiểu là một tập hợp có hệ thống các phần tử tham gia vào quá trình chuyển đưa hàng hoá từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng Các kênh phân phối thường bao gồm các khâu
trung gian như người môi giới, các nhà bán buôn , bán lẻ nhưng bao giờ cũng
Trang 13bắt đầu bằng nhà sản xuất và tận cùng là người tiêu dùng Thông qua các khâu này thì những dòng hàng hoá dịch vụ, dòng chuyển đổi quyền sở hữu, dòng thông tin, dòng thanh toán được vận động liên tục trong mối quan hệ mật thiết của các phần tử trong kênh
Kênh thứ nhất là kênh trực tiếp, trong đó người sản xuất trực tiếp bán cho người tiêu dùng mà không phải thông qua trung gian Riêng các kênh còn lại là kênh gián tiếp Tuỳ theo số trung gian tham gia kênh mà ta có kênh gián tiếp ngắn (kênh2 và 3), kênh gián tiếp dài(kênh4) Khi đó dòng hàng hoá tiêu thụ xuất phát từ doanh nghiệp sau một quá trình vận động qua các khâu trung gian mới đến tận tay người tiêu dùng cuối cùng Đối với các loại kênh gián tiếp, để đảm bảo quá trình tiêu thụ sản phẩm được diễn ra liên tục nhịp nhàng đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các trung gian Mối quan hệ đó dựa trên lợi ích vật chất, lợi ích kinh tế của mỗi bên Nhưng dù sử dụng kênh phân phối nào để đưa hàng hoá từ doanh nghiệp đến tay người tiêu dùng cuối cùng doanh nghiệp nên sử dụng lực lượng bán hàng của mình làm nhiệm vụ duy trì mối liên kết với các phần tử trong kênh Ngoài ra, trong quá trình vận động hàng hoá từ nhà sản xuất đến các trung gian và giữa các trung gian với nhau ở tất cả các kênh đêù có thể sử dụng thêm vai trò của người môi giới
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để doanh nghiệp có thể lựa chọn được kênh phân phối thích hợp để vừa đảm bảo hiệu quả cho quá trình tiêu thụ vừa kiểm soát được các phần tử trong kênh Như vậy, để lựa chọn được kiểu kênh phân phối phù hợp, doanh nghiệp phải căn cứ vào đặc điểm của sản phẩm , nhu cầu thị trường, đặc điểm của trung gian và khả năng của doanh nghiệp cũng như các đặc điểm kênh phân phối của đối thủ cạnh tranh
Hệ thống phân phối của các công ty có thể là sự hỗn hợp của các kênh trực tiếp và gián tiếp, việc lựa chọn kênh nào là chủ yếu thì phải lên phương
Trang 14án phân phối sản phẩm vào các kênh để giao đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
4 Tổ chức các hoạt động hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm
Ngay cả khi hàng hoá thông qua phân phối đến tay người tiêu dùng cuối cùng thì hoạt động tiêu thụ vẫn chưa kết thúc Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn phải tổ chức các biện pháp xúc tiến, hỗ trợ cho tiêu dùng vì chúng là những hoạt động quan trọng nhằm thúc đẩy quá trình bán hàng, giúp cho các đối tượng khách hàng cũng như các khách hàng tiềm năng có những thông tin cần thiết về sản phẩm của doanh nghiệp Từ đó giúp doanh nghiệp tăng cường được uy tín cũng như duy trì và tăng khả năng tiêu thụ Trong thực tế, doanh nghiệp có thể tổ chức những hoạt động xúc tiến hỗ trợ sau :
* Quảng cáo
Mục đích của quảng cáo là tạo điều kiện để các cá nhân và tạp thể người tiêu dùng thuận tiện mua sản phẩm của doanh nghiệp quảng cáo Vì thế, những thông tin về sản phẩm trong quảng cáo phải nhằm mục đích bán được hàng Điều đó có nghĩa là: trước tiên nó phải nhằm khuyến khích mua hàng chứ không phải tạo cơ hội để người mua so sánh một cách có hệ thống giữa sản phẩm nọ với sản phẩm kia
Ngoài những thông tin về sản phẩm, thông qua quảng cáo người ra cố gắng đem đến cho khách hàng tiềm năng những lí lẽ đưa họ đến quyết định mua Ở đây, nhận thức về tâm lí quảng cáo rất có tác dụng
Các doanh nghiệp có thể lựa chọn các phương tiện quảng cáo khác nhau Quảng cáo bằng áp phích, qua báo, đài hoặc vô tuyến truyền hình, điều đó, điều đó phụ thuộc vào đối tượng khách hàng mua( ví dụ : người sản xuất giấy thì không quảng cáo trên đài và người sản xuất rượu thì không quảng cáo trong tạp chí thiếu nhi
Trang 15* Khuyến mại
Khuyến mại là những hành vi đặc thù của doanh nghiệp nhằm đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm bằng việc cung cấp các lợi ích ngoại lệ nhất định cho nhà phân phối, trung gian hay người tiêu dùng cuối cùng
Thực chất khuyến mại là một hình thưc xúc tiến bổ sung cho quảng cáo kích thích để tăng cường các khâu : cung ứng, phân phối và tiêu dùng đối với một hoặc một nhóm sản phẩm hàng hoá của công ty Khuyến mại có thể áp dụng các hình thức sau : giảm giá, phân phát mẫu hàng miễn phí, thưởng trên doanh thu,chiết giá , tham gia vào các trò chơi, cuộc thi có thưởng,
5 Tổ chức nghiệp vụ bán hàng, tiêu thụ sản phẩm
Bán hàng vừa là kĩ thuật vừa là nghệ thuật, kết quả của hoạt động kinh doanh phụ thuộc rất lớn vào sự thành công của công tác bán hàng
Quy trình bán hàng thông thường gồm 8 bước:
- Xác định triển vọng và phẩm chất khách hàng tương lai
- Lên kế hoạch thực hiện
Nhưng đối với hoạt động bán lẻ hàng hoá, tiến trình lại khác:
- Trước khi tiếp xúc
- Tiếp xúc
- Xác định nhu cầu khách hàng
- Lựa chọn và trưng bày hàng hoá
- Nghệ thuật phát giá
Trang 16- Thương lượng và xử lí các phàn nàn của khách hàng.
