1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoạt động phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số từ thực tiễn xã ch’ơm, huyện tây giang, tỉnh quảng nam

80 211 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan tất cả những số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội về “Hoạt động phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối với người d

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số: 876 0101LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS PHẠM HỮU NGHỊ

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan tất cả những số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội về “Hoạt động phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số từ thực tiễn xã Ch’ơm, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam’’ là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với bất kỳ đề tài nào trong cùng lĩnh vực nghiên cứu

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về cam đoan này

Tác giả luận văn

Ríah Nhô

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG GIẢM NGHÈO 9

1.1 Người dân tộc thiểu số: Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu 9 1.2 Khái niệm giảm nghèo và giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số 15 1.3 Lý luận về hoạt động phát triển cộng đồng đối với người dân tộc thiểu số trong giảm nghèo 17

1.4 Vai trò của thể chế về phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số 27

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phát triển cộng đồng đối với người dân tộc thiểu số trong giảm nghèo 29

Chương 2 : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG TRONG GIẢM NGHÈO ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI XÃ CH'ƠM, HUYỆN TÂY GIANG, TỈNH QUẢNG NAM 36

2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 36 2.2 Thực trạng hoạt động phát triển cộng đồng đối với người dân tộc thiểu

số trong giảm nghèo tại xã Ch'ơm, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam 37

2.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phát triển cộng đồng đối với người dân tộc thiểu số trong giảm nghèo tại xã Ch'ơm, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam 49

Chương 3 : ĐỊNH HƯỚNG VÀ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG TRONG GIẢM NGHÈOĐỐI VỚINGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI XÃ CH'ƠM, HUYỆN TÂY GIANG, TỈNH QUẢNG NAM 56

3.1 Định hướng nâng cao hiệu quả hoạt động phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số 56

Trang 4

3.2 Các biện pháp nâng cao hiệu quả các hoạt động phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối với dân tộc thiểu số tại xã Ch’ơm, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam 60

KẾT LUẬN 68 DANH MỤCTÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 5

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh hiện nay, thế giới đang đổi thay mạnh mẽ, xu thế hội nhập và toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu không thể đảo ngược Trong bối cảnh đó, nhiều nước, nhiều quốc gia, dân tộc đang có nhiều cơ hội đổi thay và phát triển, có nhiều điều kiện để xây dựng một xã hội có nền kinh tế tăng trưởng cao và nhanh, tuy nhiên cũng rất nhiều quốc gia, dân tộc đang gặp phải thách thức to lớn như bất ổn

xã hội, thất nghiệp và đói nghèo, đòi hỏi các quốc gia phải quan tâm hàng đầu đến phát triển một xã hội công bằng, dân chủ và tiến bộ Do đó, xóa đói, giảm nghèo là chiến lược quan trọng của nhiều quốc gia

Ở Việt Nam, vấn đề giảm nghèo đã được đặt ra ngay từ khi xuất hiện xu hướng phân hóa giàu nghèo trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế Chính phủ Việt Nam đã có Chương trình quốc gia với quy mô lớn về xóa đói, giảm nghèo và đã đạt nhiều thành tựu quan trọng trong công tác xóa đói, giảm nghèo, bước đầu đã được rút ra được một số bài học kinh nghiệm bổ ích trong hoạch định chính sách và chỉ đạo thực tiễn Đại hội lần thứ XI của Đảng đã đề ra định hướng cơ bản: “Nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của nhân dân Tạo cơ hội bình đẳng tiếp cận các nguồn lực phát triển và hưởng thụ các dịch vụ cơ bản, các phúc lợi xã hội Thực hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ; đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức để đảm bảo giảm nghèo, nhất là tại các huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt khó khăn’’ [9, tr.125]

Giảm nghèo là một trong những trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh

tế-xã hội giai đoạn 2011-2020 nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết ở khu vực miền núi, vùng đồng bào DTTS; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư Trong những năm vừa qua công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta đã đạt được những thành tựu, tỷ lệ hộ nghèo từ 59% năm 1993 (theo chuẩn nghèo cũ) xuống còn 8,2% năm 2014 (theo chuẩn nghèo mới giai đoạn 2011-2015) Những thành tựu đạt được

Trang 8

đó đã khẳng định sự đúng đắn trong đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước

Tại tỉnh Quảng Nam, trong những năm qua, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh

đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo mục tiêu giảm nghèo Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị, địa phương lồng ghép nguồn lực hỗ trợ hộ nghèo, vùng nghèo, các huyện nghèo, xã nghèo được hỗ trợ ổn định, cơ sở hạ tầng ngày càng được quan tâm đầu tư cả về số lượng và chất lượng, tạo điều kiện giảm tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện nghèo cao hơn gấp đôi so với mức giảm hộ nghèo bình quân chung của tỉnh; đời sống người nghèo được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh đã giảm từ 25,7% cuối năm 2011 xuống còn 10,24% cuối năm 2014 [25]

Ch’ơm là xã thuộc diện khó khăn của huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam, gồm 8 thôn với 380 hộ, 1.659 khẩu Trong đó dân tộc Cơ-tu có 1.479 khẩu chiếm 99%(theo thống kê của xã Ch’ơm huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam năm 2016) Trong những năm qua, được sự quan tâm chỉ đạo, hỗ trợ của Huyện Ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các ban ngành đoàn thể của huyện nên Ch’ơm đã có những bước phát triển tốt, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện nhưng vẫn là xã nghèo, kém phát triển của huyện tỷ lệ hộ nghèo còn cao; việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi còn chậm; sự tham gia của người dân để cùng giải quyết những vấn đề nghèo đói của cộng đồng chưa được phát huy Đời sống của một bộ phận nhân dân các dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn cần được giải quyết Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng các hoạt động PTCĐ và các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng là hết sức cần thiết Từ đó,

đề xuất các định hướng giải pháp để các hoạt động PTCĐ theo hướng chuyên nghiệp hơn và khẳng định vai trò của nghề CTXH trong xóa đói giảm nghèo tại xã Ch’ơm là một việc làm thiết thực vừa có ý nghĩa lý luận cơ bản, vừa là vấn đề cấp thiết đối với thực tiễn trong giai đoạn hiện nay

Vậy việc ứng dụng phương pháp hoạt động phát triển cộng đồng trong giảm nghèo được triển khai thực hiện như thế nào và vai trò của phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối người đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Ch’ơm, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam thể hiện ra sao Xuất phát từ những lý do trên, tôi

Trang 9

lựa chọn đề tài “Hoạt động phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số từ thực tiễn xã Ch’ơm, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam’’ làm luận văn thạc sĩ ngành Công tác xã hội

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo đã được thực hiện dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo dưới gốc độ công tác xã hội mới được đề cập trong một số công trình

Các tác giả Do Hoai Nam, Gre Mills, Dianna Games (2007) với

cuốn“Vietnam and Africa: Comparaive lessons and mutual opportunities” (Việt

Nam và Châu Phi) đã so sánh các bài học kinh nghiệm và cơ hội) đã nghiên cứu về

cơ hội và kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp và an ninh lương thực ở Việt Nam và Châu Phi, vai trò của tăng trưởng kinh tế trong xóa đói, giảm nghèo cũng như phân tích về nguồn vốn viện trợ phát triển và sự tận dụng hiệu quả nguồn vốn viện trợ (ODA) đối với các quốc gia này [4]

Nguyễn Thị Hằng (1997): “Vấn đề xoá đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay”[5], Nxb Chính trị Quốc gia, đã lập luận: Đói nghèo thường gây ra xung

đột chính trị, xung đột giai cấp, dẫn đến bất ổn về xã hội, bất ổn về chính trị Mỗi dân tộc tuy có thể khác nhau về khuynh hướng chính trị nhưng đều có một mục tiêu là làm thế nào để quốc gia mình, dân tộc mình giàu có.Tuy nhiên, nền kinh tế có phát triển mạnh, tốc độ tăng trưởng hàng năm khá là cao, nhưng đồng thời cũng phải đương đầu với vấn đề phân hóa giàu nghèo hố ngăn cách giữa bộ phận dân cư giàu nghèo đang có chiều hướng mở rộng nhất là giữa các vùng có điều kiện thuận lợi so với những vùng khó khăn, trình độ dân trí thấp như nông thôn, vùng sâu vùng xa

Tác giả Phan Huy Đường, Đại học Quốc gia Hà Nội trong “Phát triển cộng đồng: Phương pháp quan trọng của công tác xã hội trong xóa đói giảm nghèo”đã nêu khái quát vai trò của phát triển cộng đồng trong xóa đói giảm nghèo ở nước ta; các nguyên tắc cơ bản của phát triển cộng đồng; các phương thức của phát triển, trong đó nhấn mạnh phương thức tăng cường năng lực của cộng đồng thông qua tăng cường năng lực cho người dân tham gia nhận diện vấn đề của người nghèo; lập

Trang 10

kế hoạch; huy động nguồn lực cộng đồng [3]

Nghiên cứu “Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo từ thực tiễn xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Nga (2016)[6] làm rõ thêm thực trạng nghèo và các vấn đề chung trong thực hiện giảm nghèo, cũng như hạn chế trong thực hiện phát triển cộng đồng đối với hộ nghèo Tác giả cũng đã đưa ra một số giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả hơn mục tiêu giảm nghèo tại cộng đồng, từ đó giúp người nghèo tiếp tục khai thác những thế mạnh sẵn như điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng cũng như các giá trị bản địa như văn hóa, đặc sản, đặc biệt tác giả đã đưa ra một số các kết nối dịch vụ và các giải pháp hỗ trợ tín dụng cho người nghèo, các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề,

hỗ trợ việc làm…từ đó giúp người nghèo có thêm điều kiện sản xuất vươn lên thoát nghèo

