1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NGHIÊN CỨU ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY MÔN BÓNG RỔ TỰ CHỌN CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

144 389 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 1,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN TRẦN ĐĂNG KHÁNHNGHIÊN CỨU ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY MÔN BÓNG RỔ TỰ CHỌN CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC TP..

Trang 1

NGUYỄN TRẦN ĐĂNG KHÁNH

NGHIÊN CỨU ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY MÔN BÓNG RỔ TỰ CHỌN CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016

Trang 2

NGUYỄN TRẦN ĐĂNG KHÁNH

NGHIÊN CỨU ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY MÔN BÓNG RỔ TỰ CHỌN CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Chuyên ngành: Giáo dục thể chất

Mã số: 60140103

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Văn Lẫm

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016

Trang 3

liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào.

Tác giả luận văn

Nguyễn Trần Đăng Khánh

Trang 4

Đại học TDTT Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập tại trường.

Xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường THPT Gò Vấp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi học tập và hoàn thành luận văn.

Xin cảm ơn quý Thầy – Cô tổ Thể dục Trường THPT Gò Vấp đã tạo điều kiện giúp tôi thu thập số liệu.

Đặc biệt, tôi xin chân thành biết ơn GS.TS Lê Văn Lẫm đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn trực tiếp cho tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn này.

Xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn khoa học này.

Tác giả luận văn

Nguyễn Trần Đăng Khánh

Trang 5

viết tắt

NBA Hiệp hội bóng rổ Quốc gia National Basketball Association

PF Trung phong phụ/tiền vệ chính Power Forward

Excel Phần mềm phân tích thống kê

TDTT Thể dục thể thao

VĐV Vận động viên

Trang 6

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Vấn đề giáo dục con người phát triển toàn diện theo quan niệm của Đảng và nhà nước ta .4

1.1.1 Quan điểm của Mác Lê Nin và Hồ Chí Minh 4

1.1.2 Quan điểm của Đảng và nhà nước về giáo dục thể chất 5

1.1.3 Quan điểm của Đảng và nhà nước về đổi mới giáo dục toàn diện và cơ bản 6

1.2 Đặc điểm lứa tuổi sinh viên từ 18 đến 25 10

1.2.1 Đặc điểm hình thái 10

1.2.2 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi từ 18 đến 25 11

1.2.3 Đặc điểm phát triển các tố chất thể lực của lứa tuổi 18 đến 25 15

1.2.4 Đặc điểm sinh lý các cơ quan chức năng của cơ thể .20

1.3 Đặc điểm sơ lược môn bóng rổ 23

1.4 Các công trình nghiên cứu liên quan 26

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 27

2.1 Phương pháp nghiên cứu 27

2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 27

2.1.2 Phương pháp phỏng vấn bằng phiếu 27

2.1.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm 27

2.1.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 31

2.1.5 Phương pháp toán học thống kê 32

2.2 Tổ chức nghiên cứu 34

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 34

2.2.2 Khách thể nghiên cứu 34

2.2.3 Kế hoạch tổ chức nghiên cứu 35

Trang 7

3.1.1 Hiện trạng chương trình bóng rổ tự chọn cho sinh viên ngành giáo dục thể chất Trường Đại học Cần Thơ .36 3.1.2 Đánh giá thực trạng chương trình bóng rổ tự chọn cho sinh viên ngành giáo dục thể chất Trường Đại học Cần Thơ .36 3.1.3 Bàn luận về thực trạng chương trình môn bóng rổ tự chọn cho Sinh viên ngành Giáo dục Thể chất Trường Đại học Cần Thơ giai đoạn 2011 – 2014 38

3.2 Xây dựng đổi mới chương trình môn bóng rổ tự chọn cho Sinh viên ngành Giáo dục Thể chất Trường Đại học Cần Thơ .39

3.2.1 Xây dựng kết cấu chương trình bóng rổ tự chọn cho sinh viên ngành giáo dục thể chất Trường Đại học Cần Thơ 39

3.2.2 Xây dựng mục tiêu kiến thức đối với chương trình môn bóng rổ tự chọn cho Sinh viên ngành Giáo dục Thể chất Trường Đại học Cần Thơ 41 3.2.3 Xây dựng mục tiêu kỹ năng, thái độ đối với chương trình môn bóng rổ

tự chọn cho Sinh viên ngành Giáo dục Thể chất Trường Đại học Cần Thơ 44

3.2.4 Xây dựng nội dung lý thuyết chương trình môn bóng rổ tự chọn cho Sinh viên ngành Giáo dục Thể chất Trường Đại học Cần Thơ .47 3.2.5 Xây dựng nội dung thực hành chương trình môn bóng rổ tự chọn cho Sinh viên ngành Giáo dục Thể chất Trường Đại học Cần Thơ .53 3.2.6 Xây dựng nội dung đánh giá học phần chương trình môn bóng rổ tự chọn cho Sinh viên ngành Giáo dục Thể chất Trường Đại học Cần Thơ 59

3.2.7 Xây dựng chương trình môn bóng rổ tự chọn cải tiến cho sinh viên ngành giáo dục thể chất Trường Đại học Cần Thơ .63

Trang 8

3.3 Đánh giá hiệu quả việc ứng dụng thực nghiệm chương trình giảng dạy môn bóng rổ tự chọn được đổi mới cho Sinh viên ngành Giáo dục Thể chất

Trường Đại học Cần Thơ 64

3.3.1 Tổ chức thực nghiệm 64

3.3.2 Đánh giá trình độ ban đầu của hai nhóm đối chứng và thực nghiệm 65 3.3.3 Đánh giá sự phát riển thành tích thể lực, kỹ thuật và kiến thức lý thuyết bóng rổ của sinh viên ngành Giáo dục Thể chất Trường Đại học Cần Thơ khi kết thúc học môn bóng rổ tự chọn 68

3.3.4 So sánh kết quả giữa 2 nhóm đối chứng và thực nghiệm sau thực nghiệm. 73 3.3.5 Bàn luận về Đánh giá hiệu quả việc ứng dụng thực nghiệm chương trình giảng dạy môn bóng rổ tự chọn được đổi mới cho Sinh viên ngành Giáo dục Thể chất Trường Đại học Cần Thơ 78

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79

Kết luận 79

Kiến nghị 80 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

Bảng 3.1

Kết quả phỏng vấn Giảng viên về thực trạng chương trìnhmôn bóng rổ tự chọn hiện hành cho Sinh viên ngành Giáo dụcThể chất Trường Đại học Cần Thơ (n= 20)

Sau36

Bảng 3.2

Kết quả phỏng vấn Sinh viên về thực trạng chương trình mônbóng rổ tự chọn hiện hành cho Sinh viên ngành Giáo dục Thểchất Trường Đại học Cần Thơ ( n= 60)

37

Bảng 3.3

Kết quả phỏng vấn Giảng viên để xác định kết cấu chươngtrình môn bóng rổ tự chọn cho sinh viên ngành giáo dục thểchất Trường Đại học Cần Thơ (n=20)

39

Bảng 3.4

Kết quả phỏng vấn Sinh viên để xác định kết cấu chương trìnhmôn bóng rổ tự chọn cho sinh viên ngành giáo dục thể chấtTrường Đại học Cần Thơ (n=60)

40

Bảng 3.5

Kết quả phỏng vấn Giảng viên để xác định mục tiêu kiến thứcchương trình môn bóng rổ tự chọn cho Sinh viên ngành Giáodục Thể chất Trường Đại học Cần Thơ (n=20)

42

Bảng 3.6

Kết quả phỏng vấn Sinh viên để xác định mục tiêu kiến thứcchương trình môn bóng rổ tự chọn cho Sinh viên ngành Giáodục Thể chất Trường Đại học Cần Thơ (n=60)

43

Bảng 3.7

Kết quả phỏng vấn Giảng viên để xác định mục tiêu kỹ năng,thái độ chương trình môn bóng rổ tự chọn cho Sinh viênngành Giáo dục Thể chất Trường Đại học Cần Thơ (n=20)

48Bảng 3.10 Kết quả phỏng vấn Sinh viên để xác định nội dung lý thuyết 50

Trang 10

Bảng 3.11 kỹ thuật chương trình môn bóng rổ tự chọn cho Sinh viên

ngành Giáo dục Thể chất Trường Đại học Cần Thơ (n =20)

53

Bảng 3.12

Kết quả phỏng vấn Sinh viên ngành Giáo dục Thể chất để xácđịnh nội dung thực hành kỹ thuật chương trình môn bóng rổ tựchọn cho Sinh viên ngành Giáo dục Thể chất Trường Đại họcCần Thơ (n =60)

Sau54

Bảng 3.13

Kết quả phỏng vấn Giảng viên để xác định nội dung thực hànhchiến thuật và thể lực chương trình môn bóng rổ tự chọn choSinh viên ngành Giáo dục Thể chất Trường Đại học CầnThơ(n=20)

56

Bảng 3.14

Kết quả phỏng vấn Sinh viên ngành Giáo dục Thể chất để xácđịnh nội dung thực hành chiến thuật và thể lực chương trìnhmôn bóng rổ tự chọn cho Sinh viên ngành Giáo dục Thể chấtTrường Đại học Cần Thơ (n=60)

57

Bảng 3.15

Kết quả phỏng vấn Giảng viên để xác định nội dung đánh và hìnhthức giá học phần chương trình môn bóng rổ tự chọn cho Sinhviên ngành Giáo dục Thể chất Trường Đại học Cần Thơ (n=20)

59

Bảng 3.16

Kết quả phỏng vấn Sinh viên ngành Giáo dục Thể chất để xácđịnh nội dung và hình thức đánh giá học phần chương trìnhmôn bóng rổ tự chọn cho Sinh viên ngành Giáo dục Thể chấtTrường Đại học Cần Thơ (n=60)

61

Bảng 3.17

So sánh các chỉ tiêu thể lực, kỹ thuật và lý thuyết bóng rổ củasinh viên ngành giáo dục thể chất giữa nhóm đối chứng vớinhóm thực nghiệm khi bắt đầu học môn bóng rổ tự chọn(n=60)