- Kết thúc bán hàng
- Những hỗ trợ với khách hàng
- Bao gói, thu tiền
- Dịch vụ sau bán hàng.( theo giáo trình Thương Mại Doanh Nghiệp)
Có thể nói bán hàng là một khâu không thể thiếu trong hoạt động tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
6 Thực hiện dịch vụ khách hàng
Nếu như trước đây dịch vụ bán hàng chưa được biét đến thì bây giờ dịch
vụ lại là lĩnh vức hoạt động sôi nổi nhất trên thị trường nhằm cạnh tranh và tăng cường uy tín của doanh nghiệp trước các đối thủ cạnh tranh.Dịch vụ khách hàng đóng vai trò ngày càng quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và hoạt động thương mại nói riêng Do đó, việc tăng cường tổ chức các hoạt động dịch vụ hỗ trợ cho tiêu thụ là một nội dung không thể thiếu đưọc của các doanh nghiệp Trong thực tế, đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp công nghiệp có thể sử dụng nhiều hình thức dịch vụ như trở hàng đến tận nơi, lắp đặt, sửa chữa, bảo hành miễn phí, bán và thay thế phụ tùng thường được áp dụng để thúc đẩy sự tin tưởng của khách hàng đối với doanh nghiệp
7 Đánh giá kết quả tiêu thụ sản phẩm
Phân tích đánh giá hiệu quả tiêu thụ là nội dung cuối cùng của công tác tiêu thụ sản phẩm Hoạt động này được tiến hành vào cuối chu kỳ kinh doanh, thường là vào cuối năm nhằm nhận biết, đánh giá những ưu nhược điểm để từ
đó đề ra các biện pháp khắc phục để hoàn thiện hơn trong các chu kì kinh
Trang 17doanh tiếp theo Để đánh giá hiệu quả của hoạt động tiêu thụ người ta có thể
sử dụng các chỉ tiêu sau :
* Chỉ tiêu doanh thu:
Số tương đối : Doanh thu = Pi*Qi
Số tuyết đối : Doanh thu = (DT1-DT0)/DT0
DT là doanh thu tiêu thụ trong kỳ
(DT1 là doanh thu kỳ nghiên cứu, DT0 là doanh thu kỳ gốc)
Qi khối lượng sản phẩm i đã tiêu thụ trong kỳ
Pi giá bán một đơn vị sản phẩm
* Chỉ tiêu lợi nhuận
L =∑Qi× (Pi - Zi - Fi - Ti ) L: lợi nhuận từ tiêu thụ sản phẩm
Zi : giá thành đơn vị sản phẩm i Qi: kết quả tiêu thụ sản phẩm i
Fi : chi phí lưu thông đơn vị sản phẩm i Pi : giá bán đơn vị sản phẩm i
Ti : thuế trên 1 đơn vị sản phẩm
* Chỉ tiêu hoàn thành KHTT sản phẩm:
- Về giá trị
Tỷ lệ % hoàn thành KH TT = ∑Qij×Pio×100%/ ∑Qio ×Pio
Qij: sản lượng tiêu thụ thực tế của sản phẩm j
Qio: sản lượng tiêu thụ kế hoạch của sản phẩm i
Pio: Giá cả của sản phẩm
- Về hiện vật
Tỷ lệ % hoàn thành KHTT=Sản lượng tiêu thụ TT/KH ×100%
* Khối lượng tiêu thụ sản phẩm của từng mặt hàng
Trang 18-Về giá trị:
M=doanh thu năm nay/doanh thu năm trước
{Lúc này tốc độ tiêu thụ chính là tốc độ tăng doanh thu}
hoặc M= lợi nhuận kỳ nghiên cứu/lợi nhuận kỳ gốc
*Thị phần tiêu thụ của doanh nghiệp :
T(thị phần)=doanh thu của doanh nghiệp /doanh thu của toàn ngành
*Số vòng quay của vốn:
Số vòng quay của vốn = doanh thu tiêu thụ/Tổng vốn kinh doanh
III Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
1 Nhóm nhân tố khách quan
1.1 Nhân tố kinh tế
Nhân tố kinh tế là nhân tố gián tiếp khách quan tác động vào hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp Nhân tố này thường tác động vào một số vấn đề như lạm phát, suy thoái kinh tế, cán cân thanh toán, thu nhập, cạnh tranh ,
và tuỳ thuộc vào từng giai đoạn, thời kì chúng đều ảnh hưởng ít nhiều đến công tác tiêu thụ, tạo ra hoặc thu hẹp cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp ở các mưc độ khác nhau
Khi có lạm phát cao, người tiêu dùng không có xu hướng tiết kiệm tiền mặt như ngoại tệ cũng như có xu hướng không gửi tiền vào ngân hàng mà chuyển sang dự trữ các loại tiền tệ mạnh khác hoặc các hàng hoá có giá trị lớn chẳng hạn như hàng điện tử Do vậy khi có lạm phát mọi người đều có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn Còn khi nền kinh tế suy thoái chậm phát triển, tốc
độ tăng GDP giảm thì sẽ kéo theo việc suy giảm tiêu dùng của người dân và ngược lại khi nền kinh tế tăng trưởng, người dân có thu nhập cao sẽ kích thích tiêu dùng mua sắm hàng hoá
