Chính sự bất bình đẳng trong sự phân công vai trò giới như vậy, nên dù phụ nữ có nhiều đóng góp cho xã hội, gia đình nhưng họ đã và đang phải chấp nhận một môi trường sống với rất nhiều
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ THỊ TRANG
DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI TẠM TRÚ
TẠI NGÔI NHÀ BÌNH YÊN HỖ TRỢ PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM
BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 876 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS LÊ THỊ QUÝ
HÀ NỘI, 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Lê Thị Quý
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
HỌC VIÊN
Đỗ Thị Trang
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI THÂN CHỦ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH 9
1.1 Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu của Người tạm trú bị bạo lực gia đình 9 1.2 Lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với người tạm trú bị bạo lực gia đình 12 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội đối với Người tạm trú bị bạo lực gia đình 23 1.4 Cơ sở pháp lý về dịch vụ công tác xã hội đối với NTT bị BLGĐ 25
Chương 2: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI TẠM TRÚ TẠI NGÔI NHÀ BÌNH YÊN HỖ TRỢ PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH 30
2.1 Một số đặc điểm về địa bàn nghiên cứu 30 2.2 Thực trạng về người tạm trú bị bạo lực gia đình tại Ngôi Nhà Bình yên 36 2.3 Thực trạng hoạt động cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với Người tạm trú bị bạo lực gia đình tại Ngôi Nhà Bình yên 40 2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với NTT bị BLGĐ tại NNBY 47 2.5 Đánh giá dịch vụ công tác xã hội đối với NTT bị BLGĐ từ thực tiễn NNBY 49
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI TẠM TRÚ TẠI NGÔI NHÀ BÌNH YÊN HỖ TRỢ PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH 60
3.1 Một số biện pháp trong việc sử dụng công cụ để làm việc với người tạm trú bị bạo lực gia đình 61 3.2 Thử nghiệm các biện pháp đề xuất 67 3.3 Một số định hướng trong phát triển các dịch vụ công tác xã hội đối với NTT tại NNBY 73 3.4 Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ công tác xã hội đối với người tạm trú tại NNBY 76
KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy Trung tâm Phụ nữ Phát triển 35 2.2 Đánh giá nhu cầu của Người tạm trú bị bạo lực gia đình 37 2.3 Dịch vụ công tác xã hội đã cung cấp đối với NTT bị BLGĐ 40
2.4
Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến thực trạng cung
cấp dịch vụ công tác xã hội đối với người tạm trú bị bạo lực gia
đinh của Cán bộ xã hội
47
2.5 Mạng lưới chuyển tuyến và cung cấp dịch vụ của Ngôi Nhà Bình
yên
53
2.6 Đánh giá kết quả sau khi tiến hành thử nghiệm 72
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
2.1 Nhu cầu của người tạm trú bị bạo lực gia đình 39
2.2 Thực trạng về Người tạm trú bị bạo lực gia đình tại Ngôi Nhà Bình
2.3 Mức độ phổ biến của các hình thức bạo lực đối với phụ nữ 36
2.5 Thực trạng việc tuân thủ các nguyên tắc khi làm việc với NTT bị
BLGĐ
46
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bạo lực gia đình (BLGĐ) hiện đang là tình trạng diễn ra ở mọi quốc gia, mọi nền văn hóa Hậu quả của BLGĐ gây ra là nỗi đau đặc biệt nghiêm trọng, không chỉ gây tổn thương đến sức khỏe thể chất, tinh thần, danh dự của các thành viên trong gia đình
mà còn vi phạm pháp luật và các giá trị chuẩn mực xã hội Nạn nhân chủ yếu của BLGĐ là phụ nữ, theo thống kê của tổ chức y tế thế giới năm 2005 có khoảng 20-50% phụ nữ chịu hậu quả nghiêm trọng do BLGĐ
Tại Việt Nam phụ nữ đang phải giữ vai trò kép vừa có những đóng góp to lớn trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước lại vừa bị gán cho vai trò trung tâm trong việc “giữ lửa”- chăm lo cuộc sống gia đình, nuôi dưỡng, giáo dục con cái, giữ gia đình yên ấm Chính sự bất bình đẳng trong sự phân công vai trò giới như vậy, nên dù phụ
nữ có nhiều đóng góp cho xã hội, gia đình nhưng họ đã và đang phải chấp nhận một môi trường sống với rất nhiều đổ áp lực và chịu các hành vi bạo lực từ chính xã hội và gia đình của mình: theo kết quả từ Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam có 58,3% phụ nữ đã từng kết hôn đã trải qua ít nhất một loại hình bạo lực gia đình (BLGĐ) tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời họ (có nghĩa là cứ 3 phụ nữ đã lấy chồng thì có 2 người đã từng bị bạo lực) và 34% đã chịu đựng bạo lực thể xác và/ hoặc bạo lực tình dục; 73% phụ nữ cho rằng BLGĐ là điều bình thường; trên 50% đã bị lạm dụng tình cảm trong suốt cuộc đời họ, 87% nạn nhân bị bạo lực gia đình không tìm kiếm sự hỗ trợ từ các đoàn thể, chính quyền địa phương (GSO, 2010) Theo thống kê của lực lượng Công an Hà Nội, các vụ trọng án do xung đột, mâu thuẫn tức thời trong đời sống sinh hoạt, nhất là sát hại người cùng gia đình chiếm hơn 60%
số vụ giết người năm 2014 Và theo con số thống kê từ 679 nạn nhân bị BLGĐ đã đến
ở Ngôi Nhà Bình yên (NNBY) từ năm 2007, thì có tới hơn 75% phụ nữ bị từ 3 hình thức bạo lực trở lên bởi chồng Những con này cho thấy mức độ nghiêm trọng của nạn BLGĐ và bạo vấn nạn bạo lực đối với phụ nữ ở Việt nam
BLGĐ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nạn nhân, trẻ em, chính thủ phạm và thành viên khác trong gia đình, cũng như tổn hại về kinh tế và an ninh xã hội Các hậu quả có thể diễn ra ngắn hạn hoặc dài hạn, và ảnh hưởng lên thể chất, tâm lý, xã hội Sức khỏe và năng lực sống của nạn nhân có thể chịu tác động trước mắt hoặc lâu dài, nghiêm trọng, bao gồm cả tổn hại tới các trẻ em phải chứng kiến bạo lực hoặc bị bạo lực cùng mẹ Tuy nhiên, tại Việt Nam chưa có nghiên cứu, báo cáo nào liên quan đến
Trang 7hậu quả toàn diện, mang tính chiều sâu do BLGĐ tác động đến phụ nữ, trẻ em, gia đình, cộng đồng Chính vì vậy, cộng đồng và đặc biệt là các nhà lập chính sách vẫn chưa có cái nhìn thấu đáo về hậu quả của BLGĐ, chưa có chính sách nhạy cảm giới, đảm bảo sự an toàn của phụ nữ, trẻ em và các quyền hợp pháp của họ
Ngôi Nhà Bình yên là một mô hình công tác xã hội được hỗ trợ kỹ thuật từ các chuyên gia Đan mạch, Úc, nơi đây cung cấp cho thân chủ gói hỗ trợ toàn diện tối thiểu nhằm giúp họ hồi phục và tự vững để giải quyết câu chuyện bạo lực của mình Trong quá trình hỗ trợ phụ nữ, trẻ em, NNBY hiểu rất rõ bạo lực gia đình tác động đến mọi khía cạnh thân chủ Do vậy, việc cung cấp dịch vụ nhằm hỗ trợ người tạm trú (NTT) đáp ứng nhu cầu và giải quyết vấn đề mà họ đang gặp phải là một vấn đề trọng tâm nhằm góp phần đảm bảo an sinh xã hội, giảm thiểu vấn nạn do bạo lực gây ra Vấn đề đặt ra là làm thế nào để các hoạt động trợ giúp NTT mang tính chuyên nghiệp, toàn diện, hiệu quả và đáp ứng được nhu cầu thực tiễn, giúp họ có được các kỹ năng cần
thiết, phát huy khả năng và hồi gia bền vững là lý do để tôi chọn đề tài: “Dịch vụ công tác xã hội với Người tạm trú tại Ngôi Nhà Bình yên hỗ trợ phụ nữ và trẻ em bị bạo lực gia đình” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ ngành công tác xã hội
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
2.1 Nghiên cứu của Quốc tế
Bạo lực gia đình không phải là vấn đề của một gia đình hay chỉ tồn tại ở một vài nước mà BLGĐ, đặc biệt là bạo lực với phụ nữ đang trở thành vấn đề phổ biến trong tất cả các nước trên toàn cầu Do tính chất phức tạp và mức độ nghiêm trọng cũng như ảnh hưởng của BLGĐ đến nền an sinh của mỗi cá nhân và toàn xã hội, nhiều quốc gia trên thế giới (Trích từ "Bạo lực đối với Phụ nữ", WHO, FRH/ WHD/ 97.8,)
Các nghiên cứu quốc tế đã chứng minh mối liên hệ giữa bạo lực đối với sức khỏe thể chất và tinh thần, với chi phí do bạo lực gia đình và bạo lực gây ra bởi bạn tình ở gia đình và cộng đồng tại các nước công nghiệp hóa và các nước đang phát triển (ICRW,2005; Duvvury, 2004)
Nhiều nghiên cứu khác cũng chứng minh tác động tiêu cực của BLGĐ đến quá trình phát triển mục tiêu thiên niên kỷ (Duvvury, 2009)
Tại Thái Lan: 20% trong số 619 người đàn ông được hỏi cho rằng đã từng bạo lực vợ Tại Israel: nghiên cứu 1.826 phụ nữ được hỏi có tới 32% họ trả lời đã từng bị BLGĐ bởi người chồng/người yêu 30% bị cưỡng ép tình dục
Estonia: 29% trong số 2.315 phụ nữ được hỏi đã từng bị BLGĐ và 52% số họ là
Trang 8người già cao hơn 65 tuổi
Tajikistan: 23% trong số 550 phụ nữ được hỏi đã từng bị BLGĐ
Trung Quốc: theo báo cáo của chính phủ có tới 305 gia đình có bạo lực; Hàn Quốc 40-60% phụ nữ bị bạo lực, Nhật Bản 60% phụ nữ được hỏi cho là đã từng bị bạo lực; Thái Lan 20%, Malaxia 39% (K.Soin, 2001)
Tại Mỹ: Theo điều tra năm 2001 ở Mỹ số người chết do BLGĐ là 691.710 người, trong đó có 588.490 nạn nhân là phụ nữ (PN) chiếm 85%, chỉ có 103.220 nạn nhân là nam giới chiếm 15% (Family violence prevention Fund, 2004)
Kể từ năm 2011 tới nay, các nghiên cứu mới về bạo lực giới, gồm cả một nghiên cứu về những tổn hại về mặt chi phí của BLGĐ (Duvvury, 2012) đã mở rộng thêm hiểu biết về các hình thức, mức độ phổ biến và hậu quả của BLGĐ, cũng như các khoảng trống trong chính sách và chương trình
Báo cáo “Nghiên cứu sâu về bạo hành với phụ nữ” của Nguyên tổng thư ký Liên hiệp quốc Kofi Annan được trình bày tại kỳ họp lần thứ 61 của Đại hội đồng LHQ thể hiện rõ tình hình bạo lực với phụ nữ diễn ra ở 71 quốc gia Trong báo cáo nghiên cứu, tổng thư ký làm rõ các yếu tố nguy cơ gây ra bạo lực với phụ nữ và việc sử dụng bạo lực để giải quyết xung đột, kể cả sự thờ ơ của nhà nước Những hoạt động khả thỉ để giải quyết vấn nạn này chú trọng vào luật pháp, cung cấp dịch vụ và phòng ngừa Tuy nhiên cũng vô số thách thức đặt ra như: thiếu hụt cách tiếp cận toàn diện và có lồng ghép, thiếu ngân quỹ, chế tài xử phạt với người gây bạo lực
Năm 1992, tác giả Margaret Schuler (chủ biên) và cộng sự có tác phẩm “Freedom from Violence – Womens Strategies from Around the World” (Từ bạo lực đến chiến lược toàn cầu của phụ nữ) đã phản ánh tình trạng bạo lực chống phụ nữ tồn tại ở các nước đang phát triển thuộc Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ Latinh Tính đa dạng của hoàn cảnh, văn hóa, nguyên nhân, các hình thức bạo lực mà tác giả đề cập đã nói lên tính phổ biến của các dạng bạo lực chống phụ nữ, trong đó có bạo lực gia đình Từ đó giúp người đọc có cái nhìn toàn cảnh về vấn đề và chiến lược liên quan đặc biệt là mở rộng hoạt động truyền thông, cải cách luật pháp và chuỗi hành hành động chống bạo lực
Tác phẩm “”Loving to Survive - Sexual Terro Men’s Violence and Women’s Live” (Tình yêu và sự sống sót - sự khủng bố tình dục của đàn ông và cuộc sống của phụ nữ) của Dee L.R Graham và hai đồng nghiệp là Edna Rawlings và Roberta K.Rigsby đã phân tích các ảnh hưởng của bạo lực nam giới đối với phụ nữ và tâm lý của họ Tình trạng hiện tại của phụ nữ là ở dạng nô lệ, bị giam cầm, thậm chí liên tục
Trang 9bị đánh sẽ làm mất khả năng xây dựng năng lực, xem mình đần độn, ngu dốt, không có giá trị Đây không phải là vấn đề mang tính tự nhiên mà là một vấn đề xã hội Cũng chính trong tác phẩm này các tác giả cũng cho rằng chỉ có thuyết nữ quyền cấp tiến là thừa nhận bạo lực của Nam giới đã ảnh hưởng tới cuộc sống của người phụ nữ và con cái họ [23]
2.2 Nghiên cứu của Việt Nam
Tại Việt Nam có nhiều tác giả nghiên cứu về BLGĐ, các dịch vụ công tác xã hội: Tác giả Lê Thị Quý là người đầu tiên nghiên cứu về bạo lực gia đình (BLGĐ) ở Việt Nam, bắt đầu từ năm 1989 Thời điểm đó, đây là vấn đề nhạy cảm vì “không ai muốn nói đến cái xấu trong gia đình” năm 1994 đã công bố nghiên cứu đầu tiên
“BLGĐ ở Việt Nam” in trên tạp chí Khoa học và phụ nữ “trong đó đã xác định năm nguyên nhân chính của BLGĐ là nguyên nhân kinh tế, nguyên nhân nhận thức, nguyên nhân văn hóa – xã hội, nguyên nhân sức khỏe và nguyên nhân thuộc về phụ nữ”
Năm 1999 công trình nghiên cứu của Vũ Mạnh Lợi, Vũ Tuấn Huy, Nguyễn Hữu Minh về “bạo lực trên cơ sở giới” được tiến hành tại 3 tỉnh: Hà Nội, Huế, TP Hồ Chí Minh Các tác giả đã đi sâu nghiên cứu “thái độ của cộng đồng và các cơ chế xã hội về bạo lực trên cơ sở giới cũng như các phản ứng của cá nhân, luật pháp và các thể chế đối với BLGĐ”
Năm 2001, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam dã thực hiện đề tài “BLGĐ đối với phụ nữ tại Việt Nam” nghiên cứu tại 3 tỉnh Lạng Sơn, Thái Bình và Tiền giang đề tài
đã tìm hiểu nhận thức, thái độ của người dân và cán bộ thi hành pháp luật của các tổ chức đoàn thể xã hội Đồng thời đề tài cũng chỉ ra những hậu quả nặng nề của BLGĐ đối với phụ nữ
Theo kết quả điều tra về thực trạng bình đẳng giới năm 2004 – 2005 (Nguyễn Vân Anh, 2005), có 21,2% phụ nữ cho biết đã từng bị chồng chửi trong 12 tháng trước khi khảo sát
Theo thống kê của Toà án nhân dân tối cao, nguyên nhân ly hôn do “mâu thuẫn
vợ chồng, đánh đập, ngược đãi” 8 tháng đầu năm 2003 là 22.997 vụ trong tổng số 41.326 vụ, chiếm 55,6% và trong năm 2005, tỷ lệ này chiếm 60,3% các vụ ly hôn Kết quả khảo sát của Uỷ Ban các vấn đề xã hội tại 8 tỉnh thành năm 2006 cho thấy có 23% gia đình có bạo lực về thể chất, 25% về bạo lực tinh thần và 30% có hành
vi ép buộc quan hệ tình dục
Trong hội thảo về biện pháp phòng chống bạo lực gia đình tổ chức tại Thành phố
Trang 10Hồ Chí Minh, bác sĩ Nguyễn Minh Tiến – một chuyên gia trong lĩnh vực tâm lý trị liệu
có bài tham luận “Làm việc với thân chủ có vấn đề bị bạo hành trong gia đình” bài tham luận đã phản ánh thực trạng bạo lực gia đình tại Việt Nam Từ đó tác giả đưa ra các dấu hiệu nhận biết, các biện pháp hỗ trợ nạn nhân lập tức cũng như lâu dài
Tác giả, Nguyễn Hữu Minh, viện gia đình và giới có bài tham luận “vai trò của các tổ chức trong phòng chống bạo lực gia đình” trình bày tại hội thảo về việc triển khai thi hành luật BĐG và luật phòng chống bạo lực gia đình tổ chức ở thành phố Yên Bái Tham luận chỉ rõ vai trò và nhiệm vụ của các tổ chức, các cấp trước những yêu cầu của luật phòng chống BLGĐ
Liên hợp quốc định nghĩa Dịch vụ xã hội cơ bản là các hoạt động dịch vụ cung cấp những nhu cầu cho các đối tượng nhằm đáp ứng những nhu cầu tối thiểu của cuộc sống (UN – Africa Spending Less on Basic Social Services) Các dịch vụ xã hội là các hoạt động của nhân viên xã hội và những nhà chuyên nghiệp khác nhằm nâng cao sức khỏe và chất lượng sống của con người và giúp đỡ con người không phụ thuộc; củng
cố các mối quan hệ gia đình; khôi phục chức năng xã hội đối với cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng (Whitaker anh Federico, 1990)
Theo Soer Mary Trần Thị Kim Loan dịch vụ xã hội là các tổ chức cá nhân và xã hội thực hiện các hoạt động xã hội đáp ứng các nhu cầu bình thường và đặc biệt của cá nhân và gia đình đảm bảo các quyền cơ bản của con người nhằm đem lại sự phát triển
và cải thiện cuộc sống Hệ thống dịch vụ xã hội bao gồm nhiều lĩnh vực như: y tế, giáo dục, an sinh, nông nghiệp, hạ tầng cơ sở
Theo tác giả Hà Thị Thư, dịch vụ công tác xã hội là việc cung cấp các hoạt động mang tính chất phòng ngừa – khắc phục rủi ro và hòa nhập cộng đồng cho các nhóm đối tượng yếu thế dựa trên các nhu cầu cơ bản của họ nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội
Tại bài viết ”Một số kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với việc phát triển các dịch vụ trong công tác bảo vệ trẻ em” của tác giả Đỗ Ngọc Phương nêu
rõ sự cần thiết phải phát triển dịch vụ công tác xã hội với trẻ em và các mô hình dịch
vụ công tác xã hội mang tính liên tục
Tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2015) trong bài “Thực trạng mạng lưới dịch vụ xã hội ở Việt Nam – Những khuyến nghị” viết: Mạng lưới dịch vụ xã hội là một tập hợp các dịch vụ trong hệ thống xét theo góc độ tính chất đó là dịch vụ việc làm; đào tạo nghề; tư vấn; tham vấn, tư vấn tâm lý; sức khỏe; pháp lý; cung cấp thông tin chính
Trang 11sách; hỗ trợ thu nhập dịch vụ hỗ trợ các đối tượng yếu thế hòa nhập xã hội, tái hòa nhập gia đình, cộng đồng và dịch vụ hòa giải, biện hộ các vấn đề xã hội Xét từ gốc độ quản lý mạng lưới dịch vụ xã hội bao gồm dịch vụ công lập (do nhà nước), ngoài công lập (phi chính phủ, ngoài nhà nước), dịch vụ tư nhân, mạng lưới dịch vụ của tôn giáo,
và của các tổ chức dân sự xã hội khác Một cách phân loại khác dựa vào đối tượng hưởng lợi đó là mạng lưới cung cấp dịch vụ cho trẻ em, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, người cao tuổi, người có HIV/AIDS, người khuyết tật, phụ nữ bị bạo hành Dịch
vụ công tác xã hội cho nhóm yếu thế là các hoạt động có chủ đích của con người nhằm phòng ngừa - hạn chế và khắc phục rủi ro, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu cơ bản và thúc đẩy khả năng hòa nhập cộng đồng, xã hội cho nhóm đối tượng yếu thế Như vậy BLGĐ là một trong những vấn đề xã hội xảy ra hầu hết ở các quốc gia trên thế giới từ những nước nghèo ở khu vực châu phi đến những nước phát triển như
Mỹ, Nga, Trung quốc…đến cả những nước có nền an sinh xã hội và CTXH phát triển như Canada, Philippin
Với các công trình nghiên cứu về BLGĐ, các dịch vụ xã hội nêu trên đã phân tích được thực trạng, nguyên nhân của nạn BLGĐ Điều này cũng phản ánh được những lo ngại, băn khoăn chung của các nhà nghiên cứu trước sự gia tăng của nạn BLGĐ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận về DVCTXH đối với NTT, chỉ ra thực trạng DVCTXH đối với NTT tại Ngôi Nhà Bình yên hiện nay Từ đó đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp nâng cao chất lượng DVCTXH đối với NTT tại Ngôi Nhà Bình yên hỗ trợ phụ nữ và trẻ em bị BLGĐ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục đích nghiên cứu đề ra, luận văn thực hiện các nhiệm vụ:
Một là: nghiên cứu cơ sở lý luận về DVCTXH đối với NTT bị BLGĐ thông qua
việc thu thập tài liệu thứ cấp
Hai là: Điều tra xã hội học nhằm đánh giá thực trạng DVCTXH đối với NTT tại
NNBY Các yếu tố ảnh hưởng đến việc cung cấp DVCTXH đối với NTT tại đây
Ba là: đưa ra được một số định hướng và các giải pháp cơ bản để nâng cao chất
lượng DVCTXH đối với NTT tại NNBY hỗ trợ PN và TE bị BLGĐ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 12Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loại hình DVCTXH đối với NTT tại NNBY hỗ trợ PN và TE bị BLGĐ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Địa bàn: nghiên cứu được tiến hành tại NNBY hỗ trợ PN và TE bị BLGĐ thuộc
Trung tâm Phụ nữ và Phát triển- Hội liên Hiệp PNVN
- Thời gian: từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 3 năm 2018
- Phạm vi đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu các DVCTXH đối với
NTT: dịch vụ cung cấp nơi ăn ở an toàn, dịch vụ chăm sóc – sức khỏe; dịch vụ hỗ trợ tâm lý; dịch vụ hỗ trợ pháp lý; dịch vụ hỗ trợ nâng cao kỹ năng sống; dịch vụ vui chơi, giải trí; dịch
vụ học tập và đào tạo nghề; dịch vụ hỗ trợ đào tạo nghề; dịch vụ theo dõi hồi gia cho NTT
4.3 Khách thể nghiên cứu
- 60 NTT (phụ nữ bị bạo lực) tại NNBY hỗ trợ PN và TE bị BLGĐ
- Phỏng vấn sâu 12 cán bộ, nhân viên đang cung cấp DVCTXH đối với NTT
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn sử dụng các nguyên tắc phương pháp luận cơ bản trong nghiên cứu khoa học xã hội Đặc biệt nghiên cứu, thu thập, xử lý, khái quát hóa những thông tin, những nghiên cứu thuộc các vấn đề liên quan đến đề tài từ đó phân tích, tổng hợp
nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu: “Dịch vụ công tác xã hội với người tạm trú tại Ngôi Nhà Bình yên hỗ trợ phụ nữ và trẻ em bị bạo lực gia đình” 5.2 Phương pháp nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng của DVCTXH hỗ trợ cho NTT tại NNBY hỗ trợ PN và TE
bị BLGĐ đã đáp ứng với nhu cầu thực tế hay chưa? Nhu cầu của NTT gồm những gì? Những yếu tố nào tác động đến việc cung cấp DVCTXH tại NNBY hỗ trợ PN và TE
bị BLGĐ, nghiên cứu sử dụng các phương pháp sau đây:
Phương pháp CTXH cá nhân với NTT: được áp dụng để nghiên cứu về NTT tại
NNBY hỗ trợ PN và TE bị BLGĐ, dựa trên cách tiếp cận theo nhu cầu của Maslow, tiếp cận dựa trên quyền, tiếp cận vì lợi ích tốt nhất, các kỹ năng phỏng vấn, lắng nghe, tham vấn, đánh giá vấn đề,… trong suốt quá trình nghiên cứu và làm việc với NTT
Phương pháp CTXH với gia đình: các kỹ năng thiết lập mối quan hệ, phỏng vấn,
tham vấn, thu thập thông tin, đánh giá vấn đề… trong quá trình nghiên cứu và làm việc với gia đình NTT
Phương pháp phỏng vấn sâu: tác giả xây dựng mẫu phiếu phỏng vấn sâu dành
Trang 13cho 12 Cán bộ quản lý mô hình và điều phối hoạt động của NNBY nhằm thu thập các thông tin từ người cung cấp dịch vụ và những người hỗ trợ TC về khả năng đáp ứng cũng như tính hiệu quả của các dịch vụ, hoạt động trợ giúp cho NTT Đồng thời cũng nhằm kiểm tra lại mức độ tin cậy của các thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu thu thập qua điều tra, quan sát
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Điều tra 60 thân chủ đang tạm trú tại Nhà
Bình yên để khảo sát về nhu cầu hỗ trợ cũng nhưchất lượng cung cấp dịch vụ
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm rõ thêm những vấn đề lý luận trong DVCTXH đối với nạn nhân bị BLGĐ, chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng cũng như làm rõ thêm các cơ sở pháp lý trong cung cấp DVCTXH đối với nạn nhân BLGĐ nói riêng và nạn nhân bị BLG nói chung, góp phần tích cực vào công tác hỗ trợ PN và TE bị BLGĐ và BL trên CS Giới
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài đề xuất một số định hướng và giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả DVCTXH đối với NTT tại NNBY Kết quả nghiên cứu có thể là nguồn tài liệu tham khảo cho tổ chức và cá nhân nghiên cứu về DVCTXH đối với nạn nhân bị BLGĐ
Dưới góc độ tiếp cận của các lý thuyết, phương pháp công tác xã hội, nghiên cứu góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý mô hình, cán bộ nhân viên NNBY đang cung cấp các DVCTXH tại các nhà tạm lánh hoặc các địa chỉ tin cậy Nghiên cứu giúp họ nhận thức đúng về hoạt động công tác xã hội chuyên nghiệp, ý thức được vai trò của mình trong các hoạt động Đây là nhân tố quyết định chất lượng các DVCTXH đối với nạn nhân bị BLGĐ
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung chính gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về DVCTXH đối với NTT là nạn nhân của BLGĐ
Chương 2: Thực trạng DVCTXH đối với NTT tại NNBY hỗ trợ phụ nữ và trẻ em
bị BLGĐ tại NNBY
Chương 3: Đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng DVCTXH đối với NTT tại NNBY thuộc Trung tâm Phụ nữ và Phát triển
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI
VỚI THÂN CHỦ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH
1.1 Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu của Người tạm trú bị bạo lực gia đình
1.1.1 Khái niệm người tạm trú và người tạm trú bị bạo lực gia đình
1.1.1.1 Người tạm trú là gì?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật cư trú.Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú Vậy: Người tạm trú là những người sinh sống tại 1 khu vực trong khoảng thời gian nhất định và có đăng ký tạm trú theo thủ tục mà pháp luật Việt Nam quy định
Người tạm trú bị bạo lực gia đình tại Ngôi nhà Bình yên: là những người bị bạo lực bởi các thành viên trong gia đình, bị mất an toàn hoặc gây nguy hiểm đến tính mạng, phải đến tạm lánh tại Ngôi nhà Bình yên trong khoảng thời gian nhất định (Tối thiểu là 3 tháng) và có đăng ký với chính quyền tại địa chỉ có Ngôi nhà Bình Yên
Khái niệm bạo lực
Từ các góc độ nghiên cứu khác nhau, gia đình được chia thành nhiều dạng thức: gia đình hiện đại và gia đình truyền thống; gia đình hạt nhân và gia đình đa thế hệ; gia đình khuyết thiếu và gia đình đầy đủ…
Trong tiếng Việt, bạo lực được hiểu là "sức mạnh dùng để cưỡng bức, trấn áp hoặc
lật đổ" Khái niệm này dễ làm người ta liên tưởng tới các hoạt động chính trị, nhưng trên
thực tế bạo lực được coi như một phương thức hành xử trong các quan hệ xã hội nói chung Các mối quan hệ xã hội vốn rất đa dạng và phức tạp nên hành vi bạo lực cũng rất phong phú, được chia thành nhiều dạng khác nhau tùy theo từng góc độ nhìn nhận: bạo lực nhìn thấy và bạo lực không nhìn thấy được; bạo lực với phụ nữ, với trẻ em…
Trang 15Bạo lực đối với phụ nữ là “Bất kì một hành động bạo lực dựa trên cơ sở giới nào dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến những tổn hại về thân thể, tình dục, tâm lý hay những đau khổ của phụ nữ, bao gồm cả sự đe dọa có những hành động như vậy, sự cưỡng bức hay tước đoạt một cách tùy tiện sự tự do, dù nó xảy ra ở nơi công cộng hay trong cuộc sống riêng tư” [24]
+ Theo Quĩ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA):
“Bạo lực trên cơ sở giới là bạo lực giữa nam giới và phụ nữ trong đó phụ nữ thường là nạn nhân Điều này bắt nguồn từ các mối quan hệ quyền lợi bất bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ Bạo lực trên cơ sở giới bao gồm những tổn hại về thân thể, tình dục và tâm lý (bao gồm cả sự đe dọa, gây đau khổ, cưỡng bức, hoặc tước đoạt sự tự
do xảy ra trong gia đình hoặc trong cộng đồng), nhưng nó không hạn chế chỉ ở những dạng này [23]
(Trong đề tài này chúng tôi sử dụng khái niệm Bạo lực gia đình của Luật Phòng chống bạo lực gia đình)
+ Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự nhân phẩm
+ Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng + Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà
và cháu; giữa cha, mẹ và con cái; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau
+ Cưỡng ép quan hệ tình dục
+ Cưỡng ép tảo hôn, kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ + Chiếm đoạt, hủy hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình + Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng lao động của họ, kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình
+ Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở
Theo đó, các loại hành vi kể trên có thể chia thành hai nhóm chính gồm: hành vi BLGĐ về thể chất và hành vi BLGĐ về tinh thần:
* Hành vi BLGĐ về thể chất [24]:
Trang 16- Dùng chân, tay để tát, đấm, đá, đạp, kéo tóc, bóp cổ
- Có lời nói hay hành vi đe dọa, tống tiền, tống tình
- Kiểm soát quan hệ xã hội, ngăn cản hoặc cấm không cho tự do giao tiếp xã hội, giam lỏng trong nhà
- Cố ý gây áp lực làm đối phương căng thẳng và phải chấp nhận điều gì đó mà họ không muốn
- Không cho hoặc dọa không cho gặp mặt, nuôi dưỡng con cái
- Dùng lời nói hay hành động ngăn cản, đe dọa không cho ly hôn
Như vậy: Hành vi BLGĐ được thể hiện rất đa dạng Tuy nhiên, trên thực tế “nó thường được che giấu hay ngấm ngầm tha thứ” (Phát biểu của Tổng thư kí Liên Hiệp Quốc tại chiến dịch toàn cầu “Nói không với bạo hành phụ nữ” năm 2008) Để có thể giúp mọi người nhận ra được hành vi BLGĐ và cùng nhau lên tiếng một cách đanh thép, dõng dạc ở cấp cao nhất rằng bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em ở bất kì hình thức nào, vào bất kì tình huống nào và trong bất kì hoàn cảnh nào đều không thể dung tha thì giải pháp chính là “Làm thay đổi thái độ, quan niệm của xã hội đối với hành vi BLGĐ để hành vi đó không còn được coi là bình thường hay có thể chấp nhận trong cuộc sống gia đình như vẫn thường diễn ra từ trước đến nay” [Phát biểu của Bà Maniza Zaman – Phó đại diện Unicef tại Việt Nam năm 2008
1.1.1.4 Nguyên nhân bạo lực gia đình
Những yếu tố như rượu, ma tuý, cờ bạc, nghèo đói,… thường được xem là yếu tố châm ngòi Đây lại không phải là nguyên nhân gốc rễ của những hành vi bạo lực Mọi tầng lớp trong xã hội, trình độ văn hóa và bất kể giàu nghèo, tôn giáo, dân tộc, giới tính, thành thị hay nông thôn đều có thể trở thành người sử dụng hành vi bạo lực hoặc người bị bạo lực
Trang 17Nạn nhân của bạo lực gia đình gồm cả nam và nữ, nhưng trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn đề cập tới nạn nhân là phụ nữ vì 95% các trường hợp là phụ
nữ bị bạo lực
Những nghiên cứu đã chỉ ra rằng nghèo đói, học thức, hay các chất kích thích như bia, rượu, ma túy, không phải là nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình Nguyên nhân tiềm ẩn sâu xa xuất phát chính từ mối quan hệ bất bình đẳng về giới, về quyền lực đã tồn tại trong xã hội với nhiều định kiến “đồng ý” người đàn ông thực hiện các hành vi bạo lực và người phụ nữ cam chịu, chấp nhận xem đó như điều hiển nhiên Đây được xem là "xã hội gia trưởng"
Hình 1: Nguyên nhân của bạo lực gia đình xét theo các cấp độ: cá nhân, gia
Dịch vụ xã hội là các hoạt động cụ thể được xây dựng trên cơ sở chính sách xã hội được triển khai nhằm đáp ứng nhu cầu cá nhân, gia đình và cộng đồng, nhằm giải
Xã hội (Môi trường rộng lớn, chuẩn mực văn hóa)
Cộng đồng (hàng xóm)
Gia đình (các mối quan hệ thân thiết)
Cá nhân (thủ phạm và nạn nhân)
- Cho phép nam giới
kiểm soát hành vi của
