1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu về thị trường tiêu thụ cá lóc nuôi trong bể tại ấp mái dầm, phú thành, trà ôn, vĩnh long

20 780 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu về thị trường tiêu thụ cá lóc nuôi trong bể tại ấp Mái Dầm, Phú Thành, Trà Ôn, Vĩnh Long
Tác giả Nguyễn Thị Mộng Thanh
Người hướng dẫn Th.S. Nguyễn Minh Châu
Trường học Trường Đại Học An Giang
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Chuyên đề
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vĩnh Long
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 229 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luaận văn, tiểu luận, khóa luận, chuyên đề, đề tài, marketing, quản trị, hành vi, tiêu dùng, thị trường, nhu cầu, sự hài lòng

Trang 1

Chương 1: MỞ ĐẦU

1.1 Cơ sở hình thành đề tài:

- Do điều kiện tự nhiên của địa phương là nằm giữa hai con sông Tiền và sông Hậu chảy qua, mang lại một nguồn cá rất dồi dào từ đó tạo điều kiện cho việc hình thành cũng như phát triển mô hình nuôi cá lóc trong bể này

- Thị trường đầu ra của người nuôi cá và thị trường tiêu thụ tại chợ huyện có sự khác biệt quá lớn Bên cạnh đó còn có sự chênh lệch khá cao giữa hai mức giá là giá bán cá ra của các hộ nuôi cá là khoảng 27.000 – 30.000 đ/kg trong khi đó giá cá trên thị trường tiêu thụ là khoảng 45.000 – 50.000 đ/kg vào khoảng tháng 12 - 1 tết âm lịch (vào tháng 01 - 02/2010)

- Một sự nghịch lý là lượng cá đầu ra từ người nuôi cá thì nhiều có thể cung cấp

đủ cho thị trường tiêu thụ nhưng trên thị trường vẫn thiếu hàng do thương lái tạo cơn sốt thiếu hàng giả để nâng giá cá tiêu thụ lên cao hơn vào khoảng tháng 5/2009 và khoảng tháng 01 – 02/2010

- Nếu thị trường tiêu thụ tốt, giá cá ổn định thì đây là mô hình có triển vọng rất cao và mang lại nhiều lợi nhuận cho người nuôi cá

Vì thế tôi quyết định chọn đề tài “Tìm hiểu về thị trường tiêu thụ cá lóc nuôi trong bể tại ấp Mái Dầm, Phú Thành, Trà Ôn, Vĩnh Long” Để nghiên cứu thị

trường tiêu thụ cá lóc đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm mục đích tiêu thụ cá lóc nuôi tại địa phương

1.2 Sự cần thiết giải quyết vấn đề và ý nghĩa:

 Sự cần thiết giải quyết vấn đề:

- Nghiên cứu về sự chênh lệch quá cao giữa cá bán ra của những hộ nuôi cá và giá cá tiêu thụ trên thị trường để có những giải pháp khả thi nâng giá cá bán ra của người nuôi cá

- Đề xuất các biện pháp nhằm tiêu thụ được nhiều cá với giá cao hơn hiện tại của những người nuôi và để có thể đạt được giá cá sắp sỉ với giá cá trên thị trường do các bạn hàng cá bán cho người tiêu dùng

 Ý nghĩa:

- Biết được thị trường tiêu thụ cá lóc trong bể của người nuôi cá và tình hình tiêu thụ cá tại chợ huyện Trà Ôn Để thực hiện một số đề xuất nhằm đưa giá cá lóc đầu ra tăng lên mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho người nuôi cá tại địa phương

- Phát triển và mở rộng mô hình nuôi cá lóc trong bể của người dân ở địa phương

- Tận dụng các nguồn cá tự nhiên sẵn có của hai con sông Tiền và sông Hậu chảy qua địa phương (cồn Mái Dầm là cồn mộc lên nằm giữa hai con sông này) để làm thức ăn cho cá lóc và tận dụng thời gian rãnh của các nhà nông vì ở đây trồng vườn là chủ yếu nên người nông dân có thời gian rãnh, đồng thời với mô hình nuôi cá lóc trong

bể không cần chăm sóc cũng như thời gian đầu tư cho nó nhiều ( chỉ cho ăn ngày 2 lần, tháo nước ra và chạy nước vào)

- Người tiêu dùng có thể sử dụng sản phẩm với giá cả phải chăng khi mua với giá gần với giá của người nuôi bán ra vì không bị thương lái bán giá cao

- Đồng thời thúc đẩy được sự phát triển một số ngành nghề khác của địa phương như cào, đáy để làm nguồn nguyên liệu cho nuôi cá lóc

Trang 2

1.3 Mục tiêu nghiên cứu:

- Tìm hiểu thị trường tiêu thụ cá lóc nuôi trong bể của những hộ nuôi cá ở Mái Dầm và thị trường tiêu thụ cá của các bạn hàng bán ra cho người tiêu dùng tại chợ huyện Trà Ôn năm 2009

- Phân tích sự chênh lệch giữa giá bán cá ra của người nuôi cá với giá trên thị trường tiêu thụ năm 2009

- Tìm hiểu và đề ra các biện pháp nhằm thúc đẩy thị trường tiêu thụ cá lóc nuôi trong bể tại xã Phú Thành, Trà Ôn, Vĩnh Long

1.4 Phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu là thị trường tiêu thụ cá lóc nuôi trong bể tại ấp Mái Dầm, xã Phú thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long trong năm 2009

Trang 3

Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Thị trường:

2.1.1 Định nghĩa:

Thị trường là nơi người mua và người bán gặp nhau, hàng hoá và dịch vụ được đưa ra để bán và sự chuyển giao quyền sở hữu diễn ra

(Cao Minh Toàn, Tài liệu Marketing căn bản, khoa KT – QTKD Trường ĐH

An Giang, năm 2005)

2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường:

Nhu cầu, hình thức kinh doanh và cạnh tranh ảnh hưởng rất lớn đến thị trường tiêu thụ Trong đó nhu cầu của con người quyết định thị trường tiêu thụ ở vị trí, quy mô cũng như độ đa dạng của thị trường tiêu thụ Cạnh tranh làm cho thị trường sôi nổi và ngày càng phát triển và lớn mạnh hơn

2.2 Giá cả:

2.2.1 Định nghĩa:

Theo quan điểm Marketing giá cả nên hiểu là số tiền mà người muốn bán và người muốn mua thoả thuận với nhau để trao đổi hàng hoá và dịch vụ trong điều kiện giao dịch bình thường

(Cao Minh Toàn, Tài liệu Marketing căn bản, khoa KT – QTKD Trường ĐH An Giang, năm 2005)

2.2.2 Vị trí của giá:

Bất kì người sản xuất nào thì điều quan tâm đầu tiên không chỉ là chất lượng mà còn cả về mặt giá cả Vì khi sản xuất có lợi nhuận hay không thì giá trên thị trường là quyết định

+ Từ đó chứng tỏ giá cả và thị trường có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ và tác động lẫn nhau, thị trường không những chi phối đến sự cấu tạo và mức độ hình thành giá cả mà ngay giá cả tuỳ lúc tuỳ nơi đã gây ra sự biến động gắt gao cả về mặt hình thức lẫn cường độ đối với thị trường

+ Giá cả có vị trí đặc biệt trong quá trình tái sản xuất: Trong quá trình tái sản xuất, người sản xuất, người lưu thông và người tiêu dùng cuối cùng hoàn toàn đối lập với nhau trong việc thực hiện chức năng của mình Trong thị trường quan hệ trao đổi mua bán của họ vừa có quan hệ hợp tác vừa có quan hệ đấu tranh với nhau về mặt giá cả

và cuối cùng đi đến thoả thuận một mức giá nào đó gọi là giá cả thị trường

(Cao Minh Toàn, Tài liệu Marketing căn bản, khoa KT – QTKD Trường ĐH An Giang, năm 2005)

2.2.3 Tính chất của giá cả:

- Nó hoàn toàn hình thành một cách tự do thông qua tác động của hai lực tự do cung và cầu

- Nó được ổn định khi đã hình thành trừ khi lực cung hoặc lực cầu có sự thay đổi

- Giá thị trường là mức giá mà tại đó cung bằng cầu

2.2.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến giá cả:

- Quan hệ cung cầu trên thị trường đây là nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả Nó tồn tại độc lập, không chịu tác động chủ quan của người sản xuất Sự thay đổi quan hệ cung - cầu trên thị trường sẽ dẫn đến sự biến động về giá cả