Trang 19Cạnh tranh là động lực cho sự phát triển của kinh tế thị trường với nguyên tắc ai hoàn thiện hơn, thoả mãn tốt hơn nhu cầu và có hiệu quả thì người đó sẽ chiến thắng, tồn tại và phát triển Trong điều kiện cạnh tranh đó vừa mở ra các cơ hội để doanh nghiệp kiến tạo hoạt động của mình, vừa yêu cầu các doanh nghiệp vượt lên phía trước Trong quá trình cạnh tranh nhất thiết các doanh nghiệp phải đối mặt với các đối thủ cạnh tranh, đó là các doanh nghiệp kinh doanh cùng mặt hàng hoặc là các mặt hàng thay thế lẫn nhau Và điều đó sẽ làm thu hẹp thị trường của doanh nghiệp và tác động mạnh tới công tác tiêu thụ sản phẩm Ngoài ra cũng tồn tại sự cạnh tranh bất hợp pháp như nạn buôn lậu, hàng giả, trốn thuế, làm cho giá cả thực tế của hàng hoá giảm xuống Hàng giả đem lại việc giảm uy tín của nhà sản xuất là một vấn đề hết sức nguy hiểm Do đó khi tung ra một sản phẩm nào đó ra thị trường , doanh nghiệp cần phải quan tâm đến số lượng đối thủ cạnh tranh ,ưu nhược điểm và chiến lược cạnh tranh của họ để làm căn cứ xây dựng cho mình chiến lược cạnh tranh hoàn hảo nhất.
1.2 Nhân tố văn hoá xã hội
Những ảnh hưởng của nhân tố này đến hoạt động tiêu thụ gồm có các yếu tố như : cơ cấu dân cư, mật độ dân số, trình độ dân trí,phong tục tập quán, hành vi tiêu dùng, Tuy đây không phải là yếu tố ảnh hưởng chính nhưng nó
có tác động khá lớn vào quyêt định mua của người tiêu dùng ở mỗi khu vực Chẳng hạn như, người dân tại một khu vực nào đó có thói qen tiêu dùng là thích hàng ngoại đắt tiền, có tên tuổi thì những hàng hoá bình dân mới xuất hiện rất khó thâm nhập và tác động đến những quyết định của họ Vì thế , vấn
đề đặt ra đòi hỏi doanh nghiệp phải nghiên cứu giải quyết những vấn đề tâm
lý tại các khu vực này sao cho người dân hiểu và tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp
Trang 201.3.Nhân tố về thể chế chính sách pháp luật của Nhà nước
Trong bất kì quốc gia nào, Nhà nước đều giữ vai trò quan trọng trong việc điều hoà điều tiết sự phát triển kinh tế của quốc gia đó Nhà nước tác động đến các chủ thể kinh tế thông qua các chủ trương , chính sách và biện pháp cụ thể nhằm đạt được sự phát triển toàn diện theo định hướng Song mức độ tác động này phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nước, đặc biệt
là chế độ chính trị của nước đó Sự tác động này đương nhiên có thể là sự tác động tích cực hoặc tiêu cực đối với hoạt động sản xuất kinh doanh mà các doanh nghiệp đang thực hiện Thông qua các văn bản qui định, chính sách tiền tệ, lãi suất, thuế hay xuất khẩu, là những yếu tố cơ bản tạo điều kiện thuận lợi hoặc gây khó khăn trong khâu tiêu thụ của doanh nghiệp
2 Nhóm nhân tố chủ quan
2.1 Giá cả sản phẩm
Khi doanh nghiệp tiến hành bán hàng cho khách hàng thì ngoài chất lượng sản phẩm ra khách hàng còng rất chú ý đến giá cả sản phẩm Nếu giá cả sản phẩm phù hợp với khả năng thanh toán của họ sẽ tác động tới quyết định mua hàng hoá đó Chính vì vậy giá cả là một nhân tố nhạy cảm có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Khách hàng sẽ
dễ dàng chấp nhận sản phẩm có chất lượng cao và giá cả phải chăng
Bên cạnh đó giá cả là thông số có ảnh hưởng trực tiếp đến lượng cung
và cầu hàng hoá trên thị trường Giá cả là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất cùng loại sản phẩm Do đó , nghiên cứu về giá cả trong tiêu thụ sản phẩm là hoạt động không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh nói chung Qui luật của thị trường cho chúng ta biết rằng nhu cầu về hàng hoá nào đó sẽ tăng khi giá cả của hàng hoá đó giảm và ngược lại Vì thế, việc doanh nghiệp xác định được một mức giá hợp lý là một việc cần thiết để
Trang 21thúc đẩy hoạt động tiêu thụ, nâng cao khả năng cạnh tranh cũng như tạo một chỗ đứng vững chắc cho sản phẩm của mình.