- Cô lập người phụ nữ và gia đình
- Xung đột trong hôn nhân;
- Kiểm soát tài sản gia đình;
- Lạm dụng quyền lực trong gia đình
- Chứng kiến bạo lực gia đình khi còn nhỏ;
- Sự vắng mặt hay chối bỏ của người cha;
- Đã từng bị bạo lực khi còn nhỏ
Trang 18quyết những vấn đề xã hội Các dịch vụ xã hội là các hoạt động của nhân viên xã hội
và những nhà chuyên nghiệp khác nhằm nâng cao sức khỏe và chất lượng sống của con người và giúp đỡ con người không phụ thuộc; củng cố các mối quan hệ gia đình; khôi phục chức năng xã hội đối với cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng (Whitaker anh Federico, 1990) [17]
Theo tác giả Trần Hậu, Đoàn Minh Tuấn (2012) cho rằng: dịch vụ xã hội là dịch
vụ đáp ứng nhu cầu của cộng đồng cá nhân nhằm phát triển xã hội, có vai trò đảm bảo phúc lợi xã hội, đề cao giá trị pháp lý, nhân văn, vì con người; là hoạt động mang bản chất kinh tế - xã hội, do nhà nước, thị trường hoặc xã hội dân sự cung ứng, tùy theo tính chất thuần công, không thuần công hay tư của từng loại hình dịch vụ, bao gồm các lĩnh vực: giáo dục - đào tạo, y tế, khoa học - công nghệ, văn hóa - thông tin, thể dục - thể thao và các trợ giúp xã hội khác
Như vậy dịch vụ xã hội là hoạt động, đáp hỗ trợ nhằm đáp ứng nhu cầu cho các
cá nhân, nhóm người nhất định để bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội Dịch vụ công tác xã hội là các hoạt động có chủ đích của con người nhằm phòng ngừa - hạn chế và khắc phục rủi ro, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu cơ bản và thúc đẩy khả năng
hoà nhập cộng đồng, xã hội cho nạn nhân vị bạo lực gia đình
1.2.1.2 Khái niệm Công tác xã hội
Theo IFSW và IASSW (2011): Công tác xã hội được xem như một là nghề nghiệp
tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với với môi trường sống [15, tr.7]
Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2010): Công tác xã hội được xem là một nghề,
hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã
hội [32]
Như vậy, từ các quan niệm trên có thể khẳng định: CTXH là một nghề, một hoạt
động chuyên nghiệp, một khoa học thực hiện nhiệm vụ chức năng xã hội giao phó và được xã hội thừa nhận Các chính sách, chương trình và dịch vụ CTXH được triển khai
Trang 19bởi bộ máy tổ chức theo một ngành dọc và liên ngành Bên cạnh đó, CTXH được thực hiện trên một nền tảng hệ giá trị, nguyên tắc, yêu cầu nghề nghiệp theo quy định của pháp luật Đồng thời, CTXH còn là một ngành khoa học, bao gồm hệ thống kiến thức
lý thuyết và kỹ năng thực hành được đào tạo ở nhiều trình độ khác nhau
1.2.1.3 Khái niệm dịch vụ công tác xã hội
Dịch vụ công tác xã hội có thể được coi là một loại hình dịch vụ xã hội được cung cấp bởi nhân viên công tác xã hội [31]
DVCTXH là một hoạt động chuyên nghiệp của Công tác xã hội gồm hoạt động
của các nhân viên công tác xã hội hoặc những nhà hoạt động xã hội nhằm hỗ trợ, kết nối các cho các đối tượng yếu thế trong xã hội được tiếp cận các dịch vụ xã hội phù hợp để đáp ứng các nhu cầu cơ bản của các đối tượng này với mục tiêu khắc phục rủi
ro, giúp cho con người phát triển mà không bị phụ thuộc, góp phần đảm bảo an sinh xã hội [35]
1.2.1.4 Khái niệm Dịch vụ công tác xã hội với NTT bị BLGĐ:
Dịch vụ công tác xã hội cho các nhóm yếu thế chính là việc cung cấp các hoạt động mang tính chất phòng ngừa – khắc phục rủi ro và hòa nhập cộng đồng cho các nhóm đối tượng yếu thế dựa trên các nhu cầu cơ bản của họ nhằm đảm bảo các giá trị
và chuẩn mực xã hội
DVCTXH đối với NTT bị BLGĐ là hoạt động chuyên nghiệp của công tác xã hội
nhằm cung cấp các DVCTXH đầy đủ, phù hợp và đặc thù để đáp ứng, hỗ trợ các nhu cầu của NTT bị BLGĐ với mục tiêu giúp các nạn nhân khắc phục những hậu quả do BLGĐ gây ra và hỗ trợ giải quyết những khó khăn trong cuộc sống về thể chất, tinh thần, nhằm đáp ứng nhu cầu của NTT để hỗ trợ họ chấm dứt bạo lực, giúp họ có cuộc sống bình thường, được phát triển bình đẳng và hòa nhập với cộng đồng xã hội, mang lại sự công bằng và bình đẳng cho NTT trong xã hội [16]
1.1.2 Đặc điểm và nhu cầu của người tạm trú bị bạo lực gia đình
1.1.2.1 Đặc điểm của NTT bị BLGĐ
Trước tiên, khái niệm nạn nhân bị bạo lực gia đình theo Luật Phòng chống bạo lực gia đình “là người phải chịu một trong các hành vi thuộc Điều 2 – các hành vi bạo lực gia đình” nêu trên
Người tạm trú là thuật ngữ Ngôi Nhà Bình yên (nhà tạm lánh) sử dụng để gọi thân chủ (hoặc nạn nhân) bị BLGĐ là những người có các tiêu chí sau:
+ Là nạn nhân bị BLGĐ
Trang 20+ Thiếu môi trường sống an toàn hoặc/và khó khăn về kỹ năng, sinh kế (sống phụ thuộc, thiếu việc làm, )
+ Tự nguyện xin tạm lánh (viết đơn đề nghị tạm lánh tại NNBY bạo lực 3 tháng; NNBY mua bán 6 tháng)
+ Có nhu cầu hỗ trợ giải quyết vấn đề bạo lực hoặc hậu quả của bạo lực hoặc/và bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng
+ Có năng lực hành vi dân sự (không mắc các bệnh tâm thần)
Phụ nữ bị bạo lực gia đình chịu ảnh hưởng nặng nề về thể chất lẫn tinh thần
Về thể chất, sức khỏe thể chất của phụ nữ bị BLGĐ tuỳ thuộc vào tần xuất, mức
độ bạo lực, loại hình bạo lực mà họ đã trải qua; tuỳ thuộc vào nguồn lực hỗ trợ, điều kiện chăm sóc y tế và sự quan tâm của gia đình Nhiều phụ nữ bị bạo lực thể chất, sức khỏe bị giảm sút nghiên trọng; mặt mũi và thân thể bầm tím bởi những lần bị huỷ hoại,
bị đánh đập, thậm chí có người bị tàn tật suốt đời hoặc bị tử vong
Về tâm lý, đặc điểm tâm lý của mỗi phụ nữ trải qua BLGĐ không hoàn toàn giống nhau vì nó cũng tuỳ thuộc tính cách cá nhân, tuổi tác, trình độ nhận thức và mức
độ bạo lực, loại hình bạo lực mà phụ nữ đó trải qua Sau đây là một số đặc điểm nổi bật thường thấy ở nhiều nạn nhân của BLGĐ Tuy nhiên khi hỗ trợ, nhân viên xã hội cần trực tiếp đánh giá với mỗi thân chủ của mình mà không mặc định trước:
Tâm lý lo lắng, căng thẳng, sợ hãi: Con người xuất hiện lo lắng, sợ hãi là khi họ
bị ở vào tình huống nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng, đến sự an toàn của bản thân Những người cần trợ giúp trong lĩnh vực phòng, chống BLGĐ, mua bán người, xâm hại tình dục đều đã trải qua sự mất an toàn, mất hoặc khó có thể tự kiểm soát được cuộc sống của mình Do vậy, họ dễ rơi vào trạng thái bất an, hoặc cảnh giác quá mức Trạng thái này có chức năng giúp họ đảm bảo sự an toàn cho mình, nhưng ngược lại, nếu nó kéo dài sẽ gây ra sự suy kiệt về sức khỏe thể chất, khó tập trung, khó tư duy và
có vấn đề trí nhớ
Tâm trạng buồn rầu, chán nản hoặc nghĩ tới tự tử (hoặc đã từng tự tử): Cảm xúc này thường đi kèm với suy nghĩ thất vọng về bản thân, về cuộc sống, về tương lai, mọi việc không xảy ra như mình mong đợi Nếu xét về mặt suy nghĩ, họ thấy bản thân thấp kém và tự ti Vì quan niệm của xã hội sự việc xảy ra là do lỗi của người phụ nữ "cô ta phải thế nào mới bị đánh, mới bị xâm hại ", với phụ nữ bị BLGĐ, việc người chồng/ bạn tình thường dùng bạo lực tinh thần, xỉ nhục, chê bai, đổ lỗi càng khiến cho người phụ nữ nhìn nhận mình thấp hơn thực tế những giá trị họ có
Trang 21Nuôi niềm hy vọng: Phụ nữ trải qua BLGĐ thường có niềm hy vọng rằng chồng
sẽ thay đổi, đây là một trong những lý do khiến họ khó từ bỏ người gcó HVBL
Sang chấn tâm lý: Là một sự kiện gây ra sự kinh hãi hay hoảng sợ cực độ hay cảm giác bất lực vô vọng Trong quá trình sang chấn, nạn nhân trải qua cảm giác căng thẳng cực độ vì cảm giác bị đe doạ đến tính mạng, hay sự tổn thương nghiêm trọng đến thể chất và sự toàn vẹn thể chất, tinh thần của bản thân hay người khác Sự kiện sang chấn có thể phá huỷ niềm tin cơ bản của con người về: cảm giác an toàn, hình ảnh bản thân và ý nghĩa của cuộc sống Một số sự kiện sang chấn tiêu biểu như: hiếp dâm, chiến tranh, động đất, tra tấn, đánh đập Cá nhân có thể có dấu hiệu của sang chấn như sống lại sự kiện sang chấn, cảm thấy tê liệt cảm xúc, tri giác sai lệch thực tại;
Né tránh đề cập, tiếp xúc sự kiện sang chấn; và trạng thái cảnh giác, đề phòng quá mức Ngoài ra, họ còn có những khó khăn khác như trí nhớ kém hoặc suy nghĩ sai lệch; khả năng tư duy hạn chế, khó khăn trong gia quyết định và tự chủ cuộc sống
Về các mối quan hệ xã hội và giao tiếp, do nhận thức hạn chế, hoàn cảnh sống phụ thuộc, phụ nữ bị BLGĐ thường có mặc cảm với thân phận của mình; Họ thường rụt rè, tự ti, ngại tiếp xúc với bên ngoài; phạm vi giao tiếp hẹp, ít tham gia các hoạt động tập thể hoặc nếu phải tham gia thì họ cũng rất e ngại khi phải trình bày ý kiến, quan điểm của mình; Đa số là không có chính kiến, không dám lên tiếng trong các cuộc họp ở cộng đồng hoặc có ý kiến thì cũng ở mức độ rất khiêm tốn do không đủ tự tin để tham gia tích cực; Họ không dám làm những việc lớn lao, quan trọng; Họ thường nghĩ rằng mình không bao giờ làm được những việc như nam giới vẫn làm nên không dám vươn lên học hỏi những kiến thức mới, hiện đại, từ đó dẫn đến hạn chế về khả năng nhận thức và khả năng tạo thu nhập; Điều này khiến họ thu mình lại, ngại giao tiếp và tiếp xúc; tự cô lập bản thân, tự tách mình ra khỏi gia đình và cộng đồng Hơn nữa trong xã hội, nạn nhân của BLGĐ vẫn còn bị kỳ thị nên họ cũng ít được tham gia vào các hoạt động của cộng đồng với tư cách tham mưu, đóng góp ý kiến và tham gia ra quyết định về các vấn đề của cộng đồng; Điều này ảnh hưởng tới hoạt động phòng, chống BLGĐ Nếu không thực sự quan tâm tới họ, tạo điều kiện cho họ thể hiện mình và tham gia vào các hoạt động của cộng đồng thì chúng ta không thể biết họ như thế nào, họ thiếu gì, cần gì ở xã hội, cần cái gì để thay đổi tâm lý, thay đổi cách nghĩ, thay đổi quan điểm sống, thay đổi cuộc sống khó khăn của họ