65

Bảng 3.18

Thành tích thể lực, kỹ thuật và kiến thức lý thuyết bóng rổ củasinh viên nhóm đối chứng ngành Giáo dục Thể chất Trường Đạihọc Cần Thơ khi kết thúc học môn bóng rổ tự chọn (n=30)

68Bảng 3.19 Đánh giá sự phát triển thể lực, kỹ thuật và kiến thức lý thuyết 69

Trang 11

Bảng 3.20 sinh viên nhóm thực nghiệm ngành Giáo dục Thể chất Trường

Đại học Cần Thơ khi kết thúc học môn bóng rổ tự chọn (n=30)

71

Bảng 3.21

Đánh giá sự phát triển thể lực, kỹ thuật và kiến thức lý thuyếtbóng rổ của sinh viên ngành giáo dục thể chất nhóm thựcnghiệm trước và sau khi học môn bóng rổ tự chọn (n=30)

71

Bảng 3.22

So sánh thể lực, kỹ thuật và kiến thức lý thuyết bóng rổ củasinh viên ngành giáo dục thể chất giữa nhóm đối chứng vớinhóm thực nghiệm khi kết thúc học môn bóng rổ tự chọn(n=60)

73

Bảng 3.23 So sánh nhịp tăng trưởng giữa 2 nhóm đối chứng và thực

Trang 12

Biểu đồ 3.1

So sánh các chỉ tiêu thể lực, kỹ thuật và lý thuyết bóng rổcủa sinh viên ngành giáo dục thể chất giữa nhóm đối chứngvới nhóm thực nghiệm khi bắt đầu học môn bóng rổ tự chọn

66

Biểu đồ 3.2

Đánh giá sự phát triển thể lực, kỹ thuật và kiến thức lýthuyết bóng rổ của sinh viên ngành giáo dục thể chất nhómđối chứng trước và sau khi học môn bóng rổ tự chọn

69

Biểu đồ 3.3

Đánh giá sự phát triển thể lực, kỹ thuật và kiến thức lýthuyết bóng rổ của sinh viên ngành giáo dục thể chất nhómthực nghiệm trước và sau khi học môn bóng rổ tự chọn

72

Biểu đồ 3.4

So sánh thể lực, kỹ thuật và lý thuyết của sinh viên ngànhgiáo dục thể chất giữa nhóm đối chứng với nhóm thựcnghiệm khi kết thúc học môn bóng rổ tự chọn

74

Biểu đồ 3.5 So sánh nhịp tăng trưởng của 2 nhóm thực nghiệm và đối

Trang 13

Phụ lục 1 Phiếu phỏng vấn giáo viên

Phụ lục 2 Phiếu phỏng vấn sinh viên

Phụ lục 3 Điểm bóng rổ nhóm đối chứng (sau thực nghiệm)

Phụ lục 4 Điểm bóng rổ nhóm thực nghiệm (sau thực nghiệm)

Phụ lục 5 Kết quả nhận xét học phần học kỳ II, năm học 2015-2016 Bộ môn Giáo dục Thể chấtPhụ lục 6 Đề thi kết thúc học phần môn bóng rổ tự chọn

Phụ lục 7 Đáp án đề thi môn bóng rổ tự chọn

Phụ lục 8 Đơn xin sử dụng sinh viên ngành Giáo dục thể chất làm khách thể

nghiên cứuPhụ lục 9 Biên bản thẩm định chương trình môn bóng rổ tự chọn cho sinh

viên ngành Giáo dục thể chấtPhụ lục 10 Đề cương chi tiết học phần năm 2011

Phụ lục 11 Số liệu nhóm đối chứng trước thực nghiệm

Phụ lục 12 Số liệu nhóm đối chứng sau thực nghiệm

Phụ lục 13 Số liệu nhóm thực nghiệm trước thực nghiệm

Phụ lục 14 Số liệu nhóm thực nghiệm sau thực nghiệm

Phụ lục 15 Đề cương chi tiết học phần năm 2015

Trang 14

PHẦN MỞ ĐẦU

Chất lượng đào tạo là điều kiện quyết định “thương hiệu” của cơ sở đào tạo,

kể cả giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT,19/08/2008 của bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành “Quy định về việcđánh giá, xếp loại thể lực học sinh, sinh viên” [7]; Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT, 15/08/2007 của bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành “Quy chếđào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ” [5]; Quyết định số:65/2007/QĐ-BGDĐT, 01/11/2007, V/v Ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giáchất lượng giáo dục trường đại học [6]

Từ năm 2004 trường Đại học Cần Thơ bắt đầu đào tạo cử nhân chuyênngành giáo dục thể chất, hàng năm đào tạo được hơn 60 cử nhân TDTT ngành giáodục thể chất cung cấp nhu cầu việc làm cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long Tuynhiên cần có sự đánh giá khách quan về những tồn tại cơ bản của hệ thống đào tạongành giáo dục thể chất với thái độ coi trọng chất lượng đào tạo là nền tảng của sựphát triển bền vững

Trong nhiều năm qua, các hoạt động dạy học của Trường Đai học Cần Thơ

đã có những cải tiến đáng kể nhằm nâng cao chất lượng đào tạo Vấn đề được nhàtrường quan tâm đó là: mục tiêu đào tạo; tuyển chọn đầu vào; nội dung chương trìnhđào tạo; tổ chức cho sinh viên học tập; điều kiện cơ sở vật chất Song, chất lượng,hiệu quả của quá trình đào tạo chỉ dừng ở đó thì chưa đủ mà chúng ta cần giải quyếtđồng thời các yếu tố, trong đó yếu tố có vai trò quan trọng và là cầu nối giữa lượngkiến thức cần trang bị và mức độ sinh viên chiếm lĩnh kiến thức này đó là nội dungbài giảng (thông qua giáo án) và phương pháp tổ chức giảng dạy Bởi vì, nếu chúng

ta thực hiện tốt từng buổi lên lớp thì đó là những nấc thang để sinh viên dần hoànthiện chương trình học tập tối ưu và toàn bộ nội dung chương trình đào tạo của nhàtrường được sinh viên chiếm lĩnh Mặt khác thực hiện tốt những yêu cầu trên sẽkích thích sinh viên tự giác tích cực học tập, đó là vấn đề hết sức cần thiết mà hiệnnay chúng ta còn chưa đáp ứng được

Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau, việc áp dụng khung chương

Trang 15

trình đào tạo ngành giáo dục thể chất ở mỗi trường đều có sự khác biệt nhất định tùythuộc vào hoàn cảnh, điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên Qua kinh nghiệmgiảng dạy, kết hợp với phân tích, tổng hợp và tham khảo ý kiến từ các chuyên gia,đồng nghiệp, cán bộ quản lý cho thấy: việc áp dụng chương trình giảng dạy khácnhau sẽ dẫn đến chất lượng đào tạo khác nhau.

Hiệu quả của chương trình giảng dạy môn học tự chọn đang được áp dụngcho sinh viên ngành giáo dục thể chất của các trường Đại học Cần Thơ hiện vẫnchưa được đánh giá đúng mức Đánh giá toàn diện hiệu quả của một chương trìnhđào tạo là vấn đề phức tạp và dưới nhiều góc độ khác nhau Đánh giá hiệu quả củachương trình là vô cùng cần thiết bởi từ những sự đánh giá đầy đủ và chính xác đó

sẽ có cơ sở để cải tiến, điều chỉnh chương trình cho phù hợp, hiệu quả

Bóng rổ được du nhập vào Việt Nam từ đầu thế kỷ XX Thời kỳ đầu, Bóng

rổ chỉ được phát triển ở các thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn, Huế và HảiPhòng Sau khi đất nước được giải phóng, phong trào tập luyện Bóng rổ ngày càngphát triển mạnh mẽ và có sức thu hút đông đảo tầng lớp xã hội tập luyện nhất là họcsinh, sinh viên

Mặc dù, còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, nhưng hàng năm Uỷ banTDTT phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo đều tổ chức giải Bóng rổ học sinh, sinhviên toàn quốc, các giải vô địch quốc gia và các giải trẻ thanh thiếu niên trên phạm

vi toàn quốc Bóng rổ là môn thể thao tập thể mang tính đối kháng, đòi hỏi kỹ, chiếnthuật nhuần nhuyễn Đây cũng là môn thể thao có sức hấp dẫn và lôi cuốn mạnh mẽ,nhất là đối với lứa tuổi học sinh, sinh viên Vì vậy, việc xây dựng và đánh giá mộtchương trình giảng dạy môn bóng rổ cho sinh viên ngành GDTC hiện nay là rất cầnthiết Một mặt giúp cho học sinh, sinh viên phát triển toàn diện thể chất và có nhiềulựa chọn hơn trong việc chọn lựa môn học, mặt khác giúp cho giảng viên có được

cơ sở để cải tiến và nâng cao hiệu quả chương trình giảng dạy

Điểm lược qua các công trình nghiên cứu về môn bóng rổ Hiện có hai côngtrình nghiên cứu tiêu biểu, đó là luận văn thạc sĩ của tác giả Kiều Việt Hưng, năm

2014 “ Nghiên cứu xây dựng hệ thống bài tập huấn luyện thể lực cho nam VĐV

Trang 16

bóng rổ tuyến dự bị tập trung lứa tuổi 15 – 16 tại thành phố Hồ Chí Minh”, luận ántiến sĩ của tác giả Đặng Hà Việt, năm 2006 “ Nghiên cứu xây dựng hệ thống bài tậpphát triển sức bền chuyên môn cho VĐV đội tuyển bóng rổ nam Quốc gia” Thựchiện “đổi mới toàn diện và căn bản ngành giáo dục và đào tạo” theo định hướng củaĐảng và Nhà nước, nên việc xây dựng chương trình giảng dạy cho sinh viên

Trường Đại học Cần Thơ là rất cần thiết tôi quyết định chọn đề tài: “Nghiên cứu đổi mới chương trình giảng dạy môn bóng rổ tự chọn cho sinh viên ngành giáo dục thể chất Trường Đại học Cần Thơ”

Mục đích của đề tài là: Xây dựng đổi mới chương trình giảng dạy môn bóng

rổ tự chọn cho sinh viên ngành giáo dục thể chất trường Đại học Cần Thơ, nhằmlàm cho nó ngày càng phù hợp hơn để từng bước nâng cao chất lượng giảng dạy,chất lượng đào tạo ngành giáo dục thể chất của trường Đại học Cần Thơ

Ðể đáp ứng mục đích nêu trên của đề tài chúng tôi đặt ra các nhiệm vụ

nghiên cứu cụ thể như sau:

Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng chương trình giảng dạy môn bóng rổ tự

chọn cho sinh viên ngành giáo dục thể chất trường Đại học Cần Thơ giai đoạn2011-2014

Nhiệm vụ 2: Xây dựng đổi mới chương trình giảng dạy môn bóng rổ tự chọn

cho sinh viên ngành GDTC trường Đại học Cần Thơ

Nhiệm vụ 3: Đánh giá hiệu quả việc ứng dụng thực nghiệm chương trình

giảng dạy môn bóng rổ tự chọn được đổi mới cho sinh viên ngành GDTC trườngĐại học Cần Thơ

Trang 17

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Vấn đề giáo dục con người phát triển toàn diện theo quan niệm của Đảng

và nhà nước ta.