2.2 Chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp kinh doanh
Chất lượng sản phẩm là hệ thống những đặc tính nội tại của sản phẩm được đánh giá bằng những thông số kĩ thuật hoặc so sánh với những điều kiện hiện tại và thoả mãn những nhu cầu nhất định của xã hội
Trong nền kinh tế thị trường , chất lượng sản phẩm là vấn đề cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp sản xuất cùng loại sản phẩm là vấn đề đặt lên hàng đầu và gắn liền với công tác tiêu thụ sản phẩm Nếu sản phẩm của doanh nghiệp có chất lượng càng cao thì uy tín của doanh nghiệp với khách hàng càng lớn, khả năng cạnh tranh của nó với sản phẩm cùng loại trên thị trường càng mạnh Những loại sản phẩm này rất dễ được người tiêu dùng chấp nhận và doanh nghiệp sẽ dễ dàng bán được nhiều hàng hơn Chính vì lý
do đó , trong hoạt động sản xuất kinh doanh bất cứ doanh nghiệp nào cũng vậy, chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp phải là vấn đề chính, cốt lõi song làm sao để chất lượng sản phẩm luôn đạt mức cao hơn so với sản phẩm cùng loại và đảm bảo mức độ tin cậy cao khi sử dụng và sự trung thực khi mua bán Doanh nghiệp phải thường xuyên nâng cao chất lượng sản phẩm đảm bảo khai thác tối đa giá trị sử dụng để phục vụ cho khách hàng nhằm tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm
2.3 Tiềm lực về tài chính
Khả năng tài chính của doanh nghiệp có một vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh Nếu doanh nghiệp có khả năng về vốn lớn thì có thể cạnh tranh trực tiếp với các doanh nghiệp khác thông qua giá cả của sản phẩm Điều này cũng thúc đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp
Khi doanh nghiệp mạnh về tài chính,doanh nghiệp có thể đầu tư mua sắm các dây truyền sản xuất hiện đại, tiên tiến Sản phẩm sản xuất ra có chất
Trang 22lượng cao hơn so với doanh nghiệp khác và được khách hàng chấp nhận một cách dễ dàng Và ngược lại nếu khả năng về tài chính của doanh nghiệp ngày càng kém thì hiển nhiên là doanh nghiệp sẽ đi đến tình trạng phá sản.
Do vậy, các doanh nghiệp muốn đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm cần phải xác định các mục tiêu trong từng giai đoạn cho đúng để từ đó có thể huy động
và sử dụng nguồn tài chính một cách có hiệu quả nhất Đây cũng là một bài toán khó đối với bất kì một doanh nghiệp nào
2.4 Uy tín thương hiệu của doanh nghiệp
Vị trí địa lý, hình ảnh và uy tín về nhãn hiệu của doanh nghiệp cũng như các mối quan hệ của lãnh đạo có thể tạo lên sức mạnh trong kinh doanh thông qua khả năng bán hàng gián tiếp , sức mạnh đó có thể ở khả năng ảnh hưởng
và tác động đến sự lựa chọn, chấp nhận và quyết định mua hàng của khách hàng
Sự nổi tiếng của nhãn hiệu sản phẩm có ảnh hưởng không nhỏ tới khối lượng tiêu thụ của doanh nghiệp Nhãn hiệu càng nổi tiếng thì sự chú ý của khách hàng càng cao và doanh nghiệp càng có khả năng bán được nhiều sản phẩm hơn
Bên cạnh đó mối quan hệ của doanh nghiệp cũng rất cần thiết trong hoạt động tiêu thụ Khi mà doanh nghiệp có một nhãn hiệu nổi tiếng cộng với những mối quan hệ tốt giưa doanh nghiệp với doanh nghiệp khác sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiêu thụ hàng nhanh hơn và doanh nghiệp nhanh chiếm lĩnh được thị trường và đạt được các mục tiêu đề ra
2.5 Quan điểm quản lí và hệ thống tổ chức
Con người trong hoạt động tiêu thụ thể hiện qua độ nhanh nhạy tháo vát trong công việc Đối với mỗi người làm công tác tiêu thụ đòi hỏi phải có một trình độ chuyên môn cao, có khả năng nắm bắt thông tin tổng hợp, có một cái nhìn bao quát và toàn bộ đối với sản phẩm của doanh nghiệp nói riêng và thị trường nói chung
Trang 23Mỗi doanh nghiệp có một cơ cấu tổ chức quản lý riêng tương ứng với một trình độ tổ chức quản lý nhất định thể hiện ở sự hoàn hảo của cấu trúc ,tính hiệu quả của hệ thống quản lý và công nghệ quản lý Nâng cao trình độ
tổ chức quản lý thực chất là nhằm phát huy nhân tố con người, để từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tạo sự phối hợp đồng bộ giữa các khâu các
bộ phận tác động tốt đến công tác tiêu thụ sản phẩm
Trang 24Chương II: Thực trạng về tiêu thụ sản phẩm ngành hàng điện
tử công ty cổ phần Pico
I.Khái quát về công ty cổ phần Pico:
1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
A) Giai đoạn 1:
1) Tên công ty : Công ty cổ phần đại lý các sản phẩm điện tử
Tên giao dịch: electric goods agent joint stock company
Tên viết tắt : EGA., JSC2) Địa chỉ trụ sở chính: Số 229, phố Tây Sơn, phường Ngã Tư Sở,
quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
3) Ngành nghề kinh doanh:
- Sản xuất, buôn bán, lắp đặt, sửa chữa máy móc, linh kiện, thiết bị phục
vụ ngành điện, điện tử, điện lạnh, máy tính, viễn thông, văn phòng, ngành hàng gia dụng
- Kinh doanh các sản phẩm điện tử, viễn thông, tin học, máy tính, văn phòng
- Sản xuất, buôn bán vật liệu xây dựng, sắt thép phục vụ ngành xây dựng, đồ dùng nội ngoại thất
- Đại lí mua, đại lí bán kí gửi hàng hóa;
- Dịch vụ cho thuê văn phòng;
- Xây dựng, sửa chữa, thi công các công trình dân dụng, giao thông, thủy lợi, hạ tầng cơ sở;
- Lắp đặt, trang trí nội ngoại thất
4) Vốn điều lệ: 6.750.000.000 đồng ( Sáu tỉ bảy trăm năm mươi triệu
đồng VN )
5) Giám đốc công ty: Phạm Hoài Sơn.