Tác giả Nguyễn Thu Thủy (2016) với nghiên cứu “Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc thiểu số trong giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh”[7] đã đưa ra lý luận về người dân tộc thiểu số trong thực hiện

chương trình giảm nghèo bền vững, cũng như trong hoạt động phát triển cộng đồng đối với người dân tộc thiểu số trong giảm nghèo bền vững, trong đó đã áp dụng một

số lý thuyết vào trong nghiên cứu, các yếu tố ảnh hưởng và cơ sở pháp lý của phát triển cộng đồng trong giảm nghèo bền vững Bên cạnh đó đưa ra một số giải pháp trong các hoạt động phát triển cộng đồng; đó là: tuyên truyền, nâng cao nhận thức;

hỗ trợ sinh kế; hỗ trợ cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản (giáo dục, nước sạch và vệ sinh, nhà ở, y tế, tiếp cận thông tin ) để nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số trong hoạt động giảm nghèo bền vững

Tác giả Nguyễn Mạnh Đôn có bài viết trao đổi trên diễn đàn của Liên hiệp

các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (đăng ngày 20/02/2005) “Một số suy nghĩ

về hoạt động phát triển cộng đồng và xóa đói, giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc”,

đã khái quát 06 nguyên nhân và đề xuất các giải pháp, trong đó có các giải pháp chủ yếu và cần được ưu tiên như: Nâng cao nhận thức và năng lực của người dân và cộng đồng; chuyển giao công nghệ theo hướng ưu tiên phù hợp đặc thù địa lý và

Trang 11

dân tộc; xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ đời sống, sản xuất và lưu thông Đặc biệt tác giả nhấn mạnh các hoạt động trên phải dựa trên nguyên tắc phát huy tối

đa sự tham gia của người dân và cộng đồng để đảm bảo tính hiệu quả và bền vững của các chương trình, dự án; cần sử dụng phương pháp tiếp cận cho phù hợp; xây dựng khả năng hợp tác giữa người dân và cán bộ phát triển…[18]

Cho đến nay, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề xóa đói, giảm nghèo Tuy nhiên, các công trình đó đều nghiên cứu hoặc một phạm vi rất rộng hoặc đi vào nghiên cứu một lĩnh vực rất cụ thể của đói nghèo hay nghiên cứu đưa ra giải pháp mang tính đặc thù ở một vùng kinh tế hoặc tại một địa phương Tuy nhiên, chưa có nhiều công trình nghiên cứu một cách toàn diện và đồng bộ về giảm nghèo dưới góc độ công tác xã hội với cộng đồng Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp công tác xã hội mang tính bền vững cao và phục vụ cho những định hướng xuyên suốt, lâu dài phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội đất

nước từ nay đến năm 2020 Chủ đề nghiên cứu“Hoạt động phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu sốtừ thực tiễn xã Ch’ơm, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam” vẫn còn những khoảng trống cần tiếp tục nghiên

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số

Tìm hiểu thực trạng hoạt động phát triển cộng đồng trong công tác giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số tại xã Ch’ơm, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng

Trang 12

Nam

Đề xuất định hướng giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phát triển cộng đồng trong công tác giảm nghèo từ thực tiễn xã Ch’ơm, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượngnghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số tại xã Ch’ơm, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam

4.2 Khách thể nghiên cứu

- Là tất cả các hộ nghèo trong xã

- Đại diện chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể có liên quan

4.3 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Xã Ch’ơm, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam được lấy làm

địa bàn nghiên cứu

Về thời gian: đề tài nghiên cứu trong giai đoạn 9/2017 – 3/2018

Phạm vi nội dung: Nghiên cứu các hoạt động phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số tại xã Ch’ơm, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam, cụ thể đó là: hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức; hoạt động

hỗ trợ sinh kế; hoạt động cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Với đề tài này, tác giả sử dụng một số thuyết để phục vụ cho việc nghiên cứu Các thuyết đó là: Lý thuyết hệ thống, lý thuyết sinh thái, Lý thuyết vai trò, Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow; Thuyết tiếp cận dựa trên thế mạnh trong trợ giúp giải quyết vấn đề

Việc sử dụng các thuyết trên vào trong nghiên cứu nhằm giúp chúng ta có cơ

sở, hiểu sâu hơn về tâm, sinh lý, quá trình phát triển của con người cũng như các yếu tố có thể ảnh hưởng, tác động tích cực, tiêu cực tới quá trình giảm nghèo tại địa

Trang 13

phương

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu phân tích tài liệu: Thông qua thu thập thông tin,

tổng hợp tài liệu, phân loại, xử lý văn bản, phân tích các tài liệu có nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu thông qua sách báo, tài liệu, tạp chí, internet, các thông tin sẵn có về cộng đồng được thu thập từ các số liệu của Ủy ban nhân dân huyện, báo cáo tổng kết hàng năm của Ủy ban nhân dân xã,…; các báo cáo, các văn bản

pháp luật để tìm hiểu các số liệu cụ thể phục vụ cho đề tài nghiên cứu

Phương pháp quan sát: Đối tượng và nội dung quan sát của đề tài là các mô

hình, dự án PTCĐ đã được triển khai thực hiện trong cộng đồng tại xã Ch’ơm, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam Tác giả sử dụng phương pháp này trong suốt quá trình thực hiện đề tài để có cái nhìn khách quan và cụ thể về các vấn đề cần nghiên cứu

Phương pháp phỏng vấn sâu: Nghiên cứu thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu

với các cá nhân tại xã Ch’ơm bao gồm những người có kinh nghiệm, lớn tuổi, những người nằm trong ban lãnh đạo địa phương, người dân và áp dụng phương pháp PTCĐ trong công tác giảm nghèo

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

người nghèo

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đánh giá những hoạt động phát triển cộng đồng đối với người dân tộc thiểu

số trong giảm nghèo, phân tích những khó khăn và hạn chế trong quá trình hoạt động thực tiễn

Trang 14

Đề xuất định hướng một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu sốtừ thực tiễn xã Ch’ơm, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam để góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo sự công bằng và tiến bộ xã hội

7 Cơ cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung của luận văn được chia thành 3 chương sau đây :

Chương 1 Những vấn đề lý luận về hoạt động phát triển cộng đồng đối với người dân tộc thiểu số trong giảm nghèo:

Chương 2 Thực trạng hoạt động phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số tại xã Ch'ơm, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam;

Chương 3 Định hướng và biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số tại xã Ch'ơm, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam

Trang 15

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG GIẢM NGHÈO

1.1 Người dân tộc thiểu số: Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu

1.1.1 Khái niệm người dân tộc thiểu số

Theo nghĩa hẹp, khái niệm “dân tộc” được hiểu là cộng đồng tộc người có mối quan hệ chặt chẽ, bền vững; có chung nguồn gốc lịch sử, sinh hoạt kinh tế và đời sống văn hóa; có ngôn ngữ riêng và có những nét đặc thù về văn hóa; xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; kế thừa phát triển cao hơn những nhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc

Theo nghĩa rộng, “dân tộc” được hiểu là một quốc gia, rõ hơn là để chỉ một cộng đồng chính trị, xã hội rộng lớn, bao gồm nhiều tộc người, sinh sống ổn định trong điều kiện đa ngôn ngữ, thường lấy ngôn ngữ của tộc người đa số làm ngôn ngữ quốc gia; có lãnh thổ quốc gia, có chung vận mệnh lịch sử, cùng chung lợi ích

về chính trị, kinh tế; có nền văn hóa vừa thống nhất, vừa đa dạng của quốc gia - dân tộc

Việt Nam là một quốc gia dân tộc thống nhất (54 dân tộc) Dân tộc Kinh chiếm 87% dân số, còn lại là dân tộc ít người phân bố rải rác trên địa bàn cả nước

Tính cố kết dân tộc, hòa hợp dân tộc trong một cộng đồng thống nhất đã trở thành truyền thống của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ Quốc và xây dựng đất nước

Do những yếu tố đặc thù của nền kinh tế trồng lúa nước, một kết cấu xã hội nông thôn bền chặt nên dân tộc Việt Nam xuất hiện rấ sớm, gắn liền với cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, đấu tranh chống thiên tai Vì vậy đoàn kết là xu hướng khách quan trên cơ sở có chung lợi ích, có chung vận mệnh lịch sử, có chung tương lại, tiền đồ

Trang 16

Hình thái cư trú xen kẽ giữa các dân tộc ở Việt Nam ngày càng gia tăng Các dân tộc không có lãnh thổ riêng, không có nền kinh tế riêng Và sự thống nhất giữa các dân tộc và quốc gia trên mọi mặt của đời sống xã hội ngày càng được củng cố

Do điều kiện tự nhiên, xã hội và hậu quả của các chế độ áp bức bóc lột trong lịch sử nên trình độ phát triển kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc còn chênh lệch, khác biệt Đây là một đặc trưng cần hết sức quan tâm nhằm thực hiện bình đẳng, đoàn kết dân tộc ở nước ta

Các dân tộc thiểu số tuy chỉ chiếm 13% dân số cả nước nhưng lại cư trú trên địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, giao lưu quốc tế- đó là vùng biên giới, vùng núi cao, hải đảo

