Phân loại theo công cụ hoạt động của thị trường – hàng hóa trên thị trường Theo các phân loại này, người ta chia ra thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu và thị trường chứng khoán p
Trang 1Trường Đại học Kinh doanh và công nghệ Hà nội
KHoa tài chính - ngân hàng
-
Giáo trình:
Thị trường chứng khoán
TS Nguyễn Võ Ngoạn
Hà Nội, 2009
Trang 21.5.1 Phân loại theo công cụ hoạt động của thị trường – hàng hóa
trên thị trường
9
1.6.1 Thị trường chứng khoán New York (The New York Stock
Exchange – NYSE)
15
Trang 32.3.2 Giá bán lần đầu trái phiếu chiết khấu khống
2.3.3 Giá bán cổ phiếu phát hành lần đầu
2.3.4 Thư giá (Book value)
2.6.6 Quy trình lưu ký chứng khoán tại thị trường giao dịch chứng
2.7.3 Thông tin từ các tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán
gồm tình hình tài chính và các thông tin liên quan
Trang 44.5.1 C¸c thµnh viªn tham gia 73
Trang 6Chương
thị trường chứng khoán
1.1- khái niệm
Thị trường chứng khoán là nơi giao dịch mua bán, trao đổi các loại chứng khoán
Chứng khoán được hiểu với nghĩa là các loại giấy tờ có giá hoặc các bút toán ghi số xác
nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán
Thị trường chứng khoán là sản phẩm cao cấp của nền kinh tế thị trường Hàng hoá của thị trường này rất khác với hàng hoá thông thường mặc dù chúng cũng có giá trị và giá trị sử dụng, nhưng chúng lưu thông không như lưu thông tiền tệ Lưu thông ở đây là chuyển quyền
sở hữu tư bản (vốn Capital) chuyển từ tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh
Các giao dịch mua bán, trao đổi chứng khoán có thể diễn ra trên thị trường sơ cấp hoặc thị trường thứ cấp; tại thị trường tập trung hoặc phi tập trung; tại thị trường giao ngay hoặc thị trường kỳ hạn, tuỳ thuộc vào tính chất sự vận động của chúng
1.2 Lịch sử ra đời thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán sơ khai đã xuất hiện vào giữa thế kỷ XV Khi đó tại những thành phố thương mại lớn của các nước phương tây, tại các chợ phiên hoặc các quán cà phê các thương gia thường tụ tập để trao đổi, bàn bạc và mua bán hàng hoá, ngoại tệ Những cuộc trao đổi này nhằm thống nhất, thoả thuận bằng miệng về giá cả, số lượng hàng hoá trao
đổi, kể cả những “hợp đồng tương lai” thực hiện vào các tháng sau, quý sau Những cuộc trao đổi đó, lúc đầu chỉ là từng nhóm nhỏ, về sau số người tham gia càng nhiều rồi trở thành một khu chợ riêng
Phiên chợ riêng đầu tiên được tụ họp tại lữ quán của gia đình Vanber thành phố Bruger (Bỉ) vào năm 1453 Tại lữ quán này có một bảng hiệu hình 3 túi da và 1 từ Pháp
“Bourse”, nghĩa là “Thị trường mậu dịch” tức là “Sở Giao dịch”; 3 túi da tượng trưng cho 3 thị trường: thị trường hàng hoá, thị trường ngoại tệ và thị trường chứng khoán động sản Năm 1547, eo biển Even bị cát lấp cạn, tàu bè không vào được thành phố Bruger Thành phố không còn phồn vinh nữa, thị trường ở đây tiêu điều, vì vậy “thị trường mậu dịch” này được chuyển tới thành phố Anvers (Bỉ) Từ đó thị trường này phát triển rất nhanh
1
Trang 7Vào giữa thế kỷ XVI một thị trường như vậy cũng được thành lập tại Luôn Đôn (Vương quốc Anh) Sau này được gọi là Sở giao dịch chứng khoán Luôn Đôn Các thị trường khác tiếp đó cũng được thành lập ở Đức, Pháp, ý và các nước Bắc Âu, sau đó là Mỹ
Sau một quá trình hoạt động và phát triển “thị trường mậu dịch” được tách riêng thành các thị trường hàng hoá, thị trường hối đoái, thị trường chứng khoán
Trong quá trình hoạt động, thị trường chứng khoán đã phát triển mạnh mẽ không ngừng Thời kỳ huy hoàng nhất là vào những năm 1875 – 1913 Tuy nhiên thị trường chứng khoán đã từng trải qua các bước thăng trầm chìm nổi Đó là “ngày thứ năm đen tối” 29/10/1929, chỉ trong vài giờ đã làm cho thị trường chứng khoán New York và các thị trường chứng khoán Mỹ, Tây Âu, Bắc Âu, Nhật bản gần như suy sụp Rồi cuộc khủng khoảng tài chính tiền tệ vào “ngày thứ hai đen tối” 19/10/1987 một lần nữa lại làm chao đảo các thị trường chứng khoán hiện đại trong thế kỷ XX Tất nhiên sau đó thị trường chứng khoán lại được phục hồi và phát triển và đang trở thành một thể chế tài chính không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường hiện đại
1.3 Vị trí thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là một bộ phận cấu thành của thị trường tài chính và được coi
là đặc trưng cơ bản, là biểu tượng của nền kinh tế thị trường hiện đại Thị trường chứng khoán cũng là hình ảnh đặc trưng của thị trường vốn Tuy nhiên trên thị trường chứng khoán thường sử dụng cả 2 loại công cụ để giao dịch, đó là công cụ tài chính trên thị trường vốn và công cụ tài chính trên thị trường tiền tệ
Vị trí của thị trường chứng khoán được thể hiện trong sơ đồ sau:
1.4 chức năng của thị trường chứng khoán
Là sản phẩm cao cấp của nền kinh tế hiện đại, tuy chưa có lịch sử lâu đời, nhưng qua thực tiễn hoạt động, thị trường chứng khoán đã khẳng định vai trò quan trọng của nó trong nền kinh tế Vai trò của thị trường chứng khoán được thể hiện qua các chức năng sau:
Thị trường Tài chính
Thị trường chứng khoán
Trang 8- Thị trường chứng khoán làm trung gian giữa tích luỹ và đầu tư thực hiện việc tập trung và phân phối vốn trên cơ sở tạo ra các công cụ tài chính có tính thanh khoản, tính lỏng cao chuyển hoá thời hạn nguồn vốn phù hợp với yêu cầu đầu tư phát triển
- Thị trường chứng khoán tác động vào sự thay đổi cơ cấu nguồn vốn của các Doanh nghiệp, các công ty theo xu hướng tăng nguồn vốn chủ sở hữu, giảm các khoản vay ngân hàng và vay bên ngoài khác tạo ra việc giảm chi phí sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp
- Thị trường chứng khoán tự động điều hoà các nguốn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, giải quyết mâu thuẫn cung cầu vốn giữa các thành phần kinh tế; các khu vực kinh tế; đồng thời bằng các công cụ hoạt động của mình góp phần phân tán sự tập trung quyền lực của các tập đoàn kinh tế lớn, tạo điều kiện phát huy cạnh tranh hoàn hảo trong kinh doanh
- Thị trường chứng khoán tạo thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài thông qua việc quốc tế hoá thị trường, đồng thời tạo điều kiện tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế
- Thị trường chứng khoán tạo ra công cụ và điều kiện cho Chính phủ huy động các nguồn tài chính mà không tác động tiêu cực đến lưu thông tiền tệ
- Thị trường chứng khoán cung cấp thông tin kịp thời, chính xác liên quan đến tình hình mua bán, kinh doanh chứng khoán, tình hình tài chính các doanh nghiệp, đồng thời cung cấp các dự báo tương lai về phát triển kinh tế, về chu kỳ hoạt động kinh doanh của nền kinh tế xã hội
1.5 Phân loại thị trường chứng khoán
Có nhiều cách phân loại khác nhau theo các tiêu thức khác nhau, tuỳ thuộc mục đích nghiên cứu
1.5.1 Phân loại theo công cụ hoạt động của thị trường – hàng hóa trên thị trường Theo các phân loại này, người ta chia ra thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu và thị trường chứng khoán phái sinh
- Thị trường trái phiếu (Bond Market) là nơi mua bán các loại trái phiếu, tức là mua bán các loại chứng khoán nợ, các chứng chỉ hoặc các bút toán xác nhận quyền chủ nợ Trái phiếu thường có thời hạn xác định ở mức trung hạn hoặc dài hạn Trài phiếu (theo từ Hán Việt: Trái là nợ) là công cụ mà người đi vay vốn theo hình thức có hoàn trả gốc và lãi Người cho vay không chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của số vốn đã cho vay
- Thị trường cổ phiếu (Stock Market) là nơi mua bán các chứng chỉ hoặc bút toán ghi
sổ xác nhận quyền sở hữu cổ phần trong công ty của các cổ đông Cổ phiếu có thời hạn không xác định, thường là vĩnh viễn, hay chính xác hơn là cho đến khi công ty phát hành ra chúng không tồn tại nữa
Trang 9- Thị trường phái sinh (Derivative Market) là nơi mua bán các loại giấy tờ có nguồn gốc chứng khoán, như hợp đồng quyền chọn (Option Contract), hợp đồng tương lai (Future Contract) v.v
1.5.2 Phân loại theo sự vận động của vốn
Theo phương pháp phân loại này, người ta chia ra thị trường sơ cấp (Primary Market)
và thị trường thứ cấp (Secondary Market)
- Thị trường sơ cấp còn gọi là thị trường cấp 1, là thị trường phát hành các chứng khoán, tức là nơi mua bán các chứng khoán lần đầu tiên Tại thị trường này giá cả của chứng khoán là giá phát hành Thông qua việc phát hành chứng khoán, các doanh nghiệp huy động vốn trên thị trường, Chính phủ có thêm nguồn thu để tiêu dùng theo mục đích
Thị trường sơ cấp là kênh huy động vốn quan trọng, trong nền kinh tế Nếu không có thị trường sơ cấp thì toàn bộ vốn cần thiết và vốn bổ sung cho các doanh nghiệp đều phải thực hiện trên thị trường tiền tệ, tức là vốn bổ sung cho hoạt động của các doanh nghiệp đều phải thực hiện qua hệ thống các ngân hàng thương mại
- Thị trường thứ cấp còn gọi là thị trường cấp 2 là nơi mua bán, giao dịch những chứng khoán đã được phát hành Việc mua bán này nhằm mục đích kiếm lời, di chuyển vốn đầu tư,
di chuyển tài sản xã hội
Thị trường thứ cấp làm tăng tính thanh khoản, tính lỏng của các chứng khoán đã phát hành, tạo điều kiện chuyển đổi thời hạn của vốn, đồng thời giúp các nhà đầu tư sàng lọc, thay đổi kết cấu danh mục đầu tư
- Thị trường thứ cấp thông qua việc khớp lệnh, đấu giá mà định giá được các loại chứng khoán đã phát hành trên thị trường sơ cấp Giá cả các loại chứng khoán được xác định trên thị trường này được coi là thước đo quan trọng để đánh giá các công ty
lý để mua bán, trao đổi các chứng khoán có niêm yết tham gia giao dịch Việc mua bán
được thực hiện theo nguyên tắc và quy định về quy trình hoạt động của Sở giao dịch
Thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC – Over – The Counter Market), là thị trường thứ cấp, không có Sở giao dịch, không tập trung ở một nơi nhất định, thị trường phi tập trung được hoạt động qua điện thoại hoặc qua mạng vi tính Qua đó các nhà môi giới và
Trang 10những người kinh doanh chứng khoán mua bán với nhau và với các nhà đầu tư; các hoạt
động giao dịch được diễn ra tại các quầy giao dịch của các ngân hàng thương mại hoặc các công ty chứng khoán
Thị trường chứng khoán phi tập trung có vị trí quan trọng trong hệ thông thị trường chứng khoán Có những thị trường phi tập trung tầm cỡ quốc tế như NASDAQ (National Association Securities Dealers Automatic Quote) của Mỹ, hoặc JASDAQ và J-Net của Nhật
là những thị trường có khối lượng mua bán chứng khoán rất lớn
Chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC chủ yếu là các chứng khoán chưa đủ điều kiện niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán nhưng các chứng khoán đều đáp ứng được các tiêu chuẩn về tính thanh khoản và các yêu cầu tài chính của Thị trường chứng khoán Tất nhiên đối với những loại chứng khoán đã niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán vẫn có thể
được mua bán trên thị trường OTC
Trong thị trường OTC, các nhà tạo lập thị trường (các công ty giao dịch - môi giới) nắm giữ một lượng chứng khoán nhất định, sẵn sàng đưa ra mua, bán Các công ty môi giới phải đăng ký hoạt động với các cơ quan quản lý và tuân thủ các nguyên tắc về tài chính, kỹ thuật và đạo đức nghề nghiệp
Giá cả mua, bán chứng khoán trên thị trường OTC được xác định chủ yếu thông qua thương lượng, thoả thuận giữa người mua và người bán Vì vậy giá cả có thể nhiều lúc khác nhau Nhưng do các nhà tạo lập thị trường nắm giữ một lượng chứng khoán nhất định, họ công bố mức giá cao nhất sẵn sàng mua và mức giá thấp nhất sẵn sàng bán Như vậy, sẽ hình thành một cơ chế tương tự đấu giá Do đó khoảng chênh lệch giữa mức giá cũng được thu hẹp
Cơ chế thanh toán chứng khoán và thanh toán vốn trên thị trường OTC là thanh toán song phương được thoả thuận giữa người mua và người bán về thời hạn cũng như phương thức thanh toán Hình thức thanh toán linh hoạt, đa dạng, không thực hiện thanh toán bù trừ như thị trường tập trung
Quản lý thị trường OTC: là thị trường không tập trung nhưng được cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán (Uỷ ban chứng khoán Nhà nước) quản lý chặt chẽ theo luật chứng khoán và các luật có liên quan, đồng thời thị trường OTC chịu sự quản lý của Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
So sánh thị trường chứng khoán tập trung và thị trường phi tập trung (OTC)
- Giống nhau:
+ Cả 2 thị trường đều chịu sự quản lý của Nhà nước
+ Hoạt động của cả 2 thị trường đều chịu sự chi phối, điều chỉnh của luật pháp (luật
Trang 11- Khác nhau:
- Giao dịch tập trung tại Sở giao dịch chứng
khoán
- Giao dịch thông qua đấu giá tập trung
- Chỉ có 1 mức giá trong cùng thời điểm cho
1 chứng khoán
- Giao dịch các loại chứng khoán đáp ứng
yêu cầu của Sở giao dịch
- Chứng khoán giao dịch có độ rủi ro thấp
- Tổ chức quản lý trực tiếp là Sở giao dịch
- Thanh toán theo phương thức bù trừ đa
phương
- Giao dịch ngoài Sở Giao dịch chứng khoán
- Giao dịch qua thương lượng là chủ yếu; khớp lệnh đối với các lệnh nhỏ tại các thị trường mới hình thành
- Cùng một thời điểm có nhiều mức giá
- Giao dịch các loại chứng khoán không đủ
điều kiện niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán, nhưng đáp ứng yêu cầu của cơ quan quản lý thị trường OTC
- Chứng khoán giao dịch có độ rủi ro cao hơn
- Tổ chức quản lý trực tiếp là Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán hoặc Sở giao dịch chứng khoán
- Hình thức thanh toán linh hoạt
1.5.4 Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán
Tham gia thị trường chứng khoán gồm có các chủ thể sau đây:
- Chủ thể phát hành chứng khoán: Đây là chủ thể quan trọng nhất, là người cung cấp hàng hoá - chứng khoán cho thị trường Các chủ thể này gồm các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính trung gian, các tổ chức đầu tư Chính phủ Các chủ thể này phát hành các loại cổ phiếu, trái phiếu, các công cụ tài chính khác Tức là các loại hàng hoá lưu thông trên thị trường chứng khoán
- Các nhà đầu tư: Là những người thực hiện mua, bán chứng khoán để kiếm lời Các nhà đầu tư có thể là các cá nhân hay tổ chức đầu tư
- Sở giao dịch chứng khoán là tổ chức được lập ra theo quy định của pháp luật để thực hiện việc hoạt động của thị trường chứng khoán
- Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán: Là bộ máy được thành lập để lưu giữ các chứng khoán đã phát hành (đủ tiêu chuẩn tham gia giao dịch) và thực hiện việc thanh toán bù trừ các giao dịch chứng khoán Các ngân hàng thương mại, các công ty chứng khoán có đủ các điều kiện quy định cũng được thực hiện lưu giữ chứng khoán
Trang 12- Hiệp hội chứng khoán: Là tổ chức nghề nghiệp của các nhà kinh doanh chứng khoán
- Cơ quan quản lý giám sát hoạt động thị trường chứng khoán: Cơ quan quản lý và giám sát hoạt động thị trường chứng khoán là tổ chức do Chính phủ thành lập để quản lý theo pháp luật các hoạt động của thị trường chứng khoán nhằm đảm bảo cho hoạt động thị trường chứng khoán an toàn, lành mạnh phát triển bền vững
1.5.5 Nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán
Đặc điểm cơ bản của thị trường chứng khoán là tính tự do cao và giá cả hàng hoá là không dễ dàng nhận biết Theo luật pháp các nước, tổ chức hoạt động thị trường chứng khoán phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản
- Nguyên tắc trung gian:
Việc mua, bán chứng khoán không thực hiện trao đổi trực tiếp giữa người mua và người bán theo kiểu hàng hoá trao tay, trao tiền, nhận hàng như mua bán các loại hàng hoá thông thường Mọi việc mua bán chứng khoán đều thông qua môi giới trung gian
Môi giới trung gian là người làm cầu nối tiếp xúc giữa người mua và người bán, thực hiện mua, bán cho khách hàng để hưởng hoa hồng
Người môi giới là người có kiến thức, rất am hiểu về chứng khoán và nhiều lĩnh vực khác; có khả năng phân tích kinh tế tài chính và dự đoán xu hướng của nền kinh tế, khuynh hướng của mỗi loại chứng khoán Trong hoạt động môi giới hưởng hoa hồng, người môi giới hoàn toàn thực hiện theo lệnh của khách hàng và không chịu trách nhiệm về mọi hậu quả, Tuy vậy họ làm việc với trách nhiệm như với chính bản thân chứ không phảI với trách nhiệm
cố vấn Đối với đồng nghiệp, người môi giới tôn trọng tất cả các cam kết bằng văn bản hoặc bằng lời
Nhiệm vụ của người môi giới không đơn giản là đóng vai trò trung gian Họ phải sưu tầm, thu thập các tài liệu cần thiết để chỉ dẫn cho khách hàng; thay thế khách hàng thương lượng mua, bán với giá tốt nhất và giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ khách hàng Tuỳ theo sự uỷ nhiệm, họ có thể lưu giữ số chứng khoán đã mua cho khách hàng và lĩnh lãi cho khách hàng Người môi giới cũng được nhận tiền của các khách hàng
đặt mua trước khi thực hiện mua hoặc mở tài khoản cho khách hàng
Về tư cách, người môi giới phải có tư cách đạo đức nghề nghiệp tốt
Người môi giới cũng phải có khả năng tài chính để đảm bảo cho sự tin tưởng và gửi gắm của khách hàng
Thông thường những người môi giới không hoạt động riêng lẻ theo tư cách cá nhân
mà họ tổ chức thành công ty môi giới hoạt động theo luật pháp
Môi giới gồm 2 loại: môi giới toàn bộ dịch vụ và môi giới bán phần (một nửa)
Trang 13+ Môi giới toàn bộ dịch vụ là người cung cấp đầy đủ các dịch vụ liên quan đến chứng khoán, gồm đại diện cho khách hàng để thương lượng mua bán; thay mặt khách hàng giải quyết vấn đề liên quan đến chứng khoán; thu cổ tức cho khách hàng; có thể ứng vốn cho khách hàng mua chứng khoán, mua trước bán sau khi khách hàng có nhu cầu bán và mua; cung cấp thông tin và tư vấn để khách hàng lựa chọn mua, bán
+ Môi giới bán phần là môi giới chỉ cung cấp một số dịch vụ tuỳ theo uỷ nhiệm của khách hàng Thông thường loại môi giới này chỉ thực hiện việc thương lượng mua, bán chứng khoán cho khách hàng
