1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

MỘT SỐ VẤN ĐỂ VỂ PHÁT TRIỂN BỂN VỮNG CÁC VÙNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM - ThS. Lê Anh Đức

217 252 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 217
Dung lượng 21,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy vậy, các quan niệm và phương thức phát triển các vùng còn tùy thuộc vào đặc điểm về hệ thống phân cấp quản lý nhà nước, thể chế kinh tế, đôi khi còn cả thể chế chính trị và đặc điểm

Trang 1

MỘT SỐ VẤN ĐỂ VỂ PHÁT TRIỂN BỂN VỮNG

CÁC VÙNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM

ThS Lê A nh Đức

1 Tổng quan về phát triển bền vững kỉnh tế vùng

Trong giai đoạn vừa qua, phát triển bền vững đã trờ thành một

xu thể phát triển được nhiều quốc gia trên thế giới hướng tới Việt Nam đã và đang đứng trước bổi cảnh của những ngã rẽ, lựa chọn phát triển theo phương thức lấy tốc độ tăng trưởng nhanh bằng huy động mọi nguồn lực cho phát triển hay cân nhắc với phương thức phát triển bền vững tạo nền tảng cho quá trình phát triển lâu dài Trước yêu cầu phát triển trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập toàn cầu với nhiều cơ hội và thách thức mới, mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều phải tìm ra con đường phát triển riêng phù hợp với điều kiện

và hoàn cảnh để thích ứng với môi trường quốc tế (cosmopolitan) Phát triển bền vững kinh tế vùng ở Việt Nam hầu như chưa được đề cập nhiều, chưa có quan niệm chính thống cũng như các kết quả nghiên cứu bài bản trong nước Ngay cả trong các khung phát triển bền vững quốc gia, các thể chế thực hiện ở cấp vùng cũng chưa rõ nét, tính thực thi còn rất yếu Thực tế phát triển ở các quốc gia đi trước, việc định hình khung phát triển bền vững ở cấp vùng là chìa khóa để thực hiện hiệu quả các bước đi phát triển bền vững ở mỗi

* Phó Trưởng ban và các thành viên Ban Phát triển vùng, Viện Chiến lược phát triển.

Trang 2

Một số vấn đề về phát triển bền vững các vùngỄ 217

quốc gia, vùng lãnh thổ Đây cũng là vấn đề còn khá mới mẻ trong quan niệm phát triển của các nước trên thế giới Tuy quan niệm về phát triển bền vững kinh tế vùng chưa rõ ràng và thống nhất nhưng

xu thế chủ đạo hướng tới là một vùng (cả trong quá khứ và hiện nay) cần hướng tới tính cân bằng, hài hòa trong phát triển trong một giai đoạn dài hạn, có cân nhắc đến lợi ích tổng thể của quốc gia.Trong phần trình bày này, nhóm tác giả tập trung vào một số vấn đề cỏ tính cốt yếu nhất cho phát triển bền vững kinh tế vùng, cũng là các đề xuất có tính chất gợi mở, không có tham vọng đi sâu vào lý giải toàn diện các nội dung của phát triển bền vững vùng

1.1 Đặc điểm phát triển vùng kinh tế Việt Nam

Việt Nam có chiều dài bờ biển hơn 3.200km tiếp giáp với Thái Bình Dương, được chia thành 63 tỉnh, thành phố thuộc 6 vùng kinh

tế - xã hội Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, trong mỗi bổi cành

có tính lịch sử nhất định, vấn đề về phân vùng và phát triển vùng luôn được quan tâm, nội dung này đã được đề cập trong các chủ trương và định hướng phát triển của đất nước

Sau nhiều giai đoạn khác nhau, tùy thuộc vào định hướng và chiến lược phát triển đất nước, vùng ở nước ta cũng có nhiều biến động về không gian Từ năm 1976 đến năm 1983, khi đất nước được thống nhất, Việt Nam được xác định gồm 7 vùng với nội dung chính là các vùng sinh thái nông lâm nghiệpệ Từ những năm 1983-1987, Việt Nam được chia thành 4 vùng, với mục đính chính

là lập tổng sơ đồ phát triển cho các vùng lớn Giai đoạn 1990-1998, Việt Nam được chia thành 8 vùng kinh tế - xã hội Từ năm 2001 đến nay, cả nước được chia thành 6 vùng kinh tế - xã hội: vùng Trung du miền núi phía Bắc; vùng Đồng bằng sông Hồng; vùng Bẳc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung; vùng Tây Nguyên; vùng Đông Nam Bộ; vùng Đồng bằng sông Cửu Long và 4 vùng kinh tế trọng điểm Trong mỗi giai đoạn, do sự chia tách của các địa phương nên

số địa phương trong mồi vùng có sự thay đổi Ngoài ra, từ năm 1986,

Trang 3

218 HƯỚNG TỚI MỘT NÉN KINH TẾ PHÁT TRIỂN ,

3 vùng kinh tế trọng điểm đã được xác định trên cơ sở các địa phương thuộc 3 vùng Bắc Bộ, miền Trung và miền Nam Đến năm 2009, theo nhu cầu phát triển thành lập đã thêm vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long

Cơ sở để phân chia các vùng kinh tế ở Việt Nam chủ yếu dựa trên các đặc điểm tương đồng về điều kiện tự nhiên và các thế mạnh đặc thù về sản xuất Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, bối cảnh tác động từ các yếu tố thị trường, chất lượng nguồn nhân lực,

hạ tầng khung, môi trường chính sách đã phần nào làm cho các đặc điểm phát triển vùng trở nên đa dạng và biến đổi hơn so với các yếu tổ đặc điểm ít thay đổi trước đây

Hiện nay, Việt Nam đã tham gia sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu, phát triển các vùng kinh tế ở Việt Nam cũng dần chuyển sang trạng thái "mở" và "động" hom rất nhiều, kinh tế vùng ở nước ta chịu nhiều tác động từ các yếu tố bên ngoài Bằng chứng cho thấy kinh tế vùng trải qua các giai đoạn chịu tác động của các cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế thế giới như những khó khăn vùng Đồng bằng sông Cừu Long về xuất khẩu thủy sản; vùng Tây Nguyên về giá cao su, cà phê ẳ

Bên cạnh đó, kinh tế vùng cũng tiếp tục đón bắt nhiều cơ hội phát triển mới từ các làn sóng đầu tư dịch chuyển từ các quốc gia, vùng lãnh thổ đang mất dần các lợi thế về chi phí nhân công, đất đai

1.2 Quan niệm về phải triển kinh tế vùng bền vững ở Việt Nam

và một sổ nước

Việt Nam tham gia Hội nghị Thượng đỉnh trái đất về Môi trường

và Phát triển tại Rio de Janeiro, Brazin năm 1992; Hội nghị Thượng đinh thế giới về Phát triển bền vững ở Johannesburg, Nam Phi năm 2002; đã ký Tuyên bố Rio về Môi trường và Phát triển, Chương trình nghị sự 21 toàn cầu, đồng thời cam kết thực hiện phát triển bền vững Trong 20 năm thực hiện phát triển bền vững đất nước, Việt Nam đã có được những thành tựu đáng kể trên các mặt kinh tế,

Trang 4

Tuy vậy, các quan niệm và phương thức phát triển các vùng còn tùy thuộc vào đặc điểm về hệ thống phân cấp quản lý nhà nước, thể chế kinh tế, đôi khi còn cả thể chế chính trị và đặc điểm nổi bật nhất đó là trình độ phát triển của quốc gia đó như thế nào.

Trên thể giới, nghiên cứu ở một số quốc gia và vùng lãnh thổ cho thấy về cơ bản, các quan niệm về phát triển bền vững đều chủ yếu vẫn dựa trên các Tuyên bố Rio về Môi trường và Phát triển năm 1992 Tuy nhiên ở mồi quốc gia, tùy thuộc vào trình độ phát triển và chiến lược phát triển thì cách thức, bước đi, đối tượng cho phát triển cũng có những khác biệt nhất định

Đổi với kinh tế vùng, phát triển bền vững một số quốc gia có những cách thức tiến hành như sau:

vĩnh cửu của đổi mới và phát triển kinh tế vùng Trong đó tập trung nghiên cứu nhân rộng và ứng dụng khoa học đem lại những ngành

nghề hoặc nhóm tăng trường mang tính chất vùng; Thứ hai, tích

cực thúc đẩy chuyển biến thể chế kinh tế vùng Trong đó tập trung vào đổi mới và mờ rộng các hình thức sở hữu, khuyến khích và

Trang 5

220 HƯỚNG TỚI MỘT NỀN KINH TẾ PHÁT TRIỂN

phát triển kinh tế theo chế độ phi công hữu, thúc đẩy dân doanh hóa kinh tế vùng, xây dựng hoàn thiện thể chế thị trường, tăng cường

các thể chế thúc đẩy hội nhập; Thứ ba, chuyển dịch phương thức

tăng trưởng kinh tếẾ Trong đó tập trung hình thành các ưu thế độc đáo của vùng, thúc đẩy tăng quy mô và chiều sâu phát triển của vùng, xây dựng sản phẩm thương hiệu vùng

vùng được xây dựng dựa trên 5 yếu tố chủ đạo:l) bền vững về tài nguyên; 2) tăng cường sức khỏe và hòa hợp cộng đồng; 3) tăng trưởng kinh tế; 4) giải quyết các vấn đề biến đổi khí hậu và các vấn

đề môi trường toàn cầu; 5) trên quan điểm Thắng - Thắng cân bằng giữa kinh tế - môi trường, gia tăng chất lượng sống Bốn chiến lược chủ yếu mà Hàn Quốc đưa ra là: tăng cường tính cạnh tranh; chia

sẻ trách nhiệm quốc tế, bảo vệ tầng ôzôn; tham gia hợp tác quổc tế;

hỗ trợ các chương trình bảo tồn rừng nhiệt đới; tăng cường hợp tác kinh tế; và hỗ trợ cải tiến cho các quốc gia về tiếp cận thông tin, tăng cường hỗ trợ chính thức

Có thể thấy ràