1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“ Thực trạng an ninh lương thực tại Việt Nam và các biện pháp khắc phục”.

59 690 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng An Ninh Lương Thực Tại Việt Nam Và Các Biện Pháp Khắc Phục
Tác giả Thiều Đình Trọng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Nông Nghiệp
Thể loại Chuyên Đề Thực Tập
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 426 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“ Thực trạng an ninh lương thực tại Việt Nam và các biện pháp khắc phục”. “ Thực trạng an ninh lương thực tại Việt Nam và các biện pháp khắc phục”.

Trang 1

A Phần Mở Đầu

1 Lý do chọn đề tài.

Trong nhiều thập kỷ qua, an ninh lương thực luôn là vấn đề bức xúccủa tất cả các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển.Tìm kiếm giải pháp đảm bảo an ninh lương thực cho tất cả mọi ngườikhông chỉ là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia nghèo mà nó đã trởthành vấn đề thời sự mang tính toàn cầu Nhiều sách báo, nhiều tổ chức và

cá nhân, nhiều cuộc hội thảo quốc gia và quốc tế đã thường xuyên đề cập

và thảo luận về chương trình an ninh lương thực quốc gia và toàn cầu Từ

đó họ đã rút ra một kết luận hết sức có ý nghĩa đó là: giải quyết kịp thờivấn đề lương thực là trung tâm của mọi cố gắng hiện nay để phát triển kinh

tế xã hội một cách bền vững

Ở Việt Nam, sau hơn 10 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng

và Chính phủ, sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lương thực nóiriêng đã có bước phát triển nhanh, liên tục và tương đối ổn định Sản xuấtnông nghiệp tăng trưởng nhanh với tốc độ bình quân 4.3%/năm Từ năm

1988 đến nay, sản lượng lương thực (gạo, ngô, sắn) liên tục tăng với mứchơn 1 triệu tấn/năm, tốc độ tăng bình quân là 5%, gấp 2 lần mức tăng dân

số Năm 2000 sản lượng lương thực đạt trên 34 triệu tấn, bình quân lươngthực đầu người đạt gần 450 kg Nhờ vậy hầu hết dân cư đã có đủ lươngthực để dùng Sản xuất các loại thực phẩm, như rau, quả, cá, thịt,… cũngtăng nhanh đáp ứng cơ bản nhu cầu tiêu dùng trong nước và có dư để xuấtkhẩu Sau đổi mới, Việt Nam từ một nước thiếu lương thực phải nhập khẩuhàng năm trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo chủ yếu trên thếgiới với số lượng lương thực xuất khẩu trên 3 triệu tấn/năm

An ninh lương thực ở nước ta đang được thiết lập và đã đạt đượcnhững thành công to lớn trên nhiều mục tiêu Tuy nhiên, việc đảm bảo an

Trang 2

ninh lương thực vẫn còn nhiều hạn chế, nhất là khả năng tiếp cận lươngthực của mọi tầng lớp dân cư còn thấp và không đồng đều Do khả năngtiếp cận lương thực của các hộ gia đình còn hạn chế nên trên thực tế hiệnnay tại Việt Nam vẫn còn trên 17% hộ đói và trên 40% trẻ em dưới 5 tuổisuy dinh dưỡng Mức tiêu dùng bình quân nhiều loại thực phẩm còn thấp sovới thế giới Một bộ phận dân cư có mức tiêu dùng lương thực thực phẩmquá thấp (dưới 2100 kcal/ngày), bấp bênh và có sự chênh lệch giữa cácvùng, giữa thành thị và nông thôn.

Có thể nói an ninh lương thực hiệ nay đã trở thành yêu cầu mangtính pháp lý của mỗi quốc gia, Việt Nam cũng không thể nằm ngoài vần đềnày trong quá trình thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa – hiện đại hóa đấtnước Có thực mới vực được đạo, sự đúc kết kinh nghiệm đó cho thấy giữđược an ninh về lương thực đảm bảo được an huy xã hội sẽ tạo điều kiện thuậnlợi cho tất cả các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển, sản xuất, kinh doanh,vượt qua mọi khó khăn, thách thức trước mắt tiếp tục đưa nền kinh tế trong đó

có sản xuất lương thực phát triển ổn định, bền vững

Với tâm nguyện góp phần nâng cao nhận thức về an ninh lương thực,đồng thời tìm ra những giải pháp hợp lý để đạt được an ninh lương thựcmột cách bền vững, là một sinh viên kinh tế nông nghiệp, trước thực trạngtrên em xin mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài:

“ Thực trạng an ninh lương thực tại Việt Nam và các biện pháp khắc phục”.

2 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Vấn đề an ninh lương thực

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian, nghiên cứu vấn đề tại Việt Nam

Về thời gian, giai đoạn 2006-2009

Trang 3

3 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu vấn đề an ninh lương thực tại Việt Nam nhằm phản ánhthực tiễn tình hình an ninh lương thực quốc gia, đồng thời tìm hiểu nhữngảnh hưởng của tình hình an ninh lương thực thế giới đối với Việt Nam, từ

đó góp phần làm sáng tỏ nội dung, yêu cầu về an ninh lương thực ở ViệtNam trong quá trình phát triển đất nước Đồng thời, góp phần bổ sungphương pháp nghiên cứu, đánh giá an ninh lương thực quốc gia, phân tíchđiều kiện, khả năng cũng như các trở ngại của Việt Nam trong quá trìnhphát triển để đề ra giải pháp thực hiện an ninh lương thực một cách bềnvững

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trước hết hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan vấn đề an ninh lươngthực Sau đó, phản ánh thực tiễn tình hình an ninh lương thực tại Việt Nam,khẳng định những thành công đã đạt được và tìm ra những khó khăn bất ổncòn tồn tại trong hoạt động bảo đảm an ninh lương thực tại Việt Nam để cónhững giải pháp phù hợp

4 Vấn đề nghiên cứu

Có phải tình hình an ninh lương thực tại Việt Nam hiện nay đang cónhiều bất ổn?

5 Giả thuyết nghiên cứu

Tình hình an ninh lương thực tại Việt Nam hiện nay đang có nhiều bất

ổn

6 Phương pháp nghiên cứu

Bài luận văn được viết ra dựa trên phương pháp nghiên cứu là phươngpháp phân tích, tổng hợp, diễn giải các tài liệu thu được từ Tổng công tylương thực Miền Bắc và kết hợp với quan sát, phỏng vấn đề thu thập thôngtin thực tế

Trang 4

Kết cấu của khóa luận gồm có ba phần:

Chương I : Những vấn đề lý luận cơ bản về an ninh lương thực

Chương II : Thực tiễn tình hình an ninh lương thực tại Việt Nam

Chương III : Đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những bất ổn.Sau đây ta đi vào dàn ý chi tiết từng chương :

Trang 5

B Phần Nội Dung

Chương I :

Cơ sở lý luận và thực tiễn về an ninh lương thực

1 Khái niệm, vai trò của an ninh lương thực

1.1 Khái niệm an ninh lương thực

Khái niệm về an ninh lương thực được Tổ chức Lương - Nông LiênHiệp Quốc (FAO) đưa ra vào thập niên 80 của thế kỷ trước với ba nội dung

để một nước được cho là bảo đảm an ninh lương thực: (1) Có đủ lươngthực cho cả nước, (2) Có khả năng cung cấp lương thực ổn định và điềuhòa cho mọi người đang sống trên lãnh thổ và (3) tất cả mọi người dân có

đủ khả năng mua lương thực khi cần Ba nội dung này đã được Ủy ban Antoàn lương thực thế giới và Hội đồng Kinh tế - Xã hội của Liên Hiệp Quốcthừa nhận sau một thời gian dài tranh cãi vì nhận thấy đây là những yêu cầukhắc nghiệt Một quan điểm khác cho rằng một quốc gia được xem là đạt

an ninh lương thực khi tỷ lệ tăng sản lượng lương thực hàng năm cao hơn

tỷ lệ tăng dân số

An ninh lương thực là một trạng thái mà không lúc nào con người bịđói, nghĩa là họ có đủ các chất dinh dưỡng cho một cuộc sống hiệu quả,hoạt bát và khỏe mạnh Tuy nhiên sẵn có nguồn lương thực chưa phải mộtđiều kiện để bảo đảm an ninh, bởi vì con người vẫn có thể bị chết đói khilương thực dồi dào Trong một thế giới tiến bộ như ngày nay vẫn còn hơn

800 triệu người bị đói Vấn đề chủ yếu ở chỗ việc phân phối lương thựckém hiệu quả và con người thiếu khả năng mua hàng Qua đó có thể thấyngoài nhân tố ảnh hưởng của thiên tai đối với khả năng sản xuất lươngthực, các chính sách và trình độ quản lý kinh tế của các chính phủ cũngđóng góp một phần không nhỏ vào việc bảo đảm nguồn cung cấp lươngthực cũng như thu nhập cho người dân

Trang 6

Mục tiêu chiến lược an ninh lương thực của Việt Nam đến năm 2020là: “Đảm bảo vững chắc an ninh lương thực ở từng hộ gia đình và trênphạm vi toàn quốc trong mọi tình huống bằng việc đẩy mạnh phát triển sảnxuất lương thực, chủ yếu là lúa và ngô trên cơ sở ổn định diện tích đất lúanước, tăng cường thâm canh tăng năng suất, sản lượng, tăng hiệu quả vàthu nhập cho người sản xuất lương thực, tăng khả năng tiếp cận đủ lươngthực của mọi người dân trong mọi tình huống”.

