Phạm vi nghiên cứu Phạm vi về đối tượng: Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận và thực trạng hoạt động giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc Nùng từ cách tiếp cận công tác xã hội, c
Trang 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ HẢO
HOẠT ĐỘNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN DÂN TỘC NÙNG TẠI HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG
TỪ CÁCH TIẾP CẬN CÔNG TÁC XÃ HỘI
huyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 876 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS HÀ THỊ THƯ
HÀ NỘI, 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Đề tài nghiên cứu: “Giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc Nùng tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang từ cách tiếp cận Công tác xã hội” là kết quả
nỗ lực cố gắng của bản thân tôi
Tôi xin cam đoan những lời trên đây là hoàn toàn đúng sự thật và tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Hà Nội, tháng 03 năm 2018
Học viên
Lê Thị Hảo
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ 9
1.1 Khái niệm và đặc điểm thanh niên và thanh niên dân tộc thiểu số 9
1.2 Việc làm và giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số 11
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm 22
1.4 Cơ sở pháp lý về Giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số 25
Chương 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VỚI THANH NIÊN DÂN TỘC NÙNG TỪ CÁCH TIẾP CẬN CÔNG TÁC XÃ HỘI TẠI HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG 32
2.1 Khái quát địa bàn và khách thể nghiên cứu 32
2.2 Thực trạng hoạt động giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc Nùng tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang 46
2.3 Thực trang các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc Nùng từ cách tiếp cận Công tác xã hội 65
Chương 3 CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN DÂN TỘC NÙNG TẠI HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG 71
3.1 Nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm từ hoạt động cung cấp thông tin, kết nối việc làm 71
3.2 Nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm từ hoạt động dạy nghề gắn với việc làm 72
3.3 Nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm từ hoạt động hỗ trợ xuất khẩu lao động 72
3.4 Giải pháp giải quyết việc làm từ hoạt động hỗ trợ vốn 73
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 4DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Thành phần dân tộc thiểu số tại tỉnh Bắc Giang (%) 36
Bảng 2.1: Trình độ học vấn của thanh niên dân tộc Nùng được khảo sát 37
Bảng 2.2: Tổng hợp số liệu việc làm thanh niên dân tộc Nùng huyện Yên Thế năm 2017 38
Biểu đồ 2.2: Thanh niên dân tộc Nùng làm việc theo cơ cấu ngành kinh tế 39
Biểu đồ 2.3: Thu nhập của thanh niên
Bảng 2.3: Những khó khăn thanh niên trong tìm kiếm việc làm 42
Biểu đồ 2.4: Nhu cầu giải quyết việc làm của thanh niên (%) 43
Bảng 2.4 : Mạng lưới giải quyết việc làm cho thanh niên tại huyện Yên Thế 44
Bảng 2.5 Trình độ chuyên môn của cán bộ giải quyết việc làm 45
Biểu đồ 2.5: Các hoạt động cung cấp thông tin, tư vấn việc làm tại huyện Yên Thế (%)
Biểu đồ 2.6: Các hình thức tổ chức hoạt động cung cấp thông tin, tư vấn việc làm 48 Biểu đồ 2.7: Mức độ hiệu quả hoạt động cung cấp thông tin, tư vấn việc làm (%) 49
Biểu đồ 2.8: Nội dung hoạt động dạy nghề gắn với việc làm cho thanh niên dân tộc Nùng 51
Bảng: 2.6: tỷ lệ tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng của thanh niên 51
Bảng: 2.7 Tần suất tổ chức các hoạt động dạy nghề gắn với việc làm 52
Biểu đồ 2.10: Nội dung hoạt động hỗ trợ xuất khẩu lao động(%) 54
Bảng 2.8: Số lao động thanh niên dân tộc Nùng đi xuất khẩu lao động của huyện Yên Thế qua các năm (đơn vị: người) 55
Bảng 2.9: Tần suất tổ chức hoạt động hỗ trợ xuất khẩu lao động 56
Biểu đồ 2.11: Mức độ hiệu quả của hoạt động hô trợ xuất khẩu lao động 56
Biểu đồ 2.12: nội dung hoạt động hỗ trợ vốn 58
Bảng 2.10: Tình hình dư nợ ủy thác của các tổ vay vốn do Đoàn thanh niên quản lý theo các chương trình cho vay tính đến hết tháng 12/2017 59
Bảng 2.11: Tần suất tổ chức hoạt động hỗ trợ vốn 60
Biểu đồ 2.13: Mức độ hiệu quả hoạt động hỗ trợ vốn 61
Biểu đồ 2.14: Khó khăn của thanh niên trong vay vốn phát triển sản xuất 61
Biểu đồ 2.15: Hiệu quả các hình thức giải quyết việc làm 62
Biểu đồ 2.16: Các yếu tố thuộc về cán bộ giải quyết việc làm 66
Biểu đồ 2.17 Yếu tố thanh niên dân tộc Nùng 68
Biểu đồ 2.18: Yếu tố nhận thức của lãnh đạo 69
Trang 51
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với mọi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn như Việt Nam Có thể nói hiệu quả của việc giải quyết việc làm gắn liền với sự tồn tại bền vững của mọi quốc gia Đối với Việt Nam, vấn đề giải quyết việc làm cũng không nằm ngoài quỹ đạo đó, văn kiện Đại hội IX của Đảng đã nhấn
mạnh: “Giải quyết việc làm là nhân tố quyết định để phát huy nhân tố con
người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân”
Dân tộc Nùng là một trong những dân tộc tiểu số ở Việt Nam tập trung tại các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Hà Giang, Bắc Kạn Tuy không phải là dân tộc chiếm số lượng đông nhất trong 53 dân tộc thiểu số nhưng dân số người Nùng đã gia tăng Điều đó cho thấy dân tộc Nùng đóng một vai trò quan trọng tỏng tiến trình phát triển chung của dân tộc
Những năm gần đây với sự quan tâm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đời sống của đại bộ phận thanh niên dân tộc Nùng được cải thiện đáng kể, họ có cơ hội được tiếp cận với tri thức của quá trình hội nhập Tuy nhiên vì xuất phát điểm của thanh niên dân tộc thiểu số nói chung và thanh niên dân tộc Nùng nói riêng có xuất phát điểm thấp hơn so với dân tộc Kinh nên quá trình tiếp cận với phát triển còn hạn chế, họ chưa nắm bắt được cơ hội, không khai thác được các tiềm năng, tính ưu việt trong cơ chế, chính sách, điều kiện mà Nhà nước đang dành cho họ Một phần do thói quen sinh sống ở những vùng có điều kiện tự nhiên không thuận lợi nên khiến cho cơ hội tiếp cận hạn chế Hơn nữa vì điều kiện kinh tế khó khăn, ít được học tập, quan sát, học hỏi từ môi trường bên ngoài nên trình độ nhận thức của họ về những điều kiện phát triển còn hạn chế, đây là vấn đề của sự phát triển đối với thanh niên dân tộc Nùng
Huyện Yên Thế có khoảng trên 102 nghìn người với 8 dân tộc anh em
Trang 6Việc giải quyết việc làm cho thanh niên nói chung và thanh niên là dân tộc Nùng nói riêng qua cách tiếp cận Công tác xã hội là điều rất quan trọng và cần thiết, trong quá trình đất nước hội nhập và phát triển, nó góp phần trong việc đảm bảo công bằng xã hội, đảm bảo an sinh là hội là nền tảng để đất nước ta tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Hoạt động giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc Nùng tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang từ cách tiếp cận Công tác xã hội” để nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Những năm gần đây, vấn đề việc làm được sự quan tâm nhiều của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu trong nước và trên thế giới
Trên thế giới, các công trình nghiên cứu đã cung cấp cho người đọc những
cái nhìn đa chiều về lao động và việc làm: ILO (tổ chức lao động quốc tế) đã tiến hành nghiên cứu vấn đề an sinh xã hội của 10 nước công nghiệp Họ chỉ ra rằng, một bộ phận dân cư nhất là vùng nông thôn lâm vào tình trạng thất nghiệp nên bị ngừng hoặc giảm đáng kể thu nhập.[1 tr9]
Ở Nhật Bản, tác giả Sato (2010) trong cuốn sách: “Thất nghiệp và an sinh
xã hội” đã phân tích lỗ hổng của chế độ an sinh xã hội tạo ra sự gia tăng thất nghiệp
Ở Trung Quốc, những nhà nghiên cứu như Hồ Hiếu Nghĩa, Lý Bồi Lâm,
Lý Cường, Mã Nhung đã tiến hành nhiều công trình nghiên cứu để thực hiện sự
ổn định xã hội hài hòa
Trang 73
Ở Việt Nam, có thể nêu ra một số công trình nghiên cứu về vấn đề này như:
Ngụy Văn Tuyên năm 2014 nghiên cứu đề tài: Giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn tỉnh Bắc Giang đã nghiên cứu giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn tỉnh Bắc Giang trên phương diện kinh tế
Trong đề tài “Việc làm, thu nhập của thanh niên hiện nay từ góc độ tâm
lý học” do tác giả Vũ Dũng chủ biên thực hiện năm 2011 Đây là Công trình nghiên cứu sau và có hệ thống từ góc độ của khoa học tâm lý về lao động, việc làm và thu nhập của thanh niên nước ta trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.[6, tr5]
Đề tài “Thực trạng dạy nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên trong các trung tâm giải quyết việc làm do Đoàn TNCS Hồ Chí Minh quản lý” của tác giả Bùi Sỹ Tụng thực hiện năm 2011 Nội dung của đề tài đánh giá thực trạng hoạt động dạy nghề và giải quyết việc làm của các trung tâm dạy nghề và các trung tâm giới thiệu việc làm thanh niên thuộc hệ thống Đoàn thanh niên quản lý trên một số lĩnh vực như: Tư vấn việc làm, tư vấn nghề; giới thiệu việc làm, giải quyết việc làm trong và ngoài nước; hoạt động đào tạo nghề
Ngụy Văn Tuyên năm 2014 nghiên cứu đề tài: Giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn tỉnh Bắc Giang đã nghiên cứu giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn tỉnh Bắc Giang trên phương diện kinh tế
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng hoạt động giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc Nùng tại huyện Yên Thế Bắc Giang; cũng như các yếu tố ảnh hưởng; đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc Nùng tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang từ cách tiếp cận Công tác xã hội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khái quát cơ sở lý luận về hoạt động giải quyết việc làm cho thanh niên
Trang 8xã hội
Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hiệu quả hoạt động giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc Nùng tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang từ cách tiếp cận Công tác xã hội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng hoạt động giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc Nùng tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang từ cách tiếp cận Công tác
xã hội
4.2 Khách thể nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu hai nhóm khách thể đó là thanh niên có độ tuổi từ 16 –
30 và cán bộ làm công tác hỗ trợ giải quyết việc làm
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về đối tượng: Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận và thực trạng
hoạt động giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc Nùng từ cách tiếp cận công tác xã hội, cụ thể là các hoạt động: hoạt động cung cấp thông tin tìm kiếm việc làm, hoạt động đào tạo dạy nghề, hoạt động tư vấn xuất khẩu lao động, hoạt động hỗ trợ vốn
Phạm vi về khách thể: nghiên cứu 60 thanh niên dân tộc Nùng và 20 cán
bộ có liên quan tới vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên
Phạm vi thời gian, đại bàn nghiên cứu: từ tháng 10/2017 - 03/2018 tại
huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
Trang 9sự phát triển xã hội cụ thể trong đề tài nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa các vấn đề của thanh niên với chính sách, các nguồn lực về giải quyết việc làm
- Phương pháp luận duy vật lịch sử: Đối tượng nghiên cứu được đán h giá, phân tích theo một trục thời gian, mang tính lịch sử rõ nét Qua đó, các vấn đề và yếu tố liên quan trong đề tài nghiên cứu có sự so sánh, đối chiếu theo các thời kỳ lịch sử, đảm bảo tính xác thực và toàn vẹn trong trình bày kết quả nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp nghiên cứu phân tích tài liệu
Là phương pháp thu phập thông tin từ các công trình nghiên cứu có liên quan tới hoạt động giải quyết việc làm đối với thanh niên nói chung và thanh niên dân tộc Nùng nói riêng trên những tài liệu đã công bố, in ấn Từ đó tổng hợp và đưa ra các nhận xét, đánh giá về chính sách của Đảng và Nhà nước trong hoạt động giải quyết việc làm cho thanh niên
Đọc, tìm hiểu và phân tích, đánh giá các tài liệu có liên quan tới việc làm
và các hoạt động hỗ trợ giải quyết việc làm cho thanh niên Từ đó tìm ra hướng nghiên cứu mới cho đề tài
5.2.2 Phương pháp thu thập thông tin
- Phương pháp quan sát: Quan sát là phương pháp thu thập thông tin thực
Trang 106
nghiệm mà thông qua các tri giác như nghe, nhìn để thu thập thông tin về các quá trình, các hiện tượng xã hội trên cơ sở nghiên cứu của đề tài và mục đích của cuộc nghiên cứu nhằm đánh giá mức độ tin cậy của thông tin đã thu thập Thông qua quan sát cũng có thể nắm bắt một phần thực trạng đời sống và các hoạt động giải quyết việc làm của thanh niên tại địa phương: Hình thức giải quyết việc làm, cơ cấu kinh tế, điều kiện địa hình, đất đai, sông ngòi, cơ sở vật chất
- Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi: Là phương pháp điều tra xã hội
học nhằm thu thập thông tin bằng cách lập một bảng hỏi cho nhóm đối tượng trong một khu vực nhất định ở một không gian, thời gian nhất định Sử dụng phương pháp này có thể thu thập được một lượng thông tin lớn mạng tính đại chúng trong quá trình điều tra và thu thập thông tin
Trong khuôn khổ luận văn và thực hiện đề tài tôi sử dụng phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi để thu thập thông tin về thực trạng thu nhập, việc làm, nhu cầu của thanh niên, thực trạng hoạt động hỗ trợ giải quyết việc làm đối với thanh niên dân tộc Nùng tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang Phương pháp này
sử dụng các câu hỏi đóng, câu hỏi mở và câu hỏi hỗn hợp đan xen
Đề tài sẽ tiến hành khảo sát thông qua bảng hỏi với số lượng phiếu: 80 phiếu, bảng hỏi sẽ phát ra cho đối tượng điều tra điền và thu lại ngay sau đó
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Là phương pháp thu thập thông tin cụ thể
của xã hội học, thông qua những cuộc đối thoại giữa nhà nghiên cứu và người cung cấp thông tin nhằm tìm hiểu cuộc sống, kinh nghiệm và nhận thức của người cung cấp thông tin qua chính ngôn ngữ của người được phỏng vấn
Trong đề tài, phương pháp phỏng vấn sâu chủ yếu được sử dụng để thu thập thông tin liên quan đến nhận định, đánh giá, quan điểm, ý kiến của thanh niên được hỗ trợ giải quyết việc làm và chưa được hỗ trợ giải quyết việc làm; đồng thời cũng ghi nhận những ý kiến, quan điểm của các tổ chức, đoàn thể về cách thức, hiệu quả triển khai các chính sách, hoạt động giải quyết việc làm cho
Trang 117
thanh niên dân tộc Nùng tại địa phương
Trong đề tài tôi thực hiện phỏng vấn sâu tới những đối tượng sau:
- Phỏng vấn 05 thanh niên dân tộc Nùng
- Phỏng vấn 02 doanh nghiệp tại địa bàn huyện Yên Thế
- Phỏng vấn Bí thư Huyện đoàn
Nội dung từ các cuộc phỏng vấn góp phần cung cấp những thông tin để làm
rõ hơn hoạt động giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc Nùng tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang Từ đó làm sáng tỏ thực trạng thu nhập của thanh niên, nhu cầu của thanh niên cũng như thực trạng công tác hỗ trợ giải quyết việc làm đối với thanh niên tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang được thực hiện theo những hình thức nào
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài này góp phần làm sáng tỏ một số lý luận liên quan tới vấn đề nghiên cứu như: Thanh niên dân tộc thiểu số là gì? Giải quyết việc làm là gì? Các hoạt động giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc Nùng và các yếu tố ảnh hưởng Bên cạnh đó, đề tài thể hiện được vai trò của công tác xã hội trong việc giải quyết việc làm cho thanh niên, từ đó giúp mọi người nhận thức được tầm quan trọng của nhân viên công tác xã hội hiện nay
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài nghiên cứu thực trạng việc làm của thanh niên dân tộc Nùng từ thực tiễn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang và công tác xã hội đối với giải quyết vấn đề trên địa bàn nghiên cứu Trên cơ sở đó, từ kết quả nghiên cứu chỉ ra các vấn đề trong thực trạng và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động công tác xã hội với vấn đề giải quyết việc làm trên địa bàn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang Đồng thời tài liệu có thể dử dụng làm tài liệu tham khảo cho người làm công tác xã hội, bố sung hệ thống lý thuyết, thực hành cho các hoạt động công tác xã hội với vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên nói chung và thanh niên
Trang 128
dân tộc Nùng nói riêng
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu; Kết luận; Danh mục tài liệu và phụ lục kèm theo luận văn còn có 3 chương sau đây:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động giải quyết việc làm với
thanh niên dân tộc thiểu số
Chương 2: Thực trạng hoạt động giải quyết việc làm cho thanh niên dân
tộc Nùng tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang từ cách tiếp cận Công tác xã hội
Chương 3: Các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động Công tác xã
hội trong giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc Nùng tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
Trang 139