Trang 4

2.3 Lợi nhuận.

Trong bất cứ một loại hình sản xuất hay kinh doanh nào thì mục đích cuối cùng vẫn

là lợi nhuận

Vì vậy lợi nhuận được hiểu như sau: là khoản tiền cuối cùng thu được sau khi trừ tất cả các chi phí có liên quan Được tính bằng công thức:

Lợi nhuận = doanh thu – chi phí

- Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu

- Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí lao động sống và lao động vật hoá trong quá trình sản xuất sản phẩm

(Kế toán tài chính–Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh)

- Vận dụng vào nghành nuôi cá lóc như sau: Đối với những hộ nuôi cá lóc thì điều quan trọng nhất đối với họ là tới vụ họ sẽ bán giá bao nhiêu và cuối cùng khi trừ đi phần chi phí đầu tư vào thì họ còn lại là bao nhiêu đó là lợi nhuận

2.4 Phân phối:

2.4.1 Định nghĩa kênh phân phối:

Kênh phân phối là một hệ thống các tổ chức hoặc cá nhân có quyền sở hữu sản phẩm hoặc giúp đỡ trong việc chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm nào đó khi nó duy chuyển từ người sản xuất đến người mua cuối cùng

(Cao Minh Toàn, Tài liệu Marketing căn bản, khoa KT – QTKD Trường ĐH An Giang, năm 2005)

2.4.2 Định nghĩa chiến lược phân phối:

- Chiến lược phân phối là quá trình tổ chức các hoạt động liên quan đến việc điều hành và vận chuyển sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp, đến người tiêu dùng nhằm tiêu thụ được nhanh nhiều với chi phí thấp

- Hệ thống phân phối của doanh nghiệp:

+ Nhà sản xuất (hoặc nhập khẩu) Người tiêu dùng + Các trung gian (các bán buôn, bán lẻ, đại lý) + Hệ thống cơ sở vật chất như nhà kho, của hàng, phương tiện vận tải, bốc xếp, đo lường…

(Cao Minh Toàn, Tài liệu Marketing căn bản, khoa KT – QTKD Trường ĐH An Giang, năm 2005)

- Vận dụng vào thực tiễn vào mô hình nuôi cá lóc trong bể tại ấp Mái Dầm thì hệ thống phân phối là

+ Người nuôi cá, người tiêu dùng + Các trung gian ( các bạn hàng cá, thương lái) + Hệ thống cơ sở vật chất như là phương tiện vận chuyển, đo lường…

2.5 Chi phí marketing:

2.5.1 Định nghĩa Chi phí:

Chi phí là căn cứ để doanh nghiệp định giá sản phẩm Giá phải trang trải hết các chi phí sản xuất, phân phối và bán sản phẩm đồng thời tạo ra được lợi nhuận hợp lý cho những nổ lực và rủi ro mà doanh nghiệp gánh chịu

(Cao Minh Toàn, Tài liệu Marketing căn bản, khoa KT – QTKD Trường ĐH An Giang, năm 2005)

Trang 5

2.5.2 Định nghĩa Marketing:

Marketing là hoạt động của con người nhằm hướng dẫn việc thoả mãn các nhu cầu, mong muốn thông qua quá trình trao đổi hàng hoá

(Cao Minh Toàn, Tài liệu Marketing căn bản, khoa KT – QTKD Trường ĐH An Giang, năm 2005)

2.5.3 Các trung gian marketing:

Các trung gian marketing là những cơ sở kinh doanh hỗ trợ cho doanh nghiệp trong việc câu dẫn, bán hàng và giao hàng của doanh nghiệp đến tận tay người tiêu thụ

Họ bao gồm: giới trung gian, các cơ sở phương tiện phân phối, các cơ sở dịch vụ marketing và các trung gian tài chính

(Cao Minh Toàn, Tài liệu Marketing căn bản, khoa KT – QTKD Trường ĐH An Giang, năm 2005)

