1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tài liệu khuyến cáo cho Nhân viên Y tế trong Điều trị bệnh nhân lạm dụng Methamphetamine

95 221 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cục Khám, chữa bệnh nhận thức được tầm quan trọng của việc hệ thống cung cấp dịch vụ y tế các cấp được cung cấp hướng dẫn điều trị có hiệu quả để sử dụng- đặc biệt trong trường hợp các b

Trang 1

Tài liệu khuyến cáo cho Nhân viên Y tế trong Điều trị bệnh nhân lạm dụng

Methamphetamine

BIÊN DỊCH SAMHSA/VAAC/6/2017

Trang 2

Tài liệu khuyến cáo cho Nhân viên Y tế trong Điều trị bệnh nhân lạm dụng Methamphetamine

Nhóm chuyên gia soạn thảo tài liệu khuyến cáo cho nhân viên y tế trong điều trị

Trang 3

Lời nói đầu của Bs Suphan Srithamma, Cục trưởng Cục Khám chữa bệnh

Để đối phó với tình hình ma túy tại Thái Lan, chính phủ tập trung vào công tác phòng ngừa và các giải pháp đối phó chuyển từ khuôn khổ “chương trình quốc gia” sang “chương trình ASEAN” với nội dung kiểm soát dịch tễ của nghiện chất được coi là vấn đề cấp thiết nhất Các chính sách phòng ngừa, khuyến khích và phục hồi cho người bệnh có rối loạn nghiện chất (SUD) đang được triển khai Chương trình “Kế hoạch hành động quốc gia phòng chống Ma túy” hiện tại là hệ thống điều trị tự nguyện được cải tiến để tăng hiệu quả của quá trình điều trị để khuyến khích người bệnh có rối loạn nghiện chất tham gia vào chương trình điều trị Tham gia của gia đình được nhấn mạnh, với việc động viên họ tự tìm tới và

khuyến khích người nghiện tham gia chương trình phục hồi Các cán bộ nhà nước đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn sau điều trị với sự hỗ trợ tại cộng đồng Bộ Y tế có nhiệm vụ nâng cao tiếp cận và hiệu quả của hệ thống điều trị; và nâng cao nghiệp vụ của nhân viên y tế, đặc biệt ở hệ thống tuyến huyện, để có thể sàng lọc mức độ nghiện chất Cục Khám, chữa bệnh quyết định các chính sách để giải quyết tình hình lam dụng ma túy và cải thiện quá trình điều trị như sau:

1 Xây dựng các mô hình và chiến lược phù hợp với hoàn cảnh thực tế

2 Nâng cao hiệu quả công tác chuyên môn của các cán bộ làm việc trong các trung tâm điều trị nghiện chất

3 Xây dựng và cải thiện hệ thống chuyển gửi y tế (dịch vụ điều trị do chính phủ tài trợ) để hỗ trợ các trường hợp chuyển gửi bệnh nhân

4 Khuyến khích các bệnh viện điều trị nghiện chất đạt được tiêu chuẩn chất lượng của bệnh viện nhằm đảm bảo tất cả bệnh nhân được điều trị ở các trung tâm với chất lượng điều trị cao nhất Cục Khám, chữa bệnh nhận thức được tầm quan trọng của việc hệ thống cung cấp dịch vụ y tế các cấp được cung cấp hướng dẫn điều trị có hiệu quả để sử dụng- đặc biệt trong trường hợp các bệnh nhân lạm dụng methamphetamine là đối tượng chiếm đa số trong các trường hợp nghiện chất Một tổ chuyên gia đã được thành lập để xây dựng các khuyến cáo điều trị trong vấn đề lạm dụng methamphetamine

Tổ chuyê gia này đã xem xét tất cả các nghiên cứu khoa học, cả ở Thái lan và quốc tế Các chuyên gia tư vấn, nhà khoa học, các nhà chuyên môn trong lĩnh vực điều trị nghiện chất của Cục cũng như ngoài Cục, các thành viên y khoa ở tất cả các cấp điều trị đều được mời đóng góp Quá trình xây dựng khuyến cáo mất nhiều thời gian và công sức, và tôi xin được chân thành cảm ơn các thành viên của tổ chuyên gia và các đồng nghiệp đã tâm huyết xây dựng các khuyến cáo điều trị này với các ý kiến đóng góp rất quý báu Thay mặt Cục Khám, chữa bệnh, tôi hy vọng các khuyến cáo này có thể được các cán bộ y tế áp dụng trong điều trị nghiện chất ở các cấp, qua đó người bệnh lạm dụng methamphetamine sẽ được điều trị một cách có hiêu quả Tôi cũng hy vọng hướng dẫn điều trị này sẽ góp phần quan trọng trong giải quyết nạn dịch nghiện ma túy của quốc gia

Bs Suphan Srithamma

Cục trưởng Cục Khám chữa bệnh

Trang 4

Lời nói đầu của Bs Paskorn Chaivanichsiri, Phó Cục trưởng Cục Khám, chữa bệnh

Dịch tễ nghiện chất là một vấn đề đáng quan tâm, bởi vì nó không những ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của không những những người lạm dụng ma túy mà còn tác động đến gia đình, cộng đồng và

sự ổn định của đất nước Trong khuôn khổ của “ Kế hoạch hành động quốc gia chống nạn ma túy, 2014”, chính phủ chú trọng vào cải thiện hệ thống và nâng cao chất lượng cán bộ Trong vấn đề nâng cao chất lượng cán bộ, chúng tôi nhận thấy nhân viên y tế phải tham gia vào toàn bộ quá trình: lượng giá, phòng bệnh, phục hồi và giai đoạn sau điều trị Các báo cáo chính thức cho thấy, trong tất cả các loại nghiện chất, lạm dụng methamphetamine là mảng nghiêm trọng nhất trong đại dịch nghiện ma túy và chiếm phần lớn số bệnh nhân cần điều trị Hơn nữa, hành vi nghiện đa chất ngày càng tăng, và đây là nhân tố khiến cho công tác điều trị ngày càng phức hợp Theo thông tin từ Cơ quan Phòng chống Ma túy, đơn vị Khảo sát và phân tích, đánh giá người bệnh cho thấy xu thế nghiện chất ngày càng tăng và mức độ nghiện cũng tăng

Cục Khám, chữa bệnh phối hợp với Viện quốc gia Hoàng thái hậu về điều trị nghiện chất và 6 bệnh viện khu vực Thanyarak đã xây dựng hướng dẫn điều trị về lạm dụng methamphetamine để giúp cho nhân viên y tế ở các bệnh viện tuyến cơ sở, tuyến trên và tuyến chuyên khoa có thể áp dụng một cách vững chắc

Tôi xin chân thành cảm ơn tổ chuyên gia đã hy sinh thời gian và công sức để thu thập và xem xét các thông tin áp dụng Tôi hy vọng các thông tin khuyến cáo này sẽ là cong cụ thực hành hữu ích cho nhân viên y tế để góp phần điều trị hiệu quả cho người bệnh nghiện chất Điều cuối cùng quan trong nhất là người bệnh được điều trị để có thể tái hòa nhập cộng đồng với sức khỏe tốt

Bs Paskorn Chaivanichsiri

Phó Cục trưởng Cục Khám, chữa bệnh

Trang 5

Lời nói đầu

Vấn nạn ma túy ở Thái lan là một vấn đề quốc gia khá phức tạp và liên quan đến nhiều khía cạnh xã hội, ảnh hưởng đến sự ổn định về mặt xã hội, kinh tế, và chính trị Trong hệ thống y tế, nghiện chất là một vấn đề y khoa ảnh hưởng đến người bệnh, gia đình, cộng đồng và xã hội, làm giảm chất lượng cuộc sống

và tác động đến vật chất Một số người bệnh có rối loạn tâm thần, và đó cũng là nguyên nhân của tình trạng bệnh và tử vong cao ở người nghiện chất Thái lan đang cố gắng phối hợp với các quốc gia và tổ chức quốc tế, đặc biệt là Liên Hợp quốc và ASEAN, để củng cố hợp tác ở các khu vực biên giới, nâng cao hiệu quả giải quyết vấn nạn ma túy ở các nước trong khu vực, chuẩn bị để gia nhập cộng đồng ASEAN, và thúc đẩy chính sách ASEAN nói không với ma túy năm 2015