1.1.1 Quan điểm của Mác Lê Nin và Hồ Chí Minh

Các Mác quan niệm giáo dục có ba điều: một là giáo dục trí óc, hai là giáodục thể chất và ba là giáo dục kỹ thuật Về vị trí của TDTT trong tương lai, C.Mác

đã nhấn mạnh: “Trong nền giáo dục của xã hội tương lai, lao động và khoa học sẽ

chiếm địa vị ngang nhau, TDTT, lao động chân tay và lao động trí óc sẽ phải bổ trợ cho nhau bởi vì đó là phương pháp duy nhất để phát triển con người toàn diện và cũng là biện pháp đáng tin cậy nhất để tăng cường sức sản xuất của xã hội” [29].

Những tư tưởng của Các Mác, Ph Ăng ghen, V.I.Lê nin trong việc giữ gìnsức khỏe cho nhân dân lao động và TDTT đã tạo điều kiện cho chúng ta hiểu đúngđắn hơn tính chất của GDTC trong xã hội 30

Nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của vai trò sức khỏe đối với vận mệnhđất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt nam đã luôn luôn chútrọng đến việc tăng cường và mở rộng các hoạt động TDTT, đặc biệt là GDTC chothanh thiếu niên

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm và chăm lo đến sựnghiệp giáo dục và đào tạo nước nhà Người coi: “Giáo dục là cốt sách hàng đầu”trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Người luôn nhắc nhở toàn Đảng, toàndân ta phải chăm lo đến sự nghiệp giáo dục, Người căn dặn: Đảng cần phải chăm logiáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xâydựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” Đó là tinh thần, là tình cảm rấtsâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta

Vào thời điểm khi mà nước nhà vừa độc lập, chính quyền cách mạng còn nontrẻ, phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, thử thách: thù trong, giặc ngoài, đóikém, giáo dục suy yếu, xã hội chưa ổn định, Bác vẫn quan tâm đến công tác thể dụcthể thao Năm 1946 Bác đã ký sắc lệnh thành lập Nha thể dục trung ương thuộc Bộ

Thanh niên, trên cơ sở “ Xét vấn đề thể dục rất cần thiết để tăng cường sức khỏe

Trang 18

quốc dân và cải tạo nòi giống Việt Nam”.

Ngay sau đó, ngày 27 tháng 3 năm 1946 Bác Hồ lại gởi thư kêu gọi nhân dân

ta giữ gìn sức khỏe Người chỉ cho nhân dân ta thấy rằng “ Giữ gìn dân chủ, xây

dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công” và

Người đã chỉ rõ, muốn có sức khỏe thì “ nên luyện tập thể dục” và coi đó là “ bổn

phận của mỗi người dân yêu nước”.

Ngày 31 tháng 3 năm 1960 Bác Hồ tự tay viết thư gởi hội nghị cán bộ Thể

dục Thể thao toàn Miền Bắc Trong thư Người dạy “ Muốn lao động sản xuất tốt,

công tác và học tập tốt, thì cần có sức khỏe Muốn có sức khỏe thì nên thường xuyên luyện tập thể dục thể thao Vì vậy, chúng ta nên phát triển phong trào thể dục thể thao cho rộng khắp” Ðồng thời Bác còn căn dặn “ Cán bộ thể dục thể thao phải học tập chính trị, nghiên cứu nghiệp vụ và hăng hái công tác” nhằm phục vụ sức

khỏe cho nhân dân Về vị trí thể dục thể thao trong xã hội, Bác Hồ khẳng định “ là

một trong những công tác cách mạng khác”

Cuộc sống của Bác Hồ là một tấm gương mẫu mực về lòng kiên trì rèn luyệnthân thể cho khỏe mạnh để làm cách mạng Cho dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, từnhững chặng đường bôn ba ở hải ngoại, cho đến những ngày sống trong lao tù củagiặc Tưởng, hay những ngày sống ở chiến khu Bác vẫn kiên trì tập luyện thể dục đểnâng cao sức khỏe [9]

1.1.2 Quan điểm của Đảng và nhà nước về giáo dục thể chất

Với tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chủ Tịch, Đảng và Nhà nước ta khôngngừng tạo điều kiện thuận lợi để biến học thuyết phát triển con người toàn diệnthành hiện thực

Trong công cuộc chống Mỹ cứu nước, sức khỏe của nhân dân, của dân tộcđược Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm, được coi là một nhân tố lớn nhằm

tăng cường sức chiến đấu để chiến thắng đế quốc Mỹ "Trong cuộc kháng chiến

chống Mỹ cứu nước, nhiệm vụ to lớn và cấp bách của toàn Đảng, toàn dân ta là phải ra sức bảo vệ và bồi dưỡng sức khỏe của cán bộ và nhân dân một cách toàn diện để sản xuất và chiến đấu thắng lợi" [15]

Trang 19

Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, các chỉ thị của Ban Bí thư TrungƯơng Đảng về công tác thể dục thể thao và giáo dục thể chất, luôn quan tâm đếntình hình sức khỏe của thế hệ trẻ.

Đầu tư cho việc nâng cao sức khỏe con người là vấn đề trọng tâm của mọihọc thuyết tiên tiến, là cốt lõi của mọi mô hình phát triển các quốc gia, các chế độchính trị và xã hội Xây dựng chiến lược phát triển con người Việt Nam là quốc

sách hàng đầu để phấn đấu đưa thế hệ trẻ: "Phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về

thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức" Đó là mục tiêu của toàn

Đảng, toàn dân và cũng là điều mà Bác Hồ hằng mong ước

Trong thời kỳ đất nước đổi mới hiện nay, Đảng ta tiếp tục phát triển hơn nữa

tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề sức khỏe con người Đại hội Đảng lần thứ VIII

(1996) đã khẳng định: "Sự cường tráng về thể chất là nhu cầu của bản thân con

người, đồng thời là vốn quý để tạo ra tài sản trí tuệ và vật chất cho xã hội" [14].

Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã quy

định về những quyền cơ bản của công dân Việt Nam là "Thanh niên được gia đình,

Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động và giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân và lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc" [17]

Tóm lại: Từ xã hội loài người nguyên thủy đến nay và mãi mãi về sau, vấn

đề sức khỏe, nâng cao trí tuệ là vấn đề ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng và bảo

vệ đất nước, đó cũng là vấn đề mà Đảng và nhà nước ta quan tâm hàng đầu để phấn

đấu đưa nước ta trở thành một dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và

văn minh ngang tầm với các nước tiên tiến trên thế giới

1.1.3 Quan điểm của Đảng và nhà nước về đổi mới giáo dục toàn diện và

cơ bản

Quan điểm chỉ đạo của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đàotạo (Nghị quyết số 29-NQ/TW) có đưa ra một số ý sau:

Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước

và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước

Trang 20

trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội [52].

Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn,cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phươngpháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo củaĐảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục - đàotạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới

ở tất cả các bậc học, ngành học Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huynhững thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinhnghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc Đổimới phải bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng

và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình,bước đi phù hợp [52]

Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồidưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sangphát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luậngắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xãhội [52]

Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật kháchquan Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chútrọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng [52]

Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậchọc, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo Chuẩn hoá, hiện đại hoágiáo dục và đào tạo [52]

Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường,bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo Pháttriển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền

Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn,vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính

Trang 21

sách Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo [52].

Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồngthời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đấtnước [52]

Theo văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI do đồng chí NguyễnMinh Triết, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, Chủtịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thay mặt Đoàn chủ tịch đọc sángngày 12 tháng 1 năm 2011 có nói:

Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực,bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trong phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa

và con người Việt Nam Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học

và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư pháttriển Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của

xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dânchủ hóa và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dânđược học tập suốt đời

Chỉ thị số 36 - CT/TW ngày 24 tháng 3 năm 1994, của Ban Chấp hành Trungương Đảng cộng sản Việt Nam về công tác thể thao trong giai đoạn mới đã khẳng

định “Phát triển thể dục thể thao là bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển

kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước, nhằm bồi dưỡng và phát triển nhân tố con người; công tác thể dục thể thao phải góp phần tích cực nâng cao sức khỏe, thể lực, giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh; làm phong phú đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân, nâng cao năng suất lao động xã hội và sức chiến đấu của lực lượng vũ trang”

Chỉ thị còn nêu rõ: “Mục tiêu cơ bản, lâu dài của công tác thể dục thể thao là

hình thành nền thể dục thể thao phát triển và tiến bộ, góp phần nâng cao sức khoẻ, thể lực, đáp ứng nhu cầu văn hóa, tinh thần của nhân dân và phấn đấu đạt vị trí xứng đáng trong hoạt động thể thao quốc tế, trước hết là ở khu vực Đông Nam Á” [13]

Trang 22

Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng ra thông tư số 11/TT-GD-ĐT ngày 1/8/1994V/v hướng dẫn thực hiện chỉ thị số 36 - CT/TW ngày 24/4/1994 về công tác thể dụcthể thao trong giai đoạn mới Trong đó, đã đề cập đến một trong những kế hoạch

hành động cụ thể là: “Nghiên cứu đề xuất với Bộ tiêu chuẩn rèn luyện thể thể cho

học sinh, sinh viên phù hợp với đặc điểm sinh lý lứa tuổi, giới tính và sự phát triển thể lực của học sinh theo vùng lãnh thổ”.