- Trung gian có vai trò vô cùng quan trọng trong marketing, với mọi nền kinh tế

có nền sản xuất phát triển, không phải bất kỳ trong trường hợp nào việc mua bán trực tiếp giữa người sản xuất và khách hàng sau cùng điều có hiệu quả kinh tế cao Trung gian không chỉ đảm nhận việc tổ chức lưu thông hàng hoá thông qua hoạt động mua bán

mà còn thực hiện giảm bớt đầu mối, các quan hệ trên thị trường

- Giới trung gian là thương hiệu giúp doanh nghiệp tìm được khách hàng hoặc liên kết buôn bán Giới này được phân thành hai loại dẫn mối và thương buôn

+ Giới dẫn mối là các nhà làm môi giới và các nhà làm đại diện cho xí nghiệp – tìm kiếm khách hàng hoặc đàm phán các hợp đồng nhưng không có sự sở hữu đối với hàng hoá

+ Gới thương buôn là các nhà bán sỉ và lẻ - mua có quyền sở hữu và bán lại các hàng hoá ấy

+ Người bán sỉ là người mua và bán lại hàng hoá cho người bán lẻ, các thương nhân khác và cho người sử dụng công nghiệp, người sử dụng cơ quan, người sử dụng thương mại, những người bán sỉ không bán cho người tiêu dùng cuối cùng

+ Người buôn lẻ là một thương nhân, hoặc đôi khi là một đại lý, công việc kinh doanh chủ yếu của họ là bán cho người tiêu dùng cuối cùng

2.5.4 Chi phí Marketing:

- Chi phí marketing là chi phí hoạt động nhằm mục đích gia tăng doanh số và sản lượng tiêu thụ Hoặc còn cách định nghĩa khác: chi phí cho marketing là một chi phí

để tạo lập nên giá trị vô hình cho một doanh nghiệp

(Lấy từ: “www.webketoan.vn/ /showthread.php”)

2.6 Khái niệm cá lóc nuôi trong bể:

Cá lóc nuôi trong bể là loại hình nuôi cá lóc trong bể lót bạt nylon Người dân đào ao trên đất cứng, lót bạt nylon sau đó thả cá vào nuôi

Trang 6

Chương 3: GIỚI THIỆU VỀ TRÀ ÔN, VĨNH LONG VÀ NGHỀ NUÔI CÁ LÓC TRONG BỂ Ở ẤP MÁI DẦM

3.1 Đặc điểm tự nhiên

3.1.1 Khí hậu:

- Trà ôn mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình 26-27°C,

có hệ thống sông ngòi chằng chịt, hoạt động theo chế độ bán nhật triều, có nguồn nước ngọt quanh năm , chất lượng nước tốt, kết hợp với thời tiết mưa thuận gió hòa là các điều kiện hết sức thuận lợi cho sự tăng trưởng của các loài động thực vật và là tiềm năng to lớn cần đầu tư khai thác phục vụ cho sản xuất và đời sống dân cư

(Lấy từ “http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C3%A0_%C3%94n”)

3.1.2 Địa hình:

- Trà Ôn có địa hình tương đối bằng phẳng, địa hình cao từ sông Hậu và sông Trà Ôn - Mang Thít thấp dần về phía đông bắc, Với dạng địa hình đồng bằng ngập lụt cửa sông Là khu vực có hai con sông lớn chảy qua (sông Tiền và sông Hậu) nên có hệ thống sông ngòi chằng chịt, có lượng nước dồi dào và chứa nhiều thuỷ hải sản Đặc chưng của vùng là nhiều cù lao nên lượng thuỷ hải sản rất phong phú và đa dạng

(Lấy từ “http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C3%A0_%C3%94n”)

3.1.3 Thuỷ sản:

- Trà ôn là khu vực có sông ngòi chằng chịt nên thuận lợi cho việc nuôi trồng thuỷ sản và có lượng cá tự nhiên rất đa dạng và phong phú Diện tích mặt nước rộng thích hợp cho nuôi các loại thuỷ sản đặc biệt là nuôi cá lòng dưới sông Đặc biệt ở Trà

Ôn có 2 xã cù lao Lục Sỹ Thành và Phú Thành rất thuận lợi cho nuôi trồng thuỷ sản (Lấy từ “http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C3%A0_%C3%94n”)

3.2 Đôi nết về ấp Mái Dầm:

- Là vùng đất được bồi đắp phù sa hình thành nên, nằm chia dòng chảy của sông Tiền và sông Hậu nên có hệ thống kênh mương chằng chịt, giao thông đường thuỷ rất thuận lợi và phát triển Ở đây người dân sống chủ yếu là trồng vườn và đánh bắt cá Đa

số là các vườn cây trái lâu năm thu hoạch theo mùa nên có một khoản thời gian nhàn rổi Người dân muốn tận dụng hết thời gian nhàn rổi đó bằng cách là chăn nuôi và đánh bắt cá để tăng thu nhập cho gia đình Từ hai dòng sông mang lại cho khu vực này một lượng cá rất đáng kể nhất là vào mùa nước, dòng cá đổ từ thượng nguồn xuống rất nhiều

và đây cũng là một khoản thu nhập đáng kể cho người dân ở cồn

- Lượng cá tự nhiên đánh bắt được rất nhiều và phong phú, một số cá lớn đạt chuẩn tiêu thụ ngoài thị trường thì tiêu thụ, phần còn lại bán cho người dân ủ phân bón cây ăn trái với giá rất rẻ hoặc bỏ Từ đó để kiếm thêm một phần thu nhập người dân đánh bắt tận dụng nó để nuôi cá lóc và nuôi một số loài ăn cá khác

3.3 Mô hình nuôi cá lóc trong bể:

3.3.1 Sự xuất hiện nghề nuôi cá lóc bể:

- Chú Lâm Quốc Chuyển ở ấp 2, xã An Hoà, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng tháp

là người đầu tiên trong tỉnh nuôi cá lóc trong bạt nylon Chú Chuyển kể: “Ý tưởng về

mô hình nuôi cá lóc trong bể xuất phát khi tôi nuôi cá lóc thực tế ngoài ao hầm Khởi đầu, tôi nuôi cá lóc trong hầm do mật độ quá dầy nên tôi dùng nilon để làm bể giả thả nuôi riêng Khi nuôi thấy cá phát triển đồng đều, lớn nhanh, cuối vụ lại cho hiệu quả cao hơn nuôi trong ao hầm Từ đó tôi chuyển sang nuôi cá lóc trong những bể lộ thiên

Trang 7

bằng cách dùng nylon dầy căn dưới bóng cây trước sân, sau nhà chổ nào cũng được Tôi

đã nuôi cá lóc theo cách này được 3 năm nay…”

(Lấy từ “http://www.khuyennongvn.gov.vn”)

- Hiện nay thì mô hình này được mở rộng khắp cả vùng ĐBSCL này, kể cả các vùng đất cát vùng cát thường khô hạn về mùa hè và ngập úng vào mùa mưa như Hà Tĩnh, Thăng Bình, Quãng Bình,… cũng có thể nuôi được con cá lóc và đem lại cho người dân có nguồn thu nhập khá cao và nền kinh tế của các địa phương được nâng lên Tuy không phát triển rầm rộ như việc nuôi cá da trơn, nhưng nghề nuôi cá lóc đặc biệt

là nuôi cá lóc trong bể có thị trường ổn định, tạo việc làm cho lao động nông thôn tại nhà Trong thời gian tới chính quyền địa phương cần quan tâm hỗ trợ hơn để nhân rộng

mô hình này

3.3.2 Giới thiệu mô hình nuôi cá lóc trong bể:

- Đây là mô hình giữ nước trên đất liền để nuôi cá lóc bằng cách dùng tấm bạt trải lên để giữ nước, dùng bao đất chất lên thành ao và thả cá lóc Mô hình này có thể xây dựng ở trên tất cả các loại đất (vườn, rẫy hay ruộng), Yêu cầu của mô hình này quan trọng nhất là cung cấp đầy đủ nước

- Tính ưu điểm của mô hình là tận dụng hết tất cả các diện tích trống trên đất vườn để làm kinh tế và tăng thêm một phần thu nhập cho gia đình Bể cá trông đất vườn vừa làm mát cây và cũng tận dụng được bóng mát của cây để che cho cá lóc Quản lý được bệnh trên cá và chăm sóc cá dễ dàng hơn, cá ít bị bệnh hơn các mô hình nuôi khác Năng suất cao và thời gian nuôi ngắn hơn các mô hình khác nên mang lại kinh tế rất cao cho người nuôi