Dữ liệu điều trị của người bệnh trong những năm vừa qua cho thấy ngày càng nhiều người bệnh nghiện chất được điều trị trong vấn đề lạm dụng methamphetamine (“đá”) và amphetamine (“thuốc lắc”) Số liệu cho thấy đây là vấn nạn dịch tễ ở Thái lan Thông tin về biện pháp điều trị nghiện methamphetamine

có sẵn nhưng có nhiều ngữ cảnh khác nhau và thường bỏ qua vấn đề kết nối hệ thống và đảm bảo hiệu quả của điều trị Bộ Y tế thông qua Cục Khám chữa bệnh đưa ra ý tưởng xây dựng hướng dẫn điều trị cho bệnh nhân có rối loạn lạm dụng methamphetamine Hệ thống bệnh viện Thanyarak, trong đó bệnh viện Thanyarak Chiang Mai đóng vai trò điều phối, được giao nhiệm vụ hoàn thiện dự án này Các chuyên gia từ bệnh viện Thanyarak, từ Khoa Sức khỏe Tâm thần, trường đại học, trường điều dưỡng và các thành phần có liên quan từ các bệnh viện cơ sở, tuyến trên và chuyên khoa được mời tham gia đóng góp và đưa ra các khuyến cáo hữu ích cho dự án Hướng dẫn này sẽ cung cấp các kiến thức cần thiết dựa trên các bằng chứng hiện có cho các nhân viên y tế ở các cấp để họ có thể lượng giá, điều trị và chuyển gửi các ca bệnh phức tạp và các nhóm bệnh nhân đặc biệt Đây là các khuyến cáo thực hành cho cán bộ làm trong lĩnh vực điều trị nghiện để giúp họ có thể cung cấp các biện pháp điều trị, phòng ngừa, phục hồi hiệu quả cho người bệnh lạm dụng methamphetamine

Bs Worapong Samrantiwawan Giám đôc bệnh viện Thanyarak Chiang Mai Trưởng nhóm chuyên gia soạn thảo hướng dẫn cho nhân viên y tế trong điều trị lạm dụng

Methamphetamine

Trang 6

Sơ đồ 1 Điều trị và hệ thống chuyển gửi người bệnh lạm dụng

methamphetamine tại Thái lan

8

Sơ đồ 2 Khuyến cáo điều trị cho người bệnh lạm dụng methamphetamine 9

Sơ đồ 3 Khuyến cáo điều trị cho người bệnh lạm dụng methamphetamine

(người sử dụng có nguy cơ cao)

10

Sơ đồ 4 Khuyến cáo điều trị cho người bệnh lạm dụng methamphetamine trong

các trường hợp cấp cứu

11

Sơ đồ 5 Lượng giá và xử trí các trường hợp quá liều methamphetamine 12

Sơ đồ 6 Lượng giá và xử trí các trường hợp lạm dụng methamphetamine có

hành vi gây hấn và tự hại

13

Tổng hợp bằng chứng trong điều trị lạm dụng methamphetamine 17

Các nhóm bệnh nhân nghiện methamphetamine chuyên biệt 30

Trang 7

Mục lục

Trang

Phụ lục 1 Lượng giá, sàng lọc và chẩn đoán rối loạn nghiện methamphetamine 40 Phụ lục 2 Xử trí cấp cứu rối loạn nghiện methamphetamine 53 Phụ lục 3 Can thiệp tâm lý-xã hội đối với các trường hợp nghiện

methamphetamine có vấn đề

67

3.3 Chương trình can thiệp tích cực ngoại trú matrix 72

3.7 Điều trị phục hồi nội trú tại bệnh viện Phramongkutklao (Mô hình PMK) 80

Trang 8

5.7 Mức độ bằng chứng và hiệu quả của các khuyến cáo điều trị 105 Nhóm chuyên gia soạn thảo tài liệu khuyến cáo cho nhân viên y tế trong điều trị

bệnh nhân lạm dụng methamphetamine

110

Trang 9

Ý tưởng

Các khuyến cáo này không nhằm mục đích đưa ra các hướng dẫn thực hành hoặc được sử dụng như tài liệu pháp lý do các thực hành lâm sàng cần dựa trên từng bệnh nhân cụ thể và trên bằng chứng khoa học mà các nền tảng đó thay đổi theo thời gian Các vấn đề được thảo luận ở đây chỉ là các khuyến cáo,

vì vậy không thể đảm bảo áp dụng điều trị thành công trên tất cả bệnh nhân Tài liệu này có thể không bao gồm tất cả các mô hình điều trị hiệu quả; và, một số mô hình điều trị không hiệu quả đã không được đưa vào đây Những người đưa ra quyết định mô hình điều trị có thể dựa vào các nguồn bằng chứng khác (ví dụ gia đình, các viện pháp lý có liên quan, và các vấn đề khác nữa) để áp dụng cho từng trường hợp người bệnh

Cục Khám, chữa bệnh Thái Lan mời các chuyên gia như các giáo sư tâm thần, giáo sư về điều dưỡng, các bác sĩ chuyên khoa tâm thần, các thầy thuốc của Cục, và các bên có liên quan từ tất cả các cấp của hệ thống y tế tham gia dự án này Trên thực tế, các bằng chứng về lĩnh vực này còn quá ít so với mức độ nghiêm trọng của nghiện chất ở Thái lan Mục đích của chúng tôi là thu thập tất cả các bằng chứng, cùng với ý kiến chuyên gia và các khía cạnh trong ứng dụng để tập hơp thông tin hữu dụng cho tất cả nhân viên y tế Chúng tôi cũng cố minh họa sự kết nối của hệ thống Theo cách này, bất kỳ ai cũng có thể xác định được vị trí của mình trong hệ thống điều trị và chọn được cách áp dụng điều trị một cách thích hợp theo đúng bối cảnh Hơn nữa, các khuyến cáo này cũng chỉ ra các vấn đề quan trọng cần phải nghiên cứu thêm, và đây cũng là các thông tin quan hữu ích cho các nhà nghiên cứu Các khuyến cáo này sẽ được cập nhật khi có thêm bằng chứng hoặc tình hình dịch tễ nghiện chất có thay đổi

Mục đích: để cho người bệnh lạm dụng methamphetamine được lượng giá một cách chuẩn xác và được

điều trị liên tục dựa trên các thực chứng và duy trì tình trạng sạch

Mục tiêu: tài liệu dành cho nhân viên y tế trong lĩnh vực điều trị nghiện methamphetamine ở các bệnh

viện cơ sở, bệnh viện chuyển gửi có gợi ý thực hành lâm sàng , giúp họ đánh giá được mức độ nặng của bệnh, chẩn đoán chính xác và điều trị thích hợp bằng can thiệp dược cũng như tâm lý xã hội

Nhóm đích của điều trị : bệnh nhân nghiện methamphetamine tại các bệnh viện tuyến cơ sở, tuyến

chuyển gửi

Người sử dụng khuyến cáo: nhân viên y tế làm việc tại các bệnh viện tuyến cơ sở, tuyến chuyển gửi

Trang 10

Định nghĩa

Nhân viên y tế cung cấp dịch vụ: những người làm tại bệnh viện tuyến cơ sở, tuyến chuyển gửi tham gia

công tác điều trị cho bệnh nhân nghiện methamphetamine

Bệnh nhân: những người nghiện methamphetamine

Khoảng cách hồi: quá trình trước khi tái sử dụng, thông thường sau khi đã sạch ma túy

Tái sử dụng: quá trình có hành vi tái sử dụng; đây là chỉ điểm của thất bại điều trị tại thời điểm đó Lạm dụng methamphetamine: hành vi sử dụng methamphetamine theo tiêu chuẩn lệ thuộc

methamphetamine trong tài liệu Chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần, xuất bản lần thứ 5 5)

(DSM-Các nguy cơ liên quan đến hành vi nghiện, theo ASSIST: sử dụng methamphetamine và chỉ số ASSIST

của lạm dụng nhẹ, vừa hoặc nặng

Bệnh nhân tự nguyện: bệnh nhân nghiện chất tự nguyện tham gia các chương trình điều trị tại bệnh

viện công lập và bệnh viện tư nhân

Bệnh nhân trong hệ thống bắt buộc: bệnh nhân được đưa vào điều trị trong các trung tâm phục hồi,

theo Luật điều trị Phục hồi cho bệnh nhân nghiện ma túy của Thái lan năm 2002 Bệnh nhân bị bắt do hành vi sử dụng các chất cấm bất hợp pháp sẽ được đưa vào chương trình này Sau khi hoàn tất quá trình điều trị, họ sẽ được phóng thích mà không bị khởi tố

Bệnh nhân trong hệ thống pháp lý: người sử dụng ma túy và các đối tượng giam giữ được điều trị tại

các bệnh viện đặc biệt trong hệ thống pháp luật, ví dụ nhà tù (Cục trại giam, Bộ Công an), Cơ quan quản chế (Cục quản chế, Bộ Tư pháp), hoặc Các trung tâm giáo dưỡng trẻ vị thành niên khu vực (Cục giáo dưỡng trẻ vị thành niên, Bộ Tư pháp)