Ngoài những đặc điểm trên, phụ nữ bị BLGĐ luôn phải đối mặt với những rào cản về giao tiếp, ngôn ngữ hay văn hoá Họ không tin rằng công an hay hệ thống tư
Trang 22pháp có thể ngăn chặn tình trạng bạo lực, rằng các cơ quan chức năng có thể giúp đỡ hay bảo vệ cho họ; họ hy vọng vào sự thay đổi của chồng, bao biện cho hành động của chồng, cho rằng cam chịu sống với chồng thì sẽ tốt hơn cho các con Họ không tin tưởng vào sự can thiệp, trợ giúp của chính quyền và cộng đồng Nhiều phụ nữ bị bạo lực gia đình chưa bao giờ tìm kiếm sự hỗ trợ từ các dịch vụ chính thống hoặc từ những người có thẩm quyền Nếu họ có tìm kiếm sự hỗ trợ thì cũng là khi bạo lực đã nghiêm trọng và người họ thường tìm đến là lãnh đạo địa phương Thường thì họ cảm thấy không được hỗ trợ bởi lẽ chính những cán bộ này cho rằng bạo lực gia đình là một vấn
đề thuộc phạm vi gia đình Hành vi cư xử của nạn nhân thường là cách bảo đảm sự sống còn cho chính họ
Phụ nữ bị BLGĐ còn bị lệ thuộc vào người gây bạo lực về tình cảm Họ có niềm tin mãnh liệt rằng cần phải giữ gìn quan hệ vợ chồng và các thành viên trong gia đình cần ở chung với nhau Họ tin rằng tự mình có thể giải quyết sự việc vào tương lai
1.1.2.2 Nhu cầu của Người tạm trú bị bạo lực gia đình
NTT bị BLGĐ cũng có tất cả những nhu cầu như người bình thường (Bậc thang nhu cầu của Maslow) nhưng do hậu quả của BLGĐ, đặc điểm về thể chất và tâm lý nên NTT bị BLGĐ có những nhu cầu nhu cầu đặc biệt sau đây (bên cạnh những nhu cầu cơ bản của con người):
- Nhu cầu đảm bảo an toàn của NTT bị BLGĐ là ưu tiên hàng đầu bởi vì nạn nhân đã bị bạo lực và mất an toàn ngay trong chính ngôi nhà của mình Nhu cầu về an toàn không chỉ về thể chất mà còn cả về tâm lí (nguy cơ tự tử) và được xác định trong các môi trường khác nhau: ở nhà, nơi công cộng, đền phòng tham vấn, các cơ quan chính quyền hoặc ngay cả khi đã dời bỏ khỏi người gây bạo lực Hầu hết các NTT đều phải trải qua những trạng thái tâm lý khiếp sợ người gây bạo lực
- Nhu cầu hỗ trợ, trợ giúp pháp lý: Nghiên cứu cho thấy, hầu hết những người sống trong bạo lực đều bị vi phạm quyền 1 cách nghiêm trọng Do đó, họ cần được trợ giúp pháp lý để chấm dứt tình trạng bạo lực và bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho NTT
- Nhu cầu được tham vấn và trị liệu: NTT là nạn nhân của BLGĐ nên đã trải qua rất nhiều sang chấn nặng nề đặc biệt là tinh thần nên họ có nhu cầu được lắng nghe, chia sẻ và tăng cường các kỹ năng sống nhằm giúp họ ứng phó, đối diện với tình trạng bị bạo lực
- Nhu cầu được thể hiện bản thân và được người khác tôn trọng: nhiều NTT có lòng tự trọng cao Tuy nhiên, một số người sau khi bị BLGĐ nghiêm trọng thường không nhận ra giá trị và khả năng của chính mình nên không đánh giá đúng vai trò của
Trang 23mình đối với các mối quan hệ trong xã hội Vì vậy mong muốn của họ là được thể hiện bản thân, được sự tôn trọng để xóa bỏ tình trạng đổ lỗi do NTT của cộng đồng
1.2.2 Cách tiếp cận và yêu cầu đối với nhân viên công tác xã hội khi cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho người tạm trú bị bạo lực gia đình
1.2.2.1 Tiếp cận theo nhu cầu
Tiếp cận theo nhu cầu của NTT bị BLGĐ là cách tiếp cận dựa trên việc đáp ứng tốt nhất các dịch vụ công tác xã hội đối với các nhu cầu của NTT
Đây là cách tiếp cận mang tính nhân văn vì coi trọng NTT bị BLGĐ và nhu cầu của họ Tiếp cận theo nhu cầu đặt NTT bị BLGĐ và những đặc điểm riêng của họ vào
vị trí trung tâm Mỗi đối tượng cụ thể và nhất là đối với từng cá nhân cụ thể lại có những nhu cầu khác nhau Tính nhân văn còn được thể hiện ở việc tin tưởng NTT bị BLGĐ hoàn toàn có khả năng tự giải quyết vấn đề của chính mình bởi bị họ chính là
“chuyên gia” của cuộc đời mình Đối với NTT bị BLGĐ điều này có ý nghĩa rất quan trọng vì giúp họ thấy được mình có giá trị, được tôn trọng, xóa bớt tâm lý mặc cảm và những ám ảnh tâm lý do hậu quả bạo lực gây nên
Theo nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow - người được xem là “cha đẻ” của lý thuyết nhu cầu cho rằng, hành vi của con người bắt đầu từ nhu cầu của họ Nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các bậc thang khác nhau và ông chia các nhu cầu đó thành nhu cầu cơ bản và nhu cầu bậc cao Nhu cầu cơ bản bao gồm các nhu cầu về vật chất và nhu cầu an toàn Nhu cầu bậc cao bao gồm các nhu cầu về xã hội và nhu cầu về tôn trọng, nhu cầu về phát triển [16, tr.21]
Tiếp cận theo nhu cầu sẽ giúp nhân viên xã hội tránh được việc đánh đồng và chủ quan khi cung cấp dịch vụ hỗ trợ Thay vào đó NVXH cần phải biết lắng nghe để cảm thông một cách sâu sắc với những mong muốn của NTT bị BLGĐ, họ sẽ tìm kiếm những nhu cầu thực mà NTT bị BLGĐ đang mong muốn được thỏa mãn để cung cấp đúng các dịch vụ cũng như các hỗ trợ cần thiết, hợp lý, đạt hiệu quả, tránh việc quyết định thay, làm thay hoặc không cung cấp đúng nhu cầu sẽ làm cho NTT chán nản, thiếu tin tưởng
Việc tiếp cận theo nhu cầu phải theo hai hướng là nhu cầu cần và nhu cầu cảm Nhu cầu cần là những nhu cầu cơ bản của NTT bị BLGĐ, còn nhu cầu cảm là nhu cầu
mà NVXH thấy là cần NTT
1.2.2.2 Tiếp cận Đáp ứng các nhu cầu giới thực tế và nhu cầu giới chiến lược
Nhu cầu giới là các mong muốn và đòi hỏi đặc trưng, khác biệt giữa nữ và nam
Trang 24trong một bối cảnh, điều kiện nhất định hay trong một hệ thống xã hội cụ thể
Mọi người đóng vai trò khác nhau trong gia đình và xã hội (làm cha, làm mẹ với các điều kiện xã hội, nguồn lực khác nhau), vì vậy mà nhu cầu của họ khác nhau
Để có thể áp dụng phương pháp tiếp cận dựa trên quyền trong ứng phó với bạo lực giới, chúng ta phải giải quyết cả nhu cầu giới thực tế và chiến lược của các bên liên quan, đặc biệt là phụ nữ
Nhu cầu giới thực tế là những nhu cầu có
liên quan đến cải thiện điều kiện sống
hiện tại nhưng vẫn duy trì mối quan hệ lệ
thuộc của phụ nữ vào nam giới (lệ thuộc
về kinh tế, trong việc ra quyết định…)
Nhu cầu giới chiến lược là những nhu cầu giúp cho người phụ nữ thoát khỏi vị trí lệ thuộc, yếu kém, làm thay đổi mối quan hệ bất bình đẳng giữa nam và nữ
Tập trung vào việc cải thiện chất lượng
cuộc sống tạo điều kiện sống tốt hơn cho
phụ nữ và trẻ em gái để tránh cho họ đi
vào suy nghĩ hy sinh tất cả cho các thành
viên khác trong gia đình
Tập trung vào việc thay đổi vai trò và định
kiến giới đang tồn tại (đang duy trì địa vị
thấp kém của phụ nữ), từ đó giúp cho phụ
nữ và trẻ em gái được đảm bảo quyền bình đẳng
Những nhu cầu này thường liên quan đến
điều kiện sống sót hoặc thể chất: cung
cấp thức ăn, nhà tạm lánh, quần áo, hoặc
chăm sóc sức khỏe
Thường liên quan đến việc tiếp cận với học
tập, độc lập về kinh tế, tự chủ, tự do cá nhân, sự tham gia vào chính trị và xã hội
Liên quan đến chức năng của phân công
lao động, tiếp cận và kiểm soát nguồn
lực, ra quyết định
Những thách thức của phân công lao động, tiếp cận và kiểm soát nguồn lực, ra quyết định
Đáp ứng nhu cầu giới thực tiễn là giải
quyết được các bất cập và bất bình đẳng
giới trước mắt
Đáp ứng nhu cầu giới chiến lược sẽ làm thay đổi mối quan hệ quyền lực giữa nam giới và phụ nữ, sẽ góp phần giải quyết được những nguyên nhân của bất bình đẳng giới
1.2.2.3 Tiếp cận dựa trên quyền con người
Theo từ điển tiếng Việt: “Quyền con người là những quyền tự nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào” [6]
Tiếp cận dựa trên quyền con người có chứa đựng các nguyên tắc, tiêu chuẩn và mục tiêu của hệ thống quyền con người trong quá trình lập kế hoạch, cũng như tiến trình thực hiện các hoạt động CTXH [16, tr.21]
Theo cách tiếp cận này, NTT bị BLGĐ cũng có các quyền như người bình thường Do đó, nhà nước phải có trách nhiệm thực thi, đảm bảo các quyền cho NTT bị BLGĐ để họ trở thành những công dân có ích cho sự phát triển xã hội Tuy nhiên, cách tiếp cận này không tuyệt đối hóa quyền mà lãng quên đi nghĩa vụ mà quyền và trách nhiệm phải đi đôi với nhau
Trang 25Tiếp cận dựa trên bảo đảm các quyền của NTT là cách tiếp cận các dịch vụ đảm bảo NTT bị BLGĐ được thực hiện đầy đủ các nhóm quyền của con người Ngoài ra, với cách tiếp cận theo quyền có thể đánh giá DVCTXH đối với NTT bị BLGĐ tại NNBY đã đáp ứng đầy đủ theo các quyền NTT bị BLGĐ được hưởng hay chưa? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc tiếp cận các quyền của NTT bị BLGĐ tại NNBY?
Phần lớn thân chủ tại NNBY thuộc mức độ bạo lực đặc biệt nghiêm trọng (chịu nhiều dạng bạo lực khác nhau), NTT gặp nhiều khó khăn trong nhận thức về quyền của mình Vận dụng cách tiếp cận này trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sẽ làm
rõ vai trò của nhân viên CTXH với tư cách là người biện hộ cho đối tượng khi đối tượng đã hoặc chưa nhận thức được về quyền của họ Theo nghĩa đó, nhân viên CTXH
là người kết nối giữa chủ thể mang quyền và chủ thể nghĩa vụ, là người đại diện khi chủ thể mang quyền chưa ý thức được về quyền của họ và chủ thể nghĩa vụ chưa đáp ứng được quyền cho NTT
1.2.3 Các dịch vụ công tác xã hội đối với Người tạm trú bị bạo lực gia đình
Dịch vụ hỗ trợ tại Ngôi Nhà Bình yên: Khi vào NNBY, phụ nữ, trẻ em được gọi tên thân mật là NTT, được tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ toàn diện theo phương pháp tiếp cận dựa trên quyền, với phương châm lấy NTT làm trọng tâm
1.2.3.1 Dịch vụ cung cấp nơi ăn ở an toàn
NNBY cung cấp chỗ ăn ở an toàn dài hạn cho phụ nữ và con cái họ, có nhân viên bảo vệ 24/7 và địa điểm được giữ bí mật Đối với phần lớn các phụ nữ đến với nhà tạm lánh, thì đây là lần đầu tiên sau nhiều năm họ được sống trong một môi trường không
Phụ nữ bị bạo lực gia đình
Nơi ăn ở an toàn