Cùng với nền văn hóa cộng đồng, mỗi dân tộc trong đại gia đình các dân tộc VN có đời sồng văn hóa mang bản sắc riêng, góp phần làm phong phú thêm nên văn hóa của cộng đồng

Các chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta:

Quan điểm chung:

- Dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân tộc và thực tiễn lịch sử đấu tranh cách mạng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam cũng như dựa vào tình hình thế giới hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã luôn coi vấn đề dân tộc và xây dựng khối đại đoàn kết có tầm quan trọng đặc biệt, Hồ Chí Minh đã nói: Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, đồng bào các dân tộc đều là anh em ruột thịt là con cháu một nhà, thương yêu đoàn kết giúp đỡ nhau là nghĩa vụ thiêng liêng của các dân tộc

Trong mỗi kỳ cách mạng, Đảng và Nhà nước coi việc giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là nhiệm vụ có tính chiến lược nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, cũng như tiềm năng của từng dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Trong văn kiện Đại hôi đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta nêu rõ: “Vấn

đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng Thực hiện tốt các chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp

Trang 17

nhau cùng phát triển … thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc, giữa miền núi

và miền xuôi, kiên quyết chống kỳ thị và chia rẽ dân tộc; chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan; khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc

Những chính sách cụ thể:

Phát triển kinh tế hàng hóa ở các vùng dân tộc thiểu số phù hợp với điều kiện

và đặc điểm từng vùng, từng dân tộc, đảm bảo cho đồng bào các dân tộc khai thác được thế mạnh của địa phương để làm giàu cho mình và đóng góp vào việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của đồng bào các dân tộc, từng bước nâng cao dân trí đồng bào dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số vùng cao, hải đảo

Tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết và đấu tranh kiên cường của các dân tộc vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, nghiêm cấm các hành vi miệt thị dân tộc và chia rẽ dân tộc Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đại đoàn kết dân tộc là động lực chủ yếu, là sức mạnh vĩ đại quyết định sự thành công của cách mạng”, Người khẳng định : “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công”

Tăng cường, bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ ít người để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội miền núi; đồng thời giáo dục tinh thần đoàn kết, hợp tác cho cán bộ dân tộc

Như vậy, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta mang tính toàn diện, tổng hợp tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội Do đó, chính sách dân tộc còn mang tính công bằng và tiến bộ, đồng thời mang tính nhân đạo, bởi vì nó không bỏ sót một dân tộc nào, nó tôn trọng quyền làm chủ của mỗi con người và quyền tự quyết của các dân tộc Mặt khác, nó còn nhằm phát huy nội lực của mỗi dân tộc kết hợp với sự giúp đỡ có hiệu quả của các dân tộc anh em trong cả nước

1.1.2 Đặc điểm của người dân tộc thiểu số

Dân tộc Việt Nam là một khái niệm được hiểu theo nghĩa rộng là dân tộc - quốc gia, là một cộng đồng chính trị, xã hội bao gồm tất cả 54 dân tộc, từ ít người

Trang 18

đến đông người, từ thiểu số đến đa số; mỗi dân tộc mang một sắc thái văn hóa riêng

và cùng sinh sống trong phạm vi lãnh thổ quốc gia Việt Nam thống nhất Trong đó, các dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu vùng miền núi (chiếm 3/4 diện tích đất tự nhiên của cả nước), địa bàn có vị trí quan trọng, chiến lược về chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh, quốc phòng, môi trường sinh thái của đất nước

Đặc điểm của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam:

Một là, mỗi dân tộc đều có một bản sắc văn hóa riêng, độc đáo, góp phần

làm nên sự phong phú, đa dạng của nền văn hóa Việt Nam

Trong bối cảnh trình độ phát triển kinh tế, xã hội chưa cao, hầu hết các dân tộc thiểu số còn lưu giữ và chịu sự chi phối khá rõ nét của nhiều loại hình tín ngưỡng dân gian Trong đó nhiều tín ngưỡng có tác dụng tích cực, thể hiện ước nguyện tốt đẹp cho cuộc sống con người, củng cố tình đoàn kết, đồng tâm hiệp lực giữa các thành viên trong cộng đồng Nhưng một số tín ngưỡng dân gian cũng là môi trường cho mê tín, dị đoan và hủ tục lạc hậu tồn tại và phát triển Đặc biệt, trong những năm qua, đạo Công giáo, Tin lành được truyền bá, phát triển mạnh, số tín đồ người dân tộc thiểu số tăng nhanh chóng, bất thường, tác động không nhỏ đến đời sống tinh thần của một bộ phận cộng đồng

Hai là, các dân tộc thiểu số tại Việt Nam có quy mô dân số và trình độ phát

triển kinh tế, xã hội không đồng đều, với sự chênh lệch khá lớn về điều kiện sống, mức sống giữa các dân tộc và giữa các vùng địa lý khác nhau

Kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn chậm phát triển, tình trạng du canh, du cư, di dân tự do vẫn diễn biến phức tạp Kết cấu hạ tầng (điện, đường, trường, trạm, dịch vụ) ở vùng sâu, vùng xa vẫn còn khó khăn Chính vì đặc điểm trình độ phát triển kinh tế, xã hội không đồng đều, điều kiện sống và mức sống còn chênh lệch giữa các dân tộc, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm, thực hiện đường lối phát triển bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc

Ba là, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam cư trú vừa phân tán, vừa xen kẽ nhau,

không tách riêng theo vùng lãnh thổ hay cư trú duy nhất trên một địa bàn

Trang 19

Hình thái cư trú xen kẽ giữa các dân tộc ở Việt Nam là biểu hiện của sự đoàn kết, “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, thúc đẩy sự hòa hợp, tin cậy, gắn bó và giúp đỡ lẫn nhau, tăng cường hợp tác và xích lại gần nhau hơn trong lao động sáng tạo, đời sống vật chất, tinh thần, sinh hoạt văn hóa, hôn nhân gia đình, đi tới xóa bỏ cách biệt giữa các dân tộc và các vùng dân cư Đây là cơ sở giải quyết mối quan hệ giữa các dân tộc, phòng ngừa xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp lợi ích, xung đột văn hóa, giữ vững sự đoàn kết, thống nhất, không để các thế lực thù địch lợi dụng phá hoại, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước

Bốn là, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam cư trú tập trung ở vùng miền núi và

biên giới - có vị trí quan trọng chiến lược về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, môi trường sinh thái của đất nước

Từ xa xưa đến nay, các khu vực đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống luôn là căn cứ địa vững chắc của các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm và là địa bàn quyết định đánh bại kẻ thù xâm lược Địa thế hiểm trở miền núi và lòng yêu nước của đồng bào dân tộc thiểu số làm vùng miền núi, biên giới trở thành căn cứ nuôi giấu cán bộ, bộ đội, là nơi tập kết khí tài, căn cứ địa cách mạng, tiến hành kháng chiến thắng lợi và bảo vệ Tổ quốc Ngày nay, đồng bào dân tộc thiểu số có vị trí vai trò đặc biệt quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế, xã hội; đảm bảo an ninh quốc phòng, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ Việt Nam

1.1.3 Nhu cầu của người dân tộc thiểu số

Qua tìm hiểu, có thể thấy người dân tộc thiểu số có những nhu cầu chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, thống kê, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo để tạo điều kiện cho các

đối tượng này kịp thời vay vốn Đồng thời, phối hợp chặt chẽ hơn nữa với Ngân hàng Chính sách Xã hội trong việc nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng chính sách Thực hiện nghiêm túc công tác bình xét cho vay đảm bảo công khai, dân chủ

từ thôn, bản Việc xác nhận đối tượng phải được Ban giảm nghèo các xã, phường thị trấn xét duyệt chặt chẽ Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, giám sát của các cấp,

Trang 20

các ngành đối với tín dụng chính sách… cũng cần được tăng cường

Mặc dù số vốn vay cho vay không nhiều nhưng với những khoản vay kịp thời

có thể giải quyết được những khó khăn trước mắt của nhiều hộ nghèo, tạo thêm nguồn lực giúp hộ nghèo phát triển kinh tế hộ gia đình tăng thu nhập và đảm bảo cuộc sống

Thứ hai, chính quyền, địa phương tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền

về ý nghĩa, tầm quan trọng, nâng cao nhận thức của người dân về công tác giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động; gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm; tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người lao động tiếp cận vốn vay phát triển kinh tế gia đình; nhân rộng các mô hình kinh tế hiệu quả nhằm giải quyết việc làm tại chỗ cho lao động nông thôn Chính quyền chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể, địa phương tăng cường tuyên truyền, hỗ trợ giải quyết việc làm qua kênh xuất khẩu lao động

Tăng cường hoạt động có hiệu quả của các tiểu dự án về mô hình sinh kế Dạy nghề nông nghiệp cần gắn với chuyển đổi cơ cấu, khai thác thế mạnh về cây con và đặc sản của địa phương, dịch vụ tại chỗ gắn với thị trường để người dân có thể áp dụng nghề vào sản xuất để tăng thu nhập