Luật giáo dục được quốc hội khóa IX nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa

Việt Nam thông qua ngày 2 tháng 12 năm 1998 qui định “ Nhà nước coi trọng

Thể dục Thể thao trường học, nhằm phát triển và hoàn thiện thể chất cho tầng lớp thanh thiếu niên, nhi đồng Giáo dục thể chất là nội dung bắt buộc đối với học sinh, sinh viên, được thực hiện trong hệ thống giáo dục quốc dân, từ mầm non đến đại học” [27].

Pháp lệnh thể dục thể thao được ủy ban thường vụ quốc hội khóa X thông

qua ngày 25 tháng 9 năm 2000, tại điều 14 chương III qui định “ Thể dục thể thao

trường học bao gồm giáo dục thể chất và hoạt động ngoại khóa cho người học Giáo dục thể chất trong trường học là chế độ giáo dục thể chất bắt buộc, nhằm nâng cao sức khỏe, phát triển thể chất, góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng nhu cầu giáo dục toàn diện cho người học Nhà nước khuyến khích thể dục thể thao ngoại khó trong nhà trường” [35].

Liên Bộ Giáo dục và Ðào tạo cùng Ủy ban Thể dục Thể thao đã ra thông tưliên tịch số 34/2005/TTLT-BGD&DT-UBTDTT ngày 29 tháng 12 năm 2005 vềviệc hướng dẫn phối hợp quản lý và chỉ đạo công tác thể dục thể thao trường họcgiai đoạn 2006-2010 đã chỉ rõ:

Thể dục thể thao trường học là bộ phận đặc biệt quan trọng trong việc nângsức khỏe và thể lực, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, ý chí, giáo dục nhân cách chohọc sinh, sinh viên góp phần đáp ứng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Thểdục thể thao trường học là môi trường thuận lợi và giàu tiềm năng để phát hiện vàbồi dưỡng tài năng thể thao cho đất nước

Phát triển giáo dục thể dục thể thao trường học phải theo hướng đổi mới và

Trang 23

nâng cao chất lượng giờ học thể dục nội khóa, đa dạng hóa các hình thức hoạt độngngoại khóa, đồng thời tổ chức chặt chẽ việc kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thân thểđối với người học.

Tăng cường sự phối hợp liên ngành Giáo dục và Thể dục Thể thao, đồng thờiđẩy mạnh xã hội hóa và chuyên nghiệp hóa, tranh thủ từ các nguồn lực xã hội đểxây dựng và phát triển Thể dục Thể thao trường học

Tăng cường hợp tác, giao lưư quốc tế về Thể dục Thể thao trường học, gópphần nâng cao vị thế của Thể thao Việt Nam trong khu vực và thế giới

1.2 Đặc điểm lứa tuổi sinh viên từ 18 đến 25

1.2.1 Đặc điểm hình thái [32] [34]

Quá trình phát triển thể chất thực chất là quá trình phát triển về hình thái, thểlực và các chức năng của cơ thể con người Các yếu tố này không những bị chi phốibởi tác động của yếu tố di truyền mà còn chịu ảnh hưởng lớn của đời sống kinh tế,

xã hội và môi trường Sự phát triển thể chất phụ thuộc vào nhiều yếu tố và có tínhchất không đồng đều, trong đó yếu tố lứa tuổi và giới tính có ảnh hưởng quyết địnhđến quá trình phát triển thể chất của người trưởng thành [20]

Quá trình phát triển của cơ thể theo lứa tuổi có hai đặc điểm sinh lý cơ bản.Một là phát triển không đồng đều xen kẽ với các thời kỳ phát triển nhanh và cácthời kỳ phát triển tương đối chậm và ổn định Hai là phát triển không đồng bộ, các

cơ quan và hệ cơ quan phát triển không đồng thời với nhau, có cơ qua phát triểnnhanh, có cơ quan phát triển chậm Nhìn chung là quá trình phát triển đi lên

Ðặc biệt ở lứa tuổi này về cơ bản các hệ thống cơ quan chức năng quan trọngcủa cơ thể đã hoàn thiện Chiều cao ngưng phát triển vì phần sụn nằm ở đầu xương

đã được cốt hóa Nhưng cơ thể lại phát triển mạnh theo bề ngang và tăng trọnglượng Cơ bắp phát triển mạnh tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập luyện thể dục thểthao nhất là sức mạnh, sức bền Cơ thể con người là một bộ máy có năng lực hoạtđộng rất cao, nếu được tập luyện thể dục thể thao một cách thường xuyên có khoahọc và có hệ thống sẽ góp phần hoàn thiện các khả năng chức phận của cơ thể, nângcao sức khỏe, nâng cao năng lực lao động cho con người Ở lứa tuổi này con người

Trang 24

đã tự lập, chí hướng nghề nghiệp đã hình thành rõ nét [49].

1.2.2 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi từ 18 đến 25 [31] [44] [49].

Theo tiến sĩ Vũ Thị Nho “ Sự chín muồi về mặt sinh lý, thể chất: nghĩa là sự

hội tụ đầy đủ những điều kiện sinh học để làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ, cũng như làm một người lao động thực thụ trong gia đình và xã hội, có đầy đủ những quyền hạn và nghĩa vụ của một người công dân: đi bầu cử, ứng cử, chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hành vi, hoạt động của mình” [31]

Những đặc điểm tâm lý của thanh niên sinh viên bị chi phối bởi những đặcđiểm phát triển thể chất, môi trường và vai trò xã hội cụ thể mà trong đó họ sống vàhoạt động Ðây là một nhóm xã hội đặc biệt đang chuẩn bị trực tiếp cho việc thamgia vào cuộc sống tinh thần của xã hội Những đặc điểm phát triển tâm lý ở nhữngthanh niên sinh viên rất phong phú đa dạng và không đồng đều Sự phát triển nàyphụ thuộc vào những nét cơ bản như:

Sự thích nghi của sinh viên với cuộc sống và hoạt động mới

Trong thời gian ở trường Ðại học – Cao đẳng, sinh viên phải thích nghi vớihoạt động học tập, hoạt động xã hội cũng như các sinh hoạt trong đời sống tập thểcủa sinh viên Quá trình thích nghi này tập trung chủ yếu ở các mặt như: nội dunghọc tập mang tính chuyên ngành, phương pháp học tập mới mang tính nghiên cứukhoa học, môi trường sinh hoạt mở rộng phạm vi quốc gia, thậm chí quốc tế, nộidung và cách thức giao tiếp với thầy, cô giáo, bạn bè và các tổ chức xã hội phongphú, đa dạng Sự thích ứng này đối với mỗi sinh viên không hoàn toàn như nhau,tùy thuộc vào đặc điểm tâm lý cá nhân và môi trường sống cụ thể của họ qui định

Mức độ thích nghi này có ảnh hưởng trực tiếp đến thành công trong học tậpcủa họ, bởi vậy có ý nghĩa chi phối rõ rệt hơn Ở đây người sinh viên gặp một loạtcác mâu thuẫn cần giải quyết như: Mâu thuẫn giữa ước mơ, kỳ vọng của sinh viênvới khả năng, điều kiện để thực hiện ước mơ đó; Mâu thuẫn giữa mong muốn họctập, nghiên cứu sâu môn học mà mình yêu thích với yêu cầu phải thực hiện toàn bộchương trình học theo thời gian biểu nhất định; Mâu thuẫn giữa lượng thông tin rấtnhiều trong xã hội hiện tại với khả năng và thời gian có hạn

Trang 25

Ðể phát triển, sinh viên phải biết giải quyết tất cả các mâu thuẫn đó một cáchhợp lý Với mọi sinh viên điều này không dễ vượt qua Ở đây, một mặt người sinhviên phải tích cực hoạt động, biết sắp xếp thời gian, mặt khác việc tổ chức dạy vàhọc ở các trường đại học, cao đẳng cần hỗ trợ giúp sinh viên giải quyết các mâuthuẩn trên.

Sự phát triển về nhận thức, trí tuệ của sinh viên

Hoạt động nhận thức của sinh viên thực sự là loại hoạt động trí tuệ đíchthực, căng thẳng, cường độ cao và có tính lựa chọn rõ rệt Hoạt động trí tuệ nàyvẫn lấy những sự kiện của các quá trình nhận thức cảm tính làm cơ sở Song cácthao tác trí tuệ đã phát triển ở trình độ cao và đặc biệt có sự phối hợp nhịp nhàng,tinh tế, uyển chuyển, linh động tùy theo từng hoàn cảnh có vấn đề Bởi vậy đa sốsinh viên lĩnh hội nhanh nhạy, sắc bén những vấn đề mà thầy, cô giáo trình bày

Họ thường ít thỏa mãn với những gì đã biết mà muốn đào sâu, suy nghĩ để nắmvấn đề sâu và rộng hơn

Ðiều rất quan trọng là sinh viên phải tìm ra phương pháp học tập mới ở bậcđại học Phương pháp đó phải phù hợp với những chuyên ngành khoa học mà họtheo đuổi Không tìm ra được cách học khoa học sinh viên không thể đạt được kếtquả học tập như mong muốn vì khối lượng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo họ phải lĩnh hộinhững năm ở bậc đại học là rất lớn và rất đa dạng

Sự phát triển động cơ học tập ở sinh viên

Ðộng cơ học tập chính là nội dung tâm lý của hoạt động học tập Ðộng cơnày bị chi phối bởi nhiều nguyên nhân khác nhau Có thể là những yếu tố tâm lý củachính chủ thể như hứng thú, tâm thế, niềm tin, thế giới quan, lý tưởng sống Cũng

có thể đó là những yếu tố nằm ngoài chủ thể như yêu cầu của gia đình, xã hội Ðộng

cơ học tập cũng có thể nảy sinh do chính hoạt động và những hoàn cảnh, điều kiện

cụ thể của hoạt động mang lại

Những nghiên cứu về động cơ học tập của sinh viên cho thấy trong cấu trúcthứ bậc động cơ của sinh viên thường biểu hiện như sau:

Ðộng cơ nhận thức được xếp ở vị trí thứ nhất, động cơ nghề nghiệp xếp ở vị

Trang 26

trí thứ hai, động cơ có tính xã hội xếp ở vị trí thứ ba, động cơ tự khẳng định xếp ở vịtrí thứ tư, động cơ có tính cá nhân xếp ở vị trí thứ năm Thứ bậc của các động cơnày thường không phải cố định mà cũng biến đổi trong quá trình học tập ở bậc đạihọc Thứ bậc này cũng không phải như nhau ở các loại sinh viên có trình đô học lựckhác nhau và các trình độ khoa học khác nhau [31].