1.2 Vai trò của an ninh lương thực đối với đời sống xã hội

Theo các tài liệu chính thức của Liên Hợp Quốc, an ninh lương thực làmột trong 7 nhân tố cấu thành an ninh con người cùng với các nhân tố khác

đó là: an ninh kinh tế, an ninh sức khỏe, an ninh môi trường, an ninh cánhân, an ninh cộng đồng và an ninh chính trị

An ninh lương thực đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống cũngnhư trong hoạt động sản xuất kinh doanh của cong người An ninh lươngthực đảm bảo cho người dân có đủ lương thực để dùng trong một thời giandài Một nền kinh tế có an ninh lương thực tốt nghĩa là người dân sốngtrong đó không còn phải lo về việc thiếu lương thực hay không đủ khả năng

để mua lương thực khi cần thiết Đặc biệt trong quá trình đô thị hóa đangdiễn ra rất nhanh ở các nước đang phát triển cùng với việc sử dụng lúa gạovào những mục đích khác nhau thì vấn đề an ninh lương thực ngày càngđược quan tâm hơn bao giờ hết.Theo ông Jean Ziegler, một đại diện củaLiên Hợp Quốc nhận xét: “ việc dùng cây lương thực để sản xuất khốilượng lớn nhiên liệu sinh học là một tội ác vì nó tác động trực tiếp tới giálương thực trên toàn cầu, đe doạ cuộc sống của hàng triệu người” Hầu hết cácquốc gia trên thế giới đều sử dụng gạo làm lương thực để dự trữ Số lượng gạo

dự trữ này hàng năm đều tăng do vấn đề tăng dân số Khi gặp sự cố bất ngờnhư thiên tai bão lũ mùa màng thất bát thì Chính Phủ các nước sẽ sử dụngdến lượng lương thực dự trữ này cứu trợ nhân dân

Trang 7

Vấn đề an ninh lương thực hiện nay đang đứng trước những báo độngnghiêm trọng Theo định nghĩa về an ninh lương thực: “an ninh lương thực

là khả năng tất cả mọi người ở mọi lúc có đủ lương thực cho việc duy trìcuộc sống khỏe mạnh và đáp ứng yêu cầu hoạt động thể chất bình thường,

kể cả hoạt động lao động của con người ” Song thực tế thì khả năng nàyngày nay đang dần bị đe dọa một cách nghiêm trọng Bằng chứng xác thựcnhất là cuộc khủng hoảng lương thực trong năm 2008 vừa xảy ra Hàng loạtnhững tín hiệu về việc thiếu lương thực trên thế giới đã được phát đi Kếtquả là cuộc chạy đua tăng giá lúa gạo trên thị trường thế giới Vì vấn đềnày mà ở một số nước những biến động về chính trị, xã hội đã gây ảnhhưởng đến đời sống người dân Tại Thái Lan, chính phủ đã phải triển khaiquân đội để ngăn chặn tình trạng cướp lương thực trên cánh đồng và cácnhà kho Trong tháng qua, nhiều vụ bạo động đã xảy ra tại các nước như AiCập, Indonesia, Philippines, Bangladesh, do cuộc khủng hoảng lươngthực Tình trạng bất ổn vì thiếu lương thực cũng đã xảy ra tại nhiều nơithuộc châu Á Sự cảnh báo về một "thời kỳ xung đột kéo dài" và sẽ xuấthiện các dạng xung đột mới khác bắt nguồn từ việc thiếu lương thực và giá

cả tăng

2 Đặc điểm tình hình an ninh lương thực thế giới và những ảnh hưởng đối với Việt Nam

2.1 Đặc điểm tình hình an ninh lương thực thế giới

Chưa bao giờ, vấn đề an ninh lương thực lại được thế giới đặt ra mộtcách cấp bách như hiện nay Theo thống kê, trong 3 tháng đầu năm 2008,giá gạo luôn ở mức cao, hiện đã tăng khoảng 70% trong bối cảnh nguồncung giảm mạnh Nhiều chuyên gia cảnh báo, nếu không có biện pháp khắcphục, cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu có thể xảy ra

Hội nghị thượng đỉnh quốc tế về khủng hoảng lương thực được tổchức vào tháng 6-2008 tại Roma nhằm tìm giải pháp cấp bách cho vấn đềnày Theo Ngân hàng Thế giới (WorldBank) cảnh báo giá lương thực sẽ

Trang 8

còn biến động mạnh trong năm 2008, 2009 và tiếp tục ở mức cao Tạiphiên bế mạc Hội nghị mùa xuân của IMF và Ngân hàng Thế giới (WB) tạiWashington ông Tổng Giám đốc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), DominiqueStrauss-Kahn nhận đinh "Giá lương thực nếu vẫn tiếp tục đà gia tăng nhưhiện nay sẽ gây ra những hậu quả khủng khiếp Hàng trăm nghìn người cónguy cơ bị chết đói, dẫn tới sự sụp đổ của các môi trường kinh tế".

Thị trường lương thực cũng rất nhạy cảm với vấn đề khí hậu Bà KiềuMai Yến - Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Trung Quốc chỉ ra rằng, khí hậutác động đến hiệu quả thu hoạch lương thực và chất lượng của các sảnphẩm lương thực Trong đó, hạn hán và rét đậm là hai nhân tố chính tácđộng trực tiếp đến sản lượng lương thực thế giới Tại châu Phi, do chịu ảnhhưởng của yếu tố hạn hán đã dẫn đến tình trạng giảm thiểu lương thực củaKenya vào thời điểm cuối năm 2008 Tháng 09/2008, Chính phủ nước nàycho biết, có tới 10 triệu dân trong tổng số 35 triệu dân của họ phải đối mặtvới nguy cơ mất mùa

Để ứng phó với hạn hán đòi hỏi các quốc gia cần phải đưa ra các giảipháp đảm bảo an ninh lương thực, góp phần làm giảm bớt những tổn thất

do nó mang lại

Tại “vựa lúa” châu Á, chính phủ các nước cũng đang phải nỗ lực đảmbảo an ninh lương thực Tại Thái Lan, nước xuất khẩu gạo lớn nhất thếgiới, các doanh nghiệp đầu mối đang tiếp tục gom hàng và huỷ hợp đồngvới đối tác xuất khẩu Tình trạng khan hiếm hàng và tăng giá càng trở nêntrầm trọng sau khi Ai Cập và Campuchia ban hành lệnh cấm xuất khẩu gạo.Tại Ấn Độ, quốc gia xuất khẩu 4 triệu tấn gạo/năm cũng áp đặt lệnh cấmxuất khẩu tất cả các loại gạo, trừ gạo basmati, để đảm bảo có đủ lương thựccung cấp cho hơn một tỉ người và giảm sức ép tăng giá trong nước

Ðể tăng cường an ninh lương thực, mới đây Trung Quốc đã tiến hànhkiểm tra tổng thể khối lượng lương thực dự trữ trên phạm vi cả nước, nhằmgiúp chính phủ ban hành các quyết định phù hợp nhằm bảo đảm an ninh

Trang 9

lương thực quốc gia Ủy ban lương thực Quốc gia Trung Quốc cho biếtnước này, với số dân 1,3 tỷ người, đã tự túc được 95% lương thực tronghơn một thập kỷ qua Năm 2008, sản lượng lương thực của Trung Quốc đạt528,5 triệu tấn và là năm thứ năm được mùa liên tiếp Trung Quốc có thểhoàn thành chỉ tiêu sản lượng 500 triệu tấn lương thực đề ra trong năm nay,mặc dù ngành nông nghiệp bị tác động của đợt hạn hán nghiêm trọng nhấttrong vòng 50 năm qua tại miền bắc cũng như của cuộc khủng hoảng tàichính toàn cầu hiện nay Trong khi đó, Chính phủ Thái-lan dự định đề xuấtASEAN thành lập "Quỹ và kho dự trữ thóc gạo" nhằm bảo đảm an ninhlương thực Kế hoạch trên nhằm ngăn chặn khả năng thiếu gạo trong cácnước ASEAN, nơi có tổng dân số lên tới 550 triệu người, khi giá gạo tăngđột biến trên thị trường Là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, Thái-lan

sẽ lập các kho dự trữ riêng để phục vụ kế hoạch an ninh lương thực củaASEAN Bên cạnh đó, mỗi nước thành viên cùng đóng góp vốn hoặc thócgạo cho quỹ này Chính phủ các nước khu vực sẽ tính toán giá gạo dựa trêngiá thị trường Thái-lan đề nghị quỹ gạo dự phòng của ASEAN mỗi năm sẽ

ở mức khoảng ba triệu tấn Thái-lan đánh giá kế hoạch trên không chỉ giúptăng cường vai trò quản lý và bảo đảm an ninh lương thực cho ASEAN, màcòn nâng cao năng lực điều hành chương trình dự trữ gạo của chính phủ vàgóp phần bình ổn giá gạo trên thị trường, giúp Thái-lan có thêm kênh bángạo cho các nước thành viên ASEAN khác

Tại thời điểm này, tình trạng trì trệ của nền kinh tế Mỹ (đe doạ kéotheo sự giảm sút về kinh tế của các nước khác) cũng không “nóng” bằng sựthiếu hụt lương thực đang xảy ra tại nhiều quốc gia Theo Tổ chức Lươngthực thế giới FAO vật giá leo thang là “thủ phạm” gây nên cuộc khủnghoảng này Giá cả leo thang có nghĩa là Chương trình Lương thực Thế giới(WFP) phải cắt khẩu phần lương thực cung cấp cho 73 triệu người ở 78nước Mối đe doạ suy dinh dưỡng trên quy mô lớn đang lờ mờ hiện ra Cácnước giàu cũng bắt đầu cảm thấy tác động của tình hình này Giá bột mỳ

Trang 10

cao khiến cho giâ mỳ ống vă bânh mỳ ở Italia tăng mạnh Bânh miso lămbằng gạo vă lúa mạch ở Nhật Bản cũng tăng; trong khi ở Phâp văÔtxtrđylia, chính phủ đang mở cuộc điều tra về giâ lương thực vă yíu cầucâc nhă sản xuất lương thực, câc siíu thị không được tăng giâ.

Những bất ổn về an ninh lương thực ảnh hưởng trực tiếp tới sự ổn địnhcủa câc nước vă an ninh quốc tế Khủng hoảng lương thực có thể kích độnglăn sóng di cư, bạo loạn, khủng bố, trồng cđy thuốc phiện Ðó lă chưa kểcâc cuộc chiến tranh do nạn đói gđy ra Câc nhă phđn tích cho rằng, cuộckhủng hoảng lương thực vẫn đang hiện hữu vă vấn đề an ninh lương thựcvẫn lă băi toân khó giải

Theo đânh giâ của Tổ chức Lương thực vă Nông nghiệp LHQ (FAO),năm 2009 có hơn một tỷ người trín thế giới bị thiếu ăn, so với 963 triệungười năm 2008 Trước khi giâ lương thực tăng, bình quđn mỗi năm có 850triệu người thiếu ăn Sau khi lín tới mức cao nhất văo đầu năm 2008, giâlương thực thế giới đê giảm, nhưng vẫn cao hơn khoảng 19% so với giâtrung bình năm 2006

Câc chuyín gia cảnh bâo, cuộc khủng hoảng lương thực có thể biếnthănh khủng hoảng cơ cấu nếu không có những hănh động ngăn chặn kịpthời, vă sẽ "gđy ra những hậu quả nghiím trọng không chỉ đối với quan hệthương mại, mă ảnh hưởng cả tới quan hệ xê hội vă quốc tế, hai yếu tố tâcđộng trực tiếp tới an ninh vă sự ổn định của chính trị quốc tế" Theo PhóGiâm đốc Quỹ nghiín cứu MOMA của Phâp, giâ một tấn lúa mì có thể sẽdao động từ 80 đến 320 ơ-rô trong văi năm tới Trong những điều kiện nhưvậy, rất khó hy vọng sản lượng lương thực thế giới ổn định vì nhă sản xuất

có xu hướng điều chỉnh lượng hạt gieo căn cứ văo giâ cả Một vấn đề khâccản trở sự gia tăng sản lượng lương thực vă lăm tăng câc rủi ro biến độnggiâ cả lă khả năng vay vốn của người sản xuất bị hạn chế do khủng hoảngtăi chính Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) dự bâo, trao đổi mậu dịchtoăn thế giới sẽ giảm mạnh trong năm 2009 Ðiều năy gđy lo ngại cho câc

Trang 11

nhà nhập khẩu lương thực, nhất là đối với các nước nghèo Chủ tịch Ngânhàng các quốc gia Trung Phi nhấn mạnh: "Năm 2008, một số nước có thểđưa ra giải pháp cho an ninh lương thực vì có thặng dư ngân sách nhờnguồn thu nhập từ dầu mỏ tăng Nhưng năm 2009, họ không còn khả năngcan thiệp đó nữa" Tổng Thư ký LHQ Ban Ki-moon nhấn mạnh, cuộckhủng hoảng lương thực vẫn đang hiện hữu, dẫn đến tình trạng thiếu lươngthực ở nhiều nơi trên thế giới Ông Ban Ki-moon kêu gọi các nước trên thếgiới tiếp tục ưu tiên cho sản xuất lương thực, nhất là tại những nước nghèonhất.

Ðể bảo vệ người dân các nước nghèo, giải pháp duy nhất là thúc đẩynông nghiệp phát triển Tuy nhiên, những năm gần đây, các dự án đầu tưnước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp ở nhiều nước đang phát triển vẫnchưa đem lại hiệu quả Cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay cũng hạn chếkhả năng vay vốn của nông dân, trong khi tình trạng sụt giảm trao đổi mậudịch toàn cầu khiến các nhà nhập khẩu lương thực lo ngại Trước tình trạngngười dân các nước nghèo luôn phải sống trong cảnh thiếu ăn, các tổ chứcquốc tế đã nhiều lần lên tiếng kêu gọi các nước giàu thể hiện trách nhiệmcủa mình và tăng cường trợ giúp các nước nghèo FAO cho biết, để đẩy lùinạn đói mỗi năm thế giới chỉ cần chi thêm khoảng 30 tỷ ơ-rô nhằm khuyếnkhích sản xuất hộ gia đình ở khu vực nông nghiệp

Trong bối cảnh này, mới đây, Tổng thống Mỹ B Obama thông báo, dokhủng hoảng kinh tế toàn cầu, Mỹ sẽ tăng gấp đôi viện trợ lương thực vànông nghiệp dành cho châu Phi, Mỹ la-tinh và các khu vực nghèo khác, lênhơn một tỷ USD Ông Obama nêu rõ, mục tiêu của Mỹ là "trao cho ngườidân công cụ mà họ cần để tự thoát khỏi nghèo đói" Trong khi đó, Pháp dựđịnh thành lập một quỹ đầu tư để hỗ trợ phát triển nông nghiệp châu Phi.Tuy nhiên, các chuyên gia của FAO chỉ rõ rằng, trong khi nhu cầu nông sảnthế giới gia tăng, hiện tượng biến đổi khí hậu làm trầm trọng thêm nguy cơthiếu ăn và bùng nổ giá cả, các nước giàu vẫn tiếp tục không chú ý đúng

Trang 12

mức tới vấn đề lương thực Ðiều đó được thể hiện rõ tại Hội nghị cấp caoNhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi (G-20) mới đây khi an ninhlương thực không phải là chủ đề ưu tiên Các chuyên gia cảnh báo, nhữnghình ảnh về nạn đói và tình trạng bạo động do thiếu lương thực tại châu Á,châu Phi, Mỹ la-tinh cách đây đúng một năm vẫn còn nóng hổi.