Thứ ba, hỗ trợ giống cây trồng, con vật nuôi có giá trị kinh tế cao; xây dựng

và nhân rộng mô hình phát triển sản xuất giảm nghèo hiệu quả cho hộ nghèo, hộ cận nghèo có lao động, đất đai, tư liệu sản xuất, ưu tiên hỗ trợ trước cho hộ nghèo từ nguồn kinh phí của Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới theo Nghị quyết số 100/2015/QH13 của Quốc hội và các

chương trình, chính sách phát triển kinh tế- xã hội khác

Thứ tư, tăng cường cơ sở khám, chữa bệnh, cán bộ y tế cho các xã, bản,

thôn, ấp; nâng cao hơn nữa công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu

số, khuyến khích trồng và sử dụng các loại thuốc dân gian

Thứ năm, tiếp tục tạo cơ hội cho tất cả học sinh, đặc biệt học sinh nghèo tiếp

cận dịch vụ giáo dục, cần có chính sách tài chính đặc biệt cho người nghèo như chính sách miễn học phí cho học sinh nghèo; cấp học bổng và học phẩm cho người học; hỗ trợ bữa trưa cho học sinh học cả ngày; đầu tư kinh phí xây dựng trường cơ

Trang 21

sở vật chất cho các trường ở vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Thứ sáu, hỗ trợ xây dựng nhà ở, đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ

nghèo theo chủ trương của Chính phủ, với phương thức "Nhà nước và nhân dân cùng làm", tăng trách nhiệm của chính bản thân người nghèo đối với trong việc sử dụng nguồn lực trợ giúp

Tiếp tục hỗ trợ tiền điện: Theo Quyết định 628/QĐ-TTg ngày 23/3/2011 của thủ tướng chính phủ: từ năm 2011 đến năm 7/2016 đã hỗ trợ 298 hộ hộ với tổng số tiền 780.432.000 đồng

Thứ bảy, về nước sạch và vệ sinh môi trường, người dânmong muốn được cấp

nước và vệ sinh hộ gia đình đơn giản, giá thành hạ để khuyến khích áp dụng, nhất là đối với nhóm đối tượng nghèo, cận nghèo và vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc thiểu

số

Thứ tám , trợ giúp pháp lý miễn phí cho các đối tượng thụ hưởng chính sách theo các hình thức trợ giúp pháp lý như: Tư vấn pháp luật và các hình thức khác theo quy định của pháp luật về trọ giúp pháp lý, tổ chức các đợt trợ giúp pháp lý lưu động về các thôn, bản đặc biệt khó khăn,thành lập, củng cố và tổ chức sinh hoạt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý, thông tin, truyền thông, phổ biến các chế độ, chính sách, quy định của pháp luật đến với người nghèo, đối với người dân tộc thiểu số và các chương trình, chính sách giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số

1.2 Khái niệm giảm nghèo và giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số

Khái niệm giảm nghèo

Giảm nghèo là một chiến lược của tất cả các quốc gia trên thế giới nhằm giải quyết vấn đề đói nghèo và phát triển kinh tế của quốc gia đó Đối với Việt Nam, ngày 21 tháng 5 năm 2002, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói, giảm nghèo’’ Đây là chiến lược đầy đủ, chi tiết phù hợp với mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDG) của Liên Hợp Quốc công bố Trong quá trình xây dựng chiến lược có sự tham gia của chuyên gia các tổ chức quốc tế tại Việt Nam Vấn đề là cụ thể hóa chiến lược bằng các chương trình, dự án được triển khai, được giám sát và đánh giá thường xuyên Các nghiên cứu đã lập

Trang 22

được bản đồ phân bố đói nghèo đến từng xã, từng hộ Việt Nam đã ký vào Tuyên bố Thiên niên kỷ với 8 mục tiêu:

- Xóa bỏ tình trạng cùng cực và thiếu đói

- Đạt phổ cập giáo dục tiểu học

- Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế phụ nữ

- Giảm tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh

- Tăng cường sức khỏe bà mẹ

- Phòng chống bệnh HIV/AISD, sốt rét và các bệnh khác

- Đảm bảo bền vững môi trường

- Thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu vì mục đích phát triển

Những mục tiêu này mang kết quả trực tiếp và gián tiếp giảm nghèo bởi nguy cơ nghèo, tái nghèo đều có thể xảy ra trong những biến cố của môi trường thiên nhiên, của quá trình hội nhập và phát triển Một quốc gia khi không giải quyết dứt điểm giảm nghèo thì luôn ẩn chứa nguy cơ phát triển không bền vững dẫn đến những hậu quả bất ổn định kinh tế - xã hội Những mục tiêu đó cũng gợi mở những phương thức tác động trực tiếp hay gián tiếp đến việc giảm nghèo Để thực hiện được các mục tiêu đề ra Chính phủ của mỗi quốc gia phải ban hành các chính sách, pháp luật phù hợp để thông qua nhiều kênh có thể giúp người nghèo nâng cao hơn mức thu nhập, góp phần giảm nghèo

Như vậy, có thể hiểu giảm nghèo là tổng thể các biện pháp, chính sách của nhà nước và xã hội hay là của chính những đối tượng thuộc diện nghèo, nhằm tạo điều kiện để họ có thể tăng thu nhập, thoát khỏi tình trạng thu nhập không đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu trên cơ sơ chuẩn nghèo được quy định theo từng địa phương, khu vực và quốc gia

Giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số

Giảm nghèo đối với người DTTS là quá trình Nhà nước, cộng đồng hỗ trợ,

tạo điều kiện thuận lợi cho đối tượng đói, nghèo vươn lên trong sản xuất, trong cuộc sống, từ đó thoát khỏi đói, nghèo Nói cách khác, giảm nghèo chính là chuyển một

bộ phận dân cư đói, nghèo lên một mức sống cao hơn

Trang 23

1.3 Lý luận về hoạt động phát triển cộng đồng đối với người dân tộc

thiểu số trong giảm nghèo

1.3.1 Nhu cầu, khái niệm phát triển cộng đồng và hoạt động phát triển cộng đồng đối với người dân tộc thiểu số trong giảm nghèo

Nhu cầu phát triển cộng đồng đối với người dân tộc thiểu số

Nhu cầu phát triển cộng đồng cho đồng bào dân tộc thiểu số cần tập trung vào việc nâng cao nhận thức và bắt đầu bằng việc chuyển đổi sản xuất nông nghiệp

từ bán tự cung, tự cấp sang sản xuất thương mại, đa dạng hóa sang các cơ hội việc làm phi nông nghiệp, đặc biệt những lĩnh vực có thể tiếp cận với các thành phố lớn hoặc các thị trường trong nước và quốc tế, nhân rộng các mô hình và phát triển các chiến lược giảm nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số được thực hiện theo một loạt các bước từ chuyên môn hóa tới đa dạng hóa nông nghiệp, và tích lũy vốn tài chính,

xã hội và văn hóa Cụ thể như sau:

- Hỗ trợ tín dụng ưu đãi: Giải ngân tín dụng chính sách phải gắn với quy

hoạch sản xuất của địa phương, dựa trên thế mạnh của địa phương Giảm dần các chính sách hỗ trợ không hoàn lại, thay vào đó gắn với điều kiện và có quy định thời gian hoàn trả Ngoài ra, quá trình xây dựng chính sách cũng cần có sự phối hợp, lồng ghép có hiệu quả với hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, khuyến công, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; nhân rộng các mô hình sản xuất, kinh doanh, nuôi trồng hiệu quả của từng địa phương tới hộ gia đình nghèo

nhằm giúp hộ nghèo nhanh chóng vươn lên thoát nghèo

Chính quyền địa phương các cấp và của các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội trong công tác thống kê, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo để tạo điều kiện cho các đối tượng này kịp thời vay vốn

- Chính sách đào tạo giải quyết việc làm

Thời gian tới, để thực hiện tốt hơn nữa công tác giải quyết việc làm, giảm nghèo, các cấp chính quyền, địa phương tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền về

ý nghĩa, tầm quan trọng, nâng cao nhận thức của người dân về công tác giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động; gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm; tổ chức các

Trang 24

lớp bồi dưỡng kiến thức, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người lao động tiếp cận vốn vay phát triển kinh tế gia đình; nhân rộng các mô hình kinh tế hiệu quả nhằm giải quyết việc làm tại chỗ cho lao động nông thôn Chính quyền chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể, địa phương tăng cường tuyên truyền, hỗ trợ giải quyết việc làm qua kênh xuất khẩu lao động

- Về chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật

Tổ chức lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật và các mô hình trình diễn giống cây, đã tổ chức được các lớp tập huấn kỹ thuật cho cán bộ xã và thôn Nhờ đó, kiến thức về sản xuất của người nghèo được nâng lên, giúp họ tổ chức sản xuất có hiệu quả hơn Nhiều mô hình xóa đói giảm nghèo đã được xây dựng còn một số mô hình dưới dạng liên kết giữa doanh nghiệp và tất cả các hộ nghèo trong xã

Hỗ trợ giống cây trồng, con vật nuôi có giá trị kinh tế cao; xây dựng và nhân rộng mô hình phát triển sản xuất giảm nghèo hiệu quả cho hộ nghèo, hộ cận nghèo

có lao động, đất đai, tư liệu sản xuất, ưu tiên hỗ trợ trước cho hộ nghèo từ nguồn kinh phí của Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới theo Nghị quyết số 100/2015/QH13 của Quốc hội và các chương trình, chính sách khác

-Hỗ trợ về giáo dục: Tiếp tục tạo cơ hội cho tất cả học sinh , đặc biệt học sinh

nghèo tiếp cận dịch vụ giáo dục, cần có chính sách tài chính đặc biệt cho người nghèo như chính sách miễn học phí cho học sinh nghèo; cấp học bổng và học phẩm cho người học; hỗ trợ bữa trưa cho học sinh học cả ngày; đầu tư kinh phí xây dựng trường cơ sở vật chất cho các trường ở vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu

số

- Hỗ trợ về y tế: Tiếp tục thực hiện triệt để việc cấp thẻ BHYT cho 100%

người nghèo; đồng thời các cơ quan hữu quan, đặc biệt là phòng Lao động – thương binh – xã hội huyện cần theo dõi và phối hợp chặt chẽ với UBND các địa phương để xác định các hộ cận nghèo nhằm kịp thời đề xuất cấp thẻ BHYT cho những hộ này Đây là công tác rất quan trọng, giúp cho những hộ cận nghèo giảm chi phí y tế, tức là trực tiếp giảm nguy cơ trở thành hộ nghèo