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
CHO THANH NIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ 1.1 Khái niệm và đặc điểm thanh niên và thanh niên dân tộc thiểu số
1.1.1 Một số khái niệm
* Thanh niên
Theo điều 1, “Chương I: Những quy định chung” Luật thanh niên Việt
Nam ban hành năm 2005 có hiệu lực ngày 01/7/2006, quy định: “Thanh niên
quy định trong luật này là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến ba mươi tuổi”
Dưới góc độ tâm lý học, các nhà tâm lý học nhìn nhận thanh niên là một giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thơ phụ thuộc sang hoạt động độc lập với tư cách là môt công dân có trách nhiệm Dưới góc độ kinh tế học thanh niên được xem là một lực lượng lao động xã hội, nguồn bổ sung cho đội ngũ lao động trên tất cả các lĩnh vực
Tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, đặc điểm truyền thống, độ tuổi bình quân mà mỗi quốc gia có quy định độ tuổi thanh niên khác nhau Tuy nhiên, theo cơ cấu lứa tuổi của dân số các nước trên thế giới có những quy định khác nhau về độ tuổi thanh niên, thông thường từ 15 đến 24, 25, 29 hoặc 34 tuổi Theo Liên Hợp Quốc lứa tuổi 15-34 tuổi là thuộc cơ cấu lao động trẻ Còn thanh niên thường chỉ tính trong độ tuổi từ 15-24 tuổi để hàm ý ở độ tuổi này thanh niên bao gồm những người rời ghế nhà trường sớm nhất từ 15 tuổi và kết thúc đào tạo nghề nghiệp ở cấp Đại học lúc 24 tuổi Nhiều nước quy định ở độ tuổi 15-24 tuổi, riêng Việt Nam quy định ở độ tuổi 16-30 tuổi [5]Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài nhằm đảm bảo phù hợp với các nhóm lứa tuổi theo quy định, điều tra hằng năm tại Việt Nam, đảm bảo cho việc phân tích được thống nhất, chính xác tác gải thống nhất thanh niên được hiểu là công dân Việt Nam trong độ tuổi từ 16-30 tuổi, với hai phân nhóm
Trang 1410
nhỏ từ đủ 16-20 và từ 22-30 tuổi bao gồm:
- Nhóm sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông không
có điều kiện học lên, tham gia ngay vào thị trường lao động Đó là lao động phổ thông, chưa được đào tạo nghề
- Nhóm sau khi tốt nghiệp các trường cao đẳng, đại học, dạy nghề (đã qua đào tạo nghề) sẵn sàng tham gia vào thị trường lao động
* Thanh niên dân tộc thiểu số
Thanh niên là một nhóm xã hội nhân khẩu đặc thù bao gồm những người trong một độ tuổi nhất định, có sự phát triển nhanh chóng về thể chất, tâm lý, trí tuệ, có mặt trong mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội; có mối quan hệ gắn bó mật thiết với tất cả các giai cấp, tầng lớp trong xã hội; là lực lượng xã hội to lớn đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển trong tương lai của mỗi quốc gia,
dân tộc Từ đó, chúng ta có thể hiểu: TNDTTS là một nhóm người có độ tuổi từ
16 đến 30 tuổi, có sự phát triển nhanh chóng về thể chất, tâm lý, trí tuệ, có mặt trong mọi lĩnh vực hoạt động của cộng đồng các dân tộc thiểu số, lao động hiệu quả góp phần thúc đẩy sự phát triển của địa phương cùng với sự phát triển của
đất nước [16]
Như vậy, giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số là: Quá trình tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất trong các điều kiện kinh tế - xã hội nhất định để kết hợp với thể chất, tâm lý, trí tuệ của TNDTTS (là một nhóm người có độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi) một cách hiệu quả góp phần thúc đẩy sự phát triển của địa phương cùng với sự phát triển của đất nước [16.tr9]
1.1.2 Đặc điểm tâm lý xã hội của Thanh niên dân tộc thiểu số
Dân tộc thiểu số thường được nhận biết thông qua những đặc trưng chủ yếu sau đây:
Có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế Đây là đặc trưng quan trọng nhất của dân tộc Các mối quan hệ kinh tế là cơ sở liên kết các bộ phận, các thành viên của dân tộc, tạo nên nền tảng vững chắc của cộng đồng dân tộc
Trang 1511
Có thể cư trú tập trung trên một vùng lãnh thổ của một quốc gia, hoặc cư trú đan xen với nhiều dân tộc anh em Vận mệnh dân tộc một phần rất quan trọng gắn với việc xác lập và bảo vệ lãnh thổ đất nước
Có ngôn ngữ riêng và có thể có chữ viết riêng (trên cơ sở ngôn ngữ chung của quốc gia) làm công cụ giao tiếp trên mọi lĩnh vực: kinh tế, văn hoá, tình cảm
Có nét tâm lý riêng (nét tâm lý dân tộc) biểu hiện kết tinh trong nền văn hoá dân tộc và tạo nên bản sắc riêng của nền văn hoá dân tộc, gắn bó với nền
văn hoá của cả cộng đồng các dân tộc (quốc gia dân tộc) [27]
1.2 Việc làm và giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số
1.2.1 Một số khái niệm
* Việc làm
Hiện nay trên thế giới và ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu
đưa ra các khái niệm việc làm theo các khía cạnh khác nhau:
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho rằng: “Người có việc làm là người
đang làm việc trong lĩnh vực, ngành nghề, dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình đồng thời góp phần cho xã hội”
Trên thực tế việc làm nêu trên được thể hiện dưới 3 hình thức:
+ Một là, làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc hiện vật cho công việc đó
+ Hai là, làm công việc để thu lợi cho bản thân mà bản thân lại có quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu (một phần hay toàn bộ) tư liệu sản xuất để tiến hành công việc đó
+ Ba là, làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó Bao gồm sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc 1 thành viên khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản lý
Trang 1612
Theo quan niệm của Mác: “Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghê…) để sử dụng sức lao động đó Theo quan niệm của Mác thì bất cứ tình huống nào xảy ra gây nên trạng thái mất cân bằng giữa sức lao động và điều kiện cần thiết để sử dụng sức lao động đó đều có thể dẫn tới việc thiếu việc làm hay mất việc làm.Như vậy, việc làm là một phạm trù kinh tế - xã hội, việc làm chịu sự chi phối của nhiều mối quan hệ Quan niệm đúng về việc làm là cơ sở khoa học cho giải quyết việc làm [36, tr 5]
Phân loại việc làm: Có nhiều cách nhìn nhận và phân loại việc làm như việc làm bán thời gian, việc làm đầy đủ, việc làm hiệu quả, việc làm chính, việc làm phụ… nhưng trong nghiên cứu này chúng tôi phân loại theo cơ cấu ngành kinh tế với 3 nhóm việc làm tương ứng với 3 khu vực kinh tế:
Khu vực I: Việc làm trong nhóm ngành nông nghiệp và lâm nghiệp
Khu vực II: Việc làm trong nhóm ngành công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, khai thác mỏ, năng lượng
Khu vực III: Việc làm trong nhóm ngành dịch vụ
* Giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm cho người lao động là việc tạo cho người lao động từ chỗ thất nghiệp hoặc thiếu việc làm, việc làm không đầy đủ trở thành người có việc làm và có thu nhập đảm bảo từ việc làm đó Có thể phân tích một số khía cạnh liên quan đến giải quyết việc làm như sau:
- Giải quyết việc làm là tạo ra chỗ làm việc mới cho người lao động có nhu cầu về việc làm và có khả năng đáp ứng yêu cầu của việc làm đó Khi người lao động hội tụ đủ những điều kiện này, học tham gia làm việc và có thu nhập từ việc làm đó
- Giải quyết việc làm là hỗ trợ người lao động tìm được việc làm phù hợp với nhu cầu và khả năng của họ như: cung cấp thông tin về cơ hội việc làm, hỗ trợ đào tạo nghề và nâng cao kỹ năng cho người lao động, tổ chức ngày hội hoặc
Trang 1713
các sàn giao dịch việc làm để người lao động gặp gỡ người sử dụng lao động
- Giải quyết việc làm còn là khuyến khích, tạo điều kiện cho người lao động tự tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm phù hợp với điều kiện, với khả năng
và trình độ của bản thân
- Giải quyết việc làm chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp, những người chưa có việc làm và đang mong muốn được làm việc, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến lực lượng thanh niên - đối tượng mới gia nhập thị trường lao động Đối với quốc gia có cơ cấu dân số và lực lượng sản xuất như nước ta, giải quyết việc làm cho người lao động là vấn đề quan trọng và cấp bách hàng đầu Điều 13, chương II, Bộ luật Lao động của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ rõ: “Giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội”
Chủ trương của Đảng tại Đại hội XII: “Tạo cơ hội để mọi người có việc làm và cải thiện thu nhập Bảo đảm tiền lương, thu nhập công bằng, đủ điều kiện sống và tái sản xuất sức lao động Huy động tốt nhất nguồn nhân lực lao động để phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển đất nước Chú trọng giải quyết việc làm cho lao động dôi dư từ khu vực nông nghiệp do việc tích tụ, tập trung ruộng đất hoặc thu hồi đất phát triển công nghiệp, đô thị và các công trình công cộng Khuyến khích đầu tư xã hội tạo ra nhiều việc làm, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp Điều chỉnh chính sách dạy nghề, gắn đào tạo với sử dụng Điều chỉnh chính sách xuất khẩu lao động hợp lý Hoàn thiện và thực hiện chính sách bảo hộ lao động”