Tổng Giám đốc FAO J Diouf cho rằng, tình trạng mất an ninh lươngthực hiện nay trên thế giới là "quá sức chịu đựng" và ông đã kêu gọi triệutập Hội nghị cấp cao thế giới về khủng hoảng lương thực, dự kiến sẽ họpvào tháng 11 năm 2009 tại Roma (Italy) nhân kỳ họp lần thứ 36 của FAO.Ông Diouf cho biết, hội nghị nhằm tạo dựng sự đồng thuận của các quốcgia về mục tiêu cắt giảm nhanh chóng, tiến tới xóa bỏ hoàn toàn tình trạngđói ăn trên toàn cầu, đồng thời hình thành một trật tự lương thực thế giớimới Ông hy vọng hội nghị này sẽ tạo ra sự phối hợp chặt chẽ hơn trên toàncầu trong nỗ lực bảo đảm an ninh lương thực thế giới Dự kiến hội nghịcũng thảo luận về các vấn đề chính sách và cơ cấu của hệ thống nôngnghiệp thế giới, đưa ra các giải pháp về chính trị, tài chính và kỹ thuật bềnvững, nhằm giải quyết tình trạng mất an ninh lương thực toàn cầu hiện nay.Từng quốc gia và cộng đồng quốc tế với vai trò chủ đạo của Liên hợpquốc đã và đang có nhiều nỗ lực, tăng cường hợp tác đấu tranh, chống chọivới cuộc khủng hoảng lương thực

Kể từ năm 2002, giá lương thực quốc tế bắt đầu có dấu hiệu tăng và thểhiện rõ nét nhất qua những năm gần đây Theo thống kê của Liên Hợp Quốc,chỉ tính riêng năm 2007, giá lương thực đã tăng 42% Đến năm 2008, giá mặthàng này tiếp tục leo thang Các chuyên gia đã đưa ra những nguyên nhân chủyếu đó là: nhu cầu về lương thực trên thế giới cao, sự phát triển của nhiên liêusinh học đã lấn át nguồn lương thực, giá dầu tăng dẫn đến việc gia tăng giáthành sản xuất và vận chuyển lương thực, biến đổi khí hậu dẫn đến chất lượngnguồn lương thực bị giảm sút và ảnh hưởng đến quá trình tiêu thụ trên thị

Trang 13

Đến cuối nửa năm 2008, tuy giá lương thực, dầu mỏ và các mặt hàng khác códấu hiệu lắng xuống nhưng vẫn duy trì ở mức cao Theo thống kê của Tổ chứcNông lương Liên hợp quốc (FAO), khoảng cách giá lương thực thế giới đầu vàcuối năm đã giảm 50% Tuy nhiên so với những năm trước đây, giá gạo trênthế giới vẫn cao Tính đến tháng 10, chỉ số giá lương thực theo FAO tăng 28%

tế của họ" Theo thống kê của WB, năm 2008 số người bị suy dinh dưỡng vìthiếu lương thực đã tăng lên 44.000.000 người với tổng số là 967 triệu người.Bên cạnh đó, do ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế nên rất có thể kinh tếcủa những quốc gia đang phát triển trong năm tới sẽ có dấu hiệu chậm lại,nguồn thu từ kiều hối cũng giảm đi đáng kể Từ đó dẫn đến việc kinh tế nôngthôn trở thành nguồn thu chính của những quốc gia này

Hiện nay, cộng đồng quốc tế đang nỗ lực tìm mọi biện pháp để cải thiện

và khôi phục lại nền kinh tế chung, trong đó không thể không nói đến vấn đềkhủng hoảng lương thực Giúp đỡ các quốc gia đang phát triển nâng cao chấtlượng lương thực, qua đó xây dựng cơ chế giao dịch lương thực ổn định luôn làmục tiêu được quan tâm hàng đầu

Tình hình an ninh lương thực hiện nay trên thế giới có ảnh hưởng rấtlớn đến tình hình an ninh lương thực Việt Nam

2.2 Những ảnh hưởng của tình hình an ninh lương thực thế giới đối với Việt Nam

"Nhất sĩ nhì nông Hết gạo chạy rông nhất nông nhì sĩ” Qua thực tếcuộc sống ông cha ta đã đúc kết như vậy Đối chiếu với tình hình khủng

Trang 14

hoảng thiếu lương thực dẫn đến bất ổn xã hội tại nhiều nước đang pháttriển ở châu Á, châu Phi càng thấy vai trò vị trí của nông nghiệp trong việcđảm bảo an ninh lương thực nền tảng đảm bảo an ninh, ổn định chính trị.Theo đánh giá của Liên hiệp quốc giá lương thực trên thị trường thế giớităng đến 5% và hiện đang có 33 quốc gia thiếu lương thực nghiêm trọng,cận kề với cái đói cần được cứu trợ khẩn cấp.

Việt Nam chúng ta không nằm trong danh sách 33 quốc gia nói trên vàđang là một trong các nước xuất khẩu lương thực hàng đầu thế giới ViệtNam đang cùng Thái Lan, Ấn Độ chiếm 60% sản lượng gạo xuất khẩu củathế giới Bởi vậy, mới đây Thái Lan ngỏ ý cùng với Việt Nam, Ấn Độ hìnhthành liên minh xuất khẩu gạo như mô hình tổ chức các nước xuất khẩudầu mỏ OPEC Làm như vậy vừa thống nhất được giá gạo xuất khẩu trênthị trường thế giới vừa ổn định được giá gạo tiêu dùng nội địa và bảo vệ lợiích của nông dân vì họ không thể dự báo được mặt bằng giá cả hợp lý khitham gia thị trường

Việt Nam chúng ta tuy không phải đối đầu với tình trạng thiếu lươngthực nhưng giá lương thực cũng đã tăng khá cao do tác động của thị trườngthế giới Trước tình hình đó Chính phủ đã chủ trương tạm ngừng xuất khẩugạo vừa để góp phần chống lạm phát vừa để đảm bảo an ninh lương thựcvừa theo dõi diễn biến tình hình thị trường gạo thế giới để có đối sách phùhợp

Một vấn đề khác liên quan đến sản xuất nông nghiệp phát sinh gần đâycũng cần được đề cập Đó là tình trạng huyện huyện, tỉnh tỉnh đua nhau lấyđất nông nghiệp cả những vùng màu mỡ, “bờ xôi, ruộng mật” để lập khucông nghiệp mà không ít khu lập xong không thu hút được các nhà đầu tư.Con số thống kê cho thấy từ năm 2002 đến năm 2007, mỗi năm mất 73.000

ha đất nông nghiệp, 500.000 tấn lương thực, 2,5 triệu nông dân mất tư liệusản xuất rơi vào cảnh “ăn không, ngồi rồi” vì không thể chuyển nghề

Trang 15

Cho đến bây giờ, mặc dù tỷ trọng nông nghiệp trong GDP (tổng sảnphẩm quốc nội) đã giảm nhưng nước ta vẫn là nước nông nghiệp, hơn 75%dân số sống ở nông thôn Bởi vậy công nghiệp hóa là cần thiết nhưng côngnghiệp hóa thế nào để nông nghiệp vẫn phát triển, nông dân được đổi đời,

an ninh lương thực quốc gia được đảm bảo

Vấn đề an ninh lương thực đang thực sự nóng bỏng trên toàn cầu vàtác động trực tiếp đến nước ta Trên thế giới nhu cầu tiêu dùng ngày cànglớn và yêu cầu phát triển nhanh chăn nuôi, nhất là chăn nuôi gia súc, giacầm sử dụng lương thực vì dân số thế giới tăng nhanh (trong 10 năm quadân số thế giới đã tăng 2 lần), nhiều hơn mức tăng sản lượng lúa gạo, đồngthời nhu cầu của thị trường cao cấp về lương thực thực phẩm như thịt -trứng - sữa ngày càng tăng khiến cho một khối lượng lớn lương thực thựcphẩm được điều tiết để hỗ trợ ngành chăn nuôi Chuyển dịch cơ cấu đấttrồng và sản phẩm lương thực thực phẩm cho mục tiêu sản xuất nhiên liệusinh học (biofue) thay thế xăng dầu ngày càng lớn: theo số liệu của Ngânhàng thế giới, Mỹ đã sử dụng 20-40% lượng ngô (bằng 4-8% sản lượngtoàn cầu); Liên minh châu Âu dành 65% dầu thực vật cho mục tiêu sảnxuất biofue Ở Trung Quốc, nhu cầu về nguyên liệu để sản xuất dầu nhờnsinh học (biodiesel) đã làm cho giá dầu cọ giao dịch ở thị trường Malaysiatăng kỷ lục từ 2000 ringit (tháng 3/2007) lên 4000 ringit (tháng 2/2008).Biến đổi của khí hậu toàn cầu gắn với thiên tai, bão lụt, hạn hán, gây rakhan hiếm nước sinh hoạt, nước cho trồng trọt, mất mùa, dịch bệnh, làmsụt giảm sản lượng lương thực thế giới Tình trạng khủng hoảng kinh tếtoàn cầu, giá dầu thô tăng cao đẩy giá phân bón và phí vận chuyển hàngnông nghiệp lên cao; nguồn dự trữ thực phẩm khan hiếm cũng góp phầnlàm tăng giá lương thực, thực phẩm

Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng ảnh hưởng của việc tăng giálương thực thực phẩm trên thế giới mặc dù chúng ta đã quyết liệt đầu tưcho nông nghiệp - nông thôn nhưng giá lương thực thực phẩm vẫn tăng vì

Trang 16

giá các loại vật tư đầu vào cho sản xuất lương thực, thực phẩm đều tăng(xăng dầu, phân bón: DAP tăng gấp 3 lần năm 2007, Urê tăng gấp 1,5 lần;các loại nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi phải nhập khẩu tăng mạnhnhư khô dầu, ngô hạt, bột cá, thức ăn bổ sung, ) và công lao động đều tăng(công thu hoạch lúa Đông xuân 2008 tại các tỉnh ĐBSCL tăng gấp 1,5 lần

so với năm 2007); Cộng với khó khăn do thiên tai như dịch bệnh, rét đậmrét hại, ảnh hưởng lớn đến sản xuất lúa gạo Mặt khác, nước ta đang thời

kỳ công nghiệp hoá, việc chuyển đổi đất trồng cây lương thực sang cho nhucầu phát triển công nghiệp, đô thị hoá, phát triển cơ sở hạ tầng cũng khálớn Theo Tổng cục Thống kê từ 2001-2006 đất lúa giảm 206,8 ngàn ha,bình quân giảm 41 ngàn ha/năm, chủ yếu là đất 2 vụ lúa, làm giảm sảnlượng lúa mỗi năm khoảng 500 ngàn tấn

Tình trạng thiếu hụt lương thực, thực phẩm đang diễn ra ở nhiều nơitrên thế giới dẫn đến giá gạo tăng cao đồng thời đẩy ngành nông nghiệpViệt Nam đối mặt với nhiều sức ép Các lương thực khác như bắp, khoai,sắn đã giúp bình quân lương thực đầu người của Việt Nam tăng mạnh từ

430 kg vào năm 1996 lên hơn 550 kg hiện nay, nhưng trong đó tiêu thụ lúagạo đang giảm xuống còn 150 kg/người/năm, cơ cấu thực phẩm cho bữa ănhàng ngày đã thay đổi, bớt dùng gạo hơn

Mặc dù giá nông sản trong nước đang hồi phục sau đợt giảm sâu vàocuối năm 2008, nhưng một vấn đề khác được quan tâm hơn, đó là an ninhlương thực, như tại hội nghị do Tổ chức Lương nông Liên hợp quốc (FAO)họp ở Thái Lan đã cảnh báo: dự trữ lương thực thế giới hiện ở mức thấpnhất trong vòng 30 năm qua Lúa bắp tăng nhưng vẫn còn hộ thiếu lươngthực

Tình hình đói lương thực và tái nghèo vẫn còn xảy ra ở các vùng khókhăn như vùng núi cao, vùng biên giới hải đảo và vùng thường xuyên bịthiên tai Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê cho thấy, cả nước hiện vẫncòn có 6,7% số hộ thiếu lương thực; trong đó khu vực nông thôn là 8,7%

Trang 17

và ngay ở thành thị vẫn có 2,2% số hộ thiếu lương thực, đây là sự phát triểnkhông bền vững khi Việt Nam là quốc gia xuất khẩu gạo lớn trên thế giớinhưng vẫn còn một bộ phận dân cư thiếu gạo ăn Chất lượng, vệ sinh antoàn một số loại lương thực thực phẩm chưa cao Bên cạnh đó, hệ thốngchế biến, bảo quản lương thực còn nhiều bất cập, hệ thống kinh doanhlương thực hoạt động với hiệu quả thấp và dễ dẫn tới những cơn sốt lươngthực như đã từng xảy ra vào tháng 4 năm 2008 Tiêu dùng lương thực vượtquá sản xuất

Triển vọng ngành nông nghiệp Việt Nam 2009 vào ngày 24 và 25-3 tạiTPHCM, nhiều chuyên gia quốc tế nhận định rằng giá lương thực hiện naykhông tăng không phải do thế giới dư thừa, mà thực ra là do người tiêudùng vì kinh tế khó khăn nên cắt giảm chi tiêu cho lương thực

Tại Việt Nam, dân số tiếp tục tăng đòi hỏi nguồn cung lương thực vàthực phẩm tăng theo tương ứng Hiện Việt Nam có khoảng hơn 85 triệudân nhưng theo dự báo dân số nước ta tiếp tục tăng bình quân khoảng 1-1,2%/năm trong vài thập niên tới Đến năm 2020 dân số khoảng 100 triệungười và 110- 120 triệu người sau năm 2030

Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên đất và nước tácđộng đến an ninh lương thực quốc gia

Các nghiên cứu của Ủy ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu cuảLiên hiệp quốc (IPPC) và Ngân hàng Thế giới (WB) đã dự báo nếu nhiệt

độ tăng thêm 2°C, mực nước biển dâng cao thêm 1 m thì trong 100 năm tớivùng ĐBSCL - trọng điểm sản xuất lúa gạo của Việt Nam, có 1,5 - 2 triệuhéc ta, vùng đồng bằng sông Hồng có 0,3-0,5 triệu héc ta đất nông nghiệp(chủ yếu đất lúa) bị ngập hoặc nhiễm mặn không thể trồng lúa được

Trang 18

Chương II : Thực trạng vấn đề an ninh lương thực tại Việt Nam

1 Khái quát về đặc điểm kinh tế Việt Nam giai đoạn 2009

2006-1.1 Tình hình chung

Bước vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006

-2010 nước ta đứng trước nhiều thời cơ, thuận lợi, nhưng cũng không ít khókhăn, thách thức Sự phát triển kinh tế - xã hội các năm 2006 và năm 2007trong tình hình chính trị, xã hội ổn định và kế thừa được nhiều thành tựu tolớn đã đạt được Tuy nhiên, từ cuối năm 2007 và đặc biệt là năm 2008 tìnhhình kinh tế thế giới diễn biến theo chiều hướng phức tạp và không ổnđịnh; sự biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, xảy ra nhiều hơn đã tácđộng đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội nước ta

Dự báo từ nay cho đến năm 2010, tình hình kinh tế thế giới và trongnước tiếp tục có nhiều biến động tạo ra cả cơ hội và thách thức đối vớinước ta

Về tăng trưởng kinh tế, trong hai năm đầu thực hiện kế hoạch 5 năm2006-2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) đạt mức cao hơn nhiều so vớimục tiêu đề ra Tốc độ tăng GDP năm 2006 là 8,23%, năm 2007 tăng caohơn là 8,48% Đến năm 2008 do tác động lớn của suy thoái kinh tế, cùngvới những khó khăn ở trong nước tăng trưởng kinh tế có chậm lại, chỉ đạt6,23% Bình quân 3 năm tăng trưởng kinh tế đạt 7,65%/năm, cao hơn mụctiêu kế hoạch đề ra là 7,5-8% và cao hơn bình quân giai đoạn 2001-2005 là7,5% Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta trong năm 2009 tiếp tục bị ảnh hưởngbởi khủng hoảng kinh tế và suy thoái kinh tế toàn cầu Vì vậy, để đạt mụctiêu tăng trưởng kinh tế 7,5-8% bình quân trong 5 năm 2006-2010, đòi hỏi

sự quyết tâm cao và nỗ lực của tất cả các ngành, các cấp, các doanh nghiệp

và toàn dân

Trang 19

GDP theo giá so sánh đến năm 2008 tăng gấp 1,8 lần năm 2000 so với

kế hoạch đề ra là 2,1 lần Qui mô nền kinh tế không ngừng tăng lên GDPtính bằng USD từ 53 tỷ USD năm 2005 lên gần 89 tỷ USD năm 2008 GDPtính theo đầu người đã đạt trên 1.000 USD, xấp xỉ mục tiêu đề ra cho năm

2010

Về cơ cấu kinh tế, cơ cấu kinh tế trong 2 năm 2006-2007 chuyển dịch

theo hướng tích cực, nhưng chậm so với mục tiêu đề ra Đến năm 2008, do

sự giảm sút tốc độ tăng trưởng của công nghiệp và dịch vụ, tỷ trọng nôngnghiệp lại bị đẩy lên cao, trong khi tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ giảmxuống: tỷ trọng nông nghiệp chiếm 22% GDP; công nghiệp và xây dựngchiếm 39,9% GDP; dịch vụ 38,1% GDP Khả năng năm 2010 cơ cấu giá trịGDP khu vực nông nghiệp chỉ đạt được khoảng 20%, không đạt mục tiêu

kế hoạch đề ra (15-16%); cơ cấu giá trị GDP khu vực công nghiệp và xâydựng đến năm 2010 chỉ đạt 40,8% (mục tiêu kế hoạch 43-44%); cơ cấudịch vụ phấn đấu đạt kế hoạch

Cơ cấu lao động đã có sự chuyển dịch, tỷ lệ lao động nông, lâm, ngưnghiệp trong tổng lao động năm 2008 còn khoảng 53,3% so với năm 2005

là 57,3%; công nghiệp và xây dựng là 19,92% so với năm 2005 là 18,2%;dịch vụ tăng lên 26,83% so với 24,5% năm 2005 Đến năm 2010 dự kiến

cơ cấu lao động các khu vực phấn đấu đạt mục tiêu đề ra, tỷ lệ nông lâmngư nghiệp trong tổng lao động khả năng đến năm 2010 dự kiến khoảng49,5%