- Nguyên tắc đấu giá
Giá cả chứng khoán trên thị trường chứng khoán được hình thành qua đấu giá và do cung cầu quyết định
Có 2 hình thức đấu giá:
+ Đấu giá trực tiếp: Các nhà môi giới trực tiếp gặp nhau thông qua hệ thống trung gian là hệ thống chuyên gia chứng khoán tại quầy trong sàn giao dịch Các môi giới mua và môi giới bán thương lượng giá cả và đấu giá để quyết định giá mua, bán
Điển hình của hình thức đấu giá này là thị trường chứng khoán New York, Tokyo, Frankfurt
+ Đấu giá gián tiếp: Thực hiện hình thức đấu giá này, các nhà môi giới không trực tiếp gặp nhau để thương lượng Theo hình thức này, các nhà kinh doanh chứng khoán đặt giá cao nhất sẵn sàng mua và giá thấp nhất sẵn sàng bán theo mỗi loại chứng khoán Sở giao dịch công bố các mức giá trên Những lệnh đặt mua, đặt bán của mỗi loại chứng khoán sẽ được khớp lệnh về giá Những loại chứng khoán khớp lệnh về giá sẽ được thực hiện
Phương pháp đấu giá này ngày nay đã được tự động hoá qua hệ thống máy tính
- Nguyên tắc công khai
Các loại chứng khoán được đưa ra bán trên thị trường chứng khoán đều được niêm yết công khai; tình hình tài chính của các công ty co chứng khoán đăng ký yết giá trên thị trường; số lượng và giá cả từng loại chứng khoán; kết quả giao dịch từng phiên cũng được công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng
Luật chứng khóan của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam quy định hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán phảI tuân thủ 5 nguyên tắc:
+ Tôn trọng quyền tự do mua bán, kinh doanh và dịch vụ chứng khoán của tổ chức, cá nhân
+ Công bằng, công khai, minh bạch
+ Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư
+ Tự chịu trách nhiệm về rủi ro
+ Tuân thủ quy định của pháp luật
Trang 141.6 Một số thị trường chứng khoán chủ yếu trên thế giới
1.6.1 Thị trường chứng khoán New York (The New York Stock Exchange – NYSE)
Nước Mỹ có 14 thị trường chứng khoán phân bổ trên khắp cả nước, nhưng quan trọng nhất là thị trường chứng khoán New York, được gọi là thị trường chứng khoán Hoa Kỳ (The American Stock Exchange hay The National Stock Exchange) Tất cả các hoạt động chứng khoán nước Mỹ đều được tập trung ở New York
Năm 1800 đã có Sở giao dịch chứng khoán đầu tiên ở Mỹ Năm 1817 Hội những người môi giới New York thành lập Hội giao dịch chứng khoán New York, đến năm 1863
đổi tên là Sở giao dịch chứng khoán New York
Năm 1830 chỉ có 31 cổ phần đem ra mua, bán gồm 5 cổ phần của công ty ngân hàng (Banking company) và 26 cổ phần của ngân hàng nước Mỹ (The United States Bank) Đến năm 1835, có thêm nhiều cổ phần của 23 công ty đường sắt và số cổ phần đem ra giao dịch ngày một nhiều, đã tăng lên đến con số 70.000 Cuộc khủng khoảng kinh tế 1929 – 1933 đã làm cho tổng giá trị các cổ phiếu giao dịch ở Sở giao dịch chứng khoán New York giảm mạnh từ 89,7 tỷ USD xuống còn 15,6 tỷ USD Nhiều công ty bị phá sản, các cổ phiếu của ngân hàng không còn giá trị nữa Toàn bộ thị trường chứng khoán tan rã, làm cho nhiều ngân hàng bị phá sản và đóng cửa
Từ năm 1933 đến 1940, Quốc hội Mỹ liên tục thông qua luật chứng khoán, luật giao dịch chứng khoán và thành lập nhiều cơ quan quản lý có liên quan để thực hiện quản lý và kiểm soát hoạt động của các Sở giao dịch chứng khoán Thị trường chứng khoán tự do, thả nổi đã nhường chô cho thị trường chứng khoán được Nhà nước quản lý và kiểm soát Những hiện tượng độc quyền đầu cơ, lừa đảo và mọi hành động phi pháp đã bị hạn chế đến mức tối
đa
Thị trường chứng khoán New York không phải là một cơ quan Nhà nước, cũng không phải là một công ty chứng khoán, mà là một Hiệp hội của 1300 hội viên, chịu sự quản lý và kiểm soát của Hội đồng quản trị (Board of Governors)
Hàng ngày thị trường chứng khoán New York mở cửa từ 10 giờ đến 16 giờ Giá chứng khoán lúc mở cửa ở các quầy, đầu tiên do các chuyên gia chứng khoán cùng nhữngngười mua, bán chứng khoán thoả thuận bằng cách đấu giá, sau đó tăng hay giảm tuỳ theo tình hình cung cầu của từng loại chứng khoán quyết định
Sở giao dịch chứng khoán New York sử dụng hệ thống “điều hành khép kín” (Designed Order Turnarond System – DOT) Năm 1978 các Sở giao dịch chứng khoán New York, Boston, Illinois, Philadelphia… nối mạng thông tin điện tử với nhau, làm cho giá cả
và số lượng cổ phiếu đem ra giao dịch ở các thị trường có liên quan hiện lên liên tiếp trong màn hình và các nhà đầu tư, những người môi giới có thể mua, bán chứng khoán với nhau trên bất kỳ thị trường nào
Trang 15Từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến nay, thị trường chứng khoán Mỹ có những biến
đổi mới:
“Đề án sửa đổi luật chứng khoán năm 1975” bắt đầu xây dựng hệ thống “Thị trường chứng khoán toàn quốc” đã có tác dụnghoàn thiện thị trường chứng khoán trên cơ sở cũ,
đồng thời chuyển sang hệ thông thị trường chứng khoán toàn quốc
1.6.2 Thị trường OTC Mỹ (NASDAQ)
Thị trường OTC – NASDAQ (National Assosiation Securities Delers Automatic Quote) được thành lập năm 1971 là thị trường phi tập trung
Số lượng giao dịch của thị trường này lớn hơn rất nhiều so với thị trường tập trung NYSE Có khoảng hơn 600 nhà tạo lập thị trường hoạt động trên NASDAQ Thị trường NASDAQ chịu sự quản lý của Uỷ ban chứng khoán Mỹ và Hiệp hội các nhà giao dịch chứng khoán quốc gia Mỹ (NASD) quản lý trực tiếp thị trường NASDAQ nối mạng với nhiều thị trường OTC trên thế giới
1.6.3 Thị trường chứng khoán London (Anh)
Thị trường chứng khoán London ra đời từ giữa thế kỷ XVI Trước chiến tranh thế giới thứ nhất, thị trường chứng khoán London hoạt động rất mạnh và là thị trường hàng đầu thế giới
Sau 2 cuộc chiến tranh thế giới, vị trí quốc tế của Sở giao dịch chứng khoán London ngày càng sút kém, từ chỗ đứng đầu tụt xuống hàng thứ ba sau Sở giao dịch chứng khoán New York và Sở giao dịch chứng khoán Tokyo Suốt thập kỷ 70 và thập kỷ 80, nền kinh tế Anh dần dần hồi phục và phát triển, khối lượng đầu tư tăng dần, các xí nghiệp phát hành ngày nhiều cổ phiếu và trái phiếu Cấu thành chứng khoán ở Anh cũng có nhiều thay đổi: trước thập kỷ 80, cổ phiếu thường chiếm tỷ trọng khá lớn, sau đó hạ xuống dần: từ 92,5% năm 1978 xuống còn 61,9% năm 1985 Trong khi đó tỷ trọng trái phiếu công ty lại tăng lên,
từ 1,3% năm 1978 lên 32,4% năm 1985
Sở giao dịch chứng khoán London có 2 đặc điểm nổi bật là:
- Nhiều xí nghiệp đăng ký giao dịch cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, năm 1983
có 2654 xí nghiệp có cổ phiếu đăng ký tại Sở giao dịch chứng khoán, trong đó ở thị trường chứng khoán New York chỉ có 1550 xí nghiệp, và Tokyo chỉ có 1452 xí nghiệp
- Giao dịch trái phiếu chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng số giao dịch, đặc biệt là công trái quốc gia Năm 1984, trong tổng ngạch giao dịch của thị trường chứng khoán London là
1437 tỷ 94 triệu GDP (Bảng Anh), tỷ trọng của các giao dịch trái phiếu là 80,5% tức 1154 tỷ
728 triệu GDP Trong thời gian đó, tỷ trọng giao dịch trái phiếu ở New York là 1%, Tokyo
là 2% Tình hình trên cho thấy, thị trường chứng khoán London là một thị trường phục vụ cho Chính phủ, là nơi tập trung và phân phối trái phiếu Chính phủ
Ngoài thị trường chứng khoán London, nớc Anh cònnhiều thị trường chứng khoán lớn khác hoạt động mạnh mẽ như: Glasgow, Liverpool, Manchester, Birmingham và Edingburgh
Trang 16cùng nhiều thị trường nhỏ khác như Bristol, Cardiff, Leeds, New Castle, Seffields và tại 9 tỉnh khác Tất cả 21 thị trường này cùng 2 thị trường của Cộng hoà AiLen (Irland) là Dublin
và Cork, liên kết lại thành Liên bang thị trường chứng khoán tại Anh và AiLen (Federation
of Stock Exchange in Breat Britain and Irland), vào tháng 7 năm 1965, bốn thị trường ở Scottland cũng liên kết thành các thị trường ở miền Bắc nước Anh
1.6.4 Thị trường chứng khoán Tokyo
Nhật bản có thị trường chứng khoán từ năm 1875, sau chiến tranh thế giới thứ hai có thời kỳ giải tán Sàn giao dịch chứng khoán Năm 1949 mở lại Sở giao dịch chứng khoán thị trường giao dịch chứng khoán hoạt động trở lại và phát triển khá mạnh trong thời kỳ Nhật bản có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao Từ năm 1955 đến năm 1961, kinh tế Nhật có hai lần tăng trưởng mạnh, số cổ phiếu Dow Jons của Sở giao dịch chứng khoán Tokyo từ 874 tăng lên 1549 Tổng số giá cổ phiếu giao dịch năm 1955 là 3,8 tỷ, năm 1961 đã lên tới 48,3 tỷ, tăng 14 lần Tháng 4 năm 1966, trái phiếu công cộng và trái phiếu công ty (đã ngừng giao dịch sau chiến tranh thế giới lần thứ hai) lại được đưa ra thị trường của hai Sàn giao dịch chứng khoán Đông bắc và Osaka, chứng tỏ thị trường chứng khoán Nhật bản đã phát triển sang thời kỳ hoàn toàn mới Sau thập kỷ 60, Chính phủ Nhật phát hành nhiều cong trái, quy mô thị trường trái phiếu được mở rộng
Nhật bản có 8 Sở giao dịch chứng khoán, gần 200 công ty chứng khoán phân bổ ở các nơi như Tokyo, Osaka, Nayoga, Sở giao dịch chứng khoán Tokyo là thị trường cổ phiếu, trái phiếu lớn nhất ở Nhật, chiếm 85% tổng số giao dịch cổ phiếu ở Nhật,cũng là thị trường giao dịch cổ phiếu lớn thứ hai trên thế giới, sau Sở giao dịch chứng khoán New York
Trên thị trường chứng khoán Nhật bản, có 5 loại cổ phiếu được giao dịch là: cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu không có quyết nghị, cổ phiếu được phân phối sau
Trái phiếu ở Nhật,căn cứ vào chủ thể phát hành, được chia thành 6 loại là: trái phiếu Nhà nước, trái phiếu địa phương, trái phiếu đặc biệt, trái phiếu công ty, trái phiếu tài chính, trái phiếu ngoài nước
Từ năm 1970 Sở giao dịch chứng khoán Tokyo đã cho phép các công ty đầu tư Nhật bản mua cổ phiếu nước ngoài, và vốn đầu tư nước ngoài mua cổ phiếu Nhật bản đã tăng lên nhanh chóng, trong một thời gian ngắn số bán ra đã nhiều hơn số mua vào, chứng tỏ người nước ngoài đã tăng cường đầu tư vào Nhật bản Nguyên nhân của tình hình này là: Nền kinh
tế của Nhật bản phát triển nhanh, có nhiều hàng xuất khẩu đứng đầu thế giới, Chính phủ Nhật bản nới rộng toàn bộ chế độ quản lý ngoại tệ, các xí nghiệp Nhật bản có sức hấp dẫn lớn do thu được nhiều lợi nhuận, vốn quốc tế đầu tư phân tán đã thúc đẩy vốn nước ngoài chảy vào thị trường chứng khoán Nhật bản
Thị trường chứng khoán Nhật bản phát triển nhanh vì: Tiềm lực thị trường lớn, kinh tế phát triển nhanh, xuất siêu liên tục; Vị trí đồng Yên Nhật trên thị trường tiền tệ thế giới ngày càng cao; Lãi suất trái phiếu Nhật bản quá thấp, tiền vốn Nhật bản quá thừa
Trang 171.6.5 Thị trường chứng khoán Frankfurt (Cộng hoà Liên bang Đức)
Thị trường chứng khoán Frankfurt là thị trường ra đời vào loại sớm nhất trên thế giới,
từ năm 1595 Từ thời chiến tranh Napoleon Chính phủ Đức đã phát hành rất nhiều trái phiếu
để vay vốn trong nước và ngoài nước nhằm ứng phó với chiến tranh Đức là nước phát triển chậm hơn Anh, Mỹ, Pháp, cho nên mãi đến thế kỷ VXIII mới thấy xuất hiện các hợp đồng giao dịch vay nợ Bước sang thế kỷ XIX hoạt động của ngân hàng Rosinde đã làm cho việc mua bán chứng khoán dần dần đượcmở rộng, và trên đất Đức đã có nhiều thị trường chứng khoán ra đời, trong đó đáng kể nhất là thị trường chứng khoán Berlin, nhưng Frankfurt vẫn
đóng vai trò trung tâm tài chính quốc tế Từ năm 1873 giới kinh doanh Đức bị phá sản, nên thị trường chứng khoán Frankfurt cũng tàn lụi dần cuối cùng phải đóng cửa, mãi đến tháng 9 năm 1945 mới khai trương trở lại
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nền kinh tế Đức được phục hồi và phát triển nhanh chóng, đồng Mark Đức ngày càng có giá trị, đến năm 1958 trở thành đồng tiền mạnh của thế giới, có khả năng chuyển đổi, thị trường chứng khoán Đức cũng phát triển và mở rộng, tiêu biểu là các thị trường chứng khoán Dresden, Leipzig, nhưng Frankfurt vẫn là trung tâm tài chính quốc tế của nước Đức, vì lượng cổ phần và chứng khoán của thị trường này lớn nhất nước Đức Từ thập kỷ 70, do kinh tế tăng trưởng nhanh chóng, ngân sách Nhà nước liên tục bội thu, lượng công trái phát hành giảm, lượng cổ phiếu lưu thông tăng, trong đó chủ yếu là
cổ phiếu không ghi tên (cổ phiếu trao tay) ít khi dùng đến cổ phiếu ghi tên và cổ phiếu đặc biệt Tiêu biểu cho chứng khoán nặc danh này là chứng khoán Standardwezf của 21 công ty
cổ phần lớn Năm 1975, doanh thu về loại chứng khoán này chiếm 72% tổng ngạch giao dịch chứng khoán của nước Đức , phầnlớn chứng khoán bán ra đều thu tiền mặt
Năm 1975 thành viên của thị trường chứng khoán Frankfurt gồm 92 ngân hàng, 33 công ty môi giới, 25 nhà môi giới định giá (không có quyền mua bán chứng khoán cho mình) Năm 1989, doanh số thị trường chứng khoán Frankfurt đứng thứ tư thế giới, ngang với Pháp nhưng cũng chỉ bằng 40% của Anh, 11% của Mỹ, 9% của Nhật Lợi tức cổ phần của thị trường chứng khoán Frankfurt được trả mỗi năm một lần, khác với thị trường chứng khoán New York trả 6 tháng một lần
1.6.6 Thị trường chứng khoán Paris (Bourse De Paris)
Thị trường chứng khoán Paris ra đời từ Trung cổ Năm 1138 đã có cầu hối đoái (Point
de change – một chiếc cầu bắc qua sông Seine) nơi các nhà buôn gặp gỡ nhau để đổi chác kim khí quý và thực hiện các nghiệp vụ giao dịch chứng từ hối đoái Năm 1304, vua Pháp đã
ra một đạo dụ cho phép chính thức mở chợ, đến thế kỷ XVI trở thành chợ buôn bán các trái phiếu Từ năm 1826 đến nay, chợ được họp trong lâu đài chứng khoán (Palais de Bourse)
Ra đời sớm nhưng thị trường chứng khoán Pháp lại lạc hậu hơn thị trường chứng khoán các nước khác Đến giữa thế kỷ 80, so sánh tổng giá trị cổ phiếu với GNP của các nước thì: Mỹ, Nhật, Anh chiếm 50%, Đức 31%, Pháp chỉ có 20% So sánh tỷ trọng số chứng khoán lưu thông trên các thị trường chứng khoán lớn của thế giới: New York chiếm 50%,
Trang 18Tokyo 25%, Frankfurt và Paris mỗi thị trường chỉ chiếm từ 3 đến 5% Suốt thập kỷ 80 tốc độ tăng trưởng của thị trường chứng khoán New York và Tokyo là 11 lần, Amsterdam 8 lần, Paris chỉ có 5,5 lần Từ năm 1983, sau cải tổ thị trường chứng khoán Paris đã thay đổi căn bản nên mới có tốc độ tăng trưởng cao hơn Anh một chút Do chính phủ Pháp tiến hành một loạt cải cách về luật pháp, nên số lượng cổ phiếu, trái phiếu được phát hành năm 1983 đã tăng từ 4,5 lần đến 5,6 lần so với năm 1976
Do thắng lợi của cải tổ, nền kinh tế Pháp đã tăng nhanh, lạm phát giảm, đồng Franc
ổn định, thị trường chứng khoán Paris phát triển nhanh, đứng hàng thứ tư thế giới sau New York, Tokyo và London, trở thành một đối thủ cạnh tranh mới của thị trường chứng khoán thế giới
1.6.7 Thị trường chứng khoán Đài Loan
Thị trường chứng khoán ở Đài Loan bắt đầu hình thành từ khi Đài Loan thực hiện chương trình “ruộng đất về tay người cày” năm 1953 Chính phủ mua lại phần lớn ruộng đất của địa chủ, bán chịu cho dân cày với giá rẻ Việc thanh toán tiền mua ruộng không bằng tiền mặt mà bằng tín phiếu Chính phủ Những tín phiếu và cổ phần của 4 công ty Nhà nước
đã được phân bố rộng rãi nhằm đền bù cho những phần đất rộng lớn mà Chính phủ đã mua
Do vậy sự kiềm chế thị trường của các công ty môi giới được cởi bỏ và việc buôn bán chứng khoán và cổ phiếu được hình thành
Nền kinh tế Đài Loan tiếp tục phát triển mạnh vào những năm 50, Đài Loan thấy cần thiết phải thành lập một thị trường chứng khoán nhằm huy động các nguồn tiết kiệm trong nước phục vụ cho sản xuất Ban giao dịch chứng khoán được thành lập vào năm 1960 nhằm kiềm chế và kiểm soát toàn bộ sự phát hành và giao dịch chứng khoán tại Đài Loan Một năm sau đó, ban giao dịch chứng khoán được thành lập và vào năm 1962 bắt đầu hoạt động kinh doanh Vào năm 1968 khi bộ luật về trao đổi chứng khoán được công bố thì những quy chế cơ bản cho giao dịch chứng khoán được đưa ra
Cấu trúc của thị trường chứng khoán ở Đài Loan dựa trên các cơ sở sau:
- Uỷ ban giao dịch chứng khoán dưới sự quản lý của Bộ tài chính Uỷ ban giao dịch chứng khoán (SEC) là tổ chức thuộc Chính phủ được thành lập nhằm giám sát và kiểm tra thị trường chứng khoán
- Sở giao dịch chứng khoán Đài Loan
Sở giao dịch chứng khoán (TSE) là thị trường trao đổi chứng khoán duy nhất ở Đài Loan, nó được tổ chức do sự hợp tác về vốn 700 triệu đô la Đài Loan (25 triệu USD) trong
đó các ngân hàng và xí nghiệp Chính phủ chiếm 39%, phần còn lại 61% thuộc về các tổ chức tài chính tư nhân và xí nghiệp khác
- Các công ty bảo hiểm chứng khoán: Là những tổ chức trợ giúp vốn Đài Loan cho các công ty Đến cuối năm 1990 đã có 60 tổ chức bảo hiểm chứng khoán
Trang 19- Các nhà kinh doanh và môi giới chứng khoán: Đến cuối năm 1990 có hơn 370 nhà môi giới và 50 nhà kinh doanh chứng khoán
- Các tổ chức tài chính chứng khoán: Họ hoạt động nhằm cung cấp các dịch vụ khác nhau về nghiệp vụ chênh lệch giá
- Các công ty tiền gửi chứng khoán
- Các công ty tư vấn đầu tư chứng khoán
Để mở rộng khả năng đầu tư của các công dân ra nước ngoài, Uỷ ban giao dịch chứng khoán đã khuyếnh khích các tờ rớt đầu tư chứng khoán tăng nguồn vốn bản tệ để đầu tư cho các chứng khoán quốc tế
+ Cho phép thành lập các chi nhánh của các công ty đầu tư chứng khoán quốc tế Các chi nhánh của công ty này sẽ cung cấp những dịch vụ cho các công dân Đài Loan muốn đầu tư vào các chứng khoán quốc tế
+ Đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán Đài Loan Kế hoạch của Chính phủ
là mở rộng thị trường cho các nhà đầu tư nướcngoài theo từng bước như sau:
Đầu tư không trực tiếp thông qua mua các chứng từ có giá trị sinh lời được phát hành bới các quỹ đầu tư quốc tế
Năm 1983, quỹ của Đài Loan được thành lập với sự liên doanh của 16 tổ chức tài chính nước ngoài và Đài Loan: Formosa Taipei và quỹ Đài Loan được phép hoạt động
Đầu tư trực tiếp vào thị trường bằng cách cho phép các tổ chức đầu tư nước ngoài hoạt
Trang 20Câu hỏi ôn tập:
1 Trình bày vị trí, chức năng của thị trường chứng khoán?
2 Người ta phân loại thị trường chứng khoán dựa trên những căn cứ nào? và cách phân loại như thế nào?
3 Trình bày các nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán?
Trang 21Chứng khoán có các đặc điểm cơ bản sau:
- Tính thanh khoản (tính lỏng – Liquidity): Tính thanh khoản của chứng khoán là khả năng chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt Việc chuyển đổi này được thực hiện trên thị trường chứng khoán
- Tính rủi ro: Rủi ro của chứng khoán là rủi ro liên quan đến hoạt động của tổ chức phát hành chứng khoán Tổ chức phát hành chứng khoán hoạt động không có hiệu quả thì giá cả của chứng khoán do họ phát hành sẽ giảm giá trên thị trường chứng khoán
- Khả năng sinh lời: Chứng khoán là tài sản mà người sở hữu nó có thu nhập trong tương lai theo lợi tức hàng năm, đồng thời cũng có thu nhập khi giá chứng khoán trên thị trường tăng lên
2.2 Phân loại chứng khoán
Tuỳ theo cách lựa chọn các tiêu thức mà người ta phân loại chứng khoán
2.2.1 Phân loại theo nội dung kinh tế
Theo cách này, người ta chia ra chứng khoán nợ (các loại trái phiếu), chứng khoán vốn (các loại cổ phiếu), chứng khoán phái sinh (các loại chứng khoán có nguồn gốc chứng khoán)
2.2.1.1 Chứng khoán nợ: Là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền chủ nợ
của người sở hữu trái phiếu đối với người phát hành về số tiền ghi theo chứng khoán đó Người phát hành trái phiếu cam kết ghi trên trái phiếu sau một thời gian nhất định sẽ trả cho người nắm giữ trái phiếu số tiền vốn và lãi theo lãi suất ghi trên trái phiếu
Trái phiếu có đặc điểm: lãi suất cố định có kỳ hạn trả vốn và lợi tức, rủi ro thấp
2
Trang 22Căn cứ vào chủ thể phát hành người ta chia trái phiếu làm 2 loại:
- Trái phiếu Chính phủ: do Chính phủ Trung ương phát hành hoặc trái phiếu do chính quyền địa phương phát hành
Trái phiếu do Chính phủ Trung ương phát hành có loại ngắn hạn dưới một năm được gọi là tín phiếu kho bạc
- Trái phiếu công ty: do các công ty phát hành để huy động vốn dài hạn Trái phiếu công ty cũng có nhiều loại như trái phiếu có thu nhập ổn định; trái phiếu thu nhập là loại trái phiếu chỉ được trả lãi khi công ty có lãi; trái phiếu có thể chuyển đổi thành cổ phiếu; v.v
2.2.1.2 Chứng khoán vốn
Chứng khoán vốn là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu số vốn đã đầu tư cho công ty,
được biểu hiện dưới hình thức cổ phiếu
Cổ phiếu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu cổ phiếu trong công ty Người sở hữu cổ phiếu gọi là cổ đông
Có hai loại cổ phiếu chính, là cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi; chủ sở hữu tương ứng là cổ đông phổ thông và cổ đông ưu đãi
Cả 2 loại cổ phiếu đều có thời hạn là góp vốn vĩnh viễn cho công ty Hay chính xác hơn là cho đến khi công ty không tồn tại
Cổ đông phổ thông có quyền:
- Hưởng cổ tức theo tỷ lệ góp vốn và theo kết quả kinh doanh của công ty
- Được mua cổ phiếu mới khi công ty phát hành thêm cổ phiếu
- Có quyền bỏ phiếu bầu các chức vụ quan trọng trong công ty
- Được quyền tiếp nhận thông tin về công ty
Cổ đông ưu đãi có quyền:
- Được hưởng cổ tức cố định không phụ thuộc kết quả kinh doanh
- Được hoàn vốn trước nếu công ty phá sản
2.2.1.3 Chứng khoán phái sinh (Derivative Securities)
Chứng khoán phái sinh là các chứng khoán có nguồn gốc từ các chứng khoán gốc (từ Hán – Việt: phái sinh là bắt nguồn – Derivative)
Chứng khoán phái sinh gồm: quyền mua trước, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai
- Quyền mua trước: là một quyền ưu đãi, cho phép người sở hữu những cổ phiếu đang lưu hành được mua một số cổ phiếu phát hành bổ sung, với giá thấp hơn giá chào bán ra công chúng Các quyền này cũng là những công cụ chuyển nhượng được
- Chứng quyền: là loại chứng khoán được phát hành cùng với trái phiếu hoặc cổ phiếu
ưu đãi, cho phép người sở hữu chứng khoán được quyền mua một số cổ phiếu phổ thông theo mức giá đã được xác định trước
Trang 23- Hợp đồng kỳ hạn: là hợp đồng giữa người mua và người bán thoả thuận giao dịch chứng khoán tại một thời điểm trong tương lai, do hai bên mua và bán trực tiếp thực hiện với khối lượng và giá cả đã xác định
- Hợp đồng tương lai (Future Contract): là một thoả thuận mua, bán chứng khoán trong một thời điểm trong tương lai với mức giá xác định Hợp đồngnày khác với hợp đồng
kỳ hạn ở chỗ, có một Sở giao dịch tổ chức thực hiện
- Quyền chọn:
Hợp đồng quyền chọn là hợp đồng cho phép người nắm giữ nó được mua (nếu là quyền chọn mua) hoặc được bán (nếu là quyền chọn bán), một khối lượng chứng khóan cơ
sở tại một mức giá xác định, trong một thời gian nhất định
Trong hợp đồng quyền chọn, người bán quyền trao cho người mua quyền, để lấy một khoản tiền gọi là phí quyền chọn hay giá quyền chọn
Những nhân tố ảnh hưởng đến giá quyền chọn là:
+ Giá thị trường của chứng khoán cơ sở
+ Giá thực hiện
+ Thời gian cho tới khi đến hạn
+ Lãi suất ngắn hạn phi rủi ro trong thời hạn tồn tại của quyển
+ Lãi suất Coupon
+ Mức dao động dự đoán của các mức lãi suất trong thời hạn của quyền
Hợp đồng quyền chọn gồm có quyền chọn bán, quyền chọn mua
Tại ngày đến hạn có tình hình như sau:
Giá hiện hành chứng khoán STC
Trang 24a Mua 100 cổ phiếu HBD: 120 USD x 100 = 12.000 USD
b Đầu tư 12.000 USD vào mua quyền chọn
Tại ngày đến hạn có tình hình như sau:
Giá hiện hành chứng khoán HBD
2.400 x 20 = 48.000 Tới ngày đến hạn nếu giá cổ phiếu HBD là 140 USD/cổ phiếu thì nhà đầu tư có lợi nhuận 2.400 USD, bởi vì ông ta được mua cổ phiếu này với giá 130 USD/cổ phiếu
Giả sử 30 tháng 5 giá hiện hành cổ phiếu này là 120 USD/cổ phiếu thì ông ta tổn thất lớn Nếu không thực hiện quyền thì mất phí đã mua quyền chọn 12.000 USD
Phân biệt chứng khoán nợ (trái phiếu) và chứng khoán vốn (cổ phiếu)
- Là chứng chỉ xác nhận quyền chủ nợ của
người sở hữu (cũng là giấy nhận nợ của
người phát hành) nên gọi là chứng khoán nợ
- Người mua là trái chủ (chủ nợ) của công
- Người mua là cổ đông; làm chủ một phần công ty
- Được quyền ứng cử, bầu cử
- Không được rút vốn
- Lợi tức thay đổi theo kết quả kinh doanh
- Rủi ro cao
Trang 252.2.2 Phân loại theo hình thức chứng khoán
Theo cách này, người ta chia ra chứng khoán ghi danh và chứng khoán vô danh (không ghi tên)
- Chứng khoán ghi danh (ghi tên) là chứng khoán ghi tên người chủ sở hữu trên mặt tờ chứng khoán, những thông tin cần thiết của người sở hữu cũng được ghi trên bìa chứng khoán Loại chứng khoán này khi chuyển nhượng phải tuân theo một số thủ tục chuyển nhượng
- Chứng khoán vô danh là chứng khoán không ghi tên chủ sở hữu Loại chứng khoán này khi chuyển nhượng không cần thủ tục, mà chuyển nhượng, mua bán chỉ là việc trao tay
đơn giản
2.2.3 Phân loại chứng khoán theo thu nhập
Chứng khoán được chia ra: Chứng khoán có thu nhập cố định; chứng khoán có thu nhập biến đổi; chứng khoán hỗn hợp
- Chứng khoán có thu nhập cố định: lợi tức được trả theo định kỳ, quý, 6 tháng hoặc 1 năm Mức lợi tức được tính căn cứ vào lãi suất ghi trên chứng khoán và mệnh giá chứng khoán Loại chứng khoán này có mức rủi ro thấp
Kỳ hạn của chứng khoán có thu nhập cố định là rất khác nhau Thông thường trái phiếu kho bạc là ngắn hạn (dưới 1 năm); trái phiếu là trung hạn và dài hạn (trên 1 năm đến
30 năm); cổ phiếu ưu đãi là vô thời hạn
Chứng khoán có thu nhập cố định gồm:
+ Trái phiếu Chính phủ
+ Trái phiếu địa phương
+ Trái phiếu công ty
+ Trái phiếu ngân hàng và trái phiếu quỹ tiết kiệm
+ Tín phiếu kho bạc Nhà nước
- Chứng khoán có thu nhập biến đổi: loại chứng khoán được hưởng lợi tức tuỳ theo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty
Chứng khoán có thu nhập biến đổi gồm:
+ Cổ phiếu phổ thông: cổ phiếu phổ thông được trả lợi tức theo tỷ lệ góp vốn và kết quả kinh doanh của công ty
+ Chứng chỉ quỹ đầu tư: là giấy xác nhận quyền sở hữu vốn cổ phần trong quỹ đầu tư chứng khoán
- Chứng khoán hỗn hợp:
Chứng khoán hỗn hợp gồm:
Trang 26+ Trái phiếu có quyền mua cổ phiếu: loại trái phiếu này, ngoài lợi tức cố định được nhận, người sở hữu chúng còn có quyền mua một lượng cổ phiếu nhất định của công ty phát hành, tức là có một “chứng chỉ quyền mua cổ phiếu” Chứng chỉ này thuộc loại “chứng khoán phái sinh”
+ Trái phiếu có khả năng chuyển đổi: loại trái phiếu này, ngoài việc hưởng lợi tức cố
định, người sở hữu trái phiếu còn được chuyển trái phiếu này thành cổ phiếu trong một thời hạn nhất định với những điều kiện xác định
+ Trái phiếu có thu nhập bổ sung: loại trái phiếu này, ngoài số lợi tức cố định còn
được hưởng khoản loại tức bổ sung theo sự tăng trưởng cổ tức của các cổ đông
2.3 Giá chứng khoán
2.3.1- Mệnh giá (Face Value)
Số tiền ghi trên chứng khoán gọi là mệnh giá Mệnh giá chứng khoán chỉ có giá trị danh nghĩa
Đối với cổ phiếu phổ thông, mệnh giá là căn cứ để xác định các quyền (như ở mục 2)
Đối với trái phiếu chiết khấu khống, thì người mua trái phiếu lần đầu chỉ bỏ ra một
số tiền thấp hơn mệnh giá rất nhiều
2.3.2 Giá bán lần đầu trái phiếu chiết khấu khống
Giá bán này (tức là giá mua của trái chủ) thấp hơn mệnh giá rất nhiều; được xác
định bằng công thức:
P =
F (1 + i)n
Trang 272.3.3 Giá bán cổ phiếu phát hành lần đầu
Khi phát hành chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO – Initial public Offering), tổ chức bảo lãnh phát hành chứng khoán phảI căn cứ vào các bản cáo bạch của tổ chức phát hành chứng khoán để xác định giá bán cổ phiếu (POP) Giá của chứng khoán chào bán được tính toán bằng cách lấy giá trị của công ti chia (:) cho số cổ phiếu chào bán ra công chúng
Giá chào bán ra công chúng (POP) thực tế có thể khác với khung giá định ra sơ bộ trong bản cáo bạch, tuỳ theo mức độ quan tâm của các nhà đầu tư để tăng hoặc giảm giá (POP) này
2.3.4 Thư giá (Book value)
Thư giá là giá ghi trên sổ sách kế toán Thư giá phản ánh tình trạng vốn cổ phần và tình trạng tài chính của công ty trong một thời kỳ nhất định
Ví dụ: Một công ty trước đây phát hành 100.000 cổ phiếu mệnh giá 30.000đ/1 cổ phiếu Nay quyết định phát hành thêm 10.000 cổ phiếu nữa với mệnh giá như trước; nhưng giá bán cổ phiếu trên thị trường là 50.000đ/1 cổ phiếu Tích luỹ của công ty từ đầu đến nay
Trang 28d Tổng cộng = 4.400.000.000
e Thư giá
110.000 2.3.5 Thị giá
Thị giá chứng khoán là giá cả được xác định trên thị trường, chủ yếu là giá cả trên
Sở giao dịch (hoặc Trung tâm giao dịch) chứng khoán
Giá cả trên thị trường rất khác với các loại giá nêu trên
Giá cả chứng khoán được hình thành do kết quả khớp lệnh Tức là cung, cầu gặp nhau Nói cách khác là sự gặp nhau về giá từng loại chứng khoán và số lượng từng loại của người đặt mua và người chào bán
Giá đặt mua và giá chào bán phụ thuộc vào nhiều yếu tố
- Đối với cổ phiếu: Giá chào bán và đặt mua phụ thuộc vào tình hình tài chính hiện tại và tương lai của công ty đã phát hành cổ phiếu đó
+ Giá cổ phiếu ưu đãi được hình thành theo công thức:
Pb = Dp
Kp
- Dp: Là cổ tức cổ phiếu
- Kp: Là lãi suất thị trường
+ Giá cổ phiếu phổ thông được hình thành theo công thức của mô hình DCF (Discounted Cash Flow), ta có:
t t
t
K
P K
D K
D K
D P
1
2 1
0
Trong đó:
- P0: là giá cổ phiếu đang xét
- Dt: là cổ tức mong đợi cuối năm t
- Pt: là giá trị cổ phiếu năm t
- K: là lãi suất thị trường
- Đối với trái phiếu: Giá cả phụ thuộc vào lãi suất tín dụng trên thị trường tiền tệ và lãi suất trái phiếu
Trang 29Thị giá trái phiếu được tính theo công thức:
m: Lãi suất trái phiếu
r: Lãi suất thị trường
Ví dụ: Một trái phiếu có mệnh giá 1.000.000đ, lãi suất trái phiếu 9%/1 năm, lãi suất thị trường hiện tại 12%/1 năm Thị giá trái phiếu là:
P = 1.000.000 x 9 = 750.000
12
Như vậy lãi suất tín dụng trên thị trường tiền tệ tăng thì thị giá trái phiếu giảm và ngược lại Nói cách khác, thị giá trái phiếu tỷ lệ thuận với lãi suất trái phiếu, tỷ lệ nghịch với lãi suất tín dụng hiện tại trên thị trường tiền tệ
2.4 Các phương thức phát hành chứng khoán
Các phương thức phát hành được phân theo các tiêu thức khác nhau
2.4.1 Phân loại theo đợt phát hành
Người ta chia ra phát hành lần đầu và phát hành các đợt tiếp theo
- Phát hành lần đầu là việc tổ chức phát hành chứng khoán với số lượng lớn và là đợt quan trọng nhất, sau khi chứng khoán và chủ thể phát hành đáp ứng các tiêu chuẩn theo quy định của
Uỷ ban chứng khoán Nhà nước
- Phát hành các đợt tiếp theo là nhằm mục đích tăng thêm vốn của tổ chức phát hành 2.4 2- Phân loại theo loại đối tượng mua, bán chứng khoán
Theo cách này người ta đưa ra phát hành riêng lẻ (mang tính nội bộ) và phát hành ra công chúng (chào bán công khai)
a Phát hành riêng lẻ: Là việc phát hành trong đó chứng khoán được bán trong phạm vi
một số người nhất định (thông thường là các nhà đàu tư có tổ chứcc) với những điều kiện hạn chế
và khối lượng đạt một mức nhất định Chứng khoán phát hành dưới hình thức này không được niêm yết, không giao dịch trên thị trường
Phải chọn phương thức phát hành riêng lẻ vì:
Trang 30+ Công ty không đủ tiêu chuẩn phát hành ra công chúng
+ Công ty phát hành cổ phiếu nhằm duy trì các mối quan hệ trong kinh doanh
+ Phát hành cho công nhân viên chức của Công ty
b Phát hành chứng khoán ra công chúng: Là phương thức phát hành quan trọng, trong đó
chứng khoán được phát hành cho một số lượng lớn các nhà đầu tư nhất định, đồng thời phải đảm bảo một tỷ lệ cho các nhà đầu tư nhỏ Ngoài ra tổng khối lượng phải đạt một tỷ lệ quy định Việc phát hành chứng khoán ra công chúng phải được đăng ký và được Uỷ ban chứng khoán Nhà nước cho phép
Các chứng khoán phát hành ra công chúng là chứng khoán đủ tiêu chuẩn giao dịch trên thị trường sơ cấp, thị trường thứ cấp
Nội dung này sẽ được nghiên cứu kỹ tại mục 2.5
2.5 phát hành chứng khoán
2.5.1 Khái niệm
Phát hành chứng khoán là quá trình trong đó chứng khoán được bán rộng rãi cho các nhà đầu tư; khối lượng phát hành phải đạt mức nhất định Sau khi phát hành chứng khoán ra công chúng, công ty phát hành trở thành Công ty đại chúng
Việc phát hành chứng khoán ra công chúng với sự bảo lãnh của tổ chức bảo lãnh có
uy tín, sẽ đảm bảo cho việc huy động vốn của công ty được thành công
Đối với cổ phiếu, phát hành lần đầu ra công chúng ( IPO – Initial Public Offering) nhằm tăng vốn thì đó là IPO sơ cấp, còn khi cổ phần được bán lần đầu từ số cổ phiếu hiện hữu, thì đó là IPO thứ cấp
Đối với trái phiếu thì chỉ có một phương thức là chào bán sơ cấp
Phát hành chứng khoán ra công chúng là tạo “hàng hoá” (hàng hoá cao cấp) cho thị trường chứng khoán (thị trường hiện đại) Vì vậy, cần phải có các điều kiện, các tiêu chuẩn nghiêm ngặt dựa trên các chỉ tiêu nhất định, gồm các chỉ tiêu định lượng (quy mô Công ty, vốn, tính liên tục trong hoạt động kinh doanh…) và các chỉ tiêu định tính (trình độ và kinh nghiệm của Ban lãnh đạo, cơ cấu tổ chức, phương án khả thi về sử dụng vốn…)
Tại Việt nam, luật chứng khoán quy định việc phát hành chứng khoán phải tuân thủ các quy định về “chào bán chứng khoán ra công chúng”; việc chào bán này được thực hiện theo một trong các phương thức sau:
- Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả internet
- Chào bán chứng khoán cho từ 100 nhà đầu tư trở nên không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp
Trang 31- Chào bán cho một số đối tượng nhà đầu tư không xác định
Chứng khoán phát hành ra công chúng có thể dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi
sổ Mệnh giá cổ phiếu chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán phát hành lần đầu ra công chúng
là 10.000VND
Mệnh giá tối thiểu của trái phiếu phát hành ra công chúng là 100.000VND và bội số của 100.000VND
2.5.2 Điều kiện phát hành và chào bán chứng khoán lần đầu
Điều kiện phát hành và chào bán cổ phiếu ra công chúng
Việc huy động vốn của công ty cổ phần thường được thực hiện bằng cách phát hành
cổ phiếu, bán cổ phần cho các cổ đông Đó là biện pháp huy động vốn đơn giản dễ dàng và thuận lợi hơn so với việc vay ngân hàng và vay mượn của dân chúng
Việc phát hành và chào bán cổ phiếu ra công chúng phải tuân theo các quy định của luật pháp ở Việt nam phát hành và chào bán cổ phiếu phải có đủ các điều kiện sau đây:
- Là Công ty cổ phần có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký phát hành, tối thiểu 10 tỷ đồng Việt nam, tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán
- Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký phát hành phải có lãi
- Có phương án khả thi về sử dụng vốn thu được từ đợt phát hành cổ phiếu
- Có công ty chứng khoán tư vấn trong việc lập hồ sơ chào bán cổ phiếu
Đối với doanh nghiệp thành lập mới thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng và lính vực công nghệ cao thì phải có các điều kiện:
- Là doanh nghiệp làm chủ đầu tư thuộc đề án phát triển kinh tế xã hội của các Bộ, ngành, Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương
- Có dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt
- Có phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán và có cam kết chịu trách nhiệm của hội đồng quản trị
- Có tổ chức bảo lãnh phát hành
- Có ngân hàng giám sát việc sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán
Điều kiện phát hành và chào bán trái phiếu ra công chúng
Trong quá trình kinh doanh khi thiếu vốn, công ty có thể vay các tổ chức, cá nhân ngoài công ty bằng cách phát hành và chào bán những giấy vay nợ; đó là các loại trái phiếu Mỗi trái phiếu là một bản cam kết của công ty đối với người nắm giữ trái phiếu; công ty cam kết sẽ trả lãi cho người cho vay đúng hạn đúng mệnh giá và trả đủ lãi hàng năm theo lãi suất
đã ghi trên trái phiếu
Việc phát hành và cháo bán trái phiếu ra công chúng phải tuân theo các quy định của luật pháp ở nước ta phát hành trái phiếu phải đủ các điều kiện sau:
Trang 32- Là Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp Nhà nước có mức
vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký phát hành, tối thiểu 10 tỷ đồng Việt nam, tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán
- Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký phát hành phải có lãi
- Có phương án khả thi về sử dụng và trả nợ vốn thu đựoc từ đợt phát hành trái phiếu
- Có cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều kiện phát hành, thanh toán, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư
Điều kiện phát hành và chào bán chứng khoán phái sinh
Theo luật Việt nam thì công ty cổ phần phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu
có kèm theo chứng quyền hoặc chứng quyền kèm theo cổ phiếu ưu đãi thì ngoài hai điều kiện đầu tiên về vốn điều lệ, về hoạt động có lãi 2 năm trước đó, phải có thêm điều kiện:
- Có phương án phát hành, phương án sử dụng vốn, kế hoach phát hành số cổ phiếu cần thiết cho việc chuyển đổi
Phương án chuyển đổi bao gồm:
+ Điều kiện chuyển đổi
+ Thời hạn chuyển đổi
+ Tỷ lệ chuyển đổi
+ Phương pháp tính chuyển đổi được xác định ngay trong phương pháp phát hành
Điều kiện phát hành và chào bán chứng chỉ Quỹ Đầu tư chứng khoán
Quỹ đầu tư chứng khoán là những tổ chức đầu tư chuyên nghiệp, được các nhà đầu tư thành lập để thực hiện việc đầu tư chứng khoán và các loại hình đầu tư khác Quỹ đầu tư tập hợp và thu hút vốn từ các nhà đầu tư Quỹ đầu tư vừa đóng vai trò là tổ chức phát hành chứng khoán (chứng chỉ quỹ đầu tư) vừa đóng vai trò tổ chức đầu tư kinh doanh chứng khoán
Quỹ Đầu tư chứng khóan Việt nam gồm có:
- Quỹ đại chúng: là quỹ đầu tư chứng khóan thực hiện phát hành và chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng
- Quỹ thành viên: là quỹ đầu tư chứng khóan có số thành viên tham gia góp vốn không vượt quá 30 thành viên và chỉ bao gồm thành viên pháp nhân
Việc phát hành và chào bán chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khóan phải có các điều kiện sau:
- Tổng giá trị chứng chỉ quỹ đăng ký chào bán tối thiểu là 50 tỷ đồng
- Có phương án phát hành và phương án đầu tư số vốn thu được từ đợt chào bán phù hợp với quy định của pháp luật
Thủ tục phát hành và chào bán chứng khoán ra công chúng:
Trang 33Việc phát hành và chào bán chứng khoán ra công chúng phải được phép của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước Vì vậy, phải tiến hành các bước sau:
a Nộp hồ sơ xin phép phát hành lên Uỷ ban chứng khoán Nhà nước
- Cam kết nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư (nếu là trái phiếu)
- Hợp đồng giám sát giữa ngân hàng giám sát và công ty quản lý quỹ đầu tư (nếu phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư)
Việc phân phối chứng khoán ra công chúng phải thực hiện theo các quy định, theo
điều kiện niêm yết cổ phiếu
Tổ chức phát hành, tổ chức bảo lãnh hoặc tổ chức đại lý phân phối phải đảm bảo thời hạn đăng ký mua chứng khoán cho nhà đầu tư tối thiểu là 20 ngày
Tổ chức phát hành phải hoàn tất việc phân phối chứng khoán trong thời hạn 90 ngày
kể từ ngày giấy chứng nhận chào bán có hiệu lực
Tiền mua chứng khóan phải được chuyển vào tài khoàn phong tỏa mở tại ngân hàng cho đến khi hoàn tất đợt chào bán
2.5.3 Niêm yết chứng khoán
2.5.3.1 Khái niệm
Niêm yết chứng khoán là việc đưa các chứng khoán đủ tiêu chuẩn vào đăng ký và giao dịch tại thị trường tập trung, tức là tại Sở Giao dịch chứng khoán (hoặc Trung tâm Giao dịch chứng khoán)
Luật pháp Việt nam quy định điều kiện niêm yết chứng khoán tại Sở Giao dịch chứng khoán và điều kiện niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng khoán có khác nhau
Trang 342.5.3.2 Điều kiện niêm yết chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khoán
Theo luật chứng khoán Việt nam và theo nghị định 14CP ngày 19 tháng 01 năm
2007 của Chính phủ thì muốn được niêm yết chứng khoán phải có các điều kiện sau đây:
Điều kiện niêm yết cổ phiếu
- Là công ty cổ phần có mức vốn điều lệ đã góp tối thiểu thực có đến ngày xin phép
niêm yết là 80 tỷ VND
- Hoạt động kinh doanh có lãi 2 năm liên tục liền trước năm đăng ký niêm yết và
tình hình tài chính lành mạnh, không có các khoản nợ quá hạn chưa được dự phòng công khai mọi khoản nợ đối với công ty của thành viên Hội đồng quản trị, ban giám đốc, ban kiểm soát
- Các cổ đông thành viên Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, ban Kiểm soát của công
ty phải cam kết nắm giữ 100% số cổ phiếu do các cổ đông này sở hữu trong thời gian 6 tháng kể từ ngày niêm yết, và 50% số cổ phiếu này trong thời gian 6 tháng tiếp theo, không tính số cổ phiếu thuộc sở hữu Nhà nước do các cá nhân trên đại diện nắm giữ
- Tối thiểu 20% vốn cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty do ít nhất 100 cổ
đông nắm giữ
Điều kiện niêm yết trái phiếu
- Là Công ty cổ phần, Công ty Nhà nước, Công ty Trách nhiệm hữu hạn, có vốn điều
lệ đã góp tại thời điểm xin phép niêm yết từ 80 tỷ đồng trở lên tính theo trị giá trên sổ kế toán
- Hoạt động kinh doanh có 2 năm liên tục liền trước năm đăng ký niêm yết có lãi,
tình hình tài chính lành mạnh, không có nợ quá hạn trên 1 năm và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước
- Có ít nhất 100 người sở hữu trái phiếu cùng 1 đợt phát hành
- Có hồ sơ đăng ký niêm yết trái phiếu
Điều kiện niêm yết Chứng chỉ Quỹ đại chúng hoặc cổ phiếu của công ty đầu tư chứng khoán đại chúng
- Là quỹ đóng có tổng giá trị Chứng chỉ (theo mệnh giá) phát hành tối thiểu 50 tỷ
đồng hoặc công ty đầu tư chứng khoán có vốn điều lệ từ 50 tỷ đồng trở nên tính theo trị giá trên sổ kế toán
- Sáng lập viên và thành viên Ban đại diện quỹ đầu tư chứng khoán hoặc thành viên Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, Ban Giám đốc, Kế toán trưởng của công ty đầu tư chứng khoán phải cam kết nắm giữ 100% số chứng chỉ quỹ hoặc cổ phiếu do mình sở hữu trong thời gian 6 tháng kể từ ngày niêm yết và 50% số chứng chỉ hoặc cổ phiếu này trong thời gian 6 tháng tiếp theo
Trang 35- Có ít nhất 100 người sở hữu chứng chỉ quỹ của quỹ đại chúng hoặc ít nhất 100 cổ
đông nắm giữ cổ phiếu của công ty đầu tư chứng khoán đại chúng
- Có hồ sơ đăng ký niêm yết hợp lệ
2.5.3.3 Điều kiện niêm yết chứng khoán tại Trung tâm giao dịch chứng khoán
Điều kiện niêm yết cổ phiếu
- Là công ty cổ phần có vốn điều lệ tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 10 tỷ đồng Việt nam trở lên tính theo trị giá ghi trên sổ kế toán
- Hoạt động của năm liền trước năm đăng ký niêm yết phải có lãi, không có nợ quá hạn trên 1 năm và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước
- Cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty do ít nhất 100 cổ đông nắm giữ
- Cổ đông là thành viên Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, Ban Giám đốc và Kế toán trưởng của công ty phải cam kết nắm giữ 100% số cổ phiếu do mình sở hữu trong thời gian 6 tháng kể từ ngày niêm yết và 50% số cổ phiếu này trong thời gian 6 tháng tiếp theo, không tính số cổ phiếu thuộc sở hữu Nhà nước do các cá nhân trên đại diện nắm giữ
- Có hồ sơ đăng ký niêm yết cổ phiếu hợp lệ
Điều kiện niêm yết trái phiếu doanh nghiệp
- Là công ty cổ phần trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp Nhà nước có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 10 tỷ đồng Việt nam trở lên tính theo giá trị trên sổ kế toán
- Các trái phiếu của một đợt phát hành có cùng ngày đáo hạn
- Có hồ sơ đăng ký niêm yết trái phiếu hợp lệ
Để thực hiện các quyền của mình đối với chứng khoán đang nắm giữ, nhà đầu tư phải thực hiện đăng ký tên mình trong danh sách người sỡ hữu chứng khoán của tổ chức phát hành
Người sở hữu chứng khoán cần cung cấp các thông tin cơ bản như: Tên, quốc tịch, địa chỉ, số chứng khoán nắm giữ, loại chứng khoán, mệnh giá, tổng số chứng khoán phát hành…
Trang 362.6.2 Tổ chức lưu ký chứng khoán
Chứng khoán niêm yết phải được lưu ký tại Trung tâm lưu ký chứng khoán của Sở Giao dịch chứng khoán Trung tâm lưu ký chứng khoán dưới hình thức lưu ký tổng hợp Các thành viên của Trung tâm lưu ký chứng khoán gồm các ngân hàng Thương mại Việt nam được cấp phép lưu ký và các công ty chứng khoán có giấy phép hoạt động môi giới hoặc tự doanh Các thành viên lưu ký phải mở tài khoản lưu ký chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm lưu ký chứng khoán
2.6.3 Các nguyên tắc hoạt động lưu ký chứng khoán
- Mỗi khách hàng chỉ được mở tài khoản lưu ký tại 1 thành viên lưu ký Khách hàng
sẽ đặt lệnh giao dịch thông qua thành viên lưu ký
- Khách hàng trong nước chỉ được mở tài khoản lưu ký tại thành viên lưu ký trong nước
- Khách hàng nước ngoài phải mở tài khoản lưu ký tại thành viên chuyên trách lưu
đứng tên thành viên
- Thành viên lưu ký chứng khoán, giao chứng khoán phải đảm bảo đủ chứng khoán trên tài khoản thanh toán bù trừ chứng khoán, phù hợp với các chứng từ thanht oán chứng khoán
2.6.4 Các hình thức lưu ký chứng khoán
Lưu ký chứng khoán có 2 hình thức là: Lưu ký đóng (lưu ký kín) và lưu ký mở
2.6.4.1 Lưu ký đóng: (lưu ký kín)
Đây là hình thức cho thuê két an toàn để khách hàng lưu giữ và bảo quản chứng khoán
Tổ chức lưu giữ không có quyền biết những gì liên quan đến chứng khoàn được lưu gửi trong két Hình thức này về bản chất chỉ là sự lưu giữ bảo quản chứng khoán cho khách hàng
2.6.4.2 Lưu ký mở:
Đây là hình thức lưu ký trong đó chứng khoán được trao cho tổ chức lưu giữ; tổ chức này không chỉ thực hiện chức năng bảo quản mà còn thực hiện cả chức năng điều hành
Trang 37Căn cứ vào trách nhiệm và quyền hạn của tổ chức lưu ký trong việc điều hành chứng khoán lưu ký mở được chia ra:
+ Lưu ký phong toả
- Lưu ký biệt lập: Đây là hoạt động lưu ký trong đó chứng khoán của khách hàng
độc lập với chứng khoán của tổ chức lưu ký
Tổ chức lưu ký chứng khoán có trách nhiệm lưu giữ chứng khoán cho từng khách hàng độc lập với chứng khoán của tổ chức lưu ký
Tổ chức lưu ký chứng khoán có trách nhiệm lưu giữ chứng khoán của từng loại khách hàng, theo từng chủng loại Khi ngân hàng mua hộ chứng khoán cho một khách hàng
và đưa vào lưu ký biệt lập theo hợp đồng mua bán với khách hàng, thì trong một tuần ngân hàng phải gửi cho khách hàng bảng danh mục chứng khoán đã mua và đưa vào lưu ký, trong
đó ghi rõ chủng loại, mã số, giá trị tính theo mệnh giá và các loại tính khác Bản danh mục này được coi là bằng chứng về quyền sở hữu chứng khoán đã được trao cho người mua
Tổ chức lưu ký cũng được phép đưa chứng khoán của khách hàng lưu ký biệt lập tại một tổ chức thứ ba mà không cần có uỷ quyền của khách hàng
Nghiệp vụ lưu ký biệt lập gồm nhiều công đoạn phức tạp nên chi phí lưu ký rất cao
- Lưu ký hoán đổi: Đây là hình thức lưu ký trong đó cho phép tổ chức lưu ký chứng
khoán trả cho khách hàng của mình một số chứng khoán cùng chủng loại chứ không nhất thiết cùng mã số
Khác với lưu ký biệt lập, mỗi hình thức lưu ký chứng khoán hoán đổi, mỗi đọt giao dịch lưu ký (mỗi đợt) phải lập một Hội đồng riêng, quy định rõ hình thức lưu ký hoán đổi
- Lưu ký tổng hợp: Là hình thức lưu ký trong đó tổ chức lưu ký được phép tập hợp
chung tất cả các loại lưu ký được phép chuyển nhượng tự do thuộc vùng chuyển khoản của nhiều chủ sở hưũ thành một khối lượng tổng hợp
Như vây, từng chủ sở hữu không có quyền đòi hỏi tổ chức lưu ký chuyển trả chính các tờ chứng khoán của mình, chỉ có quyền đòi hỏi chuyển trả số lượng tờ chứng khoán đã
đưa vào lưu ký, hay số lượng với giá trị tính theo mệnh giá
Chứng khoán chỉ được phép đưa vào lưu ký chứng khoán tổng hợp khi văn bản uỷ quyền của khách hàng lưu ký
Lưu ký tổng hợp có ưu điểm là:
Trang 38+ Khách hàng không phải tốn kém nhiều chi phí giao dịch và chi phí lưu ký do áp dụng hình thức chuyển khoản mà không cần chuyển chứng khoán về mặt cơ học
+ Khách hàng lưu ký chỉ cần lập một hợp đồng uỷ thác lưu ký tổng hợp tại Trung tâm thanh toán bù trừ, thủ tục rất đơn giản
2.6.5 Mở tài khoản lưu ký chứng khoán
Tài khoản lưu ký chứng khoán dùng để hạch toán việc gửi, rút, chuyển nhượng chứng khoán; hạch toán việc giao, nhận chứng khoán
Khách hàng muốn giao dịch chứng khoán phải mở tài khoản chứng khoán tại thành viên lưu ký và chỉ được phép đặt lệnh thông qua thành viên lưu ký đó Thành viên lưu ký có nghĩa vụ mở và quản lý tài khoản lưu ký chứng khoán cho mỗi khách hàng
2.6.6 Quy trình lưu ký chứng khoán tại thị trường giao dịch chứng khoán ở Việt nam
Quy trình lưu ký chứng khoán được thể hiện qua sơ đồ sau:
(1) Tổ chức phát hành làm thủ tục đăng ký, lưu ký
(2) Khách hàng ký gửi chứng khoán, hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu chứng khoán
(3) Thành viên hạch toán vào tài khoản lưu ký và thông báo cho khách hàng
(4) Thành viên ký gửi chứng khoán
(5) Thành viên lập danh sách khách hàng lưu ký chứng khoán ghi sổ, gửi danh sách này cho tổ chức phát hành
(6) Tổ chức phát hành đối chiếu danh sách khách hàng với danh sách cổ đông, gửi kết quả xác nhận cho thành viên
(7) Trung tâm hạch toán vào tài khoản lưu ký của thành viên và xác nhận với thành viên
Khách hàng
Thành viên lưu ký
Trung tâm lưu ký CK
Tổ chức phát hành
Trang 39(8) Tổ chức phát hành nộp danh sách cổ đông kèm theo thông báo về thành viên lưu
ký mà khách hàng đã ký gửi chứng khoán
2.7 Thông tin trên thị trường chứng khoán
2.7.1 Thông tin từ tổ chức niêm yết (Corporate disclosure), gồm:
- Thông tin trên bản cáo bạch (ProSpectus) khi phát hành ra công chúng
- Thông tin định kỳ về tình hình hoạt động từng quý của công ty
- Thông tin bất thường
- Thông tin theo yêu cầu
2.7.2 Thông tin từ Sở giao dịch chứng khoán:
- Thông tin từ cơ quan quản lý thị trường:
+ Văn bản mới
+ Đình chỉ hoặc cho phép giao dịch các loại chứng khoán
+ Các chứng khoán bị kiểm soát, cảnh báo
+ Hủy bỏ hoặc niêm yết trở lại
+ Đình chỉ thành viên hoặc cho phép thành viên hoạt động
- Thông tin về tình hình thị trường
+ Thông tin giao dịch của 5 cổ phiếu hàng đầu
+ Dao động giá hàng ngày
+ Cổ phiếu đạt mức trần, mức sàn
- Thông tin diễn biến thị trường
+ Về giao dịch: Giá, khối lượng…
+ Về chỉ số giá
- Thông tin về tình hình các tổ chức niêm yết; các nhà đầu tư; các công ty thành viên 2.7.3 Thông tin từ các tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán gồm tình hình tài chính và các thông tin liên quan
2.7.4 Thông tin về giao dịch chứng khoán gồm:
Thông tin về từng loại cổ phiếu theo các chỉ tiêu sau đây:
- Giá cao nhất, thấp nhất 52 tuần qua từng loại cổ phiếu
- Cổ tức mà tổ chức phát hành trả gần đây (div)
- Tỷ suất lợi tức năm gần nhất (Yield): Cách tính: lấy cổ tức chia cho cổ phiếu
- Hệ số PE (Price Earning Ratio): tức là tỷ lệ giữa giá cổ phiếu hiện tại so với thu nhập trên một cổ phiếu so với năm gần nhất
Trang 40- Doanh số bán trong ngày theo đơn vị lô chẵn
- Giá cao nhất, thấp nhất trong ngày
2.8 Rủi ro chứng khoán
ở đầu chương này, chúng ta đã đề cập đến đặc điểm của chứng khoán là có tính rủi ro Rủi ro chứng khoán sảy ra ngoài dự kiến, bao gồm nhiều loại rủi ro không thuộc tầm kiểm soát của công ty gọi là rủi ro hệ thống và rủi ro nội tại gọi là rủi ro không hệ thống
2.8.1 Rủi ro hệ thống
a) Rủi ro thị trường:
Rủi ro này xảy ra là do sự thay đổi mức sinh lời do đánh giá và ra quyết định của các nhà đầu tư, do đó giá chứng khoán trên thị trường có thể biến động mạnh mặc dù thu nhập của công ty không có biến động Các nhà đầu tư thường quyết định bán chứng khoán dựa theo tình hình kinh tế, chính trị, xã hội hoặc các yếu tố tâm lý thị trường
b) Rủi ro lãi suất
Lãi suất thị trường thay đổi, ảnh hưởng đến giá chứng khoán
Ví dụ: Một trái phiếu 15 năm, mệnh giá 10.000 đ, tỷ lệ coupon rate là 15%, trả lãi mỗi năm một lần Nếu lãi suất thị trường sau một năm tăng lên 20% thì trị giá trái phiếu là
662 7 )
20 , 0 1 (
000 10 )
20 , 0 1 (
500 1
15 15
2.8.3 Đánh giá rủi ro và mức sinh lời kì vọng
a) Tỷ suất sinh lời mong đợi của danh mục đầu tư
Danh mục đầu tư là một nhóm tài sản (chứng khoán) nhà đầu tư nắm giữ
Tỷ suất sinh lời mong đợi tổng thể là tỷ suất bình quân gia quyền các chứng khoán được
đầu tư được tính theo công thức:
n i
n R n
t t R
n R
2 1