Từ những quan điểm chung về giải quyết việc làm cho người lao động, có thể đưa ra cách tiếp cận về giải quyết việc làm cho thanh niên với tư cách là một lực lượng lao động đặc thù như sau:
Thứ nhất, giải quyết việc làm cho thanh niên là tạo ra chỗ làm việc phù hợp
với lứa tuổi, trình độ, tay nghề và sức khỏe của lao động thanh niên Ở trong độ
Trang 1814
tuổi từ 16 đến 30, thanh niên đang trong giai đoạn phát triển và dần hoàn thiện về thể chất, tâm lý và nhân cách Thanh niên có thể được đào tạp nghề hoặc chưa qua đào tạo, do đó trình độ tay nghề cũng chưa ổn định Giải quyết việc làm cho lao động thanh niên phải quan tâm đến sự phù hợp này, phải tính đến khả năng phát triển của thanh niên trong tương lai về cả thể chất, trí tuệ và tâm lý
Bộ Luật Lao động đã dành riêng chương XI, mục I để quy định về “lao động chưa thành niên” Điều 119 của Bộ luật này chỉ rõ: “Nguười lao động chưa thành niên là người dưới 18 tuổi” Như vậy, một bộ phận thanh niên từ 16 đến
18 tuổi được xếp vào đối tượng lao động chưa thành niên Điều 121 của Bộ luật này nhấn mạnh: “Người sử dụng lao động chỉ được sử dụng lao động chưa thành niên vào những công việc phù hợp với sức khỏe để đảm bảo sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách và có vai trò trách nhiệm quan tâm chăm sóc người lao động chưa thành niên về các mặt lao động, tiền lương, sức khỏe, học tập trong quá trình lao động Cấm sử dụng lao động chưa thành niên làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành [20]
Thứ hai, giải quyết việc làm cho thanh niên phải tính đến yếu tố gia nhập
thị trường lao động thường xuyên, liên tục Vấn đề này nếu không được tính toán đầy đủ, cộng với tỷ lệ lao động thất nghiệp do mất việc làm và một lực lượng lao động chưa tìm được việc làm hàng năm sẽ tạo áp lực lớn về giải quyết việc làm cho người lao động của Nhà nước và xã hội,
Thứ ba, trong giải quyết việc làm cho thanh niên, vấn đề tự tìm việc làm sẽ
khó khăn hơn các đối tượng lao động khác Nguyên nhân chủ yếu là thanh niên đang trong giai đoạn phát triển, muốn khẳng địn bản thân nhưng tâm lý chưa muốn
ổn định, chưa tự chủ về bản thân mà cần có sự định hướng nghề nghiệp từ phía gia đình, nhà trường, Đoàn thanh niên, Hội Liên hiệp Thanh niên Thêm vào đó, thanh niên còn thiếu kiến thức, thiếu kinh nghiệm, thiếu vốn nên trong giai đoạn đầu của thời kỳ này thanh niên khó có khả năng tự tạo việc làm ổn định cho bản thân
Trang 1915
Thứ tư, giải quyết việc làm cho thanh niên phải gắn đào tạo thường xuyên,
liên tục, góp phần bồi dưỡng, phát triển nguồn lực có chất lượng Bất kỳ lĩnh vực nào người lao động cũng phải trải qua quá trình đào tạo, bồi dưỡng, đào tạo lại để phù hợp với yêu cầu công việc Vì vậy, việc đào tạo nghề, nâng cao tay nghề và kỹ năng lao động gắn với giải quyết việc làm cho thanh niên là xu hướng tích cực trong giai đoạn hiện nay
Giải quyết việc làm bao gồm các biện pháp sau:
+ Khuyến khích các thành phần kinh tế mang các ngành nghề, các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ
+ Khôi phục và phát triển các làng nghề có truyền thống lâu đời
+ Đẩy mạnh phong trào thanh niên khởi nghiệp, thanh niên lập thân, lập nghiệp
+ Đẩy mạnh xuất khẩu lao động
+ Tăng cường công tác dạy nghề và đào tạo nghề
+ Cải thiện điều kiện làm việc và đời sống cho người lao động [24, tr16]
* Hoạt động
Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới khách quan để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và cả về phía con người (chủ thể) Con người sống là con người hoạt động Hoạt động là phương thức tồn tại của con người Theo tâm lý học mácxit, cuộc sống con người là một dòng hoạt động, con người là chủ thể của các hoạt động thay thế nhau Hoạt động là quá trình con người thực hiện các quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên, xã hội Đó là quá trình chuyển hóa năng lực lao động và các phẩm chất tâm lý khác của bản thân thành sự vật, thành thực tế và quá trình ngược lại là quá trình tách những thuộc tính của sự vật, của thực tế quay trở về với chủ thể, biến thành vốn liếng tinh thần của chủ thể
Chúng ta có thể hiểu hoạt động là quá trình tác động qua lại giữa con người với thế giới xung quanh để tạo ra sản phẩm về phía thế giới và sản phẩm về phía con người
Trang 2016
* Hoạt động giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số
Hoạt động tạo việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số là: Quá trình tạo
ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất trong các điều kiện kinh tế - xã hội nhất định để kết hợp với thể chất, tâm lý, trí tuệ của thanh niên dân tộc thiểu số (là một nhóm người có độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi) một cách hiệu quả góp phần thúc đẩy sự phát triển của địa phương cùng với sự phát triển của đất nước
1.2.2 Các hoạt động giải quyết việc làm
* Hoạt động cung cấp thông tin, tư vấn việc làm
Mục đích của hoạt động: Tư vấn cho người lao động về chính sách lao động, cung cấp thông tin về việc làm cho người lao động và người sử dụng lao động Hình thức: Có nhiều hình thức cung cấp thông tin việc làm bao gồm: qua các phương tiện thông tin đại chúng như đài, báo chí và hiện nay enternet phát triển các trang mạng như Face book, Zalo thuận lợi cho việc tuyên truyền thông tin về tuyển dụng lao động
Vai trò của nhân viên công tác xã hội: Tìm hiểu chính sách ưu đãi dành cho thanh niên dân tộc Khảo sát nhu cầu, tìm kiếm thông tin về việc làm kết nối thanh niên dân tộc Nùng có nhu cầu tới nhà tuyển dụng, và nhà tuyển dụng với thanh niên
* Hoạt động dạy nghề gắn với việc làm
Hoạt động dạy nghề gắn với việc làm là hoạt động dạy và học nhằm trang
bị kiến thức cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc được định hướng nghề nghiệp, việc làm sau khi hoàn thành khóa học
Hoạt động dạy nghề gắn với việc làm là hoạt động giúp thanh niên được trang bị kiến thức, kỹ năng tìm kiếm thông tin về việc làm, chủ động tiếp cận các nhà tuyển dụng, qua đó thanh niên có thể có được công việc phù hợp với năng lực
Mục đích của hoạt động nhằm định hướng nghề nghiệp, tạo việc làm cho thanh niên, giúp thanh niên tự khởi nghiệp từ những kiến thức đã được học
Trang 2117
Vai trò cán bộ giải quyết việc làm là tiến hành khảo sát nhu cầu, lập kế hoạch trợ giúp, cung cấp thông tin về các lớp dạy nghề, kết nối với các cơ sở tư nhân và Nhà nước để có hình thức hỗ trợ dạy nghề cho thanh niên dân tộc Nùng
* Hoạt động hỗ trợ xuất khẩu lao động
Theo thuật ngữ của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội thì xuất khẩu lao động là việc đưa người lao động đi làm thuê có thời hạn ở nước ngoài theo quy định của pháp luật Hoạt động này bắt đầu từ năm 1980 dưới hình thức hợp tác lao động với các nước xã hội chủ nghĩa trong tình hình kinh tế Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn Kết quả xuất khẩu lao động đã đem lại nhiều thuận lợi cho đất nước Từ khi cơ chế thay đổi năm 1991, hoạt động xuất khẩu lao động phát triển mạnh mẽ, mở rộng thị trường ra nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ Bước sang thế kỷ 21 có sự tăng đột biến lực lượng lao động Việt Nam xuất khẩu sang nước ngoài, nhiều nhất tại ba thị trường Đài Loan, Malaysia và Hàn Quốc [16] Thuật ngữ XKLĐ được sử dụng ở Việt Nam để chỉ hoạt động chuyển dịch lao động từ quốc gia này sang quốc gia khác Tham gia vào quá trình này gồm 2 bên: Bên nhập khẩu lao động và bên XKLĐ
Xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế xã hội góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động
Tạo việc làm thông qua xuất khẩu lao động là việc các cơ quan Nhà nước
và các doanh nghiệp XKLĐ bằng các việc làm của mình tìm kiếm, khai thác, thu hút, tổ chức các hoạt động, tạo ra cơ chế và chính sách đặt người lao động vào các chỗ trống làm việc ở nước ngoài đòi hỏi về yêu cầu của người lao động khác nhau, yêu cầu ngành nghề khác nhau, điều kiện làm việc, mức thu nhập, chế độ đãi ngộ khác nhau
* Hoạt động hỗ trợ vốn
Hoạt động hỗ trợ vốn là hoạt động hỗ trợ nguốn vốn từ chương trình, dự án tới đối tượng là thanh niên và thanh niên dân tộc
Trang 2218
Mục đích của hoạt động nhằm giúp thanh niên nói chung và thanh niên dân tộc Nùng nói riêng có nguồn vốn để sản xuất kinh doanh góp phần tạo việc làm