Trang 11

Quá trình xây dựng khuyến cáo

1 Nhóm chuyên gia tại Bệnh viện Thanyarak Chiang Mai được chỉ định với nguồn kinh phí từ Quỹ

hỗ trợ hàn lâm, Cục Khám, chữa bệnh, Bộ Y tế

2 Nhóm chuyên gia tại Cục Khám, chữa bệnh được chỉ định Nhóm chuyên gia này bao gồm các bác sĩ chuyên khoa tâm thần, các thầy thuốc, điều dưỡng và các nhóm chuyên gia đa chuyên ngành trong vấn đề nghiện methamphetamine từ Bệnh viện Hoàng Thái hậu Viện điều trị nghiện

chất và 6 bệnh viện Thanyarak

3 Câu hỏi được gửi đến các nhân viên y tế tại bệnh viện tuyến cơ sở và chuyển gửi để lấy được ý

kiến đóng góp về điều trị trong lĩnh vực này

4 Các chuyên gia từ Khoa Y của Trường Đại học Chiang Mai được mời để cùng soạn thảo

5 Tất cả các bằng chứng trong thực hành điều trị nghiện methamphetamine được xem xét từ các hướng dẫn điều trị và các sổ tay điều trị bằng tiếng Thái và tiếng Anh và các hệ thống dữ liệu điện tử bao gồm: PubMed, Cochrane, CINAHL qua hỗ trợ tìm kiếm EBSCO, bằng chứng lâm sàng của tạp chi Y khoa Anh quốc BMJ, Wiley-Blackwell, và Hệ thống dữ liệu của Viện Sức khỏe Hoa

Kỳ NIH

6 Bản sơ thảo được hoàn thành sau khi nhóm chuyên gia họp với sự hợp tác của các chuyên gia

và đại diện của các bệnh viện

7 Bản thảo cuối cùng được duyệt và gửi cho các chuyên gia đánh giá

8 Bản thảo cuối cùng được in Các khuyến cáo sẽ được đưa vào tất cả các chương trình đào tạo

cho bác sĩ và nhân viên y tế ở bệnh viện các cấp

9 Tổ chuyên gia đánh giá kết quả thực hiện các khuyến cáo

10 Báo cáo tổng kết được tiến hành bao gồm các gợi ý sửa đổi cho lần tái bản tới

Trang 12

Tóm tắt nội dung

Điều trị nghiện methamphetamine tại Thái Lan

Dịch tễ nghiện methamphetamine đã có tác động lớn về cung, cầu và đặc biệt là nguy cơ sử dụng, đặc biệt là trong 5 năm vừa qua

Tiếp cận điều trị nghiện methamphetamine còn gặp nhiều trở ngại, đặc biệt do số lượng người lạm dụng lớn ở Thái Lan

Hệ thống đánh giá với độ nhậy và độ đặc hiệu cao là rất quan trọng đối với Thái lan

Mức độ nghiêm trọng của hành vi sử dụng ma tuy được đánh giá bằng thang điểm chuẩn của Tổ chức Y

tế Thế Giới - Tét sang lọc lạm dụng rượu, thuốc lá, và ma túy (WHOASSIST); quá trình đánh giá kỹ thuật này phải được chỉnh sửa để phù hợp với tình hình ở Thái Lan

Khi hệ thống chẩn đoán quốc tế có thay đổi, hệ thống chẩn đoán trong thực tế cũng phải thay đổi Điều trị nghiện methamphetamine phải tương thích với sự phát triển hệ thống tổ chức y tế hiện tại Hơn nữa để giải quyết vấn nạn ma túy, các nguồn lực phải được quản lý một cách hợp lý để phòng ngừa tác động nghiêm trọng lên xã hội

Nhiều mô hình điều trị có thể do các nhân viên cộng đồng áp dụng hoặc tại bệnh viện các cấp Điều kiện tiên quyết để chương trình đạt hiệu quả là sự lồng ghép của hệ thống y tế, mạng lưới, nguồn lực nhân lực, tài chính, và khoa học

Khái niệm về điều trị nghiện methamphetamine cấp tính tại Thái Lan

Các bệnh viện tuyến cơ sở có khả năng xử trí ban đầu các triệu chứng nặng của các bệnh lý tâm thần đồng diễn (COD)

Xây dựng công cụ với độ nhạy và độ đặc hiệu cao trong đánh giá COD Hỗ trợ trong quá trình xây dựng là rất quan trọng

Các nghiên cứu cho thấy điều trị COD có thể tăng cường thời gian sạch ma túy và giảm hành vi sử dụng

và làm giảm tỷ lệ tái phát các rối loạn tâm thần

Triệu chứng sớm của biến chứng do sử dụng methamphetamine bao gồm loạn thần, thay đổi cảm xúc, kích động, và hành động tự sát Do hiện nay chưa có thuốc nào điều trị đặc hiệu cho các trường hợp trên, điều trị hỗ trợ triệu chứng là cần thiết để làm cho bệnh nhân bình tĩnh trở lại Nhóm thuốc

benzodiazepine rất có hiệu quả trong an thần các bệnh nhân có triệu chứng như trên Nếu các thuốc nhóm benzodiazepine không có tác dụng, chúng ta có thể sử dụng các thuốc chống loạn thần Nghiên cứu cho thấy không có thuốc chống loạn thần nào có hiệu quả hơn hẳn các thuốc khác trong nhóm (Mức

độ bằng chứng IIa; mức độ khuyến cáo ++)*

Khái niệm về điều trị nghiện methamphetamine lâu dài ở Thái Lan

Điều trị và quá trình tâm lý xã hội kéo dài hơn là nguyên tắc để phòng tái sử dụng thành công

Trang 13

Kiến thức về chăm sóc bệnh nhân sau điều trị cần được củng cố và cung cấp cho các đơn vị y tế cơ sở và các đơn vị liên quan

Về điều trị dược lý, hiện nay chưa có thuốc nào được phê duyệt để phòng tái sử dụng Tuy nhiên, một số thuốc được chứng minh có hiệu quả trong làm giảm liều lượng ma túy sử dụng trong một số nhóm bệnh nhân nhỏ và xác định Các thuốc này bao gồm d-amphetamine, methylphenidate, bupropion,

mirtazapine và naltrexone (Mức độ bằng chứng Ia; mức độ khuyến cáo +/-)*

Tất cả các liệu pháp tâm lý xã hội đều cho thấy có hiệu quả trong việc làm giảm lượng ma túy sử dụng, với các ví dụ như sau:

Điều trị tâm lý xã hội Mục tiêu Cấp bệnh viện Khuyến cáo

Mức độ Độ mạnh

Tư vấn ngắn (BA) Giúp bệnh nhân nhận

thức được tác động của hành vi sử dụng

Tất cả các tuyến (3-5 phút) Ib ++

Can thiệp ngắn (BI) Khuyến khích bệnh

nhân tham gia điều trị tại 1 bệnh viện tuyến cao hơn

Cộng đồng hoặc tuyến quận, huyện hoặc tuyến trên (3-15 phút)

Cộng đồng hoặc tuyến quận, huyện hoặc tuyến trên (4 tháng)

Cộng đồng hoặc tuyến quận, huyện hoặc tuyến trên

Liệu pháp cộng đồng Để điều chỉnh hành vi

dựa vào cộng đồng

và các nhóm tự lực như các biện pháp điều trị

Bệnh viện chuyên khoa III +/-

Mô hình FAST Để điều chỉnh hành vi

có sự kết hợp giữa cộng đồng và gia đình như là biện pháp điều trị

Bệnh viện chuyên khoa (4 tháng)

Trang 14

Điều trị tâm lý xã hội Mục tiêu Cấp bệnh viện Khuyến cáo

Mức độ Độ mạnh

Mô hình PMK Điều trị bệnh nhân

phối hợp giữa chương trình 12 bước, đạo Phật và liệu pháp nhóm

Bệnh viện chuyên khoa (28 ngày)

Cộng đồng hoặc tuyến quận, huyện hoặc tuyến trên

Mô hình Satir Tập trung vào phát

triển tâm lý xã hội nội tại

Cộng đồng hoặc tuyến quận, huyện hoặc tuyến trên

Liệu pháp 12 bước

(TSF)

Động lực tự tiến bộ dựa trên 12 bước và nguyên tắc tự lực

Bệnh viện , Các tổ chức cộng đồng hoặc phi chính phủ

Quản lý trường hợp Để quản lý các

trường hợp phức tạp một cách hiệu quả

Cộng đồng hoặc bệnh viện tuyến huyện hoặc tuyến trên

Cộng đồng hoặc bệnh viện tuyến huyện hoặc tuyến trên

Quản lý tình huống Để củng cố hành vi

không sử dụng bằng các phần thưởng, có thể phối hợp với các

mô hình điều trị khác

Cộng đồng hoặc bệnh viện tuyến huyện hvaf các tổ chức cộng đồng (12 tuần hoặc lâu hơn)

Trại điều chỉnh hành

vi

Điều chỉnh hành vi bằng cách đưa bệnh nhân vào các trại phục hồi

Tổ chức cộng đồng (10-45 ngày)