- Nhược điểm của nó là phải thay nước thường xuyên và cần có hệ thống bơm nước lên bể

3.3.3 Sự xuất hiện của mô hình nuôi cá lóc trong bể ở ấp Mái Dầm:

- Mô hình nuôi cá lóc trong bể xuất hiện đầu tiên ở ấp Mái Dầm là của hộ ông

Út Sị với diện tích 8m2 Anh út sống bằng nghề chạy đáy trên sông Tiền để bắt cá bán, muốn tìm thêm thu nhập và không bỏ phí lượng cá vụn nên anh đã tận dụng để nuôi cá Nhưng vì anh không có đất nhiều chỉ có khoảng 1.000m2 đất nhưng nhà ở đã chiếm hơn

¼ diện tích, phần còn lại là cây ăn trái Anh đã thử nuôi cá lóc dưới mương bên cạnh nhà của mình nhưng do giáp ranh với đất trồng rẫy thường tưới phân thuốc nhiều nên cá

bị chết và không thể nuôi tiếp nữa Từ đó anh tìm hiểu và đọc báo thấy mô hình nuôi cá lóc trong bể Anh đã mạnh dạng làm thử, mới đầu anh làm bể ngay sau nhà với diện tích 8m2 và thả khoảng 1.500 conđể nuôi thử, anh đã thành công và thu được lợi nhuận cao Anh đã tận dụng được một phần cá vụn để nuôi cá lóc và nó mang lại cho anh một khoản thu nhập đáng kể từ đó anh phát triển mô hình này rộng trên hết mãnh đất của mình Khi thấy anh Út thành công với mô hình này thì bà con trong ấp cũng tìm hiểu, học hỏi và làm ao nuôi với diện tích càng mở rộng

- Từ đó mà mô hình nuôi cá lóc trong bể phát trển mạnh, vừa tận dụng được phế phẩm của đánh bắt cá tự nhiên và thời gian nhàn rổi trong bà con, vừa tạo cho người dân một khoản thu nhập đáng kể

3.3.4 Tình hình phát triển mô hình nuôi cá lóc trong bể ở ấp Mái Dầm:

- Từ đầu năm 2008 chỉ có một hộ nuôi nhưng đến giữa năm thì có tới 5 hộ nuôi với tổng diện tích lên tới 400m2 và đến cuối năm 2009 diện tích nuôi bể đã lên tới 1987m2 của 35 hộ nuôi cá Diện tích của các bể nuôi lớn nhỏ khác nhau tuỳ vào diện tích đất trống trong vườn của từng hộ Các bể được bố trí rải rác khắp cả cồn và tập trung nhiều nhất là dọc theo hai bờ sông Tiền – Hậu Mô hình còn đang được mở rộng

Trang 8

với những diện tích đất còn trống trên những mãnh vườn mới chuyển đổi từ các loại

cây

3.3.5 Giới thiệu về thị trường tiêu thụ:

- Đa số lượng cá lóc nuôi bể của ấp được tiêu thụ ở chợ huyện, khi cá tời lứa thu hoạch thì người nuôi bán cho thương buôn Khi kéo cá lên, thương buôn chở cá về chợ bán lại cho bạn hàng bán lẻ tại chợ và các bạn hàng đi bán tại các xã

- Cả chợ chỉ có hai thương buôn, nên việc bán và giá bán của những người nuôi

cá rất khó khăn thường thì trả giá thấp hoặc hay lựa chọn nhưng người nuôi cá không có

đủ điều kiện để có thể bán trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc qua một trung gian

- Cả chợ có hơn 20 người bán cá tại chổ và hơn 10 người mang cá về bán tận nhà người tiêu dùng, nên việc mua cá lóc của người dân rất dễ dàng và mua mọi nơi Loại cá này được người tiêu dùng chọn nhiều bởi nó ngon và có thể chế biến rất nhiều món đặc sản Con cá lóc nuôi bể ngày càng được các bà nội chợ lựa chọn để thay cho cá lóc nuôi bè và một số thực phẩm khác bởi khi sử dụng nó không sợ các loại bệnh do các chất hoá học từ thức ăn công nghiệp còn tích tụ lại ở thịt gây hại cho người tiêu dùng, thịt của nó ngon và dai như thịt cá đồng