và thu nhập cho cá nhân và gia đình
Nội dung của hoạt động hỗ trợ vốn vay để mua các tư liệu cần thiết cho sản xuất nông nghiệp, đầu tư sản xuất, kinh doanh đảm bảo cho cuộc sống của thanh niên và gia đình
Vai trò của cán bộ giải quyết việc làm tìm hiểu các nguốn vốn vay tại cơ sở kết nối thanh niên dân tộc Nùng tới các nguồn vốn vay nhằm mục đích giải quyết việc làm hoặc phát triển kinh tế
1.2.3 Các lý thuyết công tác xã hội ứng dụng trong giải quyết việc làm
1.2.3.1 Cách tiếp cận theo thuyết nhu cầu
Theo thuyết nhu cầu của A.H Maslow con người là một thực thể sinh - tâm
lý xã hội; chính vì vậy con người có nhu cầu cá nhân cần cho sự sống và nhu cầu cá nhân cần cho cuộc sống xã hội
Maslow đã thiết lập một lý thuyết có thứ bậc của nhu cầu Tất cả các nhu cầu cơ bản theo ông là bản năng, giống với bản năng của động vật Con người bắt đầu với một khuynh hướng chưa rõ rệt để rồi sẽ phát triển về sau Nếu môi trường thích ứng, con ngưới sẽ phát đầy đủ và thể hiện được cái tiềm năng mà
họ thừa kế Nếu môi trường không thích ứng, họ sẽ không phát triển đầy đủ Đầu tiên ông chia nhu cầu của con người thành 5 bậc, đến năm 1970 chia thành 7 bậc, sau này các nhà kinh tế học hiện đại giới thiệu thuyết của ông thường là 5 bậc Theo ông, hành vi con người phụ thuộc vào các động cơ bên trong, động cơ bên trong được hình thành từ những nhu cầu của con người Maslow đã thiết lập một hệ thống gồm năm cấp độ của nhu cầu cơ bản Ngoài những nhu cầu này, còn có các nhu cầu có cấp độ cao hơn Chúng bao gồm nhu cầu cho sự hiểu biết, sự đánh giá cao và nhu cầu thẩm mỹ, tinh thần Trong các mức độ của năm nhu cầu cơ bản, con người không cảm thấy cần thiết nhu cầu thứ hai cho đến khi nhu cầu thứ nhất của họ đã được đáp ứng, cũng vậy,
Trang 2319
họ không cần đến nhu cầu thứ ba cho đến nhu cầu thứ hai đã được thỏa mãn và bậc thang nhu cầu cơ bản của Maslow bao gồm [32, tr 165]
- Nhu cầu sinh lý: Đây là những nhu cầu sinh học Chúng bao gồm nhu cầu
khí thở, thực phẩm, nước, và cơ thể có nhiệt độ tương đối ổn định Đây là những nhu cầu mạnh mẽ nhất, bởi vì nếu một người bị tước đoạt tất cả các nhu cầu trên, thì nhu cầu về sinh học sẽ là cái đầu tiên con người tìm kiếm để sống còn
- Nhu cầu an toàn: An toàn sinh mạng là nhu cầu cơ bản nhất là tiền đề cho
các nội dung khác như an toàn lao động, an toàn môi trường, an toàn nghề nghiệp, an toàn kinh tế, an toàn đi lại, an toàn tâm lý, an toàn nhân sự
- Nhu cầu xã hội (tình cảm, tình yêu và được nhìn nhận): Khi nhu cầu về an
toàn và sinh học được đáp ứng, cái nhu cầu kế tiếp tiếp là nhu cầu xã hội như tình cảm, tình yêu và được nhìn nhận xuất hiện Maslow nói rằng con người luôn tìm cách vượt qua cảm giác cô đơn và xa lánh mong muốn được hòa nhập, lòng tin, lòng trung thành giữa con người với con người với nhau
- Nhu cầu cần được tôn trọng: Khi ba loại nhu cầu đầu tiên được thỏa mãn,
nhu cầu lòng tự trọng có thể phát sinh Điều này liên quan đến lòng tự trọng mà con người tạo ta cho mình và cả lòng tự trọng mà họ nhận được từ người khác Con người luôn cần có một nhu cầu về lòng tự trọng được duy trì, vững chắc, ở mức độ cao, và cần có sự tôn trọng từ người khác Khi những nhu cầu này được thỏa mãn, con người cảm thấy tự tin chính mình và cảm thấy mình có giá trị, có địa vị, danh dự Khi nhu cầu này mất đi, con người cảm thấy kém cỏi, yếu đuối, bất lực và vô giá trị
- Nhu cầu tự khẳng định mình: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong
thang nhu cầu của ông Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó Nhu cầu này bao gồm nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết, nghiên cứu ), nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu thực hiện mục đích của mình bằng khả năng cá nhân
Lý thuyết “các thứ bậc nhu cầu” thường được biểu diễn như một kim tự
Trang 24có tính tích cực trong thực hiện các hoạt động Trong đề tài nghiên cứu, tác giả tìm hiểu về các nhu cầu và thực thực trạng đáp ứng các nhu cầu giải quyết việc làm của thanh niên, trong đó có nhu cầu về tiếp cận về thông tin việc làm, kết nối các cơ sở sử dụng lao động, nâng cao chất lượng lao động Việc đảm bảo các nhu cầu xã hội cũng là một trong những điều kiện mà an sinh xã hội cần thực hiện [24, tr23]
Lý thuyết này được sử dụng trong đề tài nhằm tìm hiểu thực trạng đáp ứng nhu cầu giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc Nùng tại địa phương đồng thời xác định những nhu cầu việc làm mà thanh niên đang cần được đáp ứng là gì? Trước khi lập kế hoạch trợ giúp thanh niên nhân viên công tác xã hội cần xác định được nhu cầu, mong mốn của họ là gì? Họ cần gì? Và nhu cầu đó đã được đáp ứng đến đâu? Nhà nghiên cứu từ việc kết quả nghiên cứu được đưa ra thực trạng và kế hoạch giúp đỡ cho phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện bản thân cho phù hợp
1.2.3.2 Cách tiếp cận theo thuyết hệ thống
Lý thuyết hệ thống là một trong những lý thuyết quan trọng được vận dụng trong Công tác xã hội Thuyết hệ thống được phát triển vào những năm 30
và 40 của thế kỷ XX do nhà sinh học Ludving Von Bertanffy khởi xướng Thuyết hệ thống bao quát mọi lĩnh vực (tin học, sinh học, kinh tế, xã hội học) một hệ thống được định nghĩa là một tổng thể phức hợp gồm nhiều yếu tố nào
đó đều tác động lên những yếu tố khác và cũng tác động lên toàn bộ hệ thống Một hệ thống có thể gồm nhiều tiểu hệ thống, đồng thời là một bộ phận của một
Trang 25và nét khác biệt chính vì vậy khi làm việc với thanh niên dân tộc Nùng nhân viên Công tác xã hội nên có những phân tích, đánh giá về trình độ, năng lực, nhu cầu để trên cơ sở đó đưa ra những cách thức trợ giúp phù hợp
Picus và Minahan cùng các đồng sự khác là những người tiên phong đưa
lý thuyết hệ thống áp dụng vào thực tiễn Công tác xã hội Nguyên tắc về cách tiếp cận theo thuyết hệ thống là các cá nhân phụ thuộc vào hệ thống trong môi trường xã hội của họ nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình Có ba hình thức hệ thống tổng quát được đưa ra đó là: Hệ thống phi chính thức (gia đình, bạn bè, người thân, đồng nghiệp ); hệ thống chính thức (các nhóm cộng đồng, tổ chức đoàn thể ); hệ thống xã hội (bệnh viện, cơ quan, tổ chức đoàn thể Nhà nước, nhà trường ) Tuy nhiên sự phân chia trên chỉ mang tính chất tương đối bởi lẽ, đối với cá nhân này thì hệ thống này có thể là hệ thống chính thức nhưng với cá nhân khác lại là hệ thống xã hội [24]
Nhìn nhận vấn đề theo hệ thống giúp nhân viên Công tác xã hội tổ chức tư duy về một vấ đề phức tạp, chia tình huống phức tạp thành một tập hợp những
hệ thống, phân tích sư tác động của hệ thống này tới hệ thống khác và theo dõi
sự tương tác giữa các hệ thống
Nhân viên Công tác xã hội khi hỗ trợ giải quyết việc làm đối với thanh
Trang 2622
niên dân tộc Nùng cần chỉ ra cho đối tượng của mình đang cần tới những hệ thống nào trợ giúp và tìm cách giúp đỡ để họ có thể tiếp cận và tham gia vào các
hệ thống đó để giải quyết vấn đề của chính bản thân mình
Mặt khác, để đề xuất giải pháp hay kế hoạch trợ giúp thân chủ của mình giải quyết vấn đề thì luôn luôn phải tính đến các yếu tố nguồn lực, trong đó nguồn lực cộng đồng, các đoàn thể, tổ chức xã hội như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông dân và các nguồn lực khác là rất quan trọng để có thể xây dựng kế hoạch trợ giúp cho thanh niên dân tộc Nùng Một vấn đề đặt ra trong quá trình trợ giúp thân chủ đó là ngoài ý chí quyết tâm thực hiện của thanh niên thì cần tới các điều kiện khác như nguồn vốn, kiến thức, kinh nghiệm, hoạt động
hỗ trợ của các tổ chức chính trị xã hội tại địa phương [24, tr 24,25]
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm
1.3.1 Yếu tố tố về nhân viên Công tác xã hội
Nhân viên Công tác xã hội (NVCTXH) được Hiệp hội các nhà Công tác xã
hội quốc tế IASW đưa ra khái niệm: “NVCTXH là người được đào tạo và trang
bị các kiến thức và kỹ năng trong Công tác xã hội, họ có nhiệm vụ: trợ giúp các đối tượng nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với vấn đề trong cuộc sống; tạo cơ hội để các đối tượng tiếp cận được nguồn lực cần thiết; thúc đẩy sự tương tác giữa cá nhân và môi trường, tạo ảnh hưởng tới chính sách xã hội, các
cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng thông qua nghiên cứu và hoạt động thực tiễn”
Trong phạm vi đề tài, NVCTXH còn được hiểu là những người làm về Công tác xã hội nhưng không được đào tạo về CTXH, chúng tôi gọi họ là nhân viên công tác xã hội bán chuyên nghiệp NVCTXH có thể là: Phó chủ tịch xã, Bí thư Đoàn thanh niên, chủ tịch Hội nông dân, cán bộ chính sách xã hội Họ là những người trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào hoạt động công tác xã hội tại địa phương, trong đó có hoạt động hỗ trợ giải quyết việc làm cho thanh niên như