Trang 15

ĐIỀU TRỊ CHO CÁC NHÓM ĐẶC BIỆT

Triệu chứng loạn thần ở bệnh nhân nghiện methamphetamine được điều trị bằng các thuốc chống loạn thần Các thuốc chống loạn thần thế hệ mới có thể ít gây tác dụng phụ hơn (ví dụ bất thường vận động), nhưng không có thuốc nào có hiệu lực điều trị vượt trội (Chất lượng bằng chứng Ib, mức độ khuyến cáo ++)*

Các nhóm điều trị đặc biệt cần quan tâm bao gồm trẻ vị thành niên, phụ nữ có thai, trong lứa tuổi lao động, người già, và quan hệ đồng giới nam Vì chưa có bằng chứng về phương pháp điều trị tối ưu cho các nhóm này, điều trị tâm lý xã hội được lựa chọn dựa trên từng trường hợp để phù hợp với bệnh nhân

*

Lưu ý: Tiêu chí chất lượng của bằng chứng và mức độ khuyến cáo được liệt kê ở Phụ lục trang 5-7

Trang 16

Sơ đồ 1 Hệ thống điều trị và chuyển gửi cho người bệnh lạm dụng methamphetamine tại Thái Lan

Tìm kiếm

Đánh giá và phân loại

Tự nguyện Điều trị bắt buộc theo luật năm 2002 Hệ thống nhà giam

Cần cách ly

Điều trị cấp cứu dấu hiêu thực thể

Lệ thuộc

Cần giam chặt chẽ

Dấu hiệu loạn thần

Về lại cộng đồng/theo dõi (chăm sóc ban đầu

Cần nhập viện

Bệnh viện quân đội Cục trại giam

BA, BI, Trại điều chỉnh hành vi (phụ lục trang 3

- Bệnh viện quân đội

Lạm dụng Bệnh viện tuyến cơ

sở và tuyến huyện

Không Không

Có Không

Bệnh viện tuyến trên

MI, CBT, Matrix (Phụ lục trang 3)

Phụ thuộc Không

Phụ thuộc

Bệnh viện tuyến tỉnh

Không Không

Phụ thuộc

Cục khám chữa bệnh

Mô hình FAST

Trang 17

Sơ đồ 2 chăm sóc điều trị ban đầu cho bệnh nhân nghiện methamphetamine

Bệnh nhân nghiện methamphetamine

Đánh giá bằng ASSIST/test của Thái

Bệnh tâm thần kèm theo

Có dâu hiệu cấp tính và triệu chứng ngộ độc, quá liều, gây hấn, loạn thần, ý tưởng tự sát

Không

1

1

-Nguy cơ thấp (ASSIST)

-Thấp (mẫu sang lọc Thái)

BI hoặc CBT/MI tùy theo bệnh viện (Phụ lục trang 3)

BA (Phụ lục trang 3)

Lưu ý: Cấp bệnh viện 1=tuyến đầu và trên 2=tuyến huyện và trên 3=tuyến tỉnh và trên 4=bệnh viện chuyên khoa

Trang 18

Sơ đồ 3 Khuyến cáo điều trị ban đầu cho bệnh nhân nghiện methamphetamine (nguy cơ cao)

Nguy cơ cao theo ASSIST và mẫu sàng lọc của Thái Lan

MI/tư vấn chuyển gửi bệnh nhân

Điều trị hội chứng cai (phụ lục

trang 2)

Điều trị nội trú Điều trị ngoại trú

Lưu ý: Cấp bệnh viện 1=tuyến đầu và trên 2=tuyến huyện và trên 3=tuyến tỉnh và trên 4=bệnh viện chuyên khoa

4 2,3

Điều trị lâu dài và theo dõi hơn

1 năm (phụ lục trang 4) Điều trị lâu dài và theo dõi hơn 1 năm (phụ lục trang 4)

Ngừng sử dụng

Ra viện

Không 1,2,3,4

Trang 19

Sơ đồ 4 Khuyến cáo điều trị cho bệnh nhân nghiện methamphetamine trong các trường hợp cấp cứu

Lưu ý: Xem phụ lục trang 2 để biết thêm chi tiết

Bệnh nhân nghiện methamphetamine

MI/tư vấn chuyển gửi bệnh nhân

Quá liều/ngộ độc

Tình trạng tâm thần Tình trạng thực thể

Đánh giá tình trang cấp cứu

Không

Đánh giá hành vi Sinh tồn, dh thần kinh

XN/ĐTĐ nếu cần

Hung hăng Trâm cảm

Hạn chế hành vi Dùng thuốc an thần

Theo dõi sát và

mô I trường an toàn

Đánh giá ý tưởng

tự sát Dùng thuốc chống trầm cảm

Theo dõi sát và

mô I trường an toàn

Đanh giá nguyên nhân của ý tưởng

tự sát

Ra viện

Trang 20

Sơ đồ 5 Lượng giá và xử trí các trường hợp quá liều methamphetamine

Bệnh nhân có tiền sử dung

Rửa dạ dày/than hoạt tính

Bệnh nhân tiến ttrieen tốt

Chuyển gửi

Đánh giá mức độ sử dụng, bệnh tâm thần, trầm cảm&ý tưởng tự sát-theo dõi điều trị

Trang 21

Sơ đồ 6 Lượng giá và xử trí các trường hợp sử dụng methamphetamine có hành vi gây hấn và tự gây hại

Bệnh nhân gây hấn hoặc hành vi tự sát

Thương lượng thành công

Theo điều luật chăm sóc sục khỏe tâm thần (mục 3: điều trị , phân 1: bệnh nhân

Diazepam 5-10mg đường uống/TM

hoặc Haloperidolm 5-10mg đường

uống/TM

Khám kiểm tra Bệnh nhân tiến triển tốt

Đánh giá chỉ sô sinh tồn, ABC, dấu hiệu

thần kinh, XN

Cần nhập viện

Bệnh viện sẵn sàng nhận bệnh nhân

Chuyển gửi

Đánh giá mức độ sử dụng, bệnh tâm thần, trầm cảm&ý tưởng tự sát-theo dõi điều trị

Không đánh giá được

Lưu ý: Xem phụ lục trang 2 để biết thêm chi tiết

Trang 22

Nội dung chính

Trang 23

Giới thiệu

Dịch tễ học nghiện chất methamphetamine hiện nay trên thế giới chiếm khoảng 26 triệu người, 2/3 con

số này nằm ở châu Á (Đông và Đông Nam Á) Theo một khảo sát về ma túy ở Thái Lan năm 2012 và 2013

do Cơ quan Kiểm soát Ma túy của Bộ Tư Pháp thực hiên, ma túy sử dụng nhiều nhất là amphetamine (“yaba”) và methamphetamine (chiếm khoảng 88,7% và 89,7% trên tổng số), tiếp theo là cần sa (4,7%) Khi nhìn vào con số bị bắt liên quan đến ma túy trong 2 năm vừa qua, mức độ nghiêm trọng của dịch tễ

ma túy ngày cằng tăng lên chứng tỏ thực tế là con số bị bắt chỉ là buôn bán nhỏ lẻ mà không phải là các đầu mối lớn Methamphetamine là loại ma túy liên quan nhiều nhất đến số trường hợp bị bắt, đặc biệt

là nhóm tuổi thanh thiếu niên là nhóm có nguy cơ lạm dụng cao nhất Dữ liệu năm 2014 cho thấy 23,6% người sử dụng ở lứa tuổi 15-19 và 57,8% ở lứa tuổi 20-34 Hầu hết người sử dụng chất bất hợp pháp đề

có công ăn việc làm (45%) so với số người sử dụng thất nghiệp (17,5%) Về trình độ học vấn, thống kê cho thấy hầu hết bệnh nhân điều trị có trình độ cấp 2 (47,7%), trình độ cấp 3 là (16,1%) Điều ngạc nhiên

là 20,9% số này chỉ có trình độ tiểu học Con số ca nghiện mới ngày càng tăng nhanh chóng khi so với dữ liệu của 5 năm vừa qua, và con số bệnh nhân mới tăng lên là 69% trong năm 2014