3.3.6 Tính khả thi của mô hình nuôi cá lóc trong bể tại ấp Mái Dầm:

- Chi phí cho các bể mới bắt đầu nuôi tương đối cao, vì phải làm bể và hệ thống cấp thoát nên vụ nuôi đầu chỉ hoà vốn Nhưng các vụ sau do không có các phần chi phí này nên người nuôi có lợi nhuận, vì thế mô hình này mang tính chất lâu dài và liên tục Đây là mô hình tận dụng các khoản đất trống trong vườn nên không ảnh hưởng đến các khoản thu nhập khác trên diện tích đất, mà còn mang lại cho người nông dân thêm một khoản thu nhập đáng kể

- Chỉ với diện tích vài chục m2 thì người nuôi cá lóc trong bể ở ấp Mái Dầm có thể lời hơn chục triệu đồng trong vòng 5 tháng nuôi, nếu quy trình nuôi tốt, áp dụng các biện pháp kỹ thuật và tận dụng tốt nguồn thức ăn tự nhiên thì có thể đạt được lợi nhuận cao hơn Phần lợi nhuận này còn tuỳ thuộc vào từng mùa vụ, từng thời điểm giá cá trên thị trường, kỷ thuật và tính chủ động về thức ăn của mỗi hộ nuôi Điển hình là mô hình nuôi của chú Nguyễn Minh Luân vụ tết rồi với diện tích 40m2 trừ hết các chi phí chú còn lời khoản 10.500.000đ trong vòng 4 tháng nuôi

- Đây là một hình thức nuôi con cá lóc mới và đạt được kết quả cao cả về chất lượng của cá mà cả về sản lượng, vì nuôi bằng thức ăn là cá vụn trong đánh bắt tự nhiên nên thịt cá ngon như cá lóc đồng và cỡ cá của mỗi bể đồng điều từ 500g – 1kg, nên người tiêu dùng rất thích chọn nó là thực phẩm chính trong các bửa ăn của gia đình mình Hiện tại thì mô hình này đang được mở rộng khắp ĐBSCL và các vùng khác, còn tại ấp thì ngày càng có nhiều bể và quy mô nuôi của các hộ cũng lớn lên Còn theo nhận định của ông Nguyễn Minh Luân là chi hội trưởng hội nông dân ấp mái Dầm thì cho rằng: “mô hình này mang lại một phần thu nhập cho các hộ nuôi, tận dụng được thời gian rãnh rỗi và nguồn cá phế phẩm từ việc đánh bắt tự nhiên, nó đang được mở rộng và ngày càng phát triển trên toàn ấp và lan rộng ra các ấp lân cận khác”

Trang 9

Chương 4: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4.1 Phát thảo phương án nghiên cứu:

Thông tin/ dữ liệu cần thu Phương pháp thu thập thông

tin

1 Giá cá bán ra của những hộ nuôi cá tại thời điểm

nghiên cứu

2 Sản lượng cá bán ra của các hộ nuôi cá tại ấp

Mái Dầm trong năm 2009

3 Khảo sát khả năng cung ứng cá ra thị trường của

những hộ nuôi cá

4 Doanh thu đạt được

Thảo luận 3 nhóm, mỗi nhóm có khoảng 3- 4 hộ nuôi cá

5 Sản lượng tiêu thụ cá lóc tại chợ trong năm

2009

6 Khả năng thúc đẩy lượng cá tiêu thụ trên thị

trường

7 Lợi nhuận đạt được

Phỏng vấn trực tiếp bạn hàng cá

8 Giá cá cuối cùng mà người tiêu dùng phải chịu

9 Cầu về các loại cá của người dân

Phỏng vấn trực tiếp người tiêu

dùng

10 Xu hướng phát triển của mô hình

11 Nguồn lợi của mô hình mang lại cho xã hội

Phỏng vấn trực tiếp chi hội trưởng hội nông dân ấp mái dầm

4.2 Phương pháp chọn đối tượng phỏng vấn:

- Để tìm hiểu về thị trường tiêu thụ cá lóc nuôi trong bể tại ấp Mái Dầm, tôi tiến hành thu thập số liệu theo những phương pháp sau:

+ Do điều kiện ở ấp khá khó khăn cho việc tiếp cận trực tiếp tất cả các hộ nuôi

cá để lấy thông tin một cách chính xác, do vậy tôi quyết định lấy thông tin từ các hộ nuôi cá bằng cách thảo luận nhóm để lấy thông tin định tính Tôi chọn 3 nhóm và mỗi nhóm có khoảng 3 hoặc 4 hộ nuôi cá ở ấp Mái Dầm thảo luận để làm rõ các thông tin cần cho đề tài nghiên cứu là: chi phí của một vụ, sản lượng đạt được, giá bán, bán cho

ai, lợi nhuận cao hay thấp, có dự định mở rộng mô hình không, nhận thấy như thế nào

về sự chênh lệch với giá bán trên thị trường tại chợ, có biện pháp gì để rút ngắn khoản chênh lệch này không, đề ra các giải pháp cho thị trường tiêu thụ cá lóc trong tương lai

sẽ dễ dàng hơn và giá bán cao hơn hiện tại

+ Tại chợ huyện chỉ có hai người bán sỉ, chuyên đi mua cá lóc từ các hộ nuôi

cá về bán sỉ lại những người bán lẻ bán tại chợ Vì thế tôi chọn phương pháp phỏng vấn trực tiếp hai người để lấy những thông tin về sản lượng tiêu thụ tiêu thụ, giá cá mua và bán lại, chi phí bỏ ra và lợi nhuận đạt được tại thời điểm nghiên cứu của đề tài

+ Để có những thông tin về khả năng tiêu thụ cá, giá cá trên thị trường và xu hướng người tiêu dùng lựa chọn con cá lóc thì tôi lựa chọn 3 người bán cá lẻ tại chợ cá của chợ Trà Ôn có số lượng bán nhiều nhất trong một ngày để tiến hành phỏng vấn thu thập thông tin

Trang 10

+ Nhu cầu của đề tài cần có những thông tin từ những người tiêu dùng, vì thời gian không cho phép nên tôi lựa chọn phương pháp lấy thông tin bằng cách phỏng vấn 5 người tiêu dùng mang tính đại diện Từ cuộc phỏng vấn này tôi lấy thông tin định tính mang tính chất tham khảo nhu cầu tiêu dùng cho người tiêu dùng ở cồn mái Dầm

+ Bên cạnh đó, để thông tin rõ và chính xác hơn Đề tài tiến hành phỏng vấn ông Nguyễn Minh Luân là chi hội trưởng chi hội nông dân của ấp mái Dầm để tìm hiểu

kỷ hơn về giá cả, tình hình tiêu thụ cá lóc, quy mô cũng như sự phát triển của mô hình nuôi cá lóc trong bể tại ấp Từ đó cũng tìm hiểu rõ xu hướng và những giải pháp trong tương lai cho mô hình này

4.3 Phương pháp xử lý số liệu:

- Từ những thông tin thu thập được tiến hành phân tích những số liệu đó để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra Để phân tích số liệu này tôi dùng phương pháp so sánh

+ So sánh giá bán cá giữa giá bán của người nuôi cá và giá bán của bạn hàng bán cho người tiêu dùng, để làm rõ sự chênh lệch của hai mức giá mà người chịu thiệt là người nuôi cá

+ So sánh sự chênh lệch giữa cung và cầu để thấy được cung - cầu quyết định đến thị trường nhưng bên cạnh đó không chỉ có cung – cầu mà thị trường còn chịu sự chi phối của giới trung gian

+ Nhu cầu cá lóc trên thị trường không cố định mà thay đổi theo thời gian và mùa vụ, vì thế so sánh giá và số lượng cá tiêu thụ từng thời kỳ khác nhau

Ngày đăng: 05/08/2013, 08:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 5.1: Giá cá bình quân các hộ bán ra tại các thời điểm - Tìm hiểu về thị trường tiêu thụ cá lóc nuôi trong bể tại ấp mái dầm, phú thành, trà ôn, vĩnh long
Bảng 5.1 Giá cá bình quân các hộ bán ra tại các thời điểm (Trang 13)
Bảng 5.2: Giá bán sỉ ở một số thời điểm - Tìm hiểu về thị trường tiêu thụ cá lóc nuôi trong bể tại ấp mái dầm, phú thành, trà ôn, vĩnh long
Bảng 5.2 Giá bán sỉ ở một số thời điểm (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w