Ðời sống xúc cảm, tình cảm của sinh viên

Tuổi sinh viên là thời kỳ phát triển tích cực nhất của những loại tình cảm caocấp như tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ Những tình cảmnày biểu hiện rất phong phú trong hoạt động và trong đời sống của sinh viên Ðặcđiểm của nó là có tính hệ thống và bền vững so với thời kỳ trước đó Hầu hết sinhviên biểu lộ sự chăm chỉ, say mê của mình đối với chuyên ngành và nghề nghiệp

nữ ở tuổi sinh viên rất đẹp, lãng mạn, đầy thi vị

Sự phát triển một số phẩm chất nhân cách ở sinh viên

Những phẩm chất nhân cách: tự đánh giá, lòng tự trọng, tự tin, sự tự ý thứcđược phát triển mạnh mẽ ở lứa tuổi sinh viên Chính những phẩm chất nhân cáchbậc cao này có ý nghĩa rất lớn đối với việc tự giáo dục, tự hoàn thiện bản thân theohướng tích cực của những tri thức tương lai

Phẩm chất định hướng giá trị là những giá trị được chủ thể nhận thức, ý thức

và đánh giá cao, có ý nghĩa định hướng điều chỉnh thái độ, hành vi, lối sống của chủthể nhằm vươn tới những giá trị đó

Ðịnh hướng giá trị của sinh viên liên quan mật thiết với xu hướng nhân cách

và kế hoạch đường đời của họ Với sinh viên, những ước mơ, hoài bão, những lýtưởng của thanh xuân dần dần được hiện thực, được điều chỉnh trong quá trình học

Trang 27

ở bậc đại học.

Quá trình diễn biến khả năng lao động trí óc của sinh viên

Diễn biến khả năng làm việc ngày, đêm của con người phục thuộc vào nhịpsinh học, dưới ảnh hưởng của các yếu tố ngoại môi và nội môi (môi trường bênngoài và nhịp hô hấp, nhịp tim …) Ðối với sinh viên trong một ngày làm việc phảitrải qua thời kỳ chuẩn bị từ 10 – 40 phút để thích ứng với công việc, tiếp theo làtrạng thái sẵn sàng làm việc đạt mức tối ưu rồi giảm dần chuyển sang mệt mỏi vàphải nghỉ ngơi để hồi phục Mức độ hồi phục phụ thuộc vào việc tổ chức hoạt độnghọc tập và sinh hoạt hợp lý của từng sinh viên Trong một tuần, đầu tuần thứ hai làgiai đoạn thích ứng, giữa tuần từ thứ ba đến thứ năm là khả năng làm việc đạt mứccao nhất và sau đó giảm dần nhưng đôi khi cũng có đột biến ở ngày thứ bảy Trongtừng học kỳ khả năng làm việc cũng diễn ra giai đoạn thích ứng từ một đến ba tuần,sau đó chuyển sang giai đoạn ổn định từ hai tháng đến hai tháng rưỡi rồi chuyểnsang giảm dần vào giai đoạn cuối học kỳ Giữa các tuần, các học kỳ nếu sinh viênbiết sử dụng các môn thể thao để rèn luyện sức khỏe kết hợp với nghỉ ngơi tích cựcthì khả năng làm việc đạt hiệu quả cao được tăng lên

Một số đặc điểm về tính cách và khí chất của sinh viên

Tính cách là một tổng thể bao gồm những tính chất tâm lý tương đối cố định

và vững chắc của một cá nhân và là cái xác định các đặc điểm quan hệ xã hội của cánhân đó, biểu hiện ở các cư xử và thái độ của cá nhân đối với con người và thế giớixung quanh [49]

Căn cứ vào hướng hoạt động tính cách của con người mà phân thành hướngnội hay hướng ngoại

Sinh viên có tính cách thuộc kiểu hướng ngoại thường có biểu hiện là hănghái, sôi nổi, rất hòa hợp, thích kết bạn và giao tiếp, không ưa đọc sách và nghiêncứu một mình, dễ bị kích động, thích đùa, thích thay đổi, tự do lạc quan, thích vậnđộng, không tự kiểm tra chặt chẽ, sống tình cảm, ít để bụng

Theo kiểu hướng nội, sinh viên thường có biểu hiện là rất trầm tĩnh, điềmđạm, yêu sách, thích làm việc một mình, thường giữ khoảng cách với mọi người trừ

Trang 28

một số rất ít bạn thân Sinh viên hướng nội thường có kế hoạch làm việc, cân nhắc

kỹ càng trước khi hành động, không phản ứng vội vàng, không thích nhộn nhịp, giảiquyết mọi vấn đề của cuộc sống một cách thận trọng, bình tĩnh, không dễ quênchuyện cũ, là người đáng tin cậy nhưng thường bi quan

Khí chất là một tổng hợp các đặc điểm tâm lý cá nhân thể hiện tốc độ, cường

độ, độ ổn định… của hoạt động tâm lý của con người Khí chất tương đối ổn định,

là hệ quả của di truyền và hoàn cảnh, có thể cải biến trong điều kiện nhất định Đặcđiểm động của khí chất thể hiện rõ nhất qua cảm xúc ngôn hành (ngôn ngữ, hànhvi…) Khí chất cũng có quan hệ mật thiết với năng lực nhận thức Những ngườithuộc loại hình khí chất khác nhau thì năng lực chú ý, cảm thụ, độ rộng của tri giác,tính linh hoạt của tư duy cũng không giống nhau

Các nhà tâm lý học đã phân chia các loại khí chất một cách quy ước thành 4loại khí chất như sau: sôi nổi, linh hoạt, điềm tĩnh, ưu tư [49]

1.2.3 Đặc điểm phát triển các tố chất thể lực của lứa tuổi 18 đến 25 [8]

[19] [21] [45] [46]

Tố chất thể lực của con người là tổng hòa các chất lượng của cơ thể biểu hiệntrong từng điều kiện cụ thể của đời sống, lao động, học tập, nghiên cứu khoa học vàhoạt động thể dục thể thao Khả năng vận động là biểu hiện bên ngoài của các tốchất thể lực Thể dục thể thao là phương tiện để nâng cao khả năng vận động gópphần cải tạo thể chất con người

Các nhân tố về trạng thái chức năng của hệ thần kinh, chất lượng của các cơquan vận động và chức năng của các cơ quan đảm bảo năng lượng cho cơ thể hoạtđộng có ảnh hưởng rất lớn đến các tố chất thể lực Hoạt động thể lực có thể pháttriển các mặt khác nhau của năng lực hoạt động thể lực Các mặt khác nhau đó củakhả năng hoạt động thể lực được gọi là tố chất vận động [23]

Có năm tố chất thể lực cơ bản là: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo vàkhéo léo (năng lực phối hợp vận động) Dựa trên cơ sở sinh lý thể dục thể thao và lýluận phương pháp thể dục thể thao về tố chất thể lực chúng tôi đi sâu phân tích đặcđiểm của từng tố chất thể lực

Trang 29

Tố chất sức nhanh:

Sức nhanh là một tố chất quan trọng, là năng lực cơ thể vận động tốc độnhanh, là khả năng thực hiện động tác trong một khoảng thời gian ngắn nhất Nó làmột tổ hợp thuộc tính chức năng của con người Nó qui định đặc tính tốc độ độngtác, tần số động tác cũng như thời gian phản ứng vận động

Các hình thức đơn giản của sức nhanh tương đối độc lập nhau, đặc biệt làthời gian phản ứng vận động hầu như không tương quan với tốc độ động tác Nhữnghình thức trên là thể hiện các năng lực tốc độ khác nhau

Sức nhanh là tố chất tổng hợp của ba yếu tố cấu thành là: tốc độ phản ứng,tốc độ động tác, tần số động tác Yếu tố quyết định tốc độ của tất cả các hình thứcsức nhanh là độ linh hoạt của quá trình thần kinh và tốc độ co cơ Ðộ linh hoạt củaquá trình thần kinh thể hiện ở khả năng biến đổi nhanh chóng giữa hưng phấn và

ức chế trong các trung tâm thần kinh Sự thay đổi nhanh chóng giữa hưng phấn và

ức chế làm cho các nơron vận động có khả năng phát xung động với tần số caolàm cho đơn vị vận động thả lỏng nhanh, đó là các yếu tố tăng cường tốc độ và tần

số động tác Tốc độ co cơ trước tiên phụ thuộc vào tỷ lệ sợi cơ nhanh và sợi cơchậm trong bó cơ Các bó cơ có tỷ lệ sợi cơ nhanh, đặc biệt là sợi cơ nhóm II-A cókhả năng tốc độ cao Tốc độ co cơ còn chịu ảnh hưởng của hàm lượng ATP(Adenozin Tri Photphat) và CP (Creatin Photphat) Ðây là nguồn năng lượng cósẵn trong cơ giúp cho quá trình co cơ được thực hiện nhanh Tố chất nhanh mangtính chất di truyền, phụ thuộc vào các quá trình hóa học trong cơ, vào tần số độngtác và quá trình tâm lý

Tố chất nhanh phát triển tương đối sớm từ 9 tuổi đến 13 tuổi, nếu khôngđược tập luyện đầy đủ thì đến giai đoạn từ 16 tuổi đến 18 tuổi sẽ khó phát triển nângcao Cho nên trong công tác huấn luyện, giảng dạy để phát triển sức nhanh phải hếtsức chú ý đến đặc điểm của lứa tuổi, có như thế thì kết quả huấn luyện mới đem lạinhư mong muốn [39]

Tố chất sức mạnh

Sức mạnh là khả năng khắc phục lực đối kháng bên ngoài hoặc đề kháng lại

Trang 30

nó bằng cơ bắp Trong bất kỳ một hoạt động nào của con người đều có sự tham giacủa hoạt động cơ bắp Cơ bắp có thể sinh ra lực trong các trường hợp như: khôngthay đổi độ dài của cơ (chế độ tĩnh), giảm độ dài của cơ (chế độ khắc phục), tăng độdài của cơ (chế độ nhượng bộ) Trong các chế độ hoạt động như vậy của cơ bắp sảnsinh ra các lực cơ học có trị số khác nhau cho nên có thể coi chế độ hoạt động của

cơ là cơ sở để phân biệt các loại sức mạnh [20]

Bằng thực nghiệm và phân tích khoa học người ta đã đi đến một số kết luận

có ý nghĩa trong việc phân loại sức mạnh Trị số lực sinh ra trong các động tácchậm hầu như không khác biệt với các trị số lực phát huy trong điều kiện đẳngtrường Trong chế độ nhượng bộ khả năng sinh lực của cơ là lớn nhất, đôi khi gấphai lần lực phát trong điều kiện tĩnh Trong các động tác nhanh trị số lực giảm dầntheo chiều tăng tốc độ Khả năng sinh lực trong các động nhanh tuyệt đối (tốc độ)

và khả năng sinh lực trong các động tác tĩnh tối đa (sức mạnh tĩnh) không có tươngquan nhau

Trên cơ sở đó, sức mạnh được phân chia thành sức mạnh đơn thuần (khảnăng sinh lực trong các động tác chậm hoặc tĩnh), sức mạnh tốc độ (khả năng sinhlực trong các động tác nhanh) Sức mạnh - tốc độ còn được chia nhỏ tùy theo chế độvận động thành sức mạnh động lực và sức mạnh hoãn xung [23]

Trong hoạt động nói chung và hoạt động thể dục thể thao nói riêng sức mạnhluôn có có quan hệ với các tố chất thể lực khác nhất là sức nhanh và sức bền Do đósức mạnh được phân ra thành ba hình thức: năng lực sức mạnh tối đa, năng lực sứcmạnh nhanh (sức mạnh tốc độ), năng lực sức mạnh bền Sức mạnh cũng là điều kiệnrất quan trọng để nâng cao thành tích thể thao Tuổi sinh viên là tuổi rất thuận lợicho cơ bắp phát triển sức mạnh [23] Vì vậy trong quá trình tập luyện, rèn luyện tốchất sức mạnh cần được chú ý sao cho phù hợp nhất để phát triển sức mạnh mộtcách tốt nhất

Tố chất sức bền

Sức bền là khả năng khắc phục sự mệt mỏi nhằm hoạt động trong thời giandài với cường độ nhất định và có hiệu quả Sức bền đảm bảo cho người tập luyện

Trang 31

đạt được một cường độ tốt nhất (tốc độ, dùng lực, nhịp độ thi đấu…) trong thời gianvận động kéo dài Sức bền còn đảm chất lượng động tác cao và giải quyết hoàn hảocác động tác phức tạp và vượt qua khối lượng vận động lớn trong tập luyện.

Trong sinh lý thể dục thể thao, sức bền thường đặc trưng cho khả năng thựchiện các hoạt động thể lực kéo dài từ hai ba phút trở lên, với sự tham gia của mộtkhối lượng cơ bắp lớn, nhờ sự hấp thụ oxy để cung cấp năng lượng cho cơ hoạtđộng bằng con đường ưa khí Sức bền được chia thành nhiều loại [20]

Sức bền chung: biểu thị khả năng con người trong các hoạt động kéo dài cóthể từ vài chục phút đến hàng giờ, với cường độ thấp, có sự tham gia phần lớn của

hệ cơ

Sức bền chuyên môn: là năng lực duy trì khả năng vận động cao trongnhững loại hình bài tập nhất định Sức bền trong từng loại bài tập có tính chuyênbiệt phụ thuộc vào các nhân tố khác nhau, đặc biệt là phụ thuộc vào mức độ hoànthiện kỹ thuật

Sức bền tốc độ: là khả năng duy trì nhịp vận động cao để chuyển động nhanhnhất trong một thời gian nhất định

Sức mạnh bền: là khả năng duy trì hoạt động với một trọng lượng mangvác lớn

Nói chung sức bền là nhân tố tất yếu của thành phần thể lực nên có mối quan

hệ chặt chẽ với các tố chất thể lực khác như sức mạnh, sức nhanh [20] Tuổi sinhviên khi tập luyện sức bền đòi hỏi sự nổ lực rất lớn không những bằng cơ bắp màcòn bằng ý chí khắc phục khó khăn để vượt qua gian khổ Ở tuổi này có thuận lợitrong nhận thức và ý thức tự giác tập luyện cao, hiểu rõ tác dụng, lợi ích của việctập luyện thể dục thể thao Cho nên giáo viên cần lưu ý việc giáo dục nhận thức chosinh viên hiểu rõ được chức năng, tác dụng của mỗi bài tập khi tập luyện

Sức bền rất cần thiết cho con người trong cuộc sống lao động và học tậphàng ngày Ðối với lĩnh vực thể dục thể thao nó là cơ sở thiết yếu để giúp cho vậnđộng viên trong hoạt động chuyên môn của mình để gặt hái thành tích thể thao cao,đồng thời đó cũng là cơ sở để giúp sinh viên bền bĩ, dẻo dai trong việc học tập rèn

Trang 32

luyện chuyên môn nghề nhiệp của mình.

Tố chất mền dẻo

Theo Giáo sư, Tiến sĩ, Lê Văn Lẫm, Mềm dẻo là năng lực hoạt động với biên

độ rộng của các khớp Độ mềm dẻo có liên quan tới các mặt như cấu trúc của khớp,dây chằng và gân, đàn tính cơ và độ linh hoạt của cơ cấu tổ chức sụn, điều kiện bênngoài, trạng thái cơ thể [23 , tr 212]

Mềm dẻo là tiền đề quan trọng để đạt được yêu cầu về số lượng và chấtlượng động tác Mềm dẻo được phát triển rất sớm ở lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng,đặc biệt là lứa tuổi 11 đến 14, trước khi hệ vận động phát triển chưa hoàn chỉnh Cóthể tập mềm dẻo khi tập thể dục sáng, trong giờ khởi động Các động tác làm tăng

độ linh hoạt của các khớp có tác dụng tích cực để chuẩn bị bước vào phần trọngđộng, đồng thời còn ngăn ngừa được chấn thương trong tập luyện Tuổi trưởngthành tập luyện mềm dẻo rất khó khăn vì xương, cơ, khớp, dây chằn và hệ thần kinh

đã phát triển hoàn chỉnh

Vì vậy, khi tiến hành giáo dục tố chất mềm dẻo cần chú ý đến biên độ độngtác, chú ý đến đặc điểm lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp để phòng ngừa chấn thươngcho người tập Tuy nhiên nếu năng lực mềm dẻo không được phát triển đầy đủ sẽgặp rất nhiều khó khăn trong quá trình phát triển năng lực thể thao

Tố chất khéo léo (năng lực phối hợp vận động).

Khéo léo là khả năng thực hiện những động tác phối hợp phức tạp và khảnăng hình thành những động tác mới phù hợp với yêu cầu vận động Về bản chất,khéo léo là khả năng hình thành những đường liên hệ tạm thời đảm bảo cho việcthực hiện những động tác vận động phức tạp, vì vậy, nó có liên quan với việc hìnhthành kỹ năng vận động

Năng lực phối hợp vận động là một phức hợp các tiền đề của vận động viên(cần thiết ít hoặc nhiều) để thực hiện thành công một hoạt động thể thao nhất định.Năng lực này được xác định trước tiên là ở khả năng điều khiển động tác (xử lýthông tin) và được hình thành phát triển trong tập luyện Năng lực phối hợp vậnđộng có quan hệ chặt chẽ với các phẩm chất tâm lý và các năng lực khác như: sức

Trang 33

mạnh, sức nhanh và sức bền.

Năng lực phối hợp vận động còn thể hiện ở mức độ tiếp thu nhanh chóng cóchất lượng, cũng như việc hoàn thiện, cũng cố và vận dụng các kỹ thuật thể thao.Tuy nhiên, giữa năng lực phối hợp vận động và kỹ xảo thể thao có điểm khác nhau

cơ bản Kỹ xảo thể thao chỉ nhằm giải quyết một nhiệm vụ cụ thể, còn năng lựcphối vận động là tiền đề cho rất nhiều hoạt động vận động khác nhau

Khéo léo thường được coi là tố chất vận động loại hai, phụ thuộc vào mức độphát triển của các tố chất khác như: sức mạnh, sức nhanh, sức bền Mức độ pháttriển khéo léo liên quan chặt chẽ với trạng thái chức năng của hệ thần kinh trungương Tập luyện phát triển sự khéo léo lâu dài làm tăng độ linh hoạt của các quátrình thần kinh, làm cho cơ hưng phấn và thả lỏng nhanh hơn Tập luyện các bài tậpchuyên môn có thể làm tăng sự phối hợp hoạt động giữa các vùng não khác nhau,

do đó hoàn thiện sự phối hợp với các nhóm cơ hưởng ứng cũng như cơ đối kháng[23],[20]

1.2.4 Đặc điểm sinh lý các cơ quan chức năng của cơ thể [20].