Con số thống kê cho thấy ở Thái Lan có khoảng 1,9 đến 2 triệu người liên quan đến ma túy Chỉ có 322.951 bệnh nhân đến với các chương trình điều trị năm 2013 Năm 2014, con số này giảm xuống còn 252.504, chỉ chiếm 20-22% số người sử dụng.Điều này có nghĩa là hầu hết bệnh nhân không được điều trị Kết quả cuối cùng là tác động lên xã hội và kinh tế, bởi vì khi người nghiện không được điều trị một cách xác đáng họ sẽ xuất hiện các triệu chứng y học và tâm lý, tỷ lệ tái nghiện cao, và lệ thuộc ma túy mãn tính dẫn đến khiếm khuyết, tàn tật Vì các lý do trên, công tác điều trị cần được cải thiện, cần phải

có phòng ngừa và các giải pháp để làm giảm tác hại của ma túy

Cục Khám, chữa bệnh đã liên tục triển khai chương trình để phòng chống và giải quyết vấn nạn lạm dụng

ma túy Chúng ta đã cung cấp điều trị chuyên khoa cho các trường hợp nghiện chất phức tạp và chuyển tải kiến thức điều trị cần thiết đến mọi cấp trong điều trị nghiện Các tài liệu về điều trị ma túy đã được xuất bản và phân phối để tăng cường hiệu quả của công tác điều trị nghiện chất ở tất cả các cấp bệnh viện Công tác sàng lọc, chẩn đoán, điều trị ban đầu và dài hạn được chú trọng Để giảm nguy cơ sử dụng

ma túy và các hành vi nguy cơ cao trong nhóm dân số nguy cơ cao, các chiến dịch tuyên truyền đã diễn

ra

Trang 24

Phòng ngừa và các nỗ lực giải quyết nạn ma túy trong năm 2013-2014 bao bồm chiến dịch nâng cao nhận thức về nghiện ma túy và xây dựng hệ thống giám sát Chức năng của hệ thống giám sát này nằm trong hệ thống các cơ quan nhà nước để tìm kiếm các trường hợp, cung cấp can thiệp tâm lý xã hội, sàng lọc, điều trị , phòng tái nghiện, và theo dõi các trường hợp Một số trường hợp được phối hợp điều trị thuốc trong can thiệp ban đầu, kết hợp với can thiệp tâm lý xã hội, quản lý kiến thức, phát triển nhân lực, quản lý trường hợp và tổ chức các hội thảo khoa học Theo dõi lâu dài vãn là vấn đề còn tồn tại vì còn hạn chế nhận thức trong cộng đồng và lỗ hổng trong hệ thống chuyển gửi Các trường hợp nghiện methamphetamine cần phải được chuyển gửi tổng hợp đầy đủ để có thể cung cấp dịch vụ có hiệu quả Người đọc khuyến cáo này có thể tham khảo thêm các tài liệu đọc để tự tin hơn trong thực hành lâm sàng

Xem xét các bằng chứng trong vấn đề nghiện methamphetamine

Dịch tễ của nghiện chất kích thích dạng amphetamine ở Thái Lan bao gồm amphetamine (“yaba”), methamphetamine , và “hàng đá” Công thức hóa học của các chất này là methamphetamine sulfate, methamphetamine và methamphetamine hydrochloride Methamphetamine được phân loại trong luật pháp Thái Lan (Luật ma túy, 1979) là chất ma túy cấm loại 1

Hàng đá là một loại chất kích thích hiện nay đang tăng lên Về mặt hóa học, hàng đá là

methamphetamine kết hợp với muối hydrochloride, với độ tinh khiết 80-90%

Một loại chất kích thích đang phổi biến nữa là “E”, là ma túy tổng hợp có cấu trúc hóa học tương tự như methamphetamine, với hiệu ứng kích thích và gây ảo giác

Trang 25

Đặc điểm Viên với nhãn hiệu, vd:

Ngựa, “ฬ”, WY

Tinh thể hydrochloride nguyên chất

Dạng bột hoặc nag chứa bột

Bột hydrat, miếng vụn nhỏ, độ tinh khiết cao hơn dạng bột Màu Vàng da cam, nâu, tím,

Trắng ánh vàng hoặc nâu

Đường dùng Uống, hút, Tĩnh mạch

(TM)

Hút, hít, TM, uống, đặt hậu môn

Trang 26

Cơ chế tác dụng

Methamphetamine ưc chế tái hấp thu và chuyển hóa của dopamine Chất này còn làm tăng tiết

noradrenalin và serotonin là các chất dẫn truyền thần kinh kiểm soát cảm xúc và hành vi của con người

Methamphetamine là chất tổng hợp tác động lên nồng độ dopamine, noradrenaline,

và serotonin qua đó kiểm soát cảm xúc và hành vi Chất này nhanh chóng đào thải

qua nước tiểu

Trang 27

Bảng 2 Tác động về thực thể và tâm lý của methamphetamine ở các nồng độ khác nhau

sử dụng methamphetamine Tác động

thực thể

- Tăng huyết áp tâm thu và tâm trương

- Vã mồ hôi

- Run

- Đau ngực

- Nhịp thở nhanh

- Đau đầu

- Nóng mặt, đỏ mặt

- Tăng thân nhiệt

- Giảm cảm giác ngon miệng

- Tăng huyết áp

- Nhịp tim nhanh

- Co giật

- Xuất huyết nội

sọ

- Nghiến hạm, cắn răng

- Buồn nôn, nôn

- Tăng thân nhiệt

- Tiêu cơ vân

- Buồn nôn, nôn

- Ỉa chảy, đau bụng

- Co giật, hôn mê, và

tử vong

- Nguy cơ hành vi tình dục không an toàn dãn đến bệnh lây truyền qua đường tình dục như HIV, giang mai, sùi mào gà, herpes sinh dục

- Nguy cơ của sử dụng đường TM bao gồm viêm gan, HIV, nhiễm trung

da, bệnh van tim,

và nhiễm khuẩn huyết

- Những người sử dụng nhiều sẽ có nguy cơ có các triệu chứng đối nghịch với quá liều nếu dừng thuố đột ngột, ví dụ như mệt mỏi, thờ ơ, đói cồn cào, và tăng cảm giác thèm ăn

- Người sử dụng lâu dài có nguy cơ suy dinh dưỡng và có các khiếm khuyết thần kinh nhận thức

Trang 28

Tác động Liều thấp Liều cao Quá liều Các nguy cơ khác từ sử

dụng methamphetamine Tác động

tâm lý

- Tình trang mơ màng

- Phấn chấn

- Tăng độ tỉnh táo và tập trung

- Giảm mệt mỏi

- Nói nhiều

- Tăng mức độ thể lực

- Lú lẫn

- Kích động và lo sợ

- Thực hiện các cử động lặp đi lặp lại

- Ảnh hưởng đến nhận thức và vận động

- Gây hấn

- Ý tưởng hoang tưởng, ảo giác

- Hoang tưởng hệ thống

- Triệu chứng loạn thần: ảo thị và ảo thanh và ý tưởng hoang tưởng

- Cảm xúc bất thường, đặc biệt kích động, lo

sợ và gây hấn

Trang 29

Tác động của methamphetamine

Methamphetamine gây ra rối loạn cảm xúc và cảm xúc lo âu trong thời kỳ quá liều và thời kỳ cai Rối loạn cảm xúc trong mức độ từ lo lắng vừa phải đến triệu chứng nặng phù hợp với tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn tâm thần Nghiên cứu bệnh nhân sử dụng methamphetamine cho thấy hầu hết bệnh nhân có triệu chứng trầm cảm và lo âu (48-58%), và một số lớn chỉ có triệu chứng trầm cảm (38-40%) hoặc chỉ

có lo âu (26,2%) Phân loại lo âu thường gặp nhất là rối loạn lo âu toàn thể (12,3%), rối loạn lo âu xã hội (8,5%), rối loạn căng thẳng sau chấn thương (5,8%), cơn hoảng sợ (2,6%) và chứng sợ không gian rộng (2,6%) Một số người nghiện có biểu hiện triệu chứng loạn thần (28-36,8%), bao gồm hoang tưởng bị truy hại (77,4%), và ảo thính (44,6%) và các triệu chứng âm tính khác (21,4%) Khi dùng phối hợp với chất dạng thuôc phiện, methamphetamine có thể tăng ý tưởng hoặc kế hoạch tự sát lên 2-11%

Methamphetamine gây ra rối loạn cảm xúc kéo dài và ở mức độ trầm trọng Triệu chứng không kéo dài quá 1 tháng sau khi sử dụng, nhưng có thể xảy trong khi đang ngộ độc hoặc ở trạng thái cai Thay đổi cảm xúc bao gồm cảm giác buồn chán, lo lắng, lâng lâng, không quan tâm đến các hoạt động gây hứng thú

Rối loạn lo âu do methamphetamine có biểu hiện lo lắng, cơn hoảng loạn, và rối loạn ám ảnh cưỡng chế Các triệu chứng có thể ở mức độ ảnh hưởng đến thực hiện công việc, tác động đến đời sống xã hội, và các chức năng quan trọng khác của cuộc sống Triệu chứng thường không kéo dài quá 1 tháng sau khi sử dụng ma túy, nhưng có thể xảy ra trong khi ngộ độc hoặc ở trạng thái cai