Về xuất nhập khẩu, sau 2 năm gia nhập WTO, với việc thực hiệnmạnh mẽ chủ trương đẩy mạnh xuất khẩu, mở rộng cả thị trường truyềnthống và phát triển thị trường mới có nhiều tiềm năng, đồng thời nhờ yếu tốtăng giá nhiều mặt hàng chủ lực, đã giúp tổng kim ngạch xuất nhập khẩutăng nhanh, gấp rưỡi chỉ tiêu kế hoạch đề ra Tổng kim ngạch xuất khẩu 3năm 2006-2008 đạt 151,3 tỷ USD, bình quân tăng 24,7%/năm Năm 2009,giá và lượng một số mặt hàng xuất khẩu chính giảm hơn so với năm 2008,

Trang 20

tình hình kinh tế thế giới biến động, chi tiêu của người dân tại các nước làthị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam như: Mỹ và EU ảnh hưởng bất lợitới hoạt động xuất khẩu của Việt Nam Theo Bộ Công thương, kim ngạchxuất khẩu của Việt Nam năm 2009 chỉ tăng khoảng 5-6% so với năm 2008.Tuy nhiên, khả năng xuất khẩu của Việt Nam có thể tăng trở lại vào năm

2010, khi thương mại toàn cầu năm 2010 dự báo phục hồi

Về nhập khẩu, giá dầu và các nguyên vật liệu đầu vào thiết yếu (vật

liệu xây dựng, phân bón ) cho sản xuất có khả năng giảm, nhưng vẫn ởmức cao, dự báo sẽ tác động không nhỏ tới hoạt động nhập khẩu của ViệtNam Với những nhận định trên, dự báo đến 2010 tăng trưởng kim ngạchxuất khẩu sẽ đạt khoảng 22%, tương đương với 110 tỷ USD vào năm 2010,phấn đấu giảm nhập siêu xuống khoảng 20-25% tổng kim ngạch xuất khẩu.Tổng kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu tính theo đầungười đã đạt xấp xỉ mục tiêu kế hoạch 5 năm: năm 2008 tổng kim ngạchxuất khẩu đã đạt 62,9 tỷ USD so với mục tiêu đề ra là đến năm 2010 đạt68-69 tỷ USD; kim ngạch xuất khẩu tính theo đầu người đạt khoảng 735USD/người so với mục tiêu đến năm 2010 là 770-780 USD/người

Thu chi Ngân sách Nhà Nước ( NSNN), tỷ lệ huy động GDP vàoNSNN các năm 2006-2008 đạt mức cao, bình quân 3 năm đạt khoảng27,7%, cao hơn nhiều so với mục tiêu Đại hội đề ra là 21-22% GDP, trong

đó tỷ lệ huy động từ thuế và phí bình quân đạt 25,4% GDP cao hơn chỉ tiêuđặt ra 20-21% GDP Tỷ lệ huy động đạt kết quả khá cao là nhờ vào sự tăngtrưởng khá nhanh của nền kinh tế và nguồn thu lớn về dầu thô do giá cả thịtrường thế giới tăng nhanh Tổng thu NSNN 3 năm đạt trên 70% mục tiêu

đề ra Quy mô thu NSNN năm 2008 tăng 1,7 lần so với năm 2005 Tốc độtăng thu bình quân đạt 20,6%/năm, gấp 2 lần kế hoạch đề ra; (nếu loại trừyếu tố tăng giá dầu, tốc độ tăng thu bình quân đạt 13,4%, cao hơn kế hoạch

đề ra là 10,8%/năm)

Trang 21

Chi NSNN tăng trung bình khoảng 21,3%/năm Quy mô chi NSNNnăm 2008 tăng gần 80,5% so với năm 2005 Tỷ lệ chi NSNN so với GDPbình quân đạt 32,1% (không kể chi chuyển nguồn từ năm trước sang nămsau), cao hơn mục tiêu đề ra là 27,5% GDP

An ninh tài chính quốc gia được tăng cường, trong 3 năm 2006-2008mức bội chi đều giữ xấp xỉ 5% GDP và đang có xu hướng giảm dần; bố trí

đủ cân đối để chi trả các khoản nợ đến hạn theo các cam kết Dư nợ Chínhphủ, dư nợ ngoài nước của Quốc gia so GDP nằm trong giới hạn an toàncho phép

Về huy động vốn đầu tư phát triển, nhờ việc đổi mới và cải thiện môitrường đầu tư trước hết là môi trường pháp lý trong đầu tư kinh doanh, sự

ổn định chính trị và uy tín tạo lòng tin trong phát triển trung hạn và dài hạn,

đã huy động được nhiều nguồn vốn cho đầu tư phát triển Trong 3 năm2006-2008 tổng vốn đầu phát triển toàn xã hội đạt trên 1.514 nghìn tỷđồng Tỷ lệ huy động vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP năm 2006 đạt42,3%, năm 2007 đạt 45,6% và năm 2008 ước đạt khoảng 39% GDP, bìnhquân 3 năm đạt 42,3% cao hơn mục tiêu đề ra Trong đó: vốn đầu tư từNSNN 3 năm thực hiện khoảng 318,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 21,1% tổngvốn đầu tư toàn xã hội; vốn trái phiếu Chính phủ 3 năm thực hiện khoảng34,6 nghìn tỷ đồng; vốn tín dụng đầu tư và tín dụng chính sách 3 năm thựchiện khoảng 110 nghìn tỷ đồng, chiếm 7,4% tổng vốn đầu tư toàn xã hội;khu vực doanh nghiệp nhà nước 3 năm thực hiện khoảng 187 nghìn tỷđồng, chiếm 12,5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; nguồn vốn đầu tư của khuvực doanh nghiệp ngoài nhà nước và dân cư có tốc độ tăng trưởng nhanh, 3năm thực hiện khoảng 502 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn nhất, bìnhquân 3 năm chiếm 33,5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; nguồn vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài tiếp tục tăng nhanh, trong 3 năm giải ngân được trên

23 tỷ USD (bao gồm cả phần đóng góp trong nước), đạt tới 92% mục tiêucủa 5 năm Đáng chú ý là mức vốn đăng ký mới và tăng thêm đạt kết quả

Trang 22

khá cao, 2 năm 2006-2007 đều đạt tốc độ năm sau cao hơn năm trước gần 2lần, riêng năm 2008 tăng hơn 3 lần so với năm 2007 (64 tỷ USD)

Công tác thu hút và vận động vốn ODA đạt được nhiều kết quả Mặc

dù nguồn cung ODA thế giới có xu hướng giảm song công tác vận động,thu hút vốn ODA trong các năm qua Việt Nam vẫn nhận được sự ủng hộ vàcam kết mạnh mẽ của cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế Vốn ODA cam kếtcủa các nhà tài trợ đều tăng qua các năm và năm 2008 đạt mức kỷ lục caonhất từ trước tới nay (5,43 tỷ USD) Tổng vốn ODA cam kết 4 năm 2006-

2009 đạt 18,62 tỷ USD, trong đó đã ký kết các điều ước quốc tế với tổnggiá trị là 9,6 tỷ USD và giải ngân khoảng 6,1 tỷ USD

Trong 2 năm 2009-2010, đầu tư phát triển ở các doanh nghiệp có thể

bị chậm lại so với 3 năm trước Dự báo vốn đầu tư phát triển toàn xã hội sovới GDP bình quân 5 năm đạt trên 40% GDP, vượt mục tiêu kế hoạch đề

ra

Giải quyết việc làm và các vấn đề xã hội

Trong 3 năm 2006-2008 đã giải quyết việc làm cho khoảng gần 5 triệulượt lao động so với mục tiêu 5 năm 2006-2010 là 8 triệu lao động Trongtình hình nền kinh tế đang trong chiều hướng suy giảm, các doanh nghiệpthu hẹp sản xuất, do vậy lượng cầu lao động cũng sẽ giảm sút, số lượngviệc làm có thể sẽ bị cắt giảm, dẫn đến việc tạo việc làm mới sẽ khó khănhơn Để thực hiện mục tiêu kế hoạch đã đề ra, đi đôi với các biện phápchính sách hỗ trợ phục hồi, phát triển sản xuất kinh doanh, nhất là khu vựcdoanh nghiệp nhỏ và vừa, cần phải tăng cường công tác đào tạo, nâng caotay nghề, nâng cao chất lượng lao động, phù hợp với yêu cầu phát triển Trong công tác xuất khẩu lao động, đã chú ý hoạt động đẩy mạnh pháttriển thị trường lao động, tăng cường đầu tư, mở rộng thị phần tại các thịtrường có thu nhập cao Trong 3 năm 2006-2008, số lao động và chuyêngia đi lao động ở các nước đạt gần 250 nghìn người, còn thấp hơn so vớimục tiêu đề ra là 100 nghìn người Trong các năm tới, thị trường xuất khẩu

Trang 23

lao động của Việt Nam sẽ bị tác động bởi suy thoái kinh tế, làm giảm nhucầu lao động từ Việt Nam