Dịch vụ tham vấn tâm lý
Dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Dịch vụ hỗ trợ pháp lý
Dịch vụ đào tạo nâng cao năng lực
Dịch vụ đào tạo nghề và giới thiệu việc làm
Trang 26có bạo lực và lạm dụng
Những người sống trong NNBY hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực gia đình có thể ở tối đa
3 tháng, còn những người sống trong NNBY cho phụ nữ bị mua bán người có thể ở tối
đa 6 tháng và được hỗ trợ đào tạo nghề Thời gian có thể linh hoạt theo nhu cầu của từng người
1.2.3.2 Dịch vụ tham vấn tâm lý
Dịch vụ tham vấn tâm lý dành cho phụ nữ và trẻ em luôn là ưu tiên hàng đầu, khởi điểm là cuộc nói chuyện trao đổi ban đầu tại Phòng tham vấn Các nhân viên xã hội được đào tạo kỹ lưỡng để hỗ trợ phụ nữ, trẻ em trong quá trình sống tại NNBY, bao gồm cả việc đánh giá mức độ rủi ro và tình trạng khủng hoảng
Quá trình tham vấn liên tục cho phụ nữ và trẻ em, hoặc trị liệu tâm lý là một phần của gói dịch vụ hỗ trợ trong NNBY, cũng như dịch vụ hồi gia khi phụ nữ đã rời khỏi NNBY Để dịch vụ hỗ trợ hiệu quả thông suốt,Trung tâm kí kết Thỏa thuận hợp tác với các đơn vị chủ chốt về việc cung cấp dịch vụ hỗ trợ tâm lý cho NTT
1.2.3.3 Dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Dịch vụ chăm sóc sức khỏe là dịch vụ quan trọng đặc biệt với những người từng thường xuyên chịu cảnh bạo lực gia đình nghiêm trọng và những người có các vấn đề sức khỏe do bị mua bán Tất cả phụ nữ là nạn nhân của mua bán người được kiểm tra sức khỏe, xét nghiệm các bệnh lây qua đường tình dục và được chữa trị phù hợp Nhân viên xã hội sẽ chuyển giao NTT bị tổn thương hoặc chấn thương nghiêm trọng đến các cơ sở điều trị Nhân viên xã hội sẽ hỗ trợ NTT trong quá trình liên hệ ban đầu với dịch vụ y tế Tùy theo từng trường hợp, NNBY hỗ trợ phụ nữ một phần hoặc toàn bộ chi phí chăm sóc sức khỏe
1.2.3.5 Dịch vụ đào tạo, nâng cao năng lực cho phụ nữ và trẻ em
Trẻ em dưới 6 tuổi sẽ được đưa đến vườn trẻ Hương Sen tại Trung tâm Phụ nữ
Trang 27và Phát triển Giáo viên sẽ giúp các trẻ bị bạo lực gia đình, bị xâm hại, bị mua bán tổ chức các hoạt động giáo dục và giải trí Theo nội quy, các em sẽ đến trường mầm non hàng ngày từ 8h sáng đến 5h chiều.Tại đây các em có thể chơi với các bạn cùng trang lứa, học hát, ngôn ngữ và các hoạt động khác phù hợp với độ tuổi của các em
Trẻ em trên 6 tuổi sẽ được đi học tại các trường cấp 1, cấp 2 hoặc cấp 3 Nhân viên xã hội cùng với người mẹ sẽ sẽ thảo luận điều gì tốt cho trẻ và làm việc với nhà trường để hỗ trợ trong công tác giáo dục và hoạt động xã hội của con người, quyền phụ nữ, quyền trẻ em, quyền được nuôi dạy con cái
1.2.3.6 Dịch vụ đào tạo nghề và giới thiệu việc làm
Đa phần NTT đều mong muốn có nghề nghiệp ổn định và có thu nhập thường xuyên để đảm bảo cuộc sống của họ và những người trong gia đình Khi một NTT có mong muốn được học nghề, nhân viên xã hội/cán bộ tham vấn sẽ tư vấn/hướng dẫn họ cẩn thận để tìm khóa đào tạo phù hợp và công việc tương ứng với khả năng và sở thích của họ
Tùy theo từng trường hợp, NNBY hỗ trợ phụ nữ một phần hoặc toàn bộ chi phí của khóa đào tạo NNBY phối hợp với một số tổ chức đào tạo nghề bao gồm KOTO, Hoa Sữa, REACH và các Trung tâm đào tạo nghề gửi NTT tham gia khóa học Đào tạo kỹ năng mềm là một phần của khóa đào tạo nghề nhằm nâng cao khả năng của phụ nữ
1.2.3.7 Hoạt động hỗ trợ theo dõi hồi gia
Sau thời gian tạm lánh (tối đa là 3 tháng với nhà Bạo lực và 6 tháng với nhà mua bán), người tạm trú cùng nhân viên xã hội đánh giá lại toàn bộ gói hỗ trợ và ghi nhận những thành quả đạt được Dựa vào đó, nếu người tạm trú có đầy đủ điều kiện để quay trở lại với gia đình và tái hòa nhập cộng đồng, các nhân viên xã hội sẽ cùng họ xây dựng kế hoạch hồi gia bền vững Kế hoạch này bao gồm việc xác định nhu cầu và năng lực của người phụ nữ, các nguồn lực trong cộng đồng có thể hỗ trợ họ tái hòa nhập
1.2.4 Nguyên tắc đạo đức đối với nhân viên xã hội khi cung cấp dịch vụ công tác
xã hội cho người tạm trú bị bạo lực gia đình
Trên cơ sở nền tảng triết lý và giá trị và nguyên tắc nghề nghiệp của CTXH người ta đưa ra hệ thống các qui tắc ứng xử cho NVCTXH trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Tất cả các nhân viên làm việc trong lĩnh vực về bạo lực giới cần phải tuân thủ theo những giá trị, niềm tin, nguyên tắc cơ bản và quan trọng sau:
- An toàn của phụ nữ và bảo vệ trẻ em là ưu tiên hàng đầu Sự an toàn được xác định trong các môi trường khác nhau: ở nhà, nơi công cộng, đến phòng tham vấn và ngay cả khi đã rời bỏ khỏi người gây bạo lực Sự an toàn không chỉ về thể chất mà
Trang 28cả về tâm lý (nguy cơ tự tử)
- Không phân biệt đối xử, quan tâm đến nhóm dễ bị tổn thương Việc tuân thủ nguyên tắc này giúp người hỗ trợ khách quan trong quá trình ứng phó với bạo lực giới, giúp thân chủ tin tưởng hơn vào công bằng và tự tin vào bản thân trong quá trình nhận
sự hỗ trợ
- Tin tưởng vào khả năng tự giải quyết vấn đề: Dù thân chủ đang ở trong hoàn cảnh khủng hoảng hay có nhận thức rất khác biệt với nhân viên hỗ trợ nhưng họ vẫn là
"chuyên gia về cuộc đời của họ" Họ mới là người biết rõ nhất các sự kiện, tình huống
đã diễn ra, họ trải qua những cảm xúc nào và nó ở mức độ nào khi họ phải đối mặt với
cơ bị bạo lực trong tương lai
- Người gây ra bạo lực có trách nhiệm 100% với hành vi bạo lực của mình: Người gây bạo lực là người phải chịu trách nhiệm hoàn toàn (100%) về hành vi bạo lực của mình bởi chính anh ta lựa chọn hành vi kiểm soát và bạo lực đối với người phụ nữ/ trẻ em Anh
ta có thể lựa chọn hành vi khác như nói chuyện, thuyết phục, nhờ tới các thiết chế xã hội ở cộng đồng như tổ hoà giải, dòng tộc/ họ hàng/ bạn bè/ cơ quan/ nhà trường, cán bộ tư vấn pháp luật, hoặc chuyên gia tham vấn để giải quyết các mâu thuẫn của gia đình thay vì muốn dung sức mạnh/ bạo lực để duy trì quyền lực của mình nhằm kiểm soát, hành hạ và thống trị các thành viên trong gia đình theo ý muốn của anh ta Anh ta phải chịu sự trừng phạt cho các hành động của mình trước pháp luật
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội đối với Người tạm trú bị bạo lực gia đình
1.3.1 Chính sách và cơ chế quản lý nguồn lực
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chú trọng, kiện toàn hệ thống pháp luật, chính sách về bảo vệ, chăm sóc NTT bị BLGĐ Một số văn bản và chính sách quan
trọng đã được ban hành như Hiến pháp năm 2013; Luật phòng chống bạo lực gia đình
được Quốc hội Khóa 11 năm 2007 thông qua; đặc biệt là Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
Trang 29Sự quan tâm của cả hệ thống chính trị thời gian qua đã góp phần quan trọng vào việc cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và bảo đảm các quyền cơ bản của nạn nhân bị BLGĐ trong đó có NTT bị BLGĐ NTT được chăm sóc, bảo vệ và hỗ trợ
để phục hồi Việc tiếp cận các dịch vụ y tế đối với NTT có bước phát triển lớn, hầu hết nhóm TE này được hỗ trợ cấp thẻ BHYT và chăm sóc sức khỏe Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế như chưa có một chương trình tổng thể hay văn bản pháp quy giải quyết riêng vấn đề của NTT bị BLGĐ, công tác chăm sóc NTT bị BLGĐ ở nước ta vừa phân tán vừa chồng chéo nhiệm vụ, có nhiều cơ quan cùng thực hiện như Bộ Y tế,
Bộ Lao động TB&XH, Bộ Văn hóa Thể thao & Du lịch dẫn tới khó khăn trong việc chỉ đạo thực hiện và tổng kết đánh giá [3]
1.3.2 Năng lực, trình độ của cán bộ và thực hiện các dịch vụ công tác xã hội
Nhân viên công tác xã hội đóng vai trò cung cấp cho NTT bị BLGĐ và gia đình nạn nhân nhiều loại dịch vụ hỗ trợ, từ việc hỗ trợ tâm lý, đến việc phát triển các mạng lưới kết nối để có thể giúp NTT bị BLGĐ tiếp cận các dịch vụ y tế, xã hội hoặc tiếp cận các tổ chức có khả năng trợ giúp NTT bị BLGĐ, biện hộ quyền lợi, giúp NTT bị BLGĐ phát triển những kỹ năng xã hội cần thiết để NTT tự tin tham gia vào các hoạt động xã hội có ích cho cuộc sống, bên cạnh đó NVXH còn giúp cho các thành viên khác trong xã hội hiểu để có cái nhìn đúng về NTT bị BLGĐ
1.3.3 Khả năng tiếp cận dịch vụ của Người tạm trú bị bạo lực gia đình
Khả năng tiếp cận của NTT nói chung và NTT bị BLGĐ nói riêng có liên hệ
chặt chẽ với khái niệm chung về sự tiếp cận các sản phẩm, thiết bị, dịch vụ hay các yếu tố liên quan trong môi trường Sự tiếp cận tương đồng với khả năng sử dụng và hưởng lợi tối đa của các cá nhân Với NTT bị BLGĐ thì sự tiếp cận thường được tập trung vào những nhu cầu đặc biệt hoặc quyền tiếp cận tới các thực thể khác nhau Sự tiếp cận của NTT bị BLGĐ căn cứ vào mức độ bạo lực mà họ phải chịu đựng Khả năng tiếp cận của NTT bị BLGĐ với những nguồn lực cơ bản bao gồm: khả năng tiếp cận về cơ sở vật chất (bệnh viện, nhà cửa, công trình công cộng), khả năng tiếp cận thông tin (thông tin về dịch vụ dành cho NTT bị BLGĐ và gia đình, thông tin tham vấn về tâm lý, đời sống)
Trang 30cuộc sống của chính họ hay được đưa ra các quyết định Sự bất bình đẳng giới được duy trì và phản ánh trong quan niệm bất di bất dịch về giới Suy nghĩ sai lầm đó đã củng cố niềm tin rằng đàn ông có quyền dạy dỗ vợ của họ thông qua các hành động có tính bạo lực để bảo vệ thanh danh của gia đình Bạo lực đối với phụ nữ thường bị coi nhẹ như thể
nó là điều hết sức bình thường trong xã hội, ngay cả đối với chính những nạn nhân bị bạo lực gia đình
Kết quả Nghiên cứu quốc gia phản ánh nhận thức của người phụ nữ về vai trọ của họ như sau:
+ 27% đồng ý với ý kiến “Một người vợ tốt là một người luôn biết vâng lời ngay cả khi chị ta không đồng ý”
+ 27% đồng ý với ý kiến “Mọi quyết định quan trọng của gia đình phải do người chống quyết định.”