Đối với các bệnh nhân có rối loạn cảm xúc và lo âu từ trước, hành vi sử dụng methamphetamine có thể làm kích hoạt các triệu chứng Các triệu chứng bệnh tâm thần nặng làm công tác điều trị phức tạp hơn

và kéo dài hơn ngoài việc có thể làm hành vi tăng liều sử dụng methamphetamine Với tất cả các lý do trên, bệnh nhân cần được khám đánh giá phát hiện các rối loạn cảm xúc và lo âu Ví dụ, một số bệnh nhân bị trầm cảm tìm tới methamphetamine như là 1 cứu cánh, tuy nhiên hành vi sử dụng lại làm trầm cảm tiếp diễn, trong khi đó 1 số bệnh nhân lại có triệu chứng rối loạn tâm thần sau khi sử dụng Khái niệm bệnh đồng diễn hoặc chấn đoán kép giúp cho công tác điều trị thành công hơn bằng cách điều trị đồng thời cả 2 bệnh lý

Các yếu tố nguy cơ của rối loạn cảm xúc và lo âu do methamphetamine bao gồm tăng tần số sử dụng, dùng đường tĩnh mạch và đường hít, và cũng là yếu tố tiền căn, hoặc tiền sử gia đình trong vấn đề rối loạn cảm xúc và lo âu

- Tác động thực thể của methamphetamine là làm tăng hoạt động của hệ thống thần kinh thực vật với biểu hiện tăng nhịp tim, vã mồ hôi, tăng nhịp thở, tăng huyết áp, loạn nhịp, hôn mê và tử vong

- Tác động tâm lý của methamphetamine bao gồm lo lắng, kích động, ảo thính, trầm cảm và các rối loạn tâm thần mãn tính

- Tác đốc về mặt xã hội và pháp lý bao gồm tăng tai nạn, tổi phạm, xung đột, bị bắt giữ và bao lực gia đình và xã hội

Trang 30

Methamphetamine trong thời kỳ có thai

Với tác động gây dị dạng thai và sẩy thai, methamphetamine được xếp vào nguy cơ trong thai kỳ loại C Bào thai sống sót có nguy cơ cao bị đẻ non, thiếu cân, hoặc trẻ bị hội chứng cai như kích thích hoặc dễ mệt mỏi

Methamphetamine và cho con bú

Do methamphetamine bài tiết qua sữa mẹ, không khuyến cáo cho con bú

Methamphetamine ở người già

Người già có chức năng thận và gan suy giảm, dẫn đến quá trình bài tiết methamphetamine chậm hơn

và vì vậy methamphetamine có tác động lâu dài hơn

Tác động của việc dùng methamphetamine dài ngày

Kích thích mãn tính của methamphetamine lên hệ thần kinh trung ương dẫn đến các triệu chứng thực thể và tâm thàn như sau:

1 Sụt cân và suy dinh dưỡng

2 Thay đổi hệ thần kinh, ảnh hưởng trí nhớ, chóng mặt

3 Bất thường kinh nguyệt và mất kinh

4 Co giật

5 Độ dung nạp thuốc

6 Ảnh hưởng tri giác, đặc biệt trí nhớ và độ tập trung

7 Kích động, lo lắng và hoang tưởng

8 Rối loạn tâm thần và trầm cảm

9 Triệu chứng loạn thần, bao gồm rối loạn nhận cảm, ảo giác và ảo tưởng

10 Rối loạn giấc ngủ mãn tính

Trang 31

Hiệu quả của điều trị nghiện methamphetamine

5 vấn đề cần đạt được để điều trị nghiện methamphetamine có hiêu quả

1 Lượng giá

Bệnh nhân cần được lượng giá trong các vấn đề sau:

- Sử dụng đồng thời các loại chất khác như heroin, rượu, thuốc ngủ và khí hít

- Lượng ma túy thường được sử dụng

- Thời gian sử dụng

- Bệnh lý thực thể và tâm thần trong thời kỳ điều trị

- Các vấn đề gặp phải trong cuộc sống, tính cách, đặc điểm gia đình xã hội

2 Điều trị thuốc

Các bằng chứng khoa học hiện nay chưa rõ ràng về hiệu quả của thuốc điều trị cho nghiện

methamphetamine Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho thấy các thuốc d-amphetamine,

methylphenidate, bupropion, mirtazapine và naltrexone có thể làm giảm lượng amphetamine sử dụng Kết luận rút ra từ các nghiên cứu này về hiệu quả điều trị thuốc chưa rõ ràng do số lượng các nghiên cứu còn hạn chế và cỡ mẫu nhỏ Hiện nay, chưa có thuốc nào được Cục An toàn Thực phẩm và Thuốc của Hoa Kỳ thông qua trong vấn đề điều trị nghiện methamphetamine Nhiều thuốc đang được thử nghiệm

về hiệu quả điều trị nghiện methamphetamine Nhiều tiêu chí để đánh giá đầu ra của các nghiên cứu, nhưng hầu hết các tác giả định nghĩa hiệu quả điều trị là giảm được lượng methamphetamine sử dụng Các chỉ số khác bao gồm mức độ của hội chứng cai và tỷ lệ duy trì điều trị Triệu chứng cai tối thiểu cùng với tuân thủ điều trị tốt có thể phản ánh động lực muốn giữ sạch, không sử dụng Cuối cùng, đó là điều giúp cho người sử dụng thành công trong việc điều chỉnh việc sử dụng hoặc giữ hoàn toàn sạch

Về khía cạnh làm giảm lượng ma túy sử dụng, các thuốc này có thể có hiệu quả:

- D-amphetamine có thể làm giảm nhẹ triệu chứng cai của methamphetamine và làm giảm mức

độ nghiện, nhưng không làm giảm tần suất sử dụng

- Methylphenidate có thể làm giảm sử dụng ma túy, được đánh giá bang test nước tiểu âm tính ở bệnh nhân dùng đường tĩnh mạch

- Bupropion có thể làm giảm sử dụng methamphetamine ở bệnh nhân dùng ít

- Mirtazapine phối hợp với tư vấn có hiệu quả trong giảm sử dụng, được đánh giá bằng test nước tiểu âm tính, và trong nhóm đồng tính nam Giảm hành vi tình dục nguy cơ cao tương đương với test nước tiểu âm tính

- Naltrexone có thể hiệu quả trong làm giảm sử dụng, và đo bằng test nước tiểu âm tính, và có thể giúp bệnh nhân giữ sạch không sử dụng Thuốc N-acetylcysteine (NAC) không thấy có hiệu quả

Trang 32

Nghiên cứu cho thấy amphetamine làm giảm triệu chứng cai methamphetamine, trong khi đó

amineptine chỉ có tác dụng với 1 số triệu chứng cai Tuy nhiên, các thuốc này chưa có ở thị trường Thái Lan Để điều trị các trường hợp loạn thần do methamphetamine, các thuốc chống loạn thần được chỉ định Các thuốc chống loạn thần thế hệ mới ít gây ra các triệu chứng ngoại tháp hơn so với các thuốc cũ Các thông tin trên đây cho thấy không có thuốc nào thực sự hiệu quả trong điều trị nghiện

methamphetamine Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy một số thuốc có lợi ích nhất định Cần phải có các nghiên cứu tiếp theo để chứng minh hiệu quả điều trị của các thuốc này Cuối cùng, các nghiên cứu trên bệnh nhân Thái Lan là rất quan trọng liên quan đặc thù đến các yếu tố và hoàn cảnh của đất nước

3 Điều trị tâm lý xã hội

Một số rối loạn lạm dụng methamphetamine là do các yếu tố tâm lý xã hội, bao gồm xung đột trong gia đình, lòng tự trọng kém, bạn bè lôi kéo, ở trong môi trường có vấn nạn buôn bán ma túy, và là hậu quả tâm lý của hành vi sử dụng ma túy Nhiều bệnh nhân thú nhận rằng sự chấp nhận của xã hội là rất quan trọng để giúp giữ vững tinh thần của họ khi cố gắng từ bỏ ma túy

Liệu pháp tâm lý cần được đưa vào quá trình điều trị và được thiết kế phù hợp với từng bệnh nhân Trong quá trình can thiệp, chuyên gia trị liệu cần chú ý vào 3 khái niệm: methamphetamine gây hại, hoạt động thay thế trong khi giữ sạch, và thiết lập mục tiêu cuộc sống Mục tiêu phổ biến bao gồm công ăn việc làm, tình trạng kinh tế, xã hội và hôn nhân Một yếu tố thành công nữa là tư vấn cho gia đình và đồng nghiệp để không kỳ thị và để có thể hỗ trợ cho bệnh nhân

4 Các điều trị khác không chính thống

Một số nghiên cứu khác cho thấy các biện pháp điều trị không chính thống như châm cứu và thuốc y học

cổ truyền có lợi ích trong điều trị bệnh nhân nghiện methamphetamine và trong giai đoạn cai Mặc dù chưa có bằng chứng rõ ràng, các biện pháp điều trị này có thể hỗ trợ cho quá trình điều trị của bệnh nhân và được dùng như biện pháp khuyến khích bệnh nhân tham gia điều trị Các nghiên cứu trong tương lai nên tập trung vào hiệu quả điều trị cai, vì hiệu quả điều trị nghiện vẫn còn nhiều ý kiến chưa thống nhất