Hệ thần kinh

Hệ thần kinh trung ương là một trong những cơ quan phát triển sớm vànhanh nhất Nhờ vậy, con người có thể nhận thức được thế giới chung quanh, họctập, lao động, tập luyện và đạt thành tích thể thao Thực tế cho thấy, ở các môn thểthao trí tuệ, các kỳ thủ có thể đạt được thành cao ngay khi tuổi còn rất nhỏ (Ðại kiệntướng Ðào Thiện Hải, Từ Hoàng Thông, Hoàng Thanh Trang, Nguyễn NgọcTrường Sơn….)

Người trưởng thành, hệ thần kinh có hơn 10 tỷ nơron Các tế bào thần kinhkhông sản sinh ra mới mà chỉ suy thoái theo thời gian, nhưng mỗi người trong đờikhông ai có thể sử dụng hết nguồn vốn trí tuệ của mình Hay nói cách khác, cónhững khả năng đặc biệt tiềm ẩn trong mỗi cá thể mà vì điều kiện, môi trường sốngđặc thù của công việc có khi đến hết cả đời vẫn chưa sử dụng đến

Ðối với sinh viên, hệ thần kinh trung ương đã hoàn thiện về cơ chế tế bào.Hưng phấn chiếm ưu thế, khả năng phân tích tổng hợp thông tin cao và sâu sắc, dễ

Trang 34

thành lập phản xạ và cũng khó phai mờ, hệ thần kinh thực vật hoạt động mạnh, tìnhcảm, tâm lý, cảm xúc thể hiện rõ nét trước và sau thi đấu thể thao.

Trong huấn luyện thể thao, thường dùng các chỉ tiêu tâm lý như: loại hìnhthần kinh, thời gian phản xạ, khả năng trí tuệ, khả năng xử lý thông tin, khả năngchú ý… để tuyển chọn, đánh giá trình độ tập luyện của vận động viên Theo các nhàtuyển chọn thể thao Trung Quốc, thì chỉ số về hoạt động của hệ thần kinh có hệ số

di truyền khá cao, khoảng 84 – 90% Tuy nhiên các đặc điểm đó vẫn chịu sự chiphối của hoàn cảnh tự nhiên, xã hội, giáo dục và tính tích cực của chủ thể, đồng thờichúng luôn có sự tác động tương hỗ nhau Quyết định chức năng thần kinh trungương là ba đặc trưng chủ yếu của quá trình thần kinh mà Paplôp đã chỉ ra: cường độhưng phấn và ức chế, tính cân bằng của quá trình hưng phấn và ức chế, tính linhhoạt (chuyển đổi giữa quá trình hưng phấn và ức chế) [40]

Hệ tuần hoàn

Mạch đập: Tim của nam mỗi phút đập 65 – 75 lần, của nữ 70 – 80 lần Trongtập luyện nhất là các hoạt động điền kinh như chạy tốc độ, chạy cự ly trung bình, vàcác bài tập thể lực, phương pháp bắt mạch dùng để kiểm tra chức năng của hệ timmạch, đánh giá được tình trạng cơ thể và lượng vận động

Huyết áp: bình thường huyết áp tối đa từ 100mmHg – 130mmHg, dưới100mmHg là huyết áp thấp, trên 130mmHg là huyết áp cao Ðối với người ViệtNam bình thường lấy mức trên 140mmHg là huyết áp cao Huyết áp tối thiểu từ65mmHg – 85mmHg là trung bình Chỉ số huyết áp là chỉ số tương đố ổn đinh.Trong quá trình huấn luyện thể thao thì chỉ số huyết áp ít thay đổi

Hệ tim mạch là bộ phận cấu thành của hệ thống vận chuyển oxy, bao gồm:tim, động mạch, tĩnh mạch và mao mạch Ngoài chức năng vận chuyển oxy đápứng cho nhu cầu của tế bào, hệ tim mạch còn vận chuyển và cung cấp các dinhdưỡng như: hoocmon, vitamin, nguyên tố vi lượng, khoáng chất, nước…, hệ timmạch còn đảm bảo nhiệm vụ đào thải chất cặn bã sau quá trình chuyển hóa, traođổi chất tại tế bào

Người trưởng thành tim nặng khoảng 270 gram, mỗi lần co bóp máu vào

Trang 35

khoảng 60 – 70ml Vận động viên chạy cự ly dài nhịp tim chậm, lưu lượng khoảng

100 – 120ml Lưu lượng máu phụ thuộc vào kích thước tim và trạng thái cơ thể(lưu lượng máu khi nằm lớn hơn khi ngồi) Ðộ lớn của lưu lượng máu phụ thuộcvào trình độ tập luyện thể dục thể thao Theo Farphen-Kot, lưu lượng tim của vậnđộng viên ưu tú có thể đạt 170 – 190ml Ở trạng thái nghỉ ngơi, một người bìnhthường có lưu lượng máu qua tim khoảng 3 – 6 lít/phút, trong khi đó ở vận độngviên đại lượng này ít hơn do tiêu thụ oxy thấp và tiết kiệm năng lượng khoảng

10% Trong tập luyện thể dục thể thao, lưu lượng máu/phút tỉ lệ với cường độ vậnđộng, đại lượng này có thể lên đến 30 – 32 lít/phút, nhưng không vượt quá 37lít/phút Lưu lượng máu qua tim của một người bình thường sống 60 năm vàokhoảng 140.000m3 [20]

Hệ vận động

Vận động cơ thể là sự di chuyển của một bộ phận hoặc toàn bộ cơ thể trongkhông gian theo thời gian do hoạt động của các cơ quan vận động Cơ thể vận độngđược là nhờ có xương, khớp làm điểm tựa, cơ bắp sản sinh ra lực tác dụng Nhờ cáchình thức vận động mà con gười có thể tiến hành trao đổ chất, lao động học tập,chiến đấu và tập luyện thể dục thể thao Vì vậy cơ quan vận động rất quan trọng đốivới cơ thể con người [19],[23]

Hệ vận động chiếm 70% trọng lượng cơ thể Bộ xương người hoàn chỉnh có

205 – 206 xương liên kết tạo thành, chiếm 18% (nam), 16% (nữ), 14% (trẻ sơ sinh)trọng lượng toàn cơ thể

Sau 17 tuổi chiều cao phát triển chậm lại, 18 – 20 tuổi thì kết thúc sự cốt hóa

bộ xương và xem như đã kết thúc sự phát triển về chiều dài Tuy nhiên trên thực tếcon người có thể phát triển chiều cao đến tuổi 25 Ở nam, chiều cao có hệ số ditruyền là 75%, trong khi đó ở nữ là 92% Nếu tập luyện thể dục thể thao thườngxuyên thì mức độ linh hoạt của các khớp xương có thể thay đổi nhưng yếu tố quyếtđịnh lựa chọn động tác trong tập luyện thể dục thể thao là phải dựa vào khả nănggiải phẩu sinh lý của các khớp xương

Ở lứa tuổi 18 – 22, cơ bắp đã phát triển tạo điều kiện thuận lợi để phát triển

Trang 36

sức mạnh và sức bền, cơ thể có năng lực hoạt động cao Tập luyện thể dục thểthao có phương pháp khoa học, có hệ thống sẽ làm tăng lực co cơ, tăng số lượng

và tiết diện ngang cơ cũng như tăng độ đàn hồi của cơ Khả năng sinh học của cơthể trưởng thành chín mùi thích ứng với việc tập luyện tất cả các môn thể thao đặcbiệt là môn bóng với lứa tuổi đạt phong độ cao nhất từ 18 – 25, trong khi các mônthể dục dụng cụ, thể dục nghệ thuật, bơi lội thành tích cao nhất đạt được là từ 15 –

18 tuổi

1.3 Đặc điểm sơ lược môn bóng rổ [10] [26] [33] [47] [53] [54] [55] [56].

Bóng rổ là môn thể thao tập thể mang tính đối kháng trực tiếp và cùng sân.Trận thi đấu được tổ chức giữa hai đội trên sân có kích thước 28 x 15m, mỗi đội

có 5 cầu thủ và được thay người thi đáu trên sân không hạn chế số lần FIBA(2001) [26]

Trận thi đấu bóng rổ bao gồm 4 hiệp, mỗi hiệp 10 phút (không tính thời gianbóng chết) Thời gian nghỉ giữa hiệp 1 – 2 và giữa hiệp 2 – 4 là 2 phút, giữa hiệp 2– 3 là 15 phút Mỗi đội được quyền hội ý hai lần (1 phút/lần) trong hiệp 1 – 2, 3 lầntrong hiệp 3 – 4, và một lần trong từng hiệp phụ (mỗi hiệp phụ kéo dài 5 phút)FIBA (2001) [26]

Sau khi lan rộng ra các nước trên thế giới, bóng rổ bắt đầu trở thành môn thểthao quốc tế Ngày nay, bóng rổ thường được chơi theo 2 dạng:

Bóng rổ đường phố: mỗi đội 3 người và 1 bảng rổ, hoặc

Bóng rổ thi đấu: mỗi đội 5 người và 2 bảng rổ (có 2 hệ thống

là NBA và FIBA)

Điểm được ghi bằng cách đưa bóng vào rổ một cách đúng luật Đội nàonhiều điểm hơn khi kết thúc trận đấu là đội thắng Nếu hai đội hòa nhau trong cáchiệp đấu chính, thì trận đấu sẽ được tiếp tục bằng các hiệp phụ cho đến khi có tỉ sốcách biệt Có nhiều luật trong môn bóng rổ này

Ngày nay giải bóng rổ nổi tiếng nhất là giải NBA, tập trung nhiều đội bóngnhất như là New York, Washington, Miami, Boston, L.A Laker,

Căn cứ chức năng, nhiệm vụ thi đấu, các chuyên gia bóng rổ chia các cầu thủ

Trang 37

trên sân thành 3 vị trí thi đấu chính: trung phong, trung phong phụ/tiền vệ chính,hậu vệ.