B) Giai đoạn 2 :
B-1 Ngày đăng kí thành lập: 25/08/2006
1) Tên công ty : Cổ phần điện tử NaNo
- Tên viết tắt : NANO ELECTRONIC.,.JSC
Trang 252) Địa chỉ trụ sở chính : số 229 Tây Sơn, Đống Đa, Hà Nội.
3) Ngành nghề kinh doanh :
Bổ sung thêm:
- Quảng cáo thương mại và các dịch vụ liên quan đến quảng cáo.4) Vốn điều lệ : 10.000.000.000 đồng ( mười tỉ đồng )
5) Giám đốc : Hoàng Học Hải
B-2 Đăng kí thay đổi ĐKKD lần 01: Ngày 07/02/2007
- Thay đổi tên công ty: Công ty cổ phần điện tử Pico
B-3 Đăng kí thay đổi ĐKKD lần 02 : Ngày 20/09/2007.
Ngành nghề kinh doanh : Bổ sung thêm
- Giáo dục mầm non
Vốn điều lệ : 10.000.000.000 đồng ( mười tỉ đồng ).
Giám đốc : Hoàng Học Hải.
B-4 Đăng kí thay đổi ĐKKD lần 03 : Ngày 11/04/2008.
1) Tên công ty: Công ty cổ phần PICO.
- Tên giao dịch: PICO JOINT STOCK COMPANY
- Tên viết tắt: PICO.,.JSC
2) Địa chỉ trụ sở chính: số 229 Tây Sơn, Đống Đa, Hà Nội.
3) Ngành nghề kinh doanh: Bổ sung thêm
- Kinh doanh bất động sản
- Dịch vụ vận tải hàng hóa và vận chuyển hành khách bằng đường bộ
4) Vốn điều lệ: 50.000.000.000 ( Năm mươi tỉ đồng ).
B-5 Thay đổi ĐKKD lần 4: Ngày 29/04/2008
Ngành nghề kinh doanh: bổ sung thêm
- Xuất khẩu các mặt hàng công ty kinh doanh
B-6 Thay đổi ĐKKD lần 5: ngày 07/10/2008
1) Tên công ty: Công ty cổ phần PICO.
- Tên giao dịch: PICO JOINT STOCK COMPANY
- Tên viết tắt: PICO.,.JSC
Trang 262) Địa chỉ trụ sở chính: số 229 Tây Sơn, Đống Đa, Hà Nội.
3) Tên, địa điểm kinh doanh của công ty:
- Địa điểm kinh doanh số 1 công ty cổ phần PICO:
Số 76 Nguyễn Trãi,phường Thượng Đình, Quận Thanh Xuân, Hà Nội.Địa điểm kinh doanh số 2 công ty cổ phần PICO:
Số 35 Hai Bà Trưng, phường Tràng Tiền, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
4) Ngành nghề kinh doanh:
- Sản xuất, buôn bán, lắp đặt, sửa chữa máy móc, linh kiện, thiết bị phục vụ ngành điện, điện tử, điện lạnh, máy tính, viễn thông, văn phòng, ngành hàng gia dụng
- Kinh doanh các sản phẩm điện tử, viễn thông, tin học, máy tính, văn phòng
- Sản xuất, buôn bán vật liệu xây dựng, sắt thép phục vụ ngành xây dựng, đồ dùng nội ngoại thất
- Đại lí mua, đại lí bán kí gửi hàng hóa;
- Dịch vụ cho thuê văn phòng;
- Xây dựng, sửa chữa, thi công các công trình dân dụng, giao thông, thủy lợi, hạ tầng cơ sở;
- Lắp đặt, trang trí nội ngoại thất
- Quảng cáo thương mại và các dịch vụ liên quan đến quảng cáo
- Giáo dục mầm non
- Kinh doanh bất động sản
- Dịch vụ vận tải hàng hóa và vận chuyển hành khách bằng đường bộ
- Xuất khẩu các mặt hàng công ty kinh doanh
2 Chức năng và nhiệm vụ của công ty
2.1 Chức năng
Trang 27Trong nền kinh tế thị trường, cùng với sự chuyển mình của đất nước cũng như các ngành kĩ thuật khác trong cả nước Ngành thương mại đã có nhiều nỗ lực, cố gắng trong việc đổi mới phương hướng hoạt động kinh doanh nhằm hòa nhập vào cơ chế cạnh tranh trên thị trường.
Công ty cổ phần PICO tiến hành kinh doanh các sản phẩm được phép lưu hành trên lãnh thổ Việt Nam Công ty thực hiện khâu mua chủ yếu là hình thức mua đứt bán đoạn, ngoài ra có một ít lượng hàng được nhập dưới hình thức kí gửi, cho bầy mẫu, nhận đại lí với mục tiêu tăng doanh số bán ra, tìm kiếm lợi nhuận và phục vụ tốt hơn nhu cầu tiêu dùng
Công ty thực hiện chức năng lưu thông hàng hóa trong quá trình tổ chức, quá trình vận động của hàng hóa từ nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng Công ty mua hàng hóa từ nhà sản xuất, nhà bán buôn rồi bán lại cho người tiêu dùng.Thông qua việc hoạt động sẽ mang lại lợi nhuận, nâng cao lợi ích của công ty đồng thời có nguồn tài chính đảm bảo cho công ty hoạt động có hiệu quả
2.2 Nhiệm vụ
Công ty tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh hàng hóa, các sản phẩm điện máy nhằm đáp ứng tốt nhu cầu của nhân dân trong quận, góp phần ổn định giá cả và đưa các doanh nghiệp tư nhân vào quỹ đạo phục vụ nhân dân Ngoài ra doanh nghiệp phải tự tạo nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh và quản lí khai thác sử dụng có hiệu quả vốn, đảm bảo đầu tư mở rộng sản xuất vốn, đổi mới trang thiết bị, bù đắp chi phí và làm tròn nghĩa vụ với nhà nước, tuân thủ chế độ chính sách, chế độ quản lí kinh tế hiện hành của nhà nước và thực hiện đúng cam đoan trong hợp đồng kinh doanh có liên quan Nghiên cứu và thực hiện biện pháp nâng cao chất lượng hàng hóa kinh doanh, mở rộng thị trường, góp phần thu ngân sách nhà nước và phát triển kinh doanh công ty.Thực hiện đúng chế độ quản lí tài sản, tài chính, lao động, tiền lương
Trang 28Làm tốt công tác điều phối theo lao động, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ văn hóa nghiệp vụ trong nghề cho mỗi người lao động, làm tốt công tác bảo vệ an toàn lao động, trật tự, môi trường và an ninh.
3 Hệ thống tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban,bộ phận trực thuộc:
3.1 Nhân lực
Thu hút người lao động chất lượng cao bằng các chính sách đãi ngộ hấp dẫn hoặc mạnh dạn thay đổi cơ cấu để trở thành môi trường thu hút người có tâm, có tài đã trở thành chiến thuật cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp VN Pico là một trong những công ty như vậy Chất lượng nguồn nhân lực luôn là chìa khoá thành công của mọi doanh nghiệp Để đối phó với những biến đổi bất thường của thị trường và nền kinh tế, các doanh nghiệp ngày càng đầu tư nhiều hơn cho các chiến lược, chiến thuật tiếp thị, quảng cáo, thu hút người tiêu dùng và tăng khả năng cạnh tranh Pico Plaza là một trong số những siêu thị điện máy hàng đầu về quy mô - chủng loại trưng bày, chất lượng sản phẩm, dịch vụ khách hàng và các chương trình khuyến mãi Chỉ tính riêng trong năm 2008, các chương trình "Chợ Tết", "Chợ Đêm”, "Pico - Mùa hè xanh , du lịch thả phanh”, “Xả tồn kho" và mới đây nhất là chương trình
“Tháng trình diễn và siêu khuyến mại hàng công nghệ mới" của Pico đã gây được ấn tượng mạnh đối với người tiêu dùng Ngoài ra, Pico Plaza cũng được biết đến là một doanh nghiệp rất tích cực tham gia các hoạt động từ thiện ví như “lửa ấm về các miền quê” “bầu ơi thương lấy bí cùng”, “tết vì người nghèo” Doanh số bán hàng tăng đều, trung bình từ 5 - 10 tỷ một ngày giúp Pico có thêm điều kiện để xây dựng các chương trình tiếp thị độc đáo, tham gia nhiều hơn vào các hoạt động từ thiện Ông Phạm Hoài Sơn, Chủ tịch HĐQT Pico cho biết: "Trong xu thế toàn cầu hoá, các doanh nghiệp không thể đặt ra khuôn mẫu để giám sát, quản lý hoặc kìm hãm nhân lực, mà luôn phải
Trang 29chuẩn bị tinh thần cho sự thay đổi, phải xác định tìm kiếm nhân tài ở mọi cấp độ; cũng như kỳ vọng về sự luân chuyển, rằng khi nhân tài trở về thì họ sẽ đảm đương, đảm nhận nhiệm vụ ở những vị trí cao hơn Để có được những bước chuyển mình và phát triển bền vững, công ty đặc biệt quan tâm và chú trọng việc đầu tư vào nguồn nhân lực trình độ cao” Yêu cầu về nguồn nhân lực hiện nay đã thay đổi hoàn toàn về chất Trước đây các tiêu chuẩn thường được đưa ra là: tính tốt, cần cù, trung thành, có trách nhiệm nhưng nay những tiêu chuẩn này đã thay đổi thành: có tính sáng tạo, có khả năng xử lý vấn đề, có khả năng phân tích, có tinh thần đồng đội, có khả năng ăn nói diễn đạt Nói chung nguồn nhân lực phải được huấn luyện bài bản Với kinh nghiệm của một nhà quản lý, bà Lê Phương Anh, Phó Giám đốc Công ty Tư vấn quản lý MCG cho biết, hiện nay VN vẫn được đánh giá là một thị trường lao động có tiềm năng to lớn, với 70% dân số ở độ tuổi dưới 30 Tuy nhiên đây chỉ là tiềm năng về lượng còn nguồn nhân lực thực tế chưa đáp ứng yêu cầu về chất đang ngày càng được nâng cao Theo bà Phương Anh, nguồn nhân lực có kỹ năng quản lý và chuyên môn cao đang khan hiếm trầm trọng Các công ty khi tuyển người cho 1 vị trí làm việc trong công ty thì trung bình