Còn cộng đồng là nơi mà NTT bị BLGĐ sinh sống Mặc dù văn hóa Việt Nam
đề cao tinh thần tương thân tương ái nhưng NTT bị BLGĐ vẫn còn giữ nhiều định kiến: “một điều nhịn chín điều lành”, “cơm sôi bớt lửa chẳng đời nào khê”… và họ thường xem phụ nữ buộc phải chấp nhận bạo lực của chồng như 1 lẽ tất nhiên để bảo
vệ hạnh phúc gia đình
Gia đình và cộng đồng là hai môi trường gắn liền với NTT bị BLGĐ , có ảnh hưởng trực tiếp đến NTT Do vậy, nhận thức của cộng đồng và gia đình cũng có vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ, chăm sóc cho NTT bị BLGĐ tại cộng đồng Cộng đồng, gia đình phải có trách nhiệm phát hiện, bảo vệ và ngặn chặn kịp thời hành vị bạo lực của người gây bạo lực nhằm giáo dục, tạo điều kiện để mọi người nâng cao nhận thức về vấn đề BLGĐ; tạo điều kiện để NTT bị BLGĐ được hỗ trợ
1.4 Cơ sở pháp lý về dịch vụ công tác xã hội với Người tạm trú bị bạo lực gia đình
1.4.1 Những văn bản Quốc tế liên quan đến Người tạm trú bị bạo lực gia đình
Hiện nay, vấn đề bạo lực trên cơ sở giới trong đó có bạo lực gia đình vẫn đang diễn ra khá phổ biến ở mọi châu lục, mọi quốc gia, kể cả những nước có nền kinh tế và khoa học kỹ thuật phát triển tiên tiến, hiện đại nhất
- Tuyên ngôn về nhân quyền của LHQ là bản tuyên ngôn về các quyền cơ bản của con người được Đại hội đồng LHQ thông qua ngày10 tháng 12 năm 1948 tại Paris, Pháp
- Công ước CEDAW là Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; là văn bản pháp lý quy định trên khuôn khổ toàn cầu để các quốc gia cam kết thực hiện mục tiêu bình đẳng giới
Trang 31- Cương lĩnh hành động Bắc Kinh được Hội nghị thế giới lần thứ IV về phụ nữ thông qua tại Bắc Kinh, Trung Quốc vào tháng 9/1995 Cương lĩnh đã đưa ra Tuyên bố
sứ mệnh về những nguyên tắc cơ bản nhằm đạt được bình đẳng giới vào năm 2000 và
là một cam kết chính trị nhằm thông qua các biện pháp thúc đẩy việc thực hiện các chiến lược bình đẳng giới
- Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững": Ngày 25/9/2015, tại trụ sở LHQ ở New York (Hoa Kỳ), Hội nghị Thượng đỉnh LHQ về phát triển bền vững đã thông qua văn kiện "Chuyển đổi thế giới của chúng ta: Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững"
1.4.2 Luật pháp, chính sách, dịch vụ liên quan tới trợ Người tạm trú bị bạo lực gia đình ở Việt Nam
1.4.2.1 Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW)
và Nghị định thư số 19
- Bạo lực trên cơ sở giới là một hình thức phân biệt đối xử đã cản trở nghiêm trọng khả năng của phụ nữ được hưởng các quyền và tự do trên cơ sở bình đẳng với nam giới
- Điều 1 xác định phân biệt đối xử chống lại phụ nữ: tức là bạo lực nhằm vào một phụ nữ vì người đó là phụ nữ, gồm những hành động gây ra tổn hại về thân thể, tinh thần, tình dục hoặc gây ra đau khổ, các lời đe dọa tiến hành những hành động như vậy,
sự ép buộc và các hành động tước đoạt tự do khác
- Bạo lực trên cơ sở giới làm giảm bớt hoặc huỷ bỏ việc phụ nữ được hưởng thụ các quyền con người và quyền tự do cơ bản của phụ nữ: (a) Quyền được sống (b) Quyền không bị tra tấn hoặc bị đối xử hay trừng phạt một cách dã man, vô nhân đạo hay hạ nhục (c) Quyền được bảo vệ bình đẳng theo các tiêu chuẩn nhân đạo (d) Quyền
tự do cá nhân và an toàn cá nhân (e) Quyền được bảo vệ bình đẳng theo luật pháp (f) Quyền được bình đẳng trong gia đình…
1.4.2.2 Hiến pháp sửa đổi 2013 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
bổ sung tinh thần của Hiến pháp về quyền con người
- Điều 16: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; Không ai bị phân biệt đối
xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội
- Điều 19: Mọi người có quyền sống Tính mạng con người được pháp luật bảo
hộ Không ai bi tươ đoat tính mạng trái luật
- Điều 20: Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo
hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự,
Trang 32- Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam 2013 (sửa đổi Hiến pháp 1992), qui định
về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam tại các điều 16,19,20,21…
- Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; không ai bị phân biệt đối xử; Mọi người có quyền sống Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình
- Luật Bình đẳng giới năm 2006: Quy định nguyên tắc bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, biện pháp bảo đảm bình đẳng giới, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện bình đẳng giới Quy định trách nhiệm của Hội LHPN Việt Nam tại điều 29, 30 (Giám sát; Thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ, trẻ em)
- Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007: Quy định về phòng ngừa bạo lực gia đình, bảo vệ, hỗ trợ phụ nữ, trẻ em bị bạo lực ; trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong PC bạo lực giới và xử lý vi phạm pháp luật về PC BLGĐ Quy định trách nhiệm của Hội LHPN Việt Nam tại điều 33, 34: truyền thông về PC BLGĐ, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới; kiến nghị những biện pháp cần thiết với
cơ quan nhà nước có liên quan để thực hiện pháp luật PC BLGĐ, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới; giám sát việc thực hiện pháp luật; chăm sóc, hỗ trợ và bảo vệ phụ
nữ, trẻ em bị bạo lực ; tổ chức cơ sở tư vấn, cơ sở hỗ trợ phụ nữ, trẻ em bị bạo lực ; phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan để bảo vệ và hỗ trợ phụ nữ, trẻ em bị bạo lực gia đình
- Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, quy định chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử giữa các thành viên gia đình; trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố hôn nhân và gia đình một vợ, một chồng
- Luật xử lý vi phạm hành chính 2012, quy định về xử phạt vi phạm hành chính
và các biện pháp xử lý hành chính về vi phạm hành chính trong hôn nhân và gia đình; bình đẳng giới; bạo lực gia đình; lưu trữ; tôn giáo; thi đua khen thưởng; hành chính tư pháp; dân số; vệ sinh môi trường; thống kê
- Quyết định số 32/QĐ-TTg ngày 25 /3 /2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 – 2020 Nhằm phát triển
Trang 33về nghề công tác xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống
an sinh xã hội tiên tiến
- Quyết định số 2351/QĐ-TTg ngày 24 tháng 12 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020
- Quyết định số 215/QĐ-TTg ngày 06 tháng 02 năm 2014 Chương trình hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020
- Quyết định 1696/QĐ-TTg ngày 02/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016 – 2020 Mục tiêu: Giảm khoảng cách giới và nâng cao vị thế của phụ nữ trong một số lĩnh vực, ngành, vùng, địa phương có bất bình đẳng giới hoặc có nguy cơ bất bình đẳng giới cao, góp phần thực hiện thành công Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn
2011 - 2020 Chỉ tiêu cụ thể: “Phấn đấu 100% người có nhu cầu hỗ trợ về bình đẳng giới được tiếp cận ít nhất một dịch vụ tư vấn, hỗ trợ bình đẳng giới”
- Quyết định số 1464/QĐ-TTg ngày 22/7/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án “Phòng ngừa và ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới giai đoạn 2016 - 2020
và tầm nhìn đến 2030” Mục tiêu: Thực hiện có hiệu quả công tác phòng ngừa và ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới Người có nguy cơ bị bạo lực và nạn nhân của bạo lực trên cơ sở giới được phát hiện, can thiệp và hỗ trợ kịp thời nhằm ngăn ngừa bạo lực xảy ra và có cơ hội cải thiện nâng cao chất lượng môi trường sống và làm việc Phấn đấu đến năm 2020 đạt các mục tiêu sau: Nâng cao nhận thức, năng lực và trách nhiệm của chính quyền các cấp, các ngành, các tổ chức liên quan và cộng đồng trong việc phòng ngừa và ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới, chú trọng nhóm đối tượng có nguy
cơ cao gây bạo lực, đối tượng dễ bị tổn thương do bạo lực trên cơ sở giới; 100% nạn nhân bạo lực trên cơ sở giới được phát hiện, hỗ trợ và can thiệp kịp thời; 50% người gây bạo lực trên cơ sở giới được phát hiện, tư vấn hoặc có hình thức xử lý phù hợp
- Thông tư 23/2010/TT-LĐTBXH quy trình can thiệp, hỗ trợ trẻ em bị bạo lực, bị xâm hại tình dục:can thiệp, trợ giúp kịp thời bằng các biện pháp phù hợp, theo quy định của pháp luật, vì quyền và lợi ích tốt nhất của trẻ; Đảm bảo tính bảo mật về thông tin liên quan đến trẻ; đảm bảo tính liên tục trong can thiệp, trợ giúp Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan trong hoạt động can thiệp, trợ giúp trẻ em bị bạo lực
- Quyết định số 21/2016/QĐ-TTg ngày 17/ 5/ 2016 của Thủ tưởng Chính phủ ban hành quy chế phối hợp liên ngành về phòng, chống bạo lực gia đình Nội dung phối hợp i)Phòng ngừa bạo lực gia đình:Thông tin, truyền thông, giáo dục chuyển đổi
Trang 34hành vi về phòng, chống bạo lực gia đình;Tư vấn, hòa giải về phòng, chống bạo lực gia đình;Phát triển các mô hình về phòng, chống bạo lực gia đình ii) Thực hiện các biện pháp bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình:Phát hiện sớm vụ việc bạo lực gia đình;Tiếp nhận, bảo vệ, chăm sóc, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình.iii) Thống kê, báo cáo số liệu về phòng, chống bạo lực gia đình.Thanh tra, kiểm tra về phòng, chống bạo lực gia đình
- Thông tư số 143/2011/TTLT/BTC-BVHTTDL ngày 21 tháng 10 năm 2011 quy định chế độ quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách Nhà nước chi cho công tác phòng, chống bạo lực gia đình; kinh phí ngân sách Nhà nước hỗ trợ các cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình, cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình ngoài công lập
- Nghị định số 13/2013/NĐ – CP ngày 21 tháng 10 năm 2013 quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội
Tiểu kết chương 1
Trong nhiều năm qua, bạo lực đặc biệt là bạo lực gia đình gia tăng và phát triển gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng và các vấn nạn xã hội Trong đó, nạn nhân của BLGĐ không chỉ trải qua những tổn thương về thể xác và tinh thần mà còn phải chịu đựng rất nhiều hệ quả từ định kiến giới và định kiến gia đình Chính vì thế, NTT bị BLG có quyền tiếp cận dịch vụ hỗ trợ dù vụ việc có được đem ra xử lý hình sự hoặc hành chính hay không Thông qua các DVCTXH phù hợp, đáp ứng đúng nhu cầu sẽ giúp NTT bị BLGĐ có được những kỹ năng cần thiết để có thể sống độc lập tối đa, tự tin đưa ra quyết định và tái hòa nhập gia đình và xã hội Thông qua sự hỗ trợ từ DVCTXH, NTT bị BLGĐ sẽ có cơ hội được bảo vệ, chăm sóc và tiếp cận những hiểu biết về quyền và được an toàn cũng như giảm thiểu các rủi ro liên quan đến bạo lực giới và BLGĐ
Đảng, nhà nước ta đã có sự quan tâm, đầu tư cho nạn nhân bị BLGĐ thể hiện qua hệ thống văn bản chỉ đạo, điều hành và sự đầu tư nguồn lực DVCTXH đối với NTT bị BLGĐ như chiếc cầu nối NTT với xã hội, giúp họ được tiếp cận nguồn lực xã hội để được đáp ứng nhu cầu, đồng thời giảm bớt những khác biệt để có cơ hội phục hồi và phát triển
Từ những vấn đề mang tính chất lý luận về đề tài sẽ tiến hành đánh giá thực trạng việc cung cấp dịch vụ đối với NTT bị BLGĐ tại NNBY, để có góc nhìn biện chứng về vấn đề dịch vụ công tác xã hội với người tạm trú bị bạo lực gia đình
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI TẠM TRÚ TẠI NGÔI NHÀ BÌNH YÊN
HỖ TRỢ PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH
2.1 Một số đặc điểm về địa bàn nghiên cứu