C: Center - Trung phong: Thường là cầu thủ cao to nhất đội, có khả năngném rổ ở cự ly gần Tầm di chuyển hẹp, yêu cầu bắt bóng bật bảng, cản phá các phatấn công của đối phương, bù đối phương mở đường cho đồng đội lên rổ Người chơi

ở vị trí này thường là có thể hình khổng lồ, ngoài ra không cần kĩ năng điêu luyệnnhư các vị trí khác

PF: Power Forward - trung phong phụ/tiền vệ chính: được coi là người mạnh

mẽ nhất trong tranh bóng và phòng thủ của trận đấu, họ chơi ở những vị trí cố địnhđược huấn luyện viên xác định theo đúng chiến thuật đặt ra Phần lớn là canh để ghiđiểm gần rổ hay tranh bóng gần rổ, nhiệm vụ người chơi ở vị trí này là ghi càngnhiều đểm càng tốt, thường là người chơi gần nhất với Trung phong (center)

SF: Small Forward - tiền đạo: Các cầu thủ có khả năng linh hoạt cao và cókhả năng ghi điểm ở cự ly trung bình

SG - PG: Shooting Guard - Point Guard - hậu vệ: Các cầu thủ không cần cao

to, nhưng có khả năng nhồi bóng tốt để kiểm soát và thiết kế tổ chức tấn công Cóthể ghi điểm ở cự ly xa 3 điểm

Đặc điểm thi đấu bóng rổ hiện đại

Về xu thế bóng rổ hiện đại được phát triển theo 4 xu thế: (1) ngày càng caohơn (nhằm chiếm lĩnh không gian); (2) ngày càng cao hơn (nhằm tăng cương ghiđiểm từ tấn công nhanh và có khả năng khống chế toàn bộ các vị trí trọng yếu trênsân); (3) ngày càng chuẩn xác hơn (nhằm đạt mục đích thi đấu) và (4) tinh thông kỹchiến thuật (kỹ thuật điêu luyện nhằm thích ứng với mọi chiến thuật; chiến thuật đadạng, biến hóa nhằm tăng áp lực tâm lý, không cho đối phương kịp thích nghi nhằmdành thế chủ động trong thi đấu)

Trang 38

Một điều ai cũng nhận thấy được đó là bóng rổ mang lại cho người chơi sựdẻo dai, hoạt bát, nhanh nhẹn, kĩ thuật, khéo léo, sức mạnh, sức bật và sức bền Khi chơi bóng rổ thường xuyên thì khả năng chịu đựng va chạm của bạn sẽ tốt dầnlên, thân hình trở nên cứng cáp, con người bạn sẽ luôn khoẻ mạnh và phản ứngnhanh nhẹn.

Ngoài ra việc chạy, va đập và thực hiện các động tác ném bóng sẽ giúp cho

cơ thể của bạn săn chắc, cân đối hơn rất nhiều

Thứ hai, chơi bóng rổ giúp tăng chiều cao hiệu quả

Khi chơi bóng rổ thì cơ thể bạn phải bật nhảy cao và vươn người lên thườngxuyên với những động tác ném bóng Khi đó cơ thể không còn bị sức hút của tráiđất gịt lại nữa, các đĩa đệm giữa các khớp xương sẽ được giãn nở ra tối đa Hơnnữa, khi vận động nhiều thì hormone tăng trưởng sẽ được sản sinh ra nhiều hơn Tất

cả các yếu tố trên sẽ giúp người chơi bóng rổ tăng chiều cao nhanh và an toàn nhất

Thứ ba, chơi bóng rổ hàng ngày giúp bạn cải thiện tâm lý

Tập luyện với bạn rổ hàng ngày sẽ làm bạn trở nên mạnh mẽ, tự tin, thoảimái, hưng phấn và yêu đời hơn Điều này sẽ giúp ích cho việc học và các côngviệc khác của bạn Khi có một cơ thể khoẻ mạnh, cường tráng thì bạn sẽ tự tin đểlàm tất cả mọi việc một cách tốt nhất Một người ra ngoài trời chơi bóng rổ thườngxuyên sẽ có nhiều suy nghĩ tích cực hơn một kẻ suốt ngày ngồi trong nhà ôm lấymàn hình máy tính để chơi game và lo sợ về bệnh tật, luôn luôn nhút nhát, e dèhay mặc cảm

Thứ tư, bóng rổ giúp bạn luôn tạo ra đam mê và cải thiện bản thân

Với những người chơi bóng rổ thì cái cảm giác đưa quả bóng vào rổ luôn làđiều tuyệt vời nhất Bạn có thể cầm quả bóng rổ tập trong một thời gian dài màkhông hề cảm thấy nhàm chán Điều này sẽ giúp bạn có thói quen luôn cố gắng,vươn lên và vượt qua khó khăn vì đam mê của bản thân

Ngoài ra khi chơi bóng rổ bạn sẽ cao hơn, khỏe mạnh hơn, khéo léo hơn

và dẻo dai hơn Chính vì thế bạn luôn cố gắng, tự tin và để hoàn thiện bản thânmình hơn

Trang 39

Trên đây là một số những lợi ích tuyệt vời mà môn thể thao bóng rổ mang lạicho người thường xuyên luyện tập với nó Hy vọng khi có được những thông tinnày sẽ giúp bạn yêu, đam mê và chơi bóng rổ thường xuyên hơn.

1.4 Các công trình nghiên cứu liên quan

Về đặc điểm thi đấu bóng rổ đỉnh cao trên thế giới được tổng kết trong luận

án tiến sĩ của tiến sĩ Đặng Hà Việt “Xây dựng hệ thống bài tập phát triển sức bềnchuyên môn cho vận động viên đội tuyển bóng rổ nam quốc gia” cho ta thấy có một

số đặc điểm như sau:

Hoạt động trong thi đấu bóng rổ rất đa dạng và thay đổi liên tục

Trong thi đấu bóng rổ, tiến trình tấn công và phòng thủ được chuyển đổi liêntục Các VĐV khi thì lấy bóng bật bảng, khi thì ném rổ, chuyền bóng, dẫn bóng, độtphá, kèm người Riêng về hoạt động di chuyển, nghiên cứu của Mclnnes (1995)đầu tiên đã phân thành 8 loại (Chạy: tăng tốc, giảm tốc, chuyển hướng và dừngnhanh; trượt phòng thủ: tiến về trước, lùi và sang ngang; bật nhảy) và thống kê tỉ lệthời gian thực hiện các hoạt động đó trong thi đấu bóng rổ đỉnh cao Theo quan sát,

di động bước trược phòng thủ chiếm 34,6%, chạy chiếm 31,2% và bật nhảy chiếm4,6%; ngược lại hoạt động đứng và đi bộ chiếm 29,6% thời gian thi đấu Tần sốthay đổi các hoạt động trong thi đấu bóng rổ là 997 ± 183 (khoảng 2 giây thì có mộtthay đổi) Điều này cho thấy các hoạt động trong thi đấu bóng rổ rất đa dạng và biếnhóa liên tục, ngay trong khoảng một thời gian ngắn đã có nhiều chuyển động qua lạigiữa các dạng hoạt động, chạy tốc độ – trượt phòng thủ nhanh – bật nhảy

Thi đấu bóng rổ là hoạt động không liên tục (giãn cách) với mật độ hoạt động cường độ cao rất lớn

Mặc dù trận đấu bóng rổ kéo dài tới 1:30 giờ nhưng được chia thành 4 hiệp,ngoài ra mỗi đội được 5 lần hội ý (1 phút/lần) và 22,25 ± 11.8 lần dừng ngẫu nhiênkhác do bóng ra biên, cầu thủ phạm lỗi, ném phạt, hội ý của trọng tài thời gianmột lần dừng ngẫu nhiên 25 – 40 giây

Trang 40

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1 Phương pháp nghiên cứu [28] [36].

Để giải quyết mục tiêu trên các phương pháp nghiên cứu được dự kiến sửdụng là:

2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

Sử dụng những sách báo, đề tài, công trình nghiên cứu trong và ngoài nướctổng hợp các tài liệu, hệ thống hóa kiến thức liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu

2.1.2 Phương pháp phỏng vấn bằng phiếu

Phương pháp này sử dụng trong quá trình điều tra, khảo sát thực trạng Qua

đó tham khảo ý kiến của các chuyên gia, giáo viên, các nhà sữ dụng lao động, cácnhà chuyên môn, các nhà quản lý có kinh nghiệm và hiểu biết sâu về công tác đàotạo sinh viên ngành giáo dục thể chất, chủ yếu nhằm đánh giá chương trình bống rổ

tự chọn cũ và cải tiến xây dựng chương trình tự chọn bóng rổ

2.1.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm

Mục đích của phương pháp này là thông qua các test để kiểm tra tìm hiểuđánh giá thể lực, kỹ thuật bóng rổ và lý thuyết của sinh viên ngành giáo dục thể chấthọc môn bóng rổ tự chọn

Tại chỗ ném rổ bằng 1 tay trên vai(10 quả)

- Mục đích: đánh giá mức độ chính xác của kỹ thuật tại chỗ ném rổ bằng 1tay trên vai

- Dụng cụ, sân kiểm tra: bóng rổ 10 quả, bảng rổ và sân bóng rổ Trường Đạihọc Cần Thơ, bút giấy, biên bản ghi chép

- Phương pháp tiến hành: sinh viên được kiểm tra đứng cách bảng rổ 5.8m(không được giẫm lên vạch) đối diện vuông góc với rổ, thực hiện kỹ thuật ném rổbằng 1 tay trên vai, mỗi lần ném nếu bóng vào rổ rơi xuống được xem là lần némthành công, còn lại nếu bóng không vào rổ được xem là lần ném thất bại

Kết quả: mỗi sinh viên ném 10 lần, tính số lần ném rổ thành công

Dẫn bóng lên rổ bên thuận (10 quả)

Ngày đăng: 04/06/2018, 07:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w