Trang 25

Đối với hộ nghèo, cần xem xét lại quy định cùng chi trả 5% chi phí BHYT theo hướng giảm hoặc bỏ hẳn tỉ lệ cùng chi trả BHYT Việc quy định cùng chi trả 5% nhằm mục đích tránh lạm dụng BHYT Tuy nhiên, đối với người nghèo, 5% chi phí đã là một số tiền không phải nhỏ, nhiều khi vượt quá khả năng của

họ, nhất là vào những thời điểm khó khăn như giáp hạt, thiên tai lũ lụt, hạn hán… Điều này đã trở thành rào cản khi tiếp cận dịch vụ y tế của người nghèo

-Nước sạch và vệ sinh: Tiếp thực hiện các giải pháp cấp nước và vệ sinh hộ

gia đình đơn giản, giá thành hạ để khuyến khích áp dụng, nhất là đối với nhóm đối tượng nghèo, cận nghèo và vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc thiểu số

Hướng dẫn xây dựng kế hoạch cấp nước an toàn, bao gồm cả việc lưu trữ nước và xử lý nước quy mô hộ gia đình còn cần được quan tâm đúng mức

- Trợ giúp pháp lý và hỗ trợ hưởng thụ văn hóa thông tin: Tiếp tục cung cấp

dịch vụ pháp lý miễn phí cho các đối tượng thụ hưởng chính sách theo các hình thức trợ giúp pháp lý như: Tư vấn pháp luật và các hình thức khác theo quy định của pháp luật về trọ giúp pháp lý, tổ chức các đợt trợ giúp pháp lý lưu động về các thôn, bản đặc biệt khó khăn,thành lập, củng cố và tổ chức sinh hoạt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý, thông tin, truyền thông, phổ biến các chế độ, chính sách, quy định của pháp luật đến với người nghèo, đối với người dân tộc thiểu số và các chương trình, chính sách giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số Tăng cường năng lực cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý, thành viên Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý Với các nội dung tuyên truyền, phổ biến nhất là tuyên truyền các luật như: Luật Hôn nhân và gia đình, luật phòng chống ma túy, luật bảo vệ và phát triển rừng, Luật Phòng chống buôn bán phụ nữ trẻ em

Khái niệm phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số

Cộng đồng

Cộng đồng là một tập thể có tổ chức, bao gồm các cá nhân con người sống chung một địa bàn nhất định, có chung một đặc tính xã hội hoặc sinh học nào đó và cùng chia sẻ với nhau một lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào đấy (Trung tâm nghiên

Trang 26

cứu và tập huấn phát triển cộng đồng, 1997)

Cộng đồng là tập thể người sống trong cùng một khu vực, một tỉnh hoặc một quốc gia và được xem như một khối thống nhất; cộng đồng là một nhóm người có cùng tín ngưỡng chủng tộc, cừng loại hình nghề nghiệp, hoặc cùng mối quan tâm; cộng đồng là một tập thể cùng chia sẻ, hoặc có tài nguyên chung, hoặc có tình trạng tương tự nhau về một số khía cạnh nào đó (Từ điển Đại học Oxford,1999)

Khái niệm phát triển cộng đồng được Chính phủ Anh sử dụng đầu tiên năm 1940: Phát triển cộng đồng là một chiến lược phát triển nhằm vận động sức dân trong các cộng đồng nông thôn cũng như các đô thị để phối hợp cùng những nỗ lực của nhà nước để cải thiện cơ sở hạ tầng và tăng khả năng tự lực của cộng đồng

Theo định nghĩa chính thức của Liên hợp quốc, PTCĐ là những tiến trình qua đó nỗ lực của dân chúng kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của các cộng đồng và giúp các cộng đồng này hội nhập và đóng góp vào đời sống quốc gia (năm 1956)

Trang 27

Áp dụng vào lĩnh vực giảm nghèo, có thể hiểu, phát triển cộng đồng là tiến trình làm chuyển biến cộng đồng nghèo từ thiếu tự tin thành cộng đồng tự lực thông qua việc giáo dục gây nhận thức về tình hình, vấn đề hiện tại cho họ, phát huy các khả năng và tài nguyên sẵn có, tổ chức các hoạt động tự giúp, bồi dưỡng và củng

cố tổ chức, tiến tới tự lực phát triển nhằm thoát nghèo và giảm nghèo bền vững

Từ những điều trình bày ở trên, khái niệm Phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số được hiểu là những hoạt động có tác động tích cực lên cộng đồng dân tộc thiểu số giúp họ nâng cao năng lực, nhận thức để đáp ứng nhu cầu của cộng đồng và từng bước tự lực phát triển

Khái niệm hoạt động phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số

Thuật ngữ hoạt động thường được dùng để chỉ việc làm, công việc, vận động; thực hiện một chức năng nào đó trong các lĩnh vực của đời sống xã hội

Từ quan niệm về phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối với người dân

tộc thiểu số và quan niệm về hoạt động, học viên đưa ra khái niệm hoạt động phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số như sau:

Hoạt động phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số là các công việc do các chủ thể tiến hành có tác động tích cực lên cộng đồng dân tộc thiểu số giúp họ nâng cao năng lực, nhận thức để đáp ứng nhu cầu của cộng đồng và từng bước tự lực phát triển nhằm thoát nghèo và giảm nghèo bền vững

Trong luận văn này, các hoạt hoạt động phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu sốbao gồm: Hoạt động hỗ trợ sinh kế; Hoạt động cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản (hỗ trợ y tế cho người nghèo tại xã Ch’ơm, hỗ trợ về giáo dục, hỗ trợ về nhà ở và điện tháp sáng, nước sạch và vệ sinh, trợ giúp pháp lý và

hỗ trợ hưởng thụ văn hóa thông tin); Hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức

1.3.2 Các nguyên tắc của hoạt độngphát triển cộng đồng đối với dân tộc thiểu số trong giảm nghèo

Trong những năm qua, cùng với những thành tựu to lớn về phát triển kinh

tế-xã hội, nước ta cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó vấn đề nghèo

Trang 28

đói luôn được quan tâm hàng đầu Tăng trưởng kinh tế một mặt đã góp phần cải thiện đáng kể đời sống nhân dân, dẫn tới hình thành những cộng đồng dân cư có thu nhập cao, đời sống được bảo đảm bởi hệ thống cơ sở vật chất và hạ tầng, các dịch

vụ chăm sóc sức khỏe, y tế, giáo dục tương đối khá Người dân tại các cộng đồng này có nhiều cơ hội phát triển, đựoc phát huy khả năng và được bảo vệ thông qua mạng lưới an sinh xã hội an toàn, bền vững Tuy nhiên, sự phân hóa ngay trong quá trình phát triển cũng làm xuất hiện những cộng đồng dân cư nghèo, các nhóm yếu thế tại vùng sâu, vùng xa, nơi có điều kiện tự nhiên không thuận lợi cùng một bộ phận dân cư ngay trong lòng các đô thị phát triển Cộng đồng nghèo thường gắn liền với các đặc điểm: Cơ sở hạ tầng, dịch vụ xã hội thiếu hoặc yếu kém; kinh tế không phát triển; nhu cầu cơ bản của người dân chưa được đáp ứng đầy đủ; thiếu cơ hội tiếp cận khoa học – kỹ thuật, tâm lý thiếu tự tin hoặc trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước và không được tham gia vào các quá trình ra quyết định

Chính vì vậy, việc giúp đỡ, phát triển các cộng đồng nghèo là hết sức cần thiết và việc lựa chọn các phương pháp phù hợp để phát triển cộng đồng có ý nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn

Phát triển cộng đồng là một phương pháp của công tác xã hội được xây dựng trên những nguyên lý, nguyên tắc và giả định của nhiều ngành khoa học xã hội khác như: Tâm lý xã hội, xã hội học, chính trị học, nhân chủng học…, được áp dụng ở nhiều nước và đã phát huy vai trò trong việc giải quyết các vấn đề của các nhóm cộng đồng nghèo, các nhóm yếu thế trong thời gian qua Đó là phương pháp giải quyết một số vấn đề khó khăn, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, hướng tới sự phát triển không ngừng về đời sống vật chất và tinh thần của người dân thông qua việc nâng cao năng lực, tăng cường sự tham gia, đoàn kết, phối hợp chặt chẽ giữa người dân với nhau, giữa người dân với các tổ chức và giữa các tổ chức với nhau trong phạm vi một cộng đồng

Các nguyên tắc cơ bản của hoạt động phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số: là sự tham gia và tự quyết của nhân dân; tin

vào khả năng của người dân và phát huy nội lực của chính cộng đồng Phương pháp

Trang 29

này luôn đánh giá cao vai trò của người dân và coi đây là nhân tố quyết định tới sự

thành công trong việc phát triển cộng đồng nghèo Có thể nêu ra 7 nguyên tắc của

của hoạt động phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số:

Thứ nhất, nhận diện nhu cầu, khả năng cộng đồng dân tộc thiểu số và các tài

nguyên sẵn có tại địa bàn

Muốn tiến hành các hoạt đông phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số cần nhận diện nhu cầu, nguyện vọng của họ Không thể áp đặt ý chí chủ quan của chính quyền, của nhân viên công tác xã hội đối với cộng đồng dân tộc thiểu số