Công tác giảm nghèo tiếp tục được chú trọng, trong 3 năm tỷ lệ hộnghèo cả nước giảm gần 9%, năm 2008 ước tỷ lệ hộ nghèo còn 13,1% sovới năm 2005 là 22%; một số địa phương đã cơ bản xoá hết số hộ nghèotheo chuẩn quốc gia, như Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Tuy nhiên, trongthời gian gần đây, do giá cả tăng cao (nhất là cuối năm 2007 và nhữngtháng đầu năm 2008), thiên tai, lũ lụt bệnh dịch liên tiếp xảy ra đã ảnhhưởng xấu đến đời sống của nhân dân, nhất là đối với vùng bị thiên tai,người nghèo có thu nhập thấp Tốc độ giảm nghèo có xu hướng chậm lại,

tỷ lệ hộ tái nghèo tăng lên

Về giáo dục đào tạo, nhiều chỉ tiêu quan trọng như giáo dục đại học vàcao đẳng trên một vạn dân, tỷ lệ lao động qua đào tạo, tăng tuyển mới caođẳng và trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề năm 2008 đã xấp xỉ mục tiêu

kế hoạch đề ra Riêng số địa phương đạt chuẩn chương trình phổ cập giáodục trung học cơ sở đến năm 2008 mới đạt được 46 tỉnh, thành phố so với

63 tỉnh, thành phố Đến năm 2010, dự kiến sẽ có khoảng 4-5 tỉnh không đạtđược chỉ tiêu này

Các chỉ tiêu trong lĩnh vực bảo vệ chăm sóc sức khoẻ nhân dân, trừ tỷ

lệ tử vong bà mẹ liên quan đến thai sản trên 100 nghìn trẻ để sống là khôngthể đạt mục tiêu kế hoạch đề ra, đến năm 2008 mới đạt 74 trẻ trên 100nghìn trẻ đẻ sống so với mục tiêu đặt ra là 60 trẻ trên 100 nghìn trẻ đẻ sống;các chỉ tiêu khác như: tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi, dưới 5 tuổi đến năm

2008 đã vượt mục tiêu kế hoạch đề ra

Đối với công tác dân số kế hoạch hoá gia đình, các đánh giá trong 3năm qua cho thấy các chỉ tiêu trong lĩnh vực này đều đạt thấp so với kếhoạch đề ra Tỷ lệ giảm sinh năm 2008 chỉ đạt 0,1%o so với kế hoạch đề ra

là 0,3%o (mục tiêu kế hoạch 5 năm là 0,4%o) Đây là một vấn đề lớn, cầnphải được các cấp, các ngành liên quan quan tâm giải quyết bằng các biện

Trang 24

pháp chính sách đồng bộ, đặc biệt là phải tăng cường công tác tổ chức kếhoạch hoá gia đình ở các đơn vị cơ sở xã, phường, thôn bản.

Bước vào năm 2009, kinh tế-xã hội nước ta tiếp tục chịu ảnh hưởngcủa khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhiều nền kinh tế lớn suy thoái Trongkhi chưa khắc phục hết những khó khăn của năm 2008 và những năm trước

đó để lại thì nước ta lại phải đương đầu với những thách thức mới Bêncạnh đó, chúng ta vẫn có những thuận lợi cơ bản, đó là: Lạm phát đượckiềm chế; Việt Nam vẫn được đánh giá là thị trường đầu tư hấp dẫn; Chínhphủ tiếp tục ban hành thêm các giải pháp và chính sách phát triển kinh tếmột cách linh hoạt, nhằm phản ứng kịp thời trước những biến động khólường về kinh tế; đồng thời chỉ đạo quyết liệt các Bộ, ngành, các địaphương triển khai đồng bộ các chủ trương kích cầu đầu tư và tiêu dùng, từ

đó nhiều dự án đầu tư lớn có ý nghĩa đối với phát triển kinh tế sẽ sớm đivào hoạt động, cải thiện đáng kể năng lực sản xuất của nền kinh tế, tạo điềukiện giải quyết nhiều vấn đề xã hội bức xúc; những kinh nghiệm đúc rútđược về điều hành kinh tế vĩ mô trong thời gian qua tiếp tục phát huy hiệulực, hiệu quả; sự phối hợp giữa Chính phủ, các hiệp hội, ngân hàng vàdoanh nghiệp được tăng cường đã tạo đà cho sự hợp tác cùng vượt qua khókhăn Những yếu tố thuận lợi này bước đầu đã tác động tích cực tới sự pháttriển của nền kinh tế và doanh nghiệp Việt Nam quý I/2009 và sẽ tiếp tụcảnh hưởng mạnh đến tình hình kinh tế-xã hội cả năm

Tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2009 ước tính tăng 3,1% sovới cùng kỳ năm 2008, bao gồm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sảntăng 0,4%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 1,5%; khu vực dịch vụtăng 5,4% Trong tốc độ tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế, khu vựcnông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,1 điểm phần trăm; khu vực côngnghiệp và xây dựng đóng góp 0,7 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ đónggóp 2,3 điểm phần trăm Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước quý I năm

Trang 25

nay tuy thấp hơn nhiều so với mức tăng cùng kỳ của một số năm gần đây,nhưng trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu, hầu hết các nền kinh tếtrên thế giới bị suy giảm mạnh mà nền kinh tế nước ta đạt được tốc độ tăngnhư trên là một cố gắng rất lớn.

1.2 Tiềm năng sản xuất lương thực, thực phẩm của Việt Nam

Vấn đề lương thực, thực phẩm là một trong những mối quan tâm lớnthường xuyên của Nhà nước và nhân dân ta Việt Nam có dân số đông, việcđẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm sẽ đảm bảo an ninh lương thực,cải thiện cơ cấu bữa ăn cho nhân dân; mặt khác tạo điều kiện đa dạng hoásản xuất nông nghiệp, tạo nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệpchế biến, thúc đẩy công nghiệp hoá và tạo nguồn hàng xuất khẩu quantrọng

Từ sau ngày đất nước thống nhất đến nay, sản xuất lương thực tại ViệtNam đã đạt được những thành tựu khá vững chắc Diện tích gieo trồng lúa

cả năm không ngừng được mở rộng, từ 5,6 triệu ha (năm 1980), đến nay làkhoảng 7,3 triệu ha Nhờ phát triển thuỷ lợi và đưa vào các giống mới phùhợp với các vùng sinh thái khác nhau, nên cơ cấu mùa vụ đã thay đổi nhiều.Diện tích lúa đông xuân được mở rộng, tới gần 1,8 triệu ha Lúa hè thuđược đưa vào trồng đại trà Hàng trăm nghìn ha lúa mùa được chuyển sanglàm vụ hè thu, nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam duy trì vị trí

là một trong ba nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới (cùng với Hoa Kì vàThái Lan)

Nước ta còn có nhiều khả năng tăng sản lượng lương thực nhờ tăng vụ

và tăng năng suất cây trồng Tuy nhiên, những khó khăn cần phải giảiquyết là tình trạng thiếu vốn, sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu trong nướcchưa đáp ứng nhu cầu, công nghiệp sau thu hoạch còn nhiều hạn chế Mặtkhác, thiên tai, sâu bệnh làm thiệt hại mùa màng ở nhiều vùng, làm cho sảnlượng lương thực chưa ổn định vững chắc

Trang 26

Ngành chăn nuôi phát triển dựa trên cơ sở thức ăn tự nhiên (đồng cỏ),sản phẩm của ngành trồng trọt, phụ phẩm của ngành thuỷ sản và thức ănchế biến công nghiệp Nhờ đảm bảo được cơ sở lương thực cho người, nênnguồn thức ăn cho chăn nuôi đã được giải quyết tốt hơn Ngành chăn nuôiđang phát triển ngày càng đa dạng hơn, tăng tỉ trọng của những sản phẩmkhông qua giết mổ như trứng, sữa.