có đến 85-90% hồ sơ không đáp ứng các yêu cầu tuyển dụng Trong tình thế này, doanh nghiệp nào xây dựng được một chiến lược đúng đắn về nhân sự để thu hút và giữ chân người tài thì mới đứng vững và phát triển được Đây là khó khăn chung và thách thức lớn đối với các tổ chức và doanh nghiệp trong nước, vì các doanh nghiệp nước ngoài đã quen với môi trường cạnh tranh nên
đã xây dựng các lợi thế, mạnh hơn hẳn các tổ chức trong nước về chế độ đãi ngộ và môi trường làm việc Các chương trình khuyến mãi sáng tạo đã góp phần làm nên thương hiệu Pico và đưa Pico ngày càng gần gũi hơn với người tiêu dùng thủ đô Anh Ngô Thành Đạt, Trưởng phòng Marketing, cho biết điểm hấp dẫn để anh xây dựng các chương trình khuyến mãi cho Pico chính là
Trang 30ở uy tín của siêu thị với các nhà sản xuất và quan điểm quản trị của Ban lãnh đạo Với nhiều doanh nghiệp, cạnh tranh bằng giảm giá là giải pháp cuối cùng
mà doanh nghiệp phải áp dụng Nhưng với Pico giảm giá lại là thế mạnh cạnh tranh vì giảm giá mà không giảm lợi nhuận và chất lượng sản phẩm "Điều này có được là do mình xuất phát từ dân kinh doanh chứ không chỉ thuần là dân tiếp thị", anh nói Anh Đạt cũng chia sẻ, đối với anh mức lương không phải là điều quan trọng nhất mà điều quan trọng là anh có cơ hội được thể hiện mình tại doanh nghiệp trong nước với những kĩ năng, kinh nghiệm được tích lũy sau hơn 5 năm đầu quân cho các hãng nước ngoài danh tiếng Anh Ngô Thành Đạt - Trưởng phòng Marketing của Pico Được sự ủng hộ của Ban lãnh đạo, như được tiếp thêm sức sáng tạo, bộ phận Marketing của Pico không ngừng nghiên cứu và tìm hiểu nhu cầu mong đợi của khách hàng nhằm cung cấp những giải pháp mua hàng hợp lý, có lợi nhất cho khách hàng Bên cạnh môi trường mua sắm tiện nghi, đội ngũ bán hàng nhiệt tình, chu đáo và hùng hậu, Pico còn giữ cam kết phục vụ theo tiêu chuẩn quốc tế với các dịch
vụ bảo hành chính hãng, tư vấn lắp đặt miễn phí trong 24h…
Bảng 1 Cơ cấu nhân viên các bộ phận:
ST
T
Bộ phận Tổng Pico 76 Nguyễn Trãi Pico 35 Hai Bà Trưng
SL hiện tại
SL cần
SL nv thiếu
SL hiện tại
SL cần
SL nv thiếu
Trang 31- Hội đồng quản trị gồm 5 người trong đó có 1 chủ tịch hội đồng quản trị, 1 phó chủ tịch và 3 ủy viên.
- Ban giám đốc công ty: là người đại diện pháp nhân của công ty và chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị và pháp luật về việc điều hành công ty
- Giúp việc cho giám đốc có phó giám đốc, phó giám đốc được giám đốc phân công phụ trách một số công tác và chịu trách nhiệm trước giám đốc công ty, trước pháp luật về lĩnh vực được phân công ủy nhiệm
Trang 32- Phòng tổ chức hành chính và nhân sự : có chức năng đảm trách các công việc hành chính và quản lí toàn bộ tài sản của công ty Đây là bộ phận làm công tác tham mưu và giúp đỡ giám đốc trong việc tổ chức tất cả các công việc liên quan đến cán bộ, sắp xếp bộ máy trong công ty, đề bạt, cân nhắc, đào tạo cán bộ, ra quyết định khen thưởng, kỉ luật, tiếp khách hội nghị, lưu giữ giấy tờ, tuyển chọn nhân sự
- Phòng kế toán: Tham mưu giúp giám đốc tổ chức chỉ đạo thực hiện toàn bộ công tác kế toán của công ty.Gồm: kế toán trưởng, kế toán kho, kế toán tổng hợp, kế toán công nợ, kế toán chi phí kiêm kế toán tiền lương, thủ quỹ
- Phòng kinh doanh: gồm 1 trưởng phòng, 1 thư kí văn phòng, 6 trưởng ngành hàng, các trợ lí ngành hàng.Có chức năng bán hàng và phát triển thị trường theo định hướng, chủ trương kế hoạch do ban giám đốc đề ra
Cụ thể bộ phận này phải khai thác tối đa và quản lí tốt các khách hàng hiện có
và khách hàng tiềm năng của công ty, hợp các phòng ban để tối ưu hóa các hoạt động kinh doanh của mình, nâng cao tầm hiểu biết thị trường, hàng hóa
và các kĩ năng bán hàng
- Phòng Marketing : phụ trách các mảng về media, thiết kế trang trí
và event Phòng marketing giúp công ty đẩy mạnh việc tiêu thụ hàng hóa thông qua các phương pháp PR, tổ chức các hội chợ, event nhằm thu hút khách hàng tới công ty mua hàng
- Phòng dịch vụ khách hàng: bao gồm bộ phận chăm sóc khách hàng,
bộ phận kĩ thuật bảo hành và bộ phận kĩ thuật tòa nhà Phòng dịch vụ khách hàng chủ yếu thực hiện các chức năng chăm sóc khách hàng, tư vấn cho khách hàng các thắc mắc, giải quyết các khiếu nại, bảo hành các sản phẩm bị lỗi
- Phòng chính sách: phụ trách tham mưu các chiến lược về sản phẩm, chính sách về giá cho ban giám đốc Phòng chính sách là một bộ phận thuộc phòng kinh doanh
Trang 33- Phòng IT, kĩ thuật tòa nhà, kĩ thuật-IT: phụ trách thiết kế các phần mềm quản lí của công ty, không ngừng hoàn thiện các quy trình hoạt động mua hàng, đặt hàng, thanh toán trên hệ thống máy tính, và chịu trách nhiệm đảm bảo kĩ thuật cho toàn bộ công ty.
- Bộ phận điều hàng: có trách nhiệm điều phối hàng hóa sau khi nhận hóa đơn từ quầy thu ngân, sau đó phụ trách điều chuyển hàng hóa cho đội vận chuyển thực hiện việc vận chuyển hàng hóa đến tận nơi cho khách hàng
- Bộ phận kho: bao gồm kho CN, kho công ty, và kho GD, bộ phận này phụ trách tiếp nhận tiếp nhận, bảo quản, lưu giữ hàng hóa trong kho
- Bộ phận bán hàng, quầy thu ngân, quản lí sàn: Trong đó bộ phận bán hàng bao gồm 6 quẩy hàng tương đương với 6 ngành hàng: quầy điện tử, quầy gia dụng, quầy kĩ thuật số, quầy điện lạnh, quầy viễn thông, quầy IT Bộ phận thu ngân được đặt giữa tòa nhà thuận lợi cho khách hàng đến thanh tóan khi mua hàng Còn bộ phận quản lí sàn phụ trách an ninh, bảo vệ trong khi bán hàng, kỉ luật của nhân viên
Chủ tịch hội đồng quản trị
Phòng hành chính
Phòng
IT, kĩ thuật
Bộ phận bán
Phòng dịch
vụ
Bộ phận điều
Bộ phận kho
Trang 34SƠ ĐỒ BỘ MÁY TỔ CHỨC
4 Công tác thu mua tạo nguồn
Gửi kho
Trang 35Quy trình mua hàng của công ty được thể hiện qua sơ đồ trên.
Khi công ty có nhu cầu mua hàng từ nhà cung cấp, sau khi đã qua đàm phán với nhà cung cấp về giá cả, chiết khấu, các điều kiện bảo hành, thanh toán, ,công ty thực hiên công việc đặt hàng.Công việc đặt hàng này được thực hiện trên hệ thông máy tính ERP của nội bộ công ty.Các trợ lí ngành hàng sẽ phụ trách tạo đơn đăt hàng về loại hàng hóa cần mua, số lượng các mặt hàng Sau đó đơn hàng sẽ được trưởng ngành hàng xét duyệt rồi mới trực tiếp mở đơn hàng, việc mở đơn hàng được thực hiện trên hệ thống ERP.Đơn hàng sẽ đựợc chuyển xuống kho, kho sẽ nhận hàng theo 2 cách
Ghi nhập tăng kho(kt kho)
Ghi nhận tăng giảm(kt kho)
Trang 36Một là nhập kho theo đơn hàng khi nhà cung cấp giao hàng, hai là nhập kho theo đơn hàng từ kho nhà cung cấp.Đối với nhập kho theo đơn hàng từ nhà cung cấp thì kế tóan kho sẽ chịu trách nhiệm tiếp nhận hóa đơn giao hàng từ nhà cung cấp, sau đó quản trị kho sẽ phụ trách điều chuyển kho theo số hàng hóa thực nhận bởi vì có thể hàng hóa nhận được không đúng với hàng hóa trong đơn hàng, có thể hàng đang trên đường đi Để thực hiện điều này thì quản trị kho sẽ có phiếu điều chuyển cho kế toán kho có thể dễ dàng ghi nhận tăng giảm kho Còn đối với nhập kho theo đơn hàng, qua hệ thống ERP chúng
ta sẽ có phiếu nhập đúng so với đơn hàng, phiếu nhập sẽ được chuyển cho kế toán kho ghi nhận tăng kho công nợ Cuối cùng kết thúc quy trình là đóng đơn hàng ( sau 15 ngày )
Trang 375 Công tác bán hàng
Quy trình bán hàng thông thường
Sơ đồ quy trình bán hàng thông thường
begi n
NVBH ghi nhận thông tin
Thu ngân lập hóa đơn bán lẻ
NVVC giao hàng, lắp đặt thu tiền, khách hàng kí nhận vào PGH
Thu ngân thu tiền và ghi công