Trung tâm Phụ nữ và Phát triển (CWD), đơn vị trực thuộc Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, là đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ kinh phí, thành lập năm 2002, bắt đầu chính thức đi vào hoạt động tháng 3/2007 Trung tâm có chức năng phục vụ các hoạt động chính trị - xã hội của Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam nhằm hỗ trợ sự phát triển toàn diện về năng lực, trình độ mọi mặt, kỹ năng nghề nghiệp, thể lực và thẩm mỹ của phụ nữ Việt Nam và được phép cung cấp các dịch vụ phụ trợ để tận thu, hỗ trợ các hoạt động chính trị - xã hội và các chi phí khác của Trung tâm Trung tâm có địa chỉ tại 20 Thuỵ Khuê, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội
NNBY là một mô hình của Trung tâm Phụ nữ và Phát triển – Hội liên hiệp Phụ
nữ Việt Nam triển khai nhằm hỗ trợ nhóm phụ nữ yếu thế, thiệt thòi, chủ yếu và phụ
nữ và trẻ em là nạn nhân của mua bán người và bị BLGĐ
2.1.1 Khái quát chung
2.1.1.1 Chức năng
Trung tâm Phụ nữ và Phát triển (CWD), đơn vị trực thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, là đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ kinh phí, thành lập năm 2002, bắt đầu chính thức đi vào hoạt động tháng 7/2007 Trung tâm có chức năng phục vụ các hoạt động chính trị - xã hội của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam nhằm hỗ trợ sự phát triển toàn diện về năng lực, trình độ mọi mặt, kỹ năng nghề nghiệp, thể lực và thẩm mỹ của phụ nữ Việt Nam và được phép cung cấp các dịch vụ phụ trợ để tận thu, hỗ trợ các hoạt động chính trị - xã hội và các chi phí khác của Trung tâm Trung tâm có địa chỉ tại 20 Thuỵ Khuê, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội
2.1.1.2 Tầm nhìn, sứ mệnh, giá trị của Trung tâm:
Tầm nhìn: Vì sự độc lập, tự chủ, phát triển và tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam, đặc biệt là phụ nữ yếu thế, khó khăn
Sứ mệnh: Hỗ trợ sự phát triển của phụ nữ bằng việc cung cấp các dịch vụ chuyên nghiệp về thông tin, tham vấn tâm lí xã hội và dịch vụ hỗ trợ doàn diện cho phụ nữ khó khăn
Trang 36Giá trị: Trung tâm Phụ nữ và Phát triển hoạt động theo 6 giá trị cốt lõi:
- Hội LHPN các cấp, cán bộ, hội viên, phụ nữ trong cả nước;
- Các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước
2.1.2 Cơ cấu tổ chức
- Ban Giám đốc: 01 Giám đốc và 03 phó Giám đốc
- Các phòng, tổ nghiệp vụ của CWD với 140 nhân viên:
Phòng Đào tạo (nghề và kỹ năng)
Trung tâm thông tin cho phụ nữ, trẻ em
2.1.3 Lĩnh vực hoạt động
2.1.3.1 Tổ chức các hoạt động xã hội theo chức năng, nhiệm vụ
- Tham vấn, cung cấp thông tin (trực tiếp hoặc qua điện thoại) về quyền phụ nữ
và trẻ em; luật pháp, chính sách liên quan đến phụ nữ, bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình, phòng chống mua bán người…đồng thời cung cấp dịch vụ tham vấn
về các vấn đề gia đình, hôn nhân, giới, sức khỏe sinh sản, HIV, kỹ năng sống
- Trung tâm thông tin và tham vấn cho phụ nữ được thành lập là nơi hỗ trợ sự phát triển toàn diện và tiến bộ của phụ nữ thông qua việc cung cấp các thông tin, tư
Trang 37liệu liên quan đến hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, phong trào phụ nữ Việt Nam, Luật pháp chính sách và các thông tin khác liên quan đến phụ nữ Trung tâm là điểm đến văn minh, trí tuệ giúp phụ nữ có không gian giao lưu, chia sẻ, học tập
và cùng tiến bộ với các hoạt động đa dạng: Sưu tầm, phát triển nguồn sách in và s-ách điện tử; truy cập internet miễn phí; Câu lạc bộ hoặc các diễn đàn, giao lưu, gặp mặt của phụ nữ
- Tổ chức các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nữ với các hình thức phong phú: Giới thiệu quảng bá sản phẩm của doanh nghiệp do nữ làm chủ thông qua các hội chợ, các gian hàng trưng bày sản phẩm tại Trung tâm (1-2 lần/ năm) cho từ 20- 60 gian hàng; tư vấn khởi sự doanh nghiệp; nâng cao năng lực và kỹ năng trong quá trình quản
lý và phát triển doanh nghiệp Bên cạnh đó, Trung tâm đã và đang thúc đẩy các hoạt động kết nối, giao lưu sản phẩm của các doanh nghiệp nữ trong nước và quốc tế
- Các diễn đàn, hội thảo, hội nghị, lớp tập huấn dành cho các nữ doanh nhân trong nước và quốc tế trao đổi kinh nghiệm của họ trong kinh doanh
- Thành lập Vườn trẻ tiêu chuẩn dành cho các đối tượng trẻ em từ 12 tháng đến 4 tuổi với cơ sở vật chất và các chương trình dạy, học đảm bảo tiêu chuẩn của Bộ Giáo Dục, đội ngũ giáo viên được đào tạo chuyên nghiệp, tận tình Đặc biệt, vườn trẻ đồng thời chăm sóc, giáo dục, hỗ trợ tâm lý cho trẻ em (con của nạn nhân bị bạo lực gia đình đang tạm trú trong Ngôi Nhà Bình yên), giúp trẻ em hòa nhập với cộng đồng thông qua các chương trình chăm sóc, giáo dục, đào tạo của Vườn trẻ
- Cung cấp dịch vụ nhà tạm lánh (Ngôi Nhà Bình yên) cho phụ nữ bị bạo lực gia đình có địa chỉ được giữ bí mật để đảm bảo an toàn cho người tạm trú với đầy đủ trang thiết bị cần thiết và môi trường sống phù hợp với từ 20 đến 30 phụ nữ và trẻ em trong cùng một thời gian Tại đây, người tạm trú được tiếp nhận dịch vụ hỗ trợ toàn diện miễn phí gồm: nơi ăn, nghỉ; chăm sóc, điều trị về tâm lý và sức khỏe; hỗ trợ pháp
lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; đào tạo nghề, đào tạo kỹ năng sống, học văn hóa, vui chơi giải trí, giới thiệu việc làm và hỗ trợ hồi gia tái hòa nhập cộng đồng bền vững
*Các mô hình/cơ sở dịch vụ cho phụ nữ, trẻ em cụ thể:
- 01 Vườn trẻ Hương Sen (cho trẻ em từ 18 - 60 tháng là con của nạn nhân bị bạo lực giới và nhân viên CWD)
- 01 Phòng đọc cho phụ nữ - Trung tâm thông tin ( thư viện và sách online)
- 01 phòng Tham vấn về quyền phụ nữ, Bình đẳng Giới, hôn nhân gia đình; chống bạo lực Giới
Trang 38- 01 Ngôi Nhà Bình yên cho phụ nữ bị bạo lực gia đình (Ngôi Nhà Bình yên/Peace House Shelter)
- 01 Ngôi Nhà Bình yên cho phụ nữ bị mua bán trở về
- 01 Peace shop: bán hàng gây quỹ cho Ngôi Nhà Bình yên
- 01 Peace Coffee: cung cấp dịch vụ cà phê tham vấn
- 01 Phòng hỗ trợ trẻ em đặc biệt: cung cấp dịch vụ thăm khám, đánh giá, trị liệu các vấn đề rối nhiễu hành vi, tâm lý của trẻ em
- 01 gian hàng giới thiệu sản phẩm của doanh nghiệp nữ (Business center)
* Thực hiện Các dự án phát triển cộng đồng, hỗ trợ phụ nữ trẻ em:
+ Dự án Tăng thu nhập và truyền thông những điều cho sự sống (22 tỉnh) và dự
án Phát triển toàn diện trẻ thơ tại 18 tỉnh (từ năm 2002 - 2008) Nguồn UNICEF + Dự án truyền thông về bình đẳng Giới và phát triển cộng đồng tại các xã của 2 huyện tỉnh Lạng Sơn gồm các hoạt động: truyền thông bình đẳng Giới cho cộng đồng; vận động lồng ghép giới trong hoạch định chính sách của địa phương và xây 01 nhà văn hóa, 01 đường liên xã, 01 nhà tạm lánh ngắn hạn tại Phú Thọ (năm 2006 -2010) Nguồn DED/ GIZ
+ Dự án thành lập thí điểm phòng tham vấn và Nhà tạm lánh (Ngôi Nhà Bình yên) cho phụ nữ bị bạo lực gia đình/ mua bán người đầu tiên tại Việt Nam (từ 2006 – 2013)
+ Dự án nâng cao năng lực và hỗ trợ kỹ thuật xây dựng 8 phòng Tham vấn tại 8 tỉnh (Phú Thọ, Bắc Ninh, Lạng Sơn, Hà Giang, Thái Nguyên, Sóc Trăng, Kiên Giang
và Cà Mau) (năm 2010 – 2011) Nguồn AECID
+ Dự án Flinder đào tạo tập huấn sơ cấp, trung cấp và chuyên sâu về ứng phó với bạo lực giới, Kỹ năng tham vấn, kỹ năng làm việc với nạn nhân bị bạo lực giới; xây dựng phần mềm quản lý dữ liệu phòng tham vấn, Ngôi Nhà Bình yên; xây dựng Hand book/ sổ tay hướng dẫn thực hành tham vấn, thực hành hỗ trợ nạn nhân bị bạo lực
giới…cho 100 cán bộ, nhân viên của Hội LHPN Việt Nam cấp trung ương và 8 tỉnh
+ Các dự án đào tạo nghề cho người dân tộc thiểu số, nữ thanh niên, người khuyết tật, phụ nữ nghèo (từ 2007 đến nay)
+ Các dự án truyền thông về phòng chống bạo lực gia đình và mua bán người tại
15 tỉnh (từ năm 2007 đến nay) phối hợp với MCNV, UNICEF, SDC, AECID, IOM, Ford Foundation, UNFPA, UNODC, AVV, SC, Oxfam Novib, DED/ GIZ; Đại học
Flinder (DFAT – Úc), UN WOMEN,
Trang 392.1.3.2 Dịch vụ khách sạn, nhà hàng
Trung tâm tổ chức dịch vụ lưu trú, hội nghị hội thảo, ăn uống phục vụ theo yêu cầu của Trung ương Hội phụ nữ và tận thu phục vụ cho các hoạt động duy trì hoạt động xã hội và đảm bảo kinh phí hoạt động
Trung tâm Phụ nữ và Phát triển (CWD) là đơn vị trực thuộc Hội Liên hiệp Phụ
nữ Việt Nam có chức năng phục vụ các hoạt động chính trị - xã hội của Hội theo sự chỉ đạo của Đoàn Chủ tich nhằm hỗ trợ sự phát triển toàn diện về năng lực, trình độ mọi mặt, kỹ năng nghề nghiệp, thể lực và thẩm mỹ của phụ nữ Việt Nam và được phép cung cấp các dịch vụ phụ trợ để tận thu, hỗ trợ các hoạt động chính trị - xã hội và các chị phí khác của Trung tâm
2.1.4 Giới thiệu về Ngôi Nhà Bình yên
Mô hình tổ chức và các loại dịch vụ hỗ trợ của NNBY bao gồm 3 hợp phần:
2.1.4.1 Ngôi Nhà Bình yên
Là nơi tạm trú của phụ nữ bị bạo lực Địa chỉ được giữ bí mật để đảm bảo an toàn cho nạn nhân trong thời gian tạm trú tại NNBY NNBY trực tiếp cung cấp một hệ thống dịch vụ tối thiểu, toàn diện cho NTT, bao gồm: nơi ăn, ở, bảo vệ, dịch vụ tư vấn, chăm sóc sức khỏe về thể chất và tinh thần, hỗ trợ pháp lý, hỗ trợ học văn hóa, học nghề, học kỹ năng sống và hỗ trợ hồi gia Hệ thống các dịch vụ tại NNBY được cung cấp bởi một bộ máy nhân sự, gồm: 01 quản lý nhà (chịu trách nhiệm quản lý, điều hành, giám sát toàn bộ các hoạt động và báo cáo chung); 5 nhân viên xã hội (trung bình 5 NTT/nhân viên xã hội (NVXH) - chịu trách nhiệm quản lý, theo dõi, tư vấn, hỗ trợ toàn diện cho NTT); 2 bảo vệ (24/7) và 2 quản gia (chịu trách nhiệm về nội vụ, ăn
ở của NTT) Với cơ cấu nhân sự này, đảm bảo yêu cầu và vận hành thông suốt các
hoạt động của NNBY
2.1.4.2 Phòng Tham vấn:
Là địa chỉ công khai, với 3 nhân viên tham vấn làm nhiệm vụ tham vấn trực tiếp hoặc qua điện thoại (24/7); thực hiện công tác tiếp nhận và sàng lọc thông tin về nạn nhân trước khi vào NNBY; theo dõi, hướng dẫn và hỗ trợ NVXH trong tư vấn tâm lý,
hỗ trợ NTT; tổng hợp, cập nhật thông tin, tình hình và báo cáo
Trung tâm cuộc gọi 190 096 9680 thuộc Phòng Tham vấn chuẩn bị được vận hành có nhiệm vụ cung cấp dịch vụ tham vấn ban đầu, giải đáp thông tin liên quan đến quyền phụ nữ, trẻ em, giải cứu nạn nhân trong vòng 24/7
Như vậy, cùng với nhiệm vụ trực tiếp tiếp nhận và tham vấn ban đầu cho nạn nhân, phòng Tham vấn đóng vai trò là bộ phận hỗ trợ NNBY trong tham vấn cho NTT đảm bảo
Trang 40quy trình và chất lượng Với mô hình phối hợp này, vừa đảm bảo tính bí mật của NNBY, vừa đảm bảo được tính hiệu quả trong hỗ trợ NTT trong thời gian ở NNBY
2.1.4.3 Vườn trẻ Hương Sen:
Vườn trẻ Hương Sen tại Trung tâm PN&PT, có nhiệm vụ chăm sóc các cháu con cán bộ nhân viên Trung tâm và những gia đình lân cận, đồng thời tiếp nhận và nuôi dưỡng con của nạn nhân trong thời gian ở tại NNBY Tại đây, con nạn nhân được đảm bảo chế độ dinh dưỡng và có điều kiện hòa nhập
Bảng 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy Trung tâm Phụ nữ Phát triển
Ngôi Nhà Bình yên cung cấp dịch vụ hỗ trợ miễn phí và toàn diện cho người tạm
trú, bao gồm: nơi ăn, ở an toàn; khám và điều trị, phục hồi sức khỏe thể chất; tư vấn ổn
định, phục hồi sức khỏe tâm thần; tư vấn, hỗ trợ pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích; hỗ trợ học văn hóa và học nghề, giới thiệu việc làm; hướng dẫn kỹ năng sống, kỹ năng mềm, giao tiếp ứng xử và ứng phó với BLGĐ, MBN, xâm hại tình dục; hỗ trợ và theo dõi hồi gia
Con cái đi theo mẹ cũng nhận được sự hỗ trợ toàn diện, miễn phí, trong đó gồm