Tuy nhiên, hiện nay ngành chăn nuôi của ta còn phát triển chủ yếutheo lối quảng canh Giống gia súc, gia cầm nói chung năng suất còn thấp,chất lượng chưa cao (nhất là cho yêu cầu xuất khẩu) Cơ sở thức ăn chochăn nuôi chưa được đảm bảo, công nghiệp chế biến thức ăn cho gia súc vàcông tác dịch vụ thú y vẫn còn hạn chế Hiệu quả kinh tế của chăn nuôi nóichung vẫn còn thấp

Việt Nam có bờ biển dài 3260 km và vùng đặc quyền kinh tế rộngkhoảng 1 triệu km2 Vùng biển nước ta có nguồn lợi hải sản khá phongphú, cho phép khai thác hàng năm 1,2 – 1,4 triệu tấn Nước ta có nhiều ngưtrường, trong đó 4 ngư trường trọng điểm là : ngư trường Minh Hải – KiênGiang, ngư trường Ninh Thuận – Bình Thuận – Bà Rịa – Vũng Tàu, ngưtrường Hải Phòng - Quảng Ninh và ngư trường quần đảo Hoàng Sa - quầnđảo Trường Sa Ven bờ biển có nhiều bãi triều, vũng, vịnh, đầm phá có khảnăng nuôi trồng thuỷ sản nước lợ, nước mặn Diện tích mặt nước có khảnăng nuôi thuỷ sản nước ngọt rất lớn

Nuôi trồng thuỷ sản đang được phát triển theo hướng phát triển đadạng loài trên nhiều loại mặt nước như: Ao, ruộng trũng, hồ chứa, lồng bètrên sông và trên trên biển Sản lượng cá nuôi hơn 108 nghìn tấn, tôm nuôihơn 19 nghìn tấn Ngành thuỷ sản đang được đẩy mạnh phát triển theohướng hiện đại hoá cả ở khâu đánh bắt, nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu.Sản phẩm của ngành không chỉ cung cấp nguồn đạm động vật quý giá, màcòn tạo ra các nguồn xuất khẩu có giá trị lớn

Trang 27

Việc sản xuất các loại thực phẩm khác đang được khuyến khích.Các mô hình kinh tế vườn (mô hình VAC, RVAC, “vườn rừng”, “vườnđồi”…) đa dạng, phù hợp với các vùng sinh thái, đã cung cấp phần chủ yếucác loại rau quả và một phần đáng kể thịt, cá, trứng, sữa cho nhu cầu hàngngày của nhân dân ta.

Mỗi vùng sinh thái nông nghiệp của nước ta đều có những thế mạnhnhất định trong việc sản xuất lương thực, thực phẩm Các thế mạnh ấy đangngày càng được phát huy tốt hơn nhờ sản xuất đi đôi với bảo quản và chếbiến sản phẩm, nhờ sự trao đổi, lưu thông lương thực, thực phẩm hàng hoágiữa các vùng

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng trọng điểm lương thực, thực phẩm

số một Ở đây tập trung tới hơn 50% sản lượng lương thực của cả nước.Ngoài ra, đây còn là vùng dẫn đầu cả nước về trồng mía, cây ăn quả ; vùngphát triển mạnh chăn nuôi lợn và gia cầm, nhất là nuôi vịt Do gần các ngưtrường trọng điểm và tiềm năng nuôi thuỷ sản lớn nên ngành thuỷ sản có vịtrí rất quan trọng trong sản xuất thực phẩm của vùng Hiện nay, khu vựcđồng bằng sông Cửu Long cung cấp hơn 50% sản lượng thủy sản các loạicủa cả nước

Đồng bằng sông Hồng là vùng trọng điểm số hai về lương thực, thựcphẩm Đây là vùng nông nghiệp thâm canh rất cao Năng suất lúa cao nhất

cả nước Nhưng do đất chật, người đông, nên vùng chỉ cung cấp không quá20% sản lượng lúa cả nước và bình quân lương thực trên đầu người khôngcao Thế mạnh của vùng là sản xuất lúa, rau quả, lợn, gia cầm, cá Đặc biệt,khả năng phát triển vụ đông để trồng các loại rau, quả nguồn gốc cận nhiệt

và ôn đới là thế mạnh độc đáo của vùng

Ngoài hai vùng trọng điểm trên, các vùng khác cũng có những thếmạnh khác nhau về sản xuất lương thực, thực phẩm Trung du, miền núiphía Bắc có khả năng phát triển chăn nuôi trâu, bò, trồng đậu tương, mía,lạc, cây ăn quả… Vùng duyên hải miền Trung, với các đồng bằng duyên

Trang 28

hải hẹp, lại hay bị thiên tai, khả năng sản xuất lương thực bị hạn chế.Nhưng ở đây lại có những tiềm năng lớn về chăn nuôi trâu, bò, nuôi trồng

và đánh bắt thuỷ sản, trồng lạc, mía, đậu tương Tây Nguyên có nhiều khảnăng phát triển chăn nuôi bò lấy thịt và bò lấy sữa Vùng Đông Nam Bộ cókhả năng lớn thứ hai sau đồng bằng sông Cửu Long về trồng mía, đậutương, cây ăn quả, nhiều khả năng về nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản.Những năm qua Việt Nam đã sản xuất được lượng lương thực rất lớn (năm

2008 đã sản xuất được trên 52 triệu tấn), bảo đảm xuất khẩu Tuy vậy, vẫncòn một số địa bàn, một bộ phận đồng bào bị thiếu lương thực Vì vậy, liênquan đến vấn đề bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, Thủ tướng yêu cầu

2 việc: Thứ nhất là bảo đảm đất đai cho sản xuất lương thực; thứ hai là đưakhoa học công nghệ vào sản xuất lương thực, thực phẩm, nhất là chế biếnsau thu hoạch, tăng năng suất, nâng cao chất lượng lương thực, thực phẩm.Trên cơ sở đóng góp ý kiến của các bộ ngành vào Đề án an ninh lươngthực, thực phẩm đến năm 2020 nhằm đảm bảo diện tích đất trồng lúa, câymàu, đối phó với biến đổi khí hậu, đáp ứng một cách bền vững nhu cầulương thực, thực phẩm, trong mọi tình huống, Chính phủ sẽ hoàn thiện đề

Trang 29

liên tục và không loại trừ bất cứ quốc gia nào Ở Việt Nam hiện nay, dù

đang dư gạo và chỉ chịu một phần hiệu ứng của tình trạng trên song rất cầncoi đây là lời nhắc nhở nghiêm túc Bởi việc đảm bảo an ninh lương thựcvẫn tiếp tục đặt ra không ít vấn đề cần giải quyết Đó là: Dân số nước tađông, trong đó có đến 73% sống ở địa bàn nông thôn, đất canh tác khôngnhiều, nếu tính theo đầu người thì ở mức thấp nhất thế giới Hơn thế nữa,mỗi năm lại có thêm hàng chục nghìn hecta đất nông nghiệp chuyển đổimục đích sử dụng để phát triển công nghiệp, đô thị Đó là chưa kể thiên tai,dịch bệnh, tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu có thể làm nước biểnxâm nhập, lấn chiếm diện tích đất canh tác Dự tính, Việt Nam sẽ là 1 trong

5 nước chịu thiệt hại nặng nhất do biến đổi khí hậu toàn cầu Với kịch bảnnước biển dâng 1m, Đồng bằng sông Hồng sẽ mất 5.000km2 đất, Đồngbằng sông Cửu Long bị ngập 15.000 - 20.000km2; tổng sản lượng lươngthực giảm khoảng 5 triệu tấn Điều quan tâm hơn nữa là có những địaphương nhận thức và hành động không đúng, tác động tiêu cực đến sảnxuất nông nghiệp và bảo đảm an ninh lương thực Có nơi, do nôn nóngchuyển dịch cơ cấu kinh tế, đã dùng đất “bờ xôi ruộng mật” để triển khaicác dự án công nghiệp, dịch vụ mà hiệu quả mang lại không tương xứng

Dự báo, từ nay đến năm 2025, nước ta có thể phải lấy 10 - 15% diện tíchđất nông nghiệp và các loại đất khác để phục vụ phát triển công nghiệp.Sựlãng phí đất nông nghiệp còn thể hiện ở khâu quy hoạch: Hai tỉnh liền kềđều mở khu công nghiệp trên đất lúa, thu hút các dự án có công nghệ giốngnhau nên không thể lấp đầy; trong khi các địa phương khác còn rất nhiềuđất đồi, đất bạc màu bỏ không

Đề cập đến vấn đề sửa đổi quy hoạch Luật Đất đai 2003, Bộ trưởng

Bộ Tài nguyên và Môi trường Phạm Khôi Nguyên khẳng định, vấn đề quyhoạch sử dụng đất đảm bảo an ninh lương thực phải được nghiên cứu kỹ và

có bổ sung ngay vào luật “Trên thực tế, tại nhiều văn bản luật đã đề cậpđến các thông số như: 3,7 triệu hecta đất trồng lúa; 4,1 triệu hecta đất dành

Ngày đăng: 05/08/2013, 08:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Tạp chí Kinh Tế và Dự Báo – ThS. Trần Thành 8. Các website tham khảo trong bài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Kinh Tế và Dự Báo
Tác giả: ThS. Trần Thành
1. Kinh tế học nông nghiệp bền vững – PGS.TS Đinh Phi Hổ - NXB Phương Đông Khác
2. Làm gì cho nông thôn Việt Nam? – Phạm Đỗ Chi, Đặng Kim Sơn – NXB Tp.HCM Khác
4. Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn 5. Thời báo Kinh Tế Sài Gòn Khác
6. Giáo trình Kinh tế nông nghiệp - PGS.TS Vũ Đình Thắng - NXB Đại Học KTQD Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w