hỗ trợ vốn, tư vấn, hướng nghiệp, kết nối với các doanh nghiệp sử dụng lao
Trang 2723
động hoặc hỗ trợ thanh niên học nghề
Để thực hiện tốt vai trò của mình trong việc giúp đỡ cho hoạt động công tác xã hội nói chung và hoạt động giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc Nùng nói riêng, nhân viên công tác xã hội phải có trình độ chuyên môn, có kiến thức, kỹ năng, có thái độ chuẩn mực khi làm việc, lòng đam mêm nghề nghiệp
để có thể thực hiện tốt nhiệm vụ của mình như kết nối nguồn lực, tham vấn, tư vấn cho đối tượng của mình một cách hiệu quả
Trong quá trình giúp đỡ các đối tượng yếu thế, nhân viên công tác xã hội đảm nhận nhiều vai trò, có lúc họ là nhà tham vấn giúp cho đối tượng tăng cường năng lực để có thể tự giải quyết vấn đề của bản thân và học cách ứng phó với tình huống có vấn đề Đối với các đối tượng nói chung và tham vấn đối với đối tượng thanh niên nói riêng được sử dụng nhằm hỗ trợ đối tượng là thanh niên dân tộc Nùng giải quyết vấn đề tâm lý như: mặc cảm, tự ti, chán nản, thất vọng và đòi hỏi nhân viên công tác xã hội phải có được sự thấu cảm với tâm
tư, nguyện vọng, tình cảm, hiểu được năng lực và các nguồn lực của đối tượng Bên cạnh đó, họ là cầu nối giữa đối tượng với các dịch vụ và nguồn lực phù hợp Nhân viên Công tác xã hội là người có được những thông tin về các dịch
vụ, chính sách và giới thiệu cho đối tượng các chính sách, dịch vụ, nguồn tài nguyên sẵn có từ cá nhân, cơ quan, tổ chức để họ có thể tiếp cận nguồn lực và có thêm sức mạnh để giải quyết vấn đề
Tuy nhiên, nhân viên công tác xã hội còn hạn chế về số lượng và chất lượng, đa số chưa được đào tạo bài bản về chuyên ngành công tác xã hội, họ là những nhà nhân viên công tác xã hội bán chuyên nghiệp nên việc xác định thông tin cũng như tâm tư nguyện vọng của thanh niên dân tộc Nùng chưa sâu, vì họ là những nhà công tác xã hội bán chuyên nghiệp nên họ dành phần lớn làn việc chuyên môn việc đầu tư cho công tác xã hội là chưa cao
1.3.2 Yếu tố đặc điểm đối tượng
Đối với thanh niên dân tộc Nùng chịu sự tác động của yếu tố liên quan đến
Trang 2824
điều kiện sống, ảnh hưởng của kiều kiện kinh tế, văn hóa xã hội ở miền núi Đồng bào dân tộc Nùng từ lâu đời lấy nông nghiệp lúa nước làm nguồn sống chính, bên cạnh đó việc trồng các loại lúa nương và các loại cây lương thực và rau màu khác như: khoai, sắn, vừng, lạc, đậu, đỗ, bầu, bí cũng không kém phần quan trọng Hình thức chăn nuôi gia đình rất phát triển Kinh tế tự nhiên như hái lượm vẫn còn đậm nét nên thanh niên dân tộc Nùng hình thành những đặc điểm sau:
Thanh niên dân tộc Nùng chưa có thói quen lao động trí óc, ngại suy nghĩ, ngại động não; trí tưởng tượng có phần còn nghèo nàn, khả năng tư duy trìu tượng – logic còn hạn chế, có thói quen suy nghĩ đơn giản, một chiều, thiếu sâu sắc khi nhìn nhận vấn đề Tư duy còn cứng nhắc, chưa mềm dẻo, linh hoạt Nguyên nhân là do sống trong điều kiện kinh tế chưa được phát triển, môi trường giao tiếp hẹp, ít va chạm, ít tính phức tạp cho nên vốn sống, vốn hiểu biết của thanh niên dân tộc Nùng còn hạn hẹp Mối quan hệ xã hội ít nên việc tiếp cận với những thông tin về việc làm hạn chế Thanh niên dân tộc Nùng thường thỏa mãn với những cái sẵn có nên có tư duy hài lòng với hiện tại không có tinh thần cầu tiến bộ, hạn chế trong việc trao đổi thông tin về việc làm Tuy nhiên, những năm gần đây, do phương tiện thông tin đại chúng phát triển mạnh ở miền núi nên thanh niên dân tộc Nùng đã có những biến đổi rõ rệt về nhận thức Việc tìm kiếm thông tin việc làm có những thuận lợi lớn tuy nhiên các phương tiện thông tin đại chúng phát triển kéo theo nhiều hệ lụy, đó là những thông tin mang nội dung lừa đảo điều này là một trong nhưng vấn đề cần tới nhân viên công tác xã hội
Thanh niên dân tộc Nùng rất gắn bó với quê hương, làng bản, gắn bó với gia đình, dòng tộc Điều này ảnh hưởng lớn tới việc tư vấn nghề nghiệp như xuất khẩu lao động cho thanh niên dân tộc Nùng
Đồng bào các DTTS nói riêng và dân tộc Nùng nói chung có ý thức tộc người sâu sắc, luôn chịu sự chi phối của những người có uy tín, ảnh hưởng trong dân tộc điều này nhân viên công tác xã hội cần lưu ý khi làm việc với thân chủ, chú ý tới vấn đề sự ảnh hưởng của người có uy tín để trợ giúp trong quá trình
Trang 2925
làm việc với thân chủ
Đặc điểm của đối tượng là một yếu tố quan trọng quyết định đến hoạt động Công tác xã hội Từ những đặc điểm trên mà nhân việc Công tác xã hội cần lựa chọn cách làm phù hợp, khuyến khích tính tự lập của thanh niên dân tộc Nùng, nhất là các hoạt động liên quan tới giải quyết việc làm cho bản thân thanh niên
1.3.3 Yếu tố nguồn lực kinh phí
Kinh phí để thực hiện các hoạt động giải quyết việc làm cho thanh niên đa phần được trích từ nguồn kinh phí của các chương trình, dự án, từ các nguồn ngân sách Nhà nước, ngân sách tỉnh Ngoài ra còn có kinh phí hỗ trợ của các doanh nghiệp, cơ sở đào tạo nghề Tuy nhiên kinh phí đối với hoạt động giải quyết việc làm cho thanh niên chưa nhiều, chưa đảm bảo được các hoạt động hỗ trợ giải quyết việc làm Đặc biệt đây là nhóm thanh niên dân tộc Nùng rất cần sự quan tâm, tạo điều kiện và cần sự hỗ trợ về dạy nghề, tư vấn việc làm Tất cả những hoạt động đó rất cần tới nguồn kinh phí để đảm bảo thực hiện và duy trì, nếu không có sẽ khó để triển khai và không đáp ứng được hiệu quả trong công tác giải quyết, trợ giúp thanh niên Do đó, yếu tố nguồn lực kinh phí là yếu tố rất quan trọng và thiết thực
1.3.4 Yếu tố điều kiện tự nhiên, phong tục tập quán
Điều kiện tự nhiên, phong tục tập quán của mỗi vùng miền, mỗi dân tộc và nền văn hóa của mỗi quốc gia cũng có ảnh hưởng nhất định đến việc làm và công tác giải quyết việc làm cho lao động nói chung và thanh niên dân tộc Nùng nói riêng
Tính cố kết cộng đồng ở nông thôn cao, đồng bào dân tộc có truyền thống đoàn kết, sống quần tụ để đối phó với những bất lợi từ thiên nhiên Thanh niên
có ảnh hưởng rất lớn từ phong tục tập quán và tâm lý làng xã nên một phần không nhỏ thanh niên dân tộc thiểu số đều muốn gắn bó với quê hương, không muốn lập nghiệp ở nơi xa
1.4 Cơ sở pháp lý về Giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số
Trang 3026
1.4.1 Cơ sở pháp lý về việc làm của thanh niên
Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với mọi
quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực lượng lao động trẻ lớn như Việt Nam Theo kết quả điều tra lao động - việc làm quý IV/2016 của Tổng cục Thống kê, lực lượng lao động cả nước là 54,56 triệu người, trong đó: lực lượng lao động là thanh niên (từ 15-29 tuổi) khoảng 14,4 triệu người (chiếm 26,3%), trong đó thanh niên nông thôn có khoảng 9,9 triệu người Đây là nguồn cung lao động lớn, có tri thức và sức khỏe, nhưng đồng thời cũng gây sức ép lớn trong vấn đề giải quyết việc làm
Nhận thức được vị trí, vai trò của vấn đề giải quyết việc làm, trong những năm qua, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách tốt nhằm giải quyết việc làm cho người lao động, đặc biệt là lao động ở độ tuổi thanh niên
Trong hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước đối với chính sách dạy nghề và giải quyết việc làm cho người lao động phải kể đến Bộ luật lao động số: 10/2012/QH13 được quốc hội thông quan ngày 18/6/2012 có hiệu lực ngày 01/5/2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Năm 2017 chính phủ trình với Quốc hội dự án Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật lao động
dự kiến 01/01/2018 sẽ có luật lao động Việt Nam năm 2017 Đây có thể coi là văn bản pháp quy cao nhất quy định những vấn đề liên quan đến hoạt động dạy nghề, tổ chức giới thiệu việc làm, trong đó đã thể chế hóa những nội dung cơ bản liên quan đến quan hệ lao động (tuyển dụng, sử dụng lao động, thời gian làm việc và nghỉ ngơi, tiền lương, bảo hộ lao động )
Ngoài bộ Luật lao động, hệ thống văn bản chính sách của Đảng và Nhà nước, Chính phủ về nghề nghiệp, việc làm tương đối đầy đủ và toàn diện Trên
cơ sở các quy định của Luật giáo dục, Luật dạy nghề, Luật thanh niên và các văn bản có liên quan, Chính phủ và các bộ, ngành đã ban hành các văn bản liên quan đến lĩnh vực dạy nghề, văn bản hướng dẫn và chỉ đạo thực hiện liên quan đến lĩnh vực giải quyết việc làm cho thanh niên [24, tr28]
Trang 3127
Trong giai đoạn 2011-2016, nhằm đẩy mạnh đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động nói chung lao động thanh niên nói riêng, Chính phủ đã ban hành rất nhiều chế độ, chính sách quan trọng nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện việc làm cho thanh niên Cụ thể là:
Nghị định số 61/2015/NĐ-CP ngày 09/7/2015 của Chính phủ quy định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm; Nghị định quy định
rõ về các vấn đề: hỗ trợ người lao động ở nước ngoài theo hợp đồng; hỗ trợ đào tạo nghề cho thanh niên hoàn thanh nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an, thanh niên tình nguyện; hỗ trợ thanh niên lập thân, lập nghiệp, khởi sự doanh nghiệp; nguồn quỹ quốc gia về việc làm
Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020; với mục tiêu bình quân đào tạo nghề cho khoảng 1 triệu lao động nông thôn; nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập của lao động nông thôn; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Bao gồm các hoạt động cụ thể: tuyên truyền, tư vấn học nghề và việc làm; điều tra khảo sát và dự báo nhu cầu dạy nghề cho lao động nông thôn; thí điểm các mô hình dạy nghề cho lao động nông thôn; tăng cường cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy nghề; phát triển chương trình và giáo trình dạy nghề; phát triển giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề; hỗ trợ lao động nông thôn học nghề
Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009 - 2020; đề án nâng cao chất lượng lao động và tăng số lượng lao động ở 61 huyện nghèo xuất khẩu lao động
Quyết định số 2474/QĐ- TTg ngày 30/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2011-2020; chiến lược nhằm mục tiêu Xây dựng và sử dụng nguồn nhân lực trẻ có chất
Trang 3228
lượng cao;giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho thanh niên; từng bước giải quyết chỗ ở cho thanh niên ở các khu công nghiệp, khu chế xuất và trường học
Quyết định số 2085/QĐ-TTg ngày 31/10/2016 Thủ tướng Chính phủ ban hành về phê duyệt chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017 – 2020 Mục tiêu giải quyết vấn đề khó khăn, bức xúc về đời sống sản xuất, cải thiện và nâng cao điều kiện sống cho hộ dân tộc thiểu số nghèo, hộ nghèo ở vùng khó khăn; chuyển đổi nghề cho trên 80% số hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, hộ nghèo ở vùng khó khăn thiếu đất sản xuất cơ bản giải quyết tình trạng thiếu nước sinh hoạt cho hộ dân tộc thiểu
số nghèo và hộ nghèo sống phân tán ở vùng đặc biệt khó khăn; Tạo điều kiện thuận lợi để hộ dân tộc thiểu số nghèo, hộ nghèo ở vùng đặc biệt khó khăn vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất
Trong quá trình triển khai thực hiện các chính sách tạo việc làm cho lao động thanh niên, một số Bộ, cơ quan ở Trung ương và địa phương đã tổ chức thu hút, tuyển chọn thanh niên tình nguyện tham gia các chương trình, đề án, dự
án phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc thuộc phạm vi quản lý nhà nước của ngành, lĩnh vực được phân công như:
- Đề án thí điểm tuyển chọn trí thức trẻ tình nguyện về các xã tham gia phát triển nông thôn, miền núi giai đoạn 2013-2020;
- Dự án thí điểm tuyển chọn 600 trí thức trẻ ưu tú, có trình độ đại học tăng cường về làm Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã thuộc 64 huyện nghèo (Bộ Nội vụ);
- Dự án Làng thanh niên lập nghiệp (Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh)
Quyết định 103/2008/QĐ-TTg ngày 21/7/2008 của thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt Đề án hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2008 – 2015 Mục tiêu hỗ trợ, tạo điều kiện cho thanh niên vay vốn học nghề, tạo việc làm và đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; Hỗ trợ đầu tư nâng cao năng lực
Trang 3329
trung tâm giới thiệu việc làm và dạy nghề trọng điểm của Đoàn thanh niên; tập huấn cán bộ đoàn các cấp về tư vấn học nghề, việc làm; tỷ lệ thanh niên được tiếp cận thông tin tư vấn, giới thiệu việc làm đạt 50% vào năm 2010 và 75% vào năm 2015; cung cấp kiến thức khởi sự doanh nghiệp cho thanh niên có nhu cầu lập doanh nghiệp
Tháng 3/2017, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã ký chương trình phối hợp giai đoạn 2017-
2020, trong đó tập trung nội dung tư vấn hướng nghiệp, giáo dục nghề nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên
Ngày 10/5/2006, Tỉnh ủy Bắc Giang ban hành nghị quyết số 52-NQ/TU về
5 chương trình phát triển kinh tế - xã hội trọng tâm giai đoạn 2006 - 2010, trong
đó chương trình phát triển giáo dục đào tạo và dạy nghề, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, Chương trình giảm nghèo đã đề ra nhiệm vụ mở rộng các hoạt động đào tạo nghề, giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động, tăng cường khuyến nông, khuyến lâm, hướng dẫn cách làm ăn, cách sản xuất kinh doanh cho người nghèo
Tỉnh Bắc Giang đã có quyết định 1248/QĐ-UBND về việc phê duyệt chương trình giải quyết việc làm xuất khẩu lao động tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2013-2020 nhằm chủ trương đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động, khuyến khích và tạo điều kiện để các doanh nghiệp và người dân tham gia
Như vậy có thể thấy, có rất nhiều cơ chế, chính sách về vấn đề việc làm của thanh niên, chính phủ, nhà nước quan tâm tới thế hệ tương lai của đất nước, những chương trình, dự án chủ yếu tập trung đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của thanh niên về học tập và việc làm, giúp thanh niên Việt Nam sánh vai, hòa nhập với thanh niên quốc tế
1.4.2 Các cơ sở pháp lý về công tác xã hội với giải quyết việc làm cho thanh niên
Giúp cho thanh niên nói chung và thanh niên dân tộc thiểu số nói riêng có
Trang 3430
việc làm ổn định, nhân viên công tác xã hội giải hỗ trợ giải quyết việc làm cho thanh niên cần nắm vững và biết các văn bản pháp lý về công tác xã hội đối với thanh niên Pháp luật liên quan tới công tác xã hội đối với thanh niên và thanh niên dân tộc Nùng bao gồm:
Ngày 25/03/2010 Chính phủ đã ban hành quyết định số 32/2010/QĐ - TTG của Thủ tướng chính phủ phê duyệt đề án phát triển nghề Công tác xã hội giai đoạn 2010 - 2020 (gọi tắt là đề án 32) Mục tiêu giai đoạn 2010 - 2015 của
đề án bao gồm: Xây dựng và ban hành mã ngạch, chức danh, tiêu chuẩn nghiệp
vụ các ngạch viên chức công tác xã hội, tiêu chuẩn đạo đức cán bộ, viên chức, nhân viên công tác xã hội; Xây dựng ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật có liên quan nhằm tạo môi trường pháp lý đồng bộ, thống nhất
để phát triển nghề công tác xã hội Giai đoạn 2016 - 2020: Xây dựng và ban hành tiêu chuẩn nghiệp vụ cho cán bộ, viên chức, nhân viên, cộng tác viên công tác xã hội theo các loại hình cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội và theo nhóm đối tượng; phát triển đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên, cộng tác viên công tác xã hội ở các cấp phấn đấu tăng khoảng 50%; xã hội hóa các hoạt động công tác xã hội theo hướng khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia việc đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tập huấn kỹ năng và cung cấp dịch vụ công tác xã hội Tiếp tục nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề công tác xã hội
Thông tư số 08/2010/TTLT-BNV-BLĐTBXH ngày 25/8/2010 của Bộ nội
vụ và Bộ lao động - Thương binh và Xã hội ban hành chức danh mã số ngạch viên chức Công tác xã hội
Đây là những căn cứ và hành lang pháp lý để nhân viên công tác xã hội, cán bộ giải quyết việc làm sử dụng làm căn cứ trong hoạt động giải quyết việc làm cho thanh niên của mình
Trang 3531
Tiểu kết chương 1
Giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số là hoạt động tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất trong các điều kiện kinh tế - xã hội nhất định để kết hợp với thể chất, tâm lý, trí tuệ của TNDTTS (là một nhóm người có
độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi) một cách hiệu quả góp phần thúc đẩy sự phát triển của địa phương cùng với sự phát triển của đất nước Bao gồm các hoạt động: Cung câp thông tin tư vấn việc làm, kết nối dạy nghề, hỗ trợ xuất khẩu lao động, hỗ trợ vay vốn
Trong quá trình giải quyết việc làm sử dụng đến các lý thuyết đó là thuyết nhu cầu của A.H Maslow và thuyết hệ thống Trong việc giải quyết việc làm cho thanh niên có các yếu tố ảnh hưởng bao gồm: Yếu tố về cán bộ giải quyết việc làm, đặc điểm đối tượng, nguồn lực kinh phí và yếu tố điều kiện tự nhiên, phong tục, tập quán
Giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số dựa trên nhiều chính sách pháp luật đã được ban hành như Luật lao động, Luật thanh niên và các quyết định, đề án, chương trình nhằm thúc đẩy tạo cơ hội cho thanh niên có việc làm ổn định Đặc biêt là ngày 25/03/2010 thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định 32/2010/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 - 2020 Để giải quyết việc làm cho thanh niên rất cần tới sự chung tay của các cấp, ban, ngành, đoàn thể và đặc biệt về chính ý chí của bản thân thanh niên dân tộc thiểu số
Trang 3632
Chương 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN DÂN TỘC NÙNG TỪ CÁCH TIẾP CẬN CÔNG TÁC XÃ HỘI
TẠI HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG 2.1 Khái quát địa bàn và khách thể nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
* Vị trí địa lý
Yên Thế là huyện Miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Bắc Giang, có diện tích trên 303 km2, trong đó diện tích đất lâm nghiệp (chủ yếu là đồi núi thấp) 13.285,11 ha chiếm 43,36% so với tổng diện tích tự nhiên; Đất nông nghiệp 25.874,8 ha chiếm 84,55%; Đất phi nông nghiệp 4.664,8 ha chiếm 15,2%; Đất chưa sử dụng 97,44 ha chiếm 0,32%
Toàn huyện có 21 xã, thị trấn với 3 trung tâm kinh tế xã hội là thị trấn Cầu
Gồ, thị trấn Bố Hạ và trung tâm cụm xã vùng cao Mỏ Trạng; Trung tâm huyện
lỵ là thị trấn Cầu Gồ cách thành phố Bắc Giang 27 km và cách thủ đô Hà Nội 75
km Trên địa bàn huyện có các trục đường chính gồm: Tuyến Quốc lộ 17 (từ Nhã Nam – Yên Thế - đi Xuân Lương- Tam Kha); tuyến đường tỉnh lộ 242 (từ thị trấn Bố Hạ - Đèo Cà đi Hữu Lũng – Lạng sơn); tuyến đường tỉnh lộ 292 (từ thị trấn Cầu Gồ đi Bố Hạ - Kép); tuyến đường tỉnh lộ 294 (từ ngã ba Tân Sỏi – Yên Thế đi Nhã Nam huyện Tân Yên – Cầu Ca huyện Phú Bình); tuyến đường
268 Mỏ Trạng – Bố Hạ đi Thiện Kỵ - Lạng Sơn Các tuyến đường tỉnh lộ nối liền hệ thống đường trục xã tạo thành mạng lưới đường bộ phân bố hợp lý thuận lợi cho giao thông trong và ngoài huyện Đây là một trong những điều kiện thuận lợi, dễ dàng trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa và liên kết kinh tế trên các lĩnh vực với các huyện, các tỉnh liền kề bằng những lợi thế riêng của huyện[29]
Tính tới tháng 12/2017 dân số huyện Yên Thế hiện có khoảng 106.969
Trang 3733
người với 29.689 hộ dân, bao gồm 14 dân tộc anh em cùng chung sống như: Kinh, Tày, Nùng, Cao Lan, Sán Rìu, Hoa trong đó dân tộc Kinh chiếm 73%; dân tộc Nùng là 22.573 người, chiếm 21,1% dân số Lực lượng lao động bình quân chiếm 54,44% dân số, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 43,7% [29]
Hiện nay huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang có tổng số 26.477 thanh niên, trong đó số thanh niên dân tộc Nùng là 8.549 người chiếm 32% tổng số thanh niên trong toàn huyện
Huyện Yên Thế có hai con sông (sông Thương dài 24km, sông Sỏi dài 38km) Tổng lưu lượng nước khá lớn, có hệ thống hồ chứa, ao và các suối nhỏ thuộc hệ thống dông Sỏi và sông Thương Nguồn nước dồi dào, phân bố khá đều trên địa bàn tạo thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt Ngoài ra Yên Thế có các loại khoáng sản chủ yếu: Than gầy phân bố ở xã Hồng Hưu và Đông Sơn, tổng trữ lượng khoảng 4.570 ngàn tấn; quặng sắt có trữ lượng 503 ngàn tấn; vàng sa khoáng sản lượng không nhiều có chiều dài khoảng 3km rộng 300 – 400 m2 [29]
Với đặc điểm về vị trí địa lý trên huyện có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, thanh niên có điều kiện để tham gia vào thị trường việc làm
* Về kinh tế - văn hóa – xã hội
- Về nông - lâm - thủy sản
Yên Thế là huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang nên hoạt động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu Trong nội bộ ngành nông nghiệp phát triển trồng trọt, chăn nuôi và đây cũng là thế mạnh của địa phương Năm 2015, giá trị sản xuất ngành nông – lâm – thủy sản đạt trên 1.830 tỷ đồng, chiếm 65,42% riêng giá trị sản xuất chăn nuôi là 800,155 tỷ đồng chiến 43,72% Trong đó, đàn gia cầm 4.500.000 con, giá trị sản xuất đạt trên 1.200 tỷ đồng Yên Thế trở thành huyện
có quy mô tổng đàn gia cầm lớn nhất toàn quốc, bình quân duy trì 4 triệu đến 4,2 triệu con, giá trị sản xuất đạt trên 1000 tỷ đồng [29] Với việc phát triển trồng trọt chăn nuôi tại huyện và thị trường tiêu thụ được mở rộng trong những năm gần đây góp phần tạo việc làm cho thanh niên, nhiều thanh niên đầu tư phát
Trang 3834
triển trồng cây ăn quả, chăn nuôi gia súc, gia cầm, tạo nguồn thu lớn và ổn định Tuy thị trường tiêu thụ được mở rộng nhưng giá cả vẫn thay đổi nên việc đầu tư chăn nuôi vẫn chưa thu hút nhiều thanh niên tại địa phương Vấn đề tiêu thụ đầu
ra cho cây ăn quả như: cam canh, ổi vẫn gặp những trở ngại lớn
Với lợi thế đất lâm nghiệp, trong những năm qua huyện đã tập trung nâng cao chất lượng rừng kinh tế bằng các giống bạch đàn và keo lai mô, hom có chất lượng tốt, kết hợp với việc thâm canh rừng Bình quân mỗi năm huyện trồng mới từ 800 - 1.000 ha rừng và gần 700 nghìn cây phân tán, nâng cao tỷ lệ độ che phủ rừng Mỗi năm sản lượng khai thác rừng khoảng 40 nghìn m3 gỗ và hơn 10 nghìn xe củi cho thu nhập gần 100 tỷ đồng [29] Với lợi thế về nguồn tài nguyên
đó là đất đai là điều kiện thuận lợi cho thanh niên phát triển kinh tế trồng rừng, tuy nhiên công việc không mang tính chất thường xuyên, và trồng cây lâu năm thường kéo dài từ 3-5 năm mới có nguồn thu nên ngoài việc làm trồng rừng thanh niên tự tìm những công việc khác đem lại nguồn kinh tế cho gia đình Trong chăn nuôi thủy sản, tổng diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của huyện tăng nhanh qua các năm, năm 2015 là 993 ha, sản lượng khai thác đạt 2.165 tấn Giá trị sản xuất thủy sản năm 2015 đạt 17.653 triệu đồng Nhiều xã có diện tích nuôi trồng thủy sản lớn như: Xuân Lương, Canh Nậu, Tiến Thắng, Đồng Tiến, Đồng Vương .[29] Tại huyện Yên Thế do điều kiện tự nhiên không điều kiện về sông ngòi nên việc làm trong ngành chăn nuôi thủy sản còn hạn chế
- Ngành công nghiệp - Xây dựng
Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 22,4%/năm Đến nay có 04 cụm công nghiệp và 03 điểm công nghiệp với tổng diện tích trên 100ha; đã có 06 dự án được triển khai thực hiện và đi vào hoạt động, bao gồm 03 nhà máy may xuất khẩu, 01 nhà máy chế biến chè xanh, chè đen xuất khẩu, 02 cơ sở chế biến gia cầm, tạo việc làm cho trên 3.000 lao động Bên cạnh đó, các ngành nghề nông thôn như: sản xuất gạch, vôi hòn, cay vôi, mộc dân dụng, tre đan, khai thác cát
Trang 39cơ cấu lao động, giảm thiểu tình trạng thất nghiệp
Bên cạnh đó, thương mại dịch vụ phát triển góp phần làm tăng chất lượng việc làm, điều này được thể hiện qua thu nhập của người lao động từ việc làm đó cũng như trình độ năng lực của lao động
- Văn hóa - xã hội: Toàn huyện đã hoàn thành đưa vào sử dụng 253 phòng
học kiên cố, 49 phòng công vụ giáo viên; xây mới 01 trường học và 99 hạng mục công trình phụ trợ Giáo dục đào tạo tiếp tục phát triển, tỷ lệ thí sinh đỗ tốt nghiệp THPT năm học 2014 - 2017 đạt 98,48%; hệ Trung cấp nghề miền núi huyện Yên Thế tỷ lệ đỗ tốt nghiệp là 100%.[29] Nền giáo dục tại huyện Yên Thế ngày càng được nâng cao thể hiện lao động dần tiến tới có trình độ cao, thuận lợi trong việc giải quyết việc làm
Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thông tin của huyện rất đa dạng, phong phú Nội dung hoạt động tập trung phổ biến các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước hướng tới phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, an ninh
Trang 4036
quốc phòng, trật tự - an toàn xã hội; nêu gương người tốt, việc tốt, xây dựng nếp sống văn hóa trong nhân dân địa phương
2.1.2 Vài nét về khách thể nghiên cứu
2.1.2.1 Đặc điểm nhóm thanh niên dân tộc Nùng
*Phân bổ
Theo số liệu thống kê năm 2014, dân số toàn tỉnh Bắc Giang có trên 1,6 triệu người, bao gồm 21 thành phần dân tộc, trong đó có 20 thành phần dân tộc thiểu số (DTTS) với số dân là 200.538 người, chiếm 12,4% dân số toàn tỉnh Đồng bào các dân tộc thiểu số cư trú tập trung ở 105 xã, thị trấn thuộc 6 huyện miền núi, vùng cao: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang, Tân Yên.[34]
Nùng 38%
Tày 20%
Sán dìu 13%
Hoa 10%
Sán chí, Cao lan
13%
Dao
Biểu đồ 2.1: Thành phần dân tộc thiểu số tại tỉnh Bắc Giang (%)
Qua biểu đồ 2.1 ta thấy dân tộc Nùng là dân tộc chiếm tỷ lệ cao nhất trong các dân tộc thiểu số của tỉnh Bắc Giang chiếm 38% tổng số dân tộc
Huyện Yên Thế là một trong những huyện tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó nhiều nhất là dân tộc Nùng với tổng số người dân tộc Nùng là 33.884 người tập trung rải rác tại các xã trong huyện và tập trung đông nhất là ở