- Chưa có thuốc được chính thức phê duyệt điều trị nghiện methamphetamine

- D-amphetamine, methylphenidate, bupropion, mirtazapine và naltrexone có thể làm giảm hành

vi sử dụng

- Điều trị tâm lý xã hội vẫn là biện pháp điều trị chính trong lệ thuộc methamphetamine

- Còn ít nghiên cứu về điều trị lệ thuộc methamphetamine

Trang 33

Nguyên tắc của điều trị nghiện methamphetamine

Các vấn đề dưới đây là các vấn đề chính cần cân nhắc và nắm vững trong công tác điều trị nghiện

methamphetamine:

1 Nghiện là bệnh mãn tính tái phát Mô hình điều trị cần được điều chỉnh phù hợp với bệnh nhân

2 Cần đánh giá trạng thái sẵn sàng thay đổi của bệnh nhân và đưa bệnh nhân vào chương trình điều trị thích hợp càng sớm càng tốt

3 Điều trị hiệu quả cần đáp ứng được các đòi hỏi của bệnh nhân và động viên họ tham gia điều trị trong khoảng thời gian để đạt hiệu quả

4 Tư vấn cá nhân/nhóm và các liệu pháp hành vi khác đã được thiết lập trong điều trị nghiện methamphetamine, và 1 số bệnh nhân có thể cần phối hợp dùng thuốc

5 Giảm tác hại cho bệnh nhân có HIV, viêm gan B và C cần đạt được qua điều chỉnh hành vi

6 Đánh giá gia đình và liệu pháp can thiệp cần phải được tiến hành và điều chỉnh trong suốt quá trình điều trị để đáp ứng được nhu cầu của người bệnh Bệnh nhân cần được đánh giá và điều trị nếu có bệnh đồng diễn

7 Điều trị cai chỉ là khởi đầu của quá trình điều trị

8 Gia đình, cơ quan hoặc can thiệp pháp lý có thể làm tăng con số bệnh nhân tham gia điều trị Theo dõi sử dụng ma túy là rất quan trọng trong phát hiện sớm tái sử dụng và là báo hiệu cho việc cần thay đổi kế hoạch điều trị

9 Phương pháp tổng thể-bao gồm đánh giá cả mặt sinh học, tâm lý học, xã hội và tinh thần, sẽ có hiệu quả hơn là chỉ sử dụng một phương pháp đơn thuần

10 Đặc biệt trong điều trị nghiện methamphetamine, bệnh nhân tận tâm và phối hợp điều trị, tham gia đầy đủ các bước điều trị

11 Bệnh nhân là các cá thể khác nhau, cho nên cần phải có các phương pháp điều trị khác nhau phù hợp với từng bệnh nhân

12 Lượng dùng và đường dùng methamphetamine cần phải được đưa vào dữ liệu để tham khảo khi xây dung kế hoạch điều trị

13 Bệnh nhân cần được khai thác có sử dụng các loại ma túy khác không

14 Bệnh nhân sử dụng methamphetamine có rối loạn nhân cách sẽ có nguy cơ tái sử dụng cao

15 An toàn và pháp lý cho người bệnh cần được quan tâm trong toàn bộ quá trình điều trị

Trang 34

Các vấn đề cần quan tâm ở Thái Lan

Cần giải quyết vấn đề tiếp cận điều trị

Các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận điều trị bao gồm:

1 Yếu tố bệnh nhân

- Thái độ tiêu cực về điều trị

- Không tin tưởng điều trị có ích

- Không tin tưởng các nhà chuyên môn và hệ thống

- Cho rằng điều trị không hiệu quả

- Biết rằng tái sử dụng sau điều trị còn xấu hơn

2 Yếu tố gia đình

- Quan ngai đến yếu tố bảo mật, đặc biệt là điều trị lần đầu

- Quan ngại về điều trị có phù hợp không

- Quan ngại điều trị với các người nghiện khác là không tốt, có thể có hội xấu mới và có thể kích hoạt tái sử dụng

- Nhiều người nghiện methamphetamine sống với ông bà mà không có bố mẹ do hoàn cảnh kinh

tế, thông thường ông bà không có nguồn lực tài chính để hỗ trợ

- Gia đình không nhận thưc được tầm quan trọng của điều trị sớm; ngược lại, họ thường gián tiếp tạo điều kiện cho bệnh nhân sử dụng ma túy bằng cách đưa ra phần thưởng vật chất, hoặc thậm chi cho bệnh nhân ra nước ngoài sống

- Nhân viên y tế thường có nhiều việc, ảnh hưởng đến tính liên tục của điều trị cho bệnh nhân

- Chiến lược chủ động khó có thể áp dụng do sự mất ổn định chính trị ở 1 số vùng ở Thái Lan

- Khó khăn ở bệnh viện: vd: giờ làm việc, thời gian đợi lâu, khu vực chờ chật hẹp, không có đáp ứng nhanh với tình hình thực tế

Các thử thách của hệ thống y tế

Các vướng mắc của hệ thống dịch vụ bao gồm việc cải thiện tỷ lệ tiếp cận dịch vụ, theo dõi điều trị cho bệnh nhân trong thời gian dài để giúp bệnh nhân giữ sạch và giảm sử dụng

Trang 35

Biện pháp giảm tác hại

Nhóm bệnh nhân đích của biện pháp này là những người sử dụng đường tĩnh mạch, bệnh nhân thường xuyên tái sử dụng mặc dù được can thiệp tâm lý xã hội tích cực, và bệnh nhân không nhận thức được hậu quả của ma túy lên bản thân họ và người khác Điều này thể hiện là giảm tác hại nên là biện pháp cuối cùng để làm giảm nguy cơ của bệnh nhân và cộng đồng liên quan đến hành vi sử dụng

methamphetamine Đây là quá trình lấy bệnh nhân làm trung tâm và linh hoạt, và áp dụng khi bệnh nhân chưa sẵn sàng từ bỏ sử dụng

Giảm tác hại nhằm giúp bệnh nhân giảm hành vi sử dụng ma túy và giữ sạch trong một thời gian dài Cuối cùng, bệnh nhân sẽ có kỹ năng sống mà không cần đến methamphetamine

Phương pháp giảm tác hại

Phương pháp được tiếp cân theo cá nhân, với tính nhân quyền và nhân đạo Bệnh nhân đạt được mức

độ hiểu biết tốt hơn về diễn biến của sử dụng methamphetamine thông qua các can thiệp điều chỉnh hành vi và nhận thức dựa trên kinh nghiệm của biện pháp giảm tác hại

1 Giáo dục nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của giảm tác hại, bao gồm các thông tin như sau:

- Các bệnh lý và rối loạn do methamphetamine gây ra

- Sử dụng kim tiên sạch và các dụng cụ

- An toàn tình dục

- Cung câp thông tin và trung tâm hỗ trợ

- Điều trị và phục hồi cho bệnh nhân methamphetamine

2 Điều trị theo phương pháp tổng thể về tâm –sinh lý, xã hội và bao gồm cả 4 khía cạnh của chăm sóc: tuyên truyền, phòng ngừa, điều trị và phục hồi

2.1 Tuyên truyền sức khỏe cần bao gồm các chủ đề sau:

- Ăn uống lành mạnh, không bỏ bữa

- Tập thể dục

- Ngủ đủ

- Vệ sinh cơ thể

- Môi trường sạch, thông khí tốt

- Khuyến khích suy nghĩ tích cực và lạc quan

- Quản lý căng thẳng

2.2 Tư vấn phòng ngừa trong các bệnh liên quan đến sử dụng methamphetamine, triệu chứng, tình hình dịch tễ, mức độ bệnh và tự chăm sóc

Trang 36

- Vận động như vật lý trị liệu và bài tập

- Điều trị nhóm trong phcn tâm lý, bao gồm chủ đề kiểm soát căng thẳng, điều chỉnh nhận thức,

kỹ năng giao tiếp và xã hội

- Hoạt động trị liệu chỉ định tùy bệnh nhân

- Tham gia các nhóm hoạt động xã hội

Lợi ích của giảm tác hại

- Nỗ lực phối hợp giữa bệnh nhân và người điều trị

- Giảm căng thẳng cuộc sống

- Giúp bệnh nhân thích nghi với môi trường mới

- Khởi đầu tốt cho việc không sử dụng

- Giữ gìn cuộc sống cho người nghiện

- Giúp giảm dịch tễ bệnh nhiễm trùng

- Đưa ra cơ hội để giúp bệnh nhân tự quyết định bỏ hay không

- Đây là phương pháp đáp ứng theo nhu cầu và cần sự cảm thông

- Giảm yếu tố xã hội

Phương pháp giảm tác hại được chỉ định đối với nhóm bệnh nhân sử dụng qua đường tĩnh mạch và nhóm bệnh nhân đã được can thiệp tâm lý xã hội tích cực nhưng vẫn tái sử dụng Đây là phường pháp cuối cùng của điều trị