Cần tiềm hiểu khả năng, tri thức, kinh nghiệm, sức khỏe, văn hóa, ý chí của người dân tộc thiểu số Các nguồn tài nguyên tại địa bàn đã được huy động như thế nào vào việc phát triển cộng đồng cũng cần làm rõ

Thứ hai, có niềm tin vào người dân, người nghèo thuộc dân tộc thiểu số và

khả năng thay đổi họ

Có niềm tin vào người dân thì mới khơi dậy được sức mạnh tinh thần và vật chất của họ Tin vào khả năng thay đổi không chỉ của những cá nhân đơn lẻ mà là khả năng thay đổi của cả cộng đồng dựa trên nguồn lực của cộng đồng

Thứ ba, đáp ứng nhu cầu cần thiết và mối quan tâm hiện tại của cộng đồng

dân tộc thiểu số Nên xác định đúng nhu cầu cấp bách, nhu cầu thiết thực, trước hết của người dân để huy động các nguồn lực để giải quyết Người ta sẽ vì lợi ích thiết thân mà tham gia tích cực và các hoạt động phát triển cộng đồng

Thứ tư, khuyến khích người dân thảo luận, tự quyết định và hành động để

bảo đảm sự thành công của các dự án phát triển cộng đồng trong giảm nghèo Đây chính là sự tôn trọng, tin tưởng vào người dân, làm cho người dân nhận thấy mình làm chủ công việc; được quyết định và được hưởng lợi từ các hoạt động phát triển cộng đồng

Thứ năm, khởi đầu từ những hoạt động nhỏ để có thành công nhỏ

Trang 30

Đối với người dân tộc thiểu số nghèo nên bắt đầu từ những việc nhỏ Làm tốt công việc đó, rút kinh nghiệm để rồi dần dần triển khái những công việc to hơn Làm ngay những công việc to lớn mà không thành công thì đây là cú sốc lớn với người dân

Thứ sáu, hỗ trợ người dân tộc thiểu số giải quyết những mâu thuận (nếu có)

để tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng phát triển

Trong các hoạt động phát triển cộng đồng có thể phát sinh những mâu thuẫn Cần tạo cho các bên cùng trao đổi, bàn bạc, thương lượng, hợp tác để giải quyết các mâu thuẫn đó, làm sao để các bên đều thấy mình được bảo đảm quyền lợi

Thứ bảy, liên kết cộng đồng dân tộc thiểu số với các tổ chức xã hội, tổ chức

xã hội nghề nghiệp để nhận thêm/chia sẻ sự hỗ trợ và hợp tác

Liên kết, hợp tác tạo thêm nguồn lực, tạo thêm sức mạnh Mỗi một tổ chức

sẽ có những thế mạnh, có kinh nghiệm hay trong việc hỗ trợ người dân tộc thiểu số giảm nghèo bền vững

1.3.3 Các hoạt động phát triển cộng đồng đối với dân tộc thiểu số trong giảm nghèo

* Hoạt động hỗ trợ sinh kế

Hỗ trợ tín dụng đối với hộ nghèo

Giải ngân tín dụng chính sách phải gắn với quy hoạch sản xuất của địa phương, dựa trên thế mạnh của địa phương Giảm dần các chính sách hỗ trợ không hoàn lại, thay vào đó gắn với điều kiện và có quy định thời gian hoàn trả Ngoài ra, quá trình xây dựng chính sách cũng cần có sự phối hợp, lồng ghép có hiệu quả với hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, khuyến công, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; nhân rộng các mô hình sản xuất, kinh doanh, nuôi trồng hiệu quả của từng địa phương tới hộ gia đình nghèo nhằm giúp hộ nghèo nhanh chóng vươn lên thoát nghèo

Chính quyền địa phương các cấp và của các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội trong công tác thống kê, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo để tạo điều kiện cho các đối tượng này kịp thời vay vốn Đồng thời, phối hợp chặt chẽ hơn nữa với Ngân

Trang 31

hàng Chính sách xã hội trong việc nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng chính sách Thực hiện nghiêm túc công tác bình xét cho vay đảm bảo công khai, dân chủ

từ thôn, bản Việc xác nhận đối tượng phải được Ban giảm nghèo các xã, phường thị trấn xét duyệt chặt chẽ Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, giám sát của các cấp, các ngành đối với tín dụng chính sách… cũng cần được tăng cường

Chính sách đào tạo giải quyết việc làm

Đối với xã hội, dạy nghề và giải quyết việc làm sẽ cung cấp một lực lượng lao động quan trọng, là nhân tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thu nhập của địa phương, đồng thời giảm bớt những tiêu cực, tệ nạn xã hội do dân trí thấp mang lại

Thời gian tới, để thực hiện tốt hơn nữa công tác giải quyết việc làm, giảm nghèo, các cấp chính quyền, địa phương tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền về

ý nghĩa, tầm quan trọng, nâng cao nhận thức của người dân về công tác giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động; gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm; tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người lao động tiếp cận vốn vay phát triển kinh tế gia đình; nhân rộng các mô hình kinh tế hiệu quả nhằm giải quyết việc làm tại chỗ cho lao động nông thôn Chính quyền chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể, địa phương tăng cường tuyên truyền, hỗ trợ giải quyết việc làm qua kênh xuất khẩu lao động

Về chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật

Ủy ban nhân dân xã tập trung chỉ đạo xây dựng các mô hình để chuyển giao tiến bộ về giống mới, quy trình kỹ thuật chăm sóc, bảo vệ cây trồng, vậy nuôi, hướng dẫn cách làm ăn, chuyển giao kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất đối với người dân tộc thiểu số trong giảm nghèo

Tổ chức lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật và các mô hình trình diễn giống cây, đã tổ chức được các lớp tập huấn kỹ thuật cho cán bộ xã và thôn Nhờ đó, kiến thức về sản xuất của người nghèo được nâng lên, giúp họ tổ chức sản xuất có hiệu quả hơn Nhiều mô hình xóa đói giảm nghèo đã được xây dựng còn một số mô hình dưới dạng liên kết giữa doanh nghiệp và tất cả các hộ nghèo trong xã

* Hoạt động cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản

Trang 32

Dịch vụ xã hội cơ bản được định nghĩa là hệ thống cung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người và được xã hội thừa nhận Các quan điểm và cách tiếp cận khác nhau đều xác định dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm: hỗ trợ y tế, hỗ trợ giáo dục, hỗ trợ nhà ở, nước sạch và vệ sinh, hỗ trợ văn hóa

Vùng DTTS và miền núi có những đặc thù rất khác biệt, có ảnh hưởng lớn tới tình trạng nghèo đói của người dân như điều kiện sản xuất khó khăn, thiếu việc làm và việc làm năng suất thấp, cơ sở hạ tầng nông thôn thấp kém và không đáp ứng nhu cầu, thiếu vốn, giáo dục và trình độ lao động thấp, thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, phong tục tập quán còn lạc hậu…

Vùng đồng bào DTTS và miền núi là nơi tập trung chủ yếu người nghèo và đồng bào DTTS đã được Chính phủ tập trung nguồn lực đầu tư phát triển thông qua nhiều chính sách, chương trình, dự án Với sự quan tâm của Chính phủ, kinh tế-xã hội vùng DTTS và miền núi, vùng sâu vùng xa đã có sự tăng trưởng đáng kể, tỷ lệ nghèo đói đã giảm nhanh hàng năm Công bằng xã hội trong tiếp cận dịch vụ xã hội

cơ bản đã được cải thiện, đặc biệt là cho người nghèo DTTS ở vùng sâu, vùng xa

Hệ thống cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản và chính sách hỗ trợ đã góp phần thực hiện công bằng xã hội và phát triển miền núi, vùng sâu, vùng xa

Tuy nhiên, chính sách đã có nhưng tổ chức cung cấp cácdịch vụ xã hội cơ bản còn nhiều bất cập; hệ thống cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản ở những vùng, miền này còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng Người nghèo tại các vùng đồng bào DTTS và miền núi vẫn chưa được hưởng lợi nhiều từ các chính sách, chương trình giảm nghèo, tỷ lệ tiếp cận với hệ thốngdịch vụ xã hội cơ bản của người nghèo tại vùng đồng bào DTTS và miền núi còn rất hạn chế Mặc dù đã có nhiều hộ gia đình thoát nghèo, song tỷ lệ nghèo ở các hộ DTTS vẫn còn cao so với các nhóm còn lại, mức độ bình đẳng trong các cơ hội tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản còn nhiều hạn chế, bất bình đẳng giữa các vùng miền, các dân tộc còn cao

* Hoạt động truyền thông, nâng cao nhận thức

Hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người nghèo về ý thức tự lực trong lao động sản xuất, thay đổi tư duy, thói quen canh tác, áp dụng khoa học

Trang 33

kỹ thuật vào sản xuất, nhất là không trông chờ ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước Phát huy nỗ lực tự vươn lên, khuyến khích sự chủ động tham gia của người nghèo, cộng đồng dân cư cùng với việc thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện các chính sách, chương trình, dự án giảm nghèo là điều kiện để nâng cao khả năng thoát nghèo

1.4 Vai trò của thể chế về phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số

Các thể chế phát triển mạnh tại cộng đồng DTTS có những vai trò chủ yếu sau đây: thúc đẩy tiên phong và lan tỏa; thúc đẩy liên kết và hợp tác; thúc đẩy tiếng nói và giải trình; thúc đẩy tham gia và trao quyền; gìn giữ và phát huy bản sắc, văn hóa dân tộc; thúc đẩy an sinh dựa vào cộng đồng Với tất cả các thể chế nói trên, giúp phát huy nội lực cộng đồng và tăng hiệu quả hỗ trợ bên ngoài, từ đó giúp cải thiện đời sống người dân và giảm nghèo

Thúc đẩy tiên phong và lan tỏa: các thể chế truyền thống có thể hỗ trợ đắc

lực những người tiên phong trong quá trình học hỏi, thử nghiệm cái mới và chống đỡ rủi ro Các thể chế về phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối với người DTTS là kênh lan tỏa chính từ người tiên phong đến các thành viên khác trong cộng đồng Mối quan hệ “huyết thống” và hôn nhân, sinh hoạt tín ngưỡng, tâm linh lành mạnh, các thể chế kinh tế, mối liên kết tộc người và xen ghép tộc người đều có thể thúc đẩy lan tỏa

Thúc đẩy liên kết và hợp tác: Một số hợp tác xã hoạt động hiệu quả có thể

đem lại lợi ích cho các xã viên Những tổ nhóm bán chính thức và phi chính thức xuất phát từ nhu cầu liên kết, hợp tác tự nguyện là chỗ dựa quan trọng của người nghèo Một số doanh nghiệp là tác nhân thúc đẩy tiếp cận thị trường cho các mặt hàng nông sản của đồng bào DTTS Mối quan hệ giữa người dân với đại lý, dựa trên quan hệ cộng sinh cùng có lợi Hàng quán, đại lý còn là nơi người dân tìm hiểu thông tin về kỹ thuật và thị trường

Tại các cộng đồng DTTS có phong trào đi làm ăn xa, mạng lưới xã hội tạo nên sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa những người cùng dòng họ, cùng thôn bản

Trang 34

hoặc cùng dân tộc Mối quan hệ liên làng giúp các cộng đồng tương trợ lẫn nhau nhằm chia sẻ những giá trị tinh thần

Thúc đẩy an sinh dựa vào cộng đồng: Giúp công lao động là hoạt động hỗ

trợ phổ biến tại nhiều cộng đồng DTTS hiện nay Thể chế gia đình dòng họ giúp chăm sóc người già, trẻ mồ côi, người tàn tật cả về vật chất và tinh thần

Khi thiếu đói giáp hạt, đồng bào DTTS có thể xin hoặc vay một ít lương thực của anh em họ hàng Với những việc hệ trọng hơn như làm ma chay, cưới xin, gặp hoạn nạn, ốm đau , đồng bào DTTS đều cần đến sự giúp đỡ của dòng họ trong cộng đồng

Một số hoạt động cộng đồng có quỹ chung có thể giúp tiền cho hộ nghèo, hộ gặp khó khăn Những quy ước trong cộng đồng người DTTS về bảo vệ rừng có ý nghĩa quan trọng đối với phòng chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu của đồng bào DTTS

Thúc đẩy tiếng nói và trách nhiệm giải trình: Các thể chế chính thức và phi

chính thức đều có thể giúp cải thiện công khai và minh bạch thông tin, trong đó trưởng thôn đóng vai trò quan trọng nhất Các sáng kiến kết hợp giữa các thể chế chính thức và phi chính thức tạo ra hiệu ứng rất tốt trong cải thiện tiếp cận thông tin của người dân

Riêng với các tranh chấp dân sự tại địa phương, các thể chế chính thức là kênh được người dân nhờ cậy khi cơ chế “tự giải quyết” qua các thể chế phi chính thức không có tác dụng Ngược lại, các thể chế phi chính thức thực hiện rất tốt vai trò giám sát và phản hồi đối với những sáng kiến cộng đồng hoặc những chương trình, dự án có sự đóng góp của nguời dân

Thúc đẩy tham gia và trao quyền: Sự hợp nhất giữa chức năng tự quản về xã

hội, văn hóa và chức năng điều hành, tổchức các hoạt động kinh tế dẫn đến sự thành công của vịtrí trưởng thôn trong thúc đẩy tham gia và trao quyền Một số đoàn thể

có hoạt động gắn với các nhu cầu thiết thực của người dân thu hút được đông đảo hội viên tham gia Các thể chếtruyền thống thực hiện tốt nhất vai trò thúc đẩy tham gia và trao quyền của mình thông qua sự kết hợp các sáng kiến cộng đồng

Trang 35

Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa tộc người: Già làng, trưởng bản và các

hoạt động truyền thống tại một số cộng đồng DTTS vẫn thể hiện được quyền uy nhất định đối với quản lý, sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo tập quán

Một số thôn bản DTTS đã tự huy động cả cộng đồng bảo vệ rừng hiệu quả Tại một số địa bàn, đã có những động thái tích cực của cá nhân và tổ chức trong việc bảo tồn và phát triển các tri thức bản địa góp phần nâng cao đời sống của người dân

Trong bối cảnh mới, một số cộng đồng vẫn bảo tồn khá nguyên vẹn các thực hành tâm linh, tín ngưỡng truyền thống, là một phương pháp quan trọng để duy trì

“vốn xã hội”, tạo cơ hội cho người nghèo tham dự vào các sinh hoạt cộng đồng

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phát triển cộng đồng đối với dân tộc thiểu số trong giảm nghèo

* Yếu tố về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

Đảng ta đã có cách nhìn ngày càng toàn diện và đưa ra những chủ trương, biện pháp thiết thực để xoá đói, giảm nghèo, hạn chế phân hoá giàu nghèo trên cơ

sở tiến hành đồng bộ các giải pháp phát triển cơ sở hạ tầng gắn liền với phát triển văn hoá - xã hội; chú trọng đẩy mạnh việc thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, tăng cường trợ giúp với đối tượng yếu thế; tập trung triển khai

có hiệu quả các chương trình kinh tế - xã hội, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn

Thực tiễn những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đã có những chính sách, giải pháp tương đối đồng bộ, hiệu quả tập trung giải quyết vấn đề xoá đói, giảm nghèo và hạn chế phân hoá giàu nghèo mang tầm quốc gia được quốc

tế ủng hộ và đánh giá cao Thông qua các chương trình xoá đói giảm nghèo, hàng triệu hộ gia đình, hàng chục triệu người thoát khỏi đói nghèo, vươn lên làm giàu; góp phần hạn chế phân hoá giàu nghèo, thực hiện công bằng, bình đẳng và tiến bộ

xã hội Vì vậy, để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xoá đói, giảm nghèo, góp phần hạn chế phân hoá giàu nghèo, trong thời gian tới cần tập trung vào một số vấn

đề cơ bản sau:

Trang 36

Một là, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước trong

việc khuyến khích làm giàu, đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo, hạn chế phân hoá giàu nghèo Tập trung triển khai đồng bộ các chương trình xoá đói, giảm nghèo nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn; bảo đảm tính bền vững kể cả trước mắt

và lâu dài trong tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Hai là, phát huy tối đa nội lực, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc

trong xoá đói, giảm nghèo và hạn chế phân hoá giàu nghèo Việc Việt Nam trở thành các nước có thu nhập trung bình đang đặt ra những thách thức mới, nguồn hỗ trợ của thế giới cho nước nghèo sẽ không còn, “bẫy trung bình” sẽ ảnh hưởng đến tốc độ phát triển và khả năng xoá đói, giảm nghèo của đất nước Do đó, nguồn lực

để chi cho việc xoá đói, giảm nghèo sẽ chủ yếu phụ thuộc vào nội lực, từ sức mạnh của nhân dân, sức mạnh của đất nước Việc phát huy nội lực, tranh thủ, phát huy tối

đa các nguồn lực của từng cá nhân và của cộng đồng là vô cùng quan trọng cần được quan tâm nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả công tác xoá đói, giảm nghèo, hạn chế phân hoá giàu nghèo trong điều kiện mới

Ba là, có chủ trương, biện pháp tích cực, đúng đắn, công khai, minh bạch để

giải quyết vấn đề đói nghèo, hạn chế phân hoá giàu nghèo với những nội dung, hình thức mới Điểm khác biệt là đói nghèo ở nông thôn thường nhận được sự chia sẽ của người thân, gia đình, dòng họ, cộng đồng làng xóm Còn ở đô thị, do đặc điểm đời sống đô thị nên việc nhận dạng, đánh giá về đói nghèo rất phức tạp; hơn nữa khoảng cách giàu nghèo ở đô thị lại rất lớn, do đó việc thực hiện các biện pháp trợ giúp có nhiều khó khăn, bài toán giàu - nghèo ở đô thị sẽ khó giải hơn Đòi hỏi phải tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, vượt qua khó khăn hoặc các rủi ro trong đời sống

Để xoá đói, giảm nghèo, hạn chế phân hoá giàu nghèo, ngoài sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, Nhà nước còn phải có sự tham gia của cả cộng đồng, trong đó

có sự chia xẻ, đóng góp của người giàu và sự vươn lên của chính người nghèo, hộ

Trang 37

gia đình nghèo Trong điều kiện hiện nay, làm tốt công tác xoá đói, giảm nghèo, hạn chế phân hoá giàu nghèo là góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh

*Yếu tố về điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý: Những nơi xa xôi, hẻo lánh giao thông đi lại khó khăn, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ nghèo cao Do điều kiện địa lý như vậy,

họ dễ rơi vào thế cô lập với bên ngoài, khó tiếp cận được với các nguồn lực của phát triển nên việc phát triển kết cấu hạ tầng, nhất là hệ thống giao thông có ý nghĩa

to lớn đối với việc giảm nghèo

- Đất đai, địa hình: Địa hình phức tạp, đất canh tác ít, dễ xói mòn, cằn cỗi, khó canh tác, năng suất cây trồng, vật nuôi đều thấp Thiếu đất sản xuất ảnh hưởng đến khả năng đảm bảo lương thực của người nghèo và khả năng đa dạng hóa sản để hướng tới những loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, dẫn đến thu nhập của người nông dân thấp, việc tích lũy và tái sản xuất mở rộng bị hạn chế hoặc không có

- Khí hậu, thời tiết: Những vùng có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, thiên tai thường xuyên xảy ra làm cho người nghèo không thể vươn lên thoát nghèo

*Yếu tố về kinh tế

Phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết, tập trung vào phát triển giao thông và kết cấu hạ tầng, xóa đói, giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước

*Yếu tố về xã hội

Tình trạng đói nghèo liên quan chặt chẽ với sự gia tăng dân số và cơ cấu dân

cư Do sinh đẻ nhiều, thời gian lao động và thu nhập của hộ gia đình sẽ giảm Ngược lại nhân khẩu trong gia đình tăng lên mức thu nhập bình quân đầu người của

hộ giảm Trên gốc độ quốc gia, dân số tăng nhanh thì mức gia tăng thu nhập bình quân đầu người sẽ giảm Với một nguồn lực hạn chế phải cân đối cho một lượng

Trang 38

dân cư lớn hơn thì sẽ khó khăn cho việc huy động nguồn lực để hỗ trợ thực hiện các mục tiêu giảm nghèo Nếu cơ cấu dân số trẻ cao thì áp lực đầu tư cho giáo dục sẽ lớn, đầu tư cho phát triển sản xuất sẽ giảm dẫn đến tăng trưởng chậm

Nếu cơ cấu dân cư có tỷ lao động thấp, một lao động chính phải nuôi nhiều người ăn theo thì khả năng tăng trưởng kinh tế thấp, giảm nghèo sẽ khó khăn Hoặc nếu cơ cấu lao động phân bổ chủ yếu trong nông nghiệp, tỷ lệ lao động trong công nghiệp và dịch vụ thấp, thì đó là một bất lợi lớn cho việc tăng thu nhập, tỷ lệ tích lũy sẽ thấp cũng như tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo

Hầu những người nghèo, vùng nghèo đều có trình độ dân trí thấp Do thu nhập thấp nên việc đầu tư chăm lo cho con cái học hành của các hộ gia đình nghèo

và vùng nghèo ít được quan tâm hơn, ít được đào tạo nghề nên ít có cơ hội tìm kiếm việc làm có thu nhập cao Như vậy, nguy cơ nghèo về tri thức dẫn đến nghèo đói về mọi mặt sẽ gia tăng

Người nghèo có thu nhập thấp và thường tập trung ở vùng khó khăn nên ít có điều kiện để chăm lo sức khỏe, bệnh tất phát sinh, sức lao động suy giảm ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và chi tiêu của họ

Môi trường chính trị, xã hội và đói nghèo có mối quan hệ mật thiết với nhau Khi môi trường chính trị, xã hội ổn định và tiến bộ sẽ là điều kiện tốt để kinh tế, xã hội phát triển, nguồn lực cho giảm nghèo tăng Môi trường chính trị, xã hội ổn định

và tiến bộ, việc huy động nguồn lực cho phát triển không những thuận lợi mà còn

có điều kiện thực hiện tốt hơn phúc lợi xã hội Ngược lại, môi trường chính trị, xã hội không ổn định, thì tăng trưởng kinh tế cũng giảm, tệ nạn xã hội phát sinh, an ninh xã hội bất ổn, rối loạn thì nghèo đói sẽ gia tăng

Để hộ trợ cho người dân nghèo nói chung và người nghèo nói riêng tiếp cận tốt các dịch vụ hỗ trợ của Nhà nước đến tận người dân, tổ chức triển khai thực hiện việc chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật, các chương trình, dự án đầu tư cho người nghèo, cần có một đội ngũ cán bộ có năng lực, phẩm chất tốt để thực thi nhiệm vụ

*Yếu tố về môi trường

Trang 39

Hoạt động sản xuất là một quá trình bắt đầu từ việc sử dụng nguyên, nhiên liệu, vật tư, thiết bị máy móc, đất đai, cơ sở vật chất kỹ thuật khác, sức lao động của con người để tạo ra sản phẩm hàng hóa Những dạng vật chất trên không phải gì

khác, mà chính là các yếu tố môi trường

Các hoạt động sống cũng vậy, con người ta cũng cần có không khí để thở, cần có nhà để ở, cần có phương tiện để đi lại, cần có chỗ vui chơi giải trí, học tập nâng cao hiểu biết, Những cái đó không gì khác là các yếu tố môi trường

Như vậy, chính các yếu tố môi trường (yếu tố vật chất kể trên - kể cả sức lao động) là “đầu vào” của quá trình sản xuất và các hoạt động sống của con người Hay nói cách khác: Môi trường là “đầu vào” của sản xuất và đời sống Vì thế môi trường góp phần tăng hiệu quả lao động, cải thiện đời sống con người, giảm đói nghèo

Tuy nhiên, môi trường tự nhiên cũng lại là nơi chứa đựng, các chất thải của các quá trình hoạt động sản xuất và đời sống Quá trình sản xuất thải ra môi trường rất nhiều chất thải (cả khí thải, nước thải, chất thải rắn) Trong các chất thải này có thể có rất nhiều loại độc hại làm ô nhiễm, suy thoái, hoặc gây ra các sự cố về môi trường Quá trình sinh hoạt, tiêu dùng của xã hội loài người cũng thải ra môi trường rất nhiều chất thải Những chất thải này nếu không được xử lý tốt cũng sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

Do đó môi trường tự nhiên cũng có thể là nơi gây ra nhiều thảm họa cho con người (thiên tai), và các thảm họa này sẽ tăng lên nếu con người gia tăng các hoạt động mang tính tàn phá môi trường, gây mất cân bằng tự nhiên Các thảm hoạ đó làm cho những người nghèo bị đẩy vào tình trạng bần cùng hoá

Các cộng đồng nghèo thường sinh sống trong những khu vực môi trường rất

dễ hoặc đã bị suy giảm và nguồn tài nguyên thiên nhiên thị cạn kiệt hoặc kém chất lượng

Như vậy, họ trở nên dễ bị tổn thương do suy giảm môi trường và thiên tai, sinh kế trở nên càng ngày càng không bền vững.Các điều kiện môi trường tác động mạnh đến sinh kế, sức khỏe, an toàn của nhóm người nghèo, đặc biệt là phụ nữ và

Trang 40

trẻ em, do đó việc quản lý môi trường tốt chính là bước đột phá để giảm nghèo, tăng

trưởng bền vững

*Yếu tố về năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức quản lý và tổ chức thực hiện chính sách

Đây là nhân tố tác động không nhỏ đến mức độ đói nghèo, nhưng thường bị

bỏ qua và chậm đổi mới, được hiện tập trung ở các mặt sau:

Thứ nhất, tính chất và mức độ “quan liêu’’ trong các cấp đã ảnh hưởng đến

giải quyết vấn đề đói nghèo, thực hiện những chủ trương, chính sách xóa đói giảm nghèo trong thời gian qua biểu hiện ở các hoạt động:

- Cứu trợ người dân nghèo trong các đợt thiên tai bão lũ, sạt lở đất tại một số địa điểm thôn chưa kịp thời ứng cứu làm diện đói nghèo kéo dài và lan rộng

- Việc xác định hộ nghèo theo quy định có những lệch lạc, dựa vào quan hệ thân quen đưa vào diện nghèo những hộ không nằm trong tiêu chí nghèo, thậm chí bớt xén tiền bạc mà đáng lẽ hộ nghèo được hưởng Những sai phạm này thường ở cấp chính quyền ở cơ sở và huyện

- Chất lượng xây dựng các luật kinh tế, xã hội còn thấp so với thực tiễn, nên

“dễ thông qua nhưng khó thi hành’’ ở cấp vĩ mô Vì vậy đã có những trường hợp bất khả thi, hoặc dễ “lách luật’’ và lạm dụng chức quyền Đây là hạn chế cấp vĩ mô

Thứ hai, tình trạng lãng phí ngày càng tăng trong quá trình triển khai các dự

án kinh tế - xã hội, do chất lượng thấp trong xây dựng và thực hiện dự án, nên các

dự án không có khả năng hoàn vốn, rủi ro cao, thời gian thực hiện kéo dài, tiềm ẩn nhiều nguy cơ về tăng và đói nghèo

Tính chất hành chính quan liêu trong quan lý vĩ mô gây lãng phí ở tầm quốc gia còn do nôn nóng muốn làm tất cả, không ưu tiên và bước đi phù hợp Cách làm nặng về số lượng (người ta nói là do bệnh thành tích theo tư duy nhiệm kỳ) không chỉ gây lãng phí lớn, mà còn để lại nhiều vấn nạn cả về kinh tế và xã hội

Thứ ba, tình trạng tham nhũng tác động không chỉ đến chất lượng và hiệu

quả phát triển, mà còn trực tiếp đến đời sống nhân dân Hiện tượng tham nhũng xuất hiện cả trong lĩnh vực giáo dục, y tế, thậm chí cả trong dự án xóa đói, giảm

Ngày đăng: 04/06/2018, 10:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w