Trang 37

Các nhóm bệnh nhân đặc biệt sử dụng methamphetamine Trẻ vị thành niên

Đây là nhóm bệnh nhân ngày càng sử dụng nhiêu methamphetamine, làm cho họ có các nguy cơ sau:

- Tình dục không an toàn

- Sử dụng tò mò hoặc dùng số lượng lớn

- Dùng với các chất khác như rượu, cần sa

Quá trình phát triển về thể chất, nhận thức và cảm xúc của trẻ vị thành niên là vấn đề cần quan tâm Não bộ của trẻ có cấu trúc khác não người lớn, với các hoạt động cao cấp và ức chế đang hoàn thiện Thảo luận về các tác động tiêu cực của hành vi sử dụng methamphetamine và biện pháp phòng ngừa là cách tốt nhất để bắt đầu can thiệp cho nhóm này Cung cấp thông tin và hỗ trợ một cách mềm dẻo tùy theo nhận thưc của trẻ là phương pháp tối ưu Một vấn đề quan trọng khác là áp lực từ bạn bè có thể tác động rất lớn lên trẻ vị thành niên Các nghiên cứu cho thấy trầm cảm là nguyên nhân chính của hành

vi tiếp tục sử dụng Dựa vào kiến thức này, bệnh nhân cần phải được đánh giá sớm trong quá trình điều trị , bao gồm xác định bệnh đồng diễn, yếu tố nguy cơ và yếu tố bảo vệ

Người điều trị nên bắt đầu bằng cách xây dựng mối quan hệ tốt với bệnh nhân, cung cấp các can thiệp ngắn Vai trò của gia đình cũng rất quan trọng trong thành công của điều trị

Người lớn (độ tuổi làm việc)

Với bản chất là chất kích thích, methamphetamine được coi là giúp tăng khả năng làm việc đối với người lao động, đặc biệt là lái xe tải, công nhân, sinh viên và doanh nhân.Họ sử dụng methamphetamine để chống mệt mỏi và tăng thời gian làm việc, mặc dù nhược điểm là ít ngủ và ăn uống thất thường Nhân viên điều trị cần nhận thức được là nghiện methamphetamine có thể gặp ở mọi loại đối tượng, kể cả phụ nữ mại dâm

Đồng tính nam, nữ và chuyển giới

Đây là nhóm bệnh nhân thường sử dụng methamphetamine ở các buổi tiệc tùng, dẫn đến tình dục không an toàn Họ có thể sử dụng methamphetamine như là thuốc giải tỏa áp lực xã hội và cảm xúc Nhân viên điều trị cần rất chú trọng đến các bệnh lây truyền qua đường tình dục và biện pháp phòng ngừa, công ăn việc làm và chấp thuận của gia đình Chúng ta cần tôn trọng bệnh nhân và tôn trọng quyền của họ

Bệnh nhân HIV/AIDS

Bệnh nhân trong nhóm này thường có hành vi nguy cơ , và cần phải uống thuốc kháng virus ARV Các bệnh thực thể đồng diễn bao gồm lao phổi, viêm màng não, nhiễm trùng cơ hội, và các bệnh tâm thần đồng diễn bao gồm trầm cảm và rối loạn lo âu

Nhân viên điều trị cần giữ thái độ trung hòa,không phán xét, và giữ bí mật riêng tư của bệnh nhân Nhân viên điều trị cũng cân phải biết về điều trị HIV, chỉ định thuốc ARV, và phòng ngừa lây do các hành vi nguy cơ

Trang 38

Phụ nữ

Methamphetamine ngày càng phổ biến hơn ở phụ nữ Bệnh nhân thường có kèm theo trầm cảm Các vấn đề khác có liên quan như bạo hành gia đình cần được đánh giá và xử trí Cho con bú, chăm sóc con cái và an toàn của trẻ là vấn đề quan tâm của các bà mẹ đang phải nuôi con

Bệnh nhân người già

Bằng chứng về sử dụng methamphetamine ở người già hạn chế vì số lượng bệnh nhân trong nhóm này không nhiều Đặc điểm của người sử dụng, lượng sử dụng , nguyen nhân sử dụng, và bệnh đồng diễn chưa được biết nhiều Vì vậy, không có gợi ý điều trị cho nhóm bệnh nhân người già.Từ hiểu biết về lạm dụng cac chất hiện nay như rượu, bệnh đồng diễn trong nhóm người già thường là lo âu và trầm cảm Chúng ta cần phải đánh giá các rối loạn này ở người già

Cần có các nghiên cứu trong tương lai về methamphetamine ở các nhóm bệnh nhân đặc biệt như trẻ vị thành niên, người trong độ tuổi lao động, bệnh nhân HIV/AIDS, công đồng chuyển giới, phụ nữ và người già

Trang 39

Ứng dụng trong hoàn cảnh Thái Lan

Hệ thống điều trị nghiện chất ở Thái Lan gồm nhiều thành phần, với nhiều tổ chức trong và ngoài Bộ Y

tế Các cơ quan trực thuộc Bộ Y tế được chia thành 2 nhóm dựa vào mức độ nặng và biến chứng của bệnh nghiện chất Các bệnh viện trực thuộc Văn phòng Thủ tướng điều trị cho các trường hợp nghiện chất nhẹ hoặc không có biến chứng chiếm phần lớn các trường hợp (khoảng 70-80%) Các ca tái sử dụng mãn tính hoặc các ca có bệnh đồng diễn thường được đưa vào các bệnh viện trực thuộc Cục Khám, chữa bệnh hoặc Vụ Sức khỏe tâm thần Các đơn vị không trực thuộc Bộ Y tế như các đơn vị trực thuộc Cục Trại giam điều trị các trường hợp có án hình sự Công tác điều trị nghiện chất nếu có hê thống toàn diện với hệ thống tổ chức rõ ràng- ví dụ như có nhiệm vụ cụ thể và kinh phí hoạt động với sự hỗ trợ của chính phủ, và đặt vấn đề dịch tễ nghiện chất như là chương trình quốc gia đối với tất cả các cơ quan chính phủ, sẽ tạo được chương trình điều trị liên tục, thống nhất đặc biệt trong thời kỳ vấn nạn ma túy ngày trở nên nghiêm trọng

Bảng 3 Điều trị nghiện methamphetamine ở các cấp độ, theo kế hoạch do chính phủ tài trợ

cơ tối thiểu

- Đánh giá bệnh nhân, phân loại bệnh nhân theo nhóm,

và chuyển bệnh nhân theo tuyến

- Sàng lọc bệnh tâm thần đồng diễn

- Chuẩn bị bệnh nhân trước khi vào điều trị

- Can thiệp ban đầu với tư vấn ngắn (BA), và can thiệp ngắn (BI)

- Sau điều trị

- Phòng ngừa tích cực dựa vào hệ thông mạng lưới cộng đồng như là hệ thống thôn bản, chùa chiền, cộng đồng, trường học

- Test sàng lọc sử dụng rượu, hút thuốc lá, và ma túy (ASSIST)

- Test sàng lọc trầm cảm với 2Q

và 9Q (xem phụ lục trang 2, 7.2 7.3)

- Đánh giá tự sát với công cụ 8Q (xem phụ lục trang 2, 8.3)

- Tài liệu BA và BI

- XN nước tiểu ngẫu nhiên là 1 phần trong kế hoạch điều trị

Điều dưỡng hoặc nhân viên làm đánh giá, đã được đào tạo tư vấn ngắn (BA) hoặc can thiệp ngắn (BI)

Trang 40

Mức độ Đối tượng bệnh

nhân

Quy trình điều trị Công cụ Chuyên môn nhân

viên Bệnh

- Hoàn thành 4 quy trình điều trị như đã điều trị cai và phục hồi chưa điều trị tại bệnh viện

- Quy trình sau điều trị

- Phối hợp điều trị với chùa, cộng đồng, trường học

- Tham gia giảm tác hại

- BA, BI, phỏng vấn tạo động lực, liệu pháp tăng cường động lực (MI/MET), liệu pháp nhận thức hành vi (CBT), Tài liệu matrix cho người lạm dụng

- Test nước tiểu ngẫu nhiên, như

đã nên khi vào điều trị

- Bác sĩ đã hoàn thành khóa học

về điều trị nghiện

- Điều dưỡng đạo tạo chuyên về nghiện chất hoặc tâm thần

- Test nước tiểu ngẫu nhiên, như

đã nên khi vào điều trị

- Bs tâm thần hoặc bs đã hoàn thành khóa học điều trị nghiện

- Điều dưỡng đạo tạo chuyên về nghiện chất hoặc tâm thần

- Tâm lý lâm sàng và/hoặc nhân viên công tác xã hội

- Nhân viên đã hoàn thành các khóa học yêu cầu

Ngày đăng: 04/06/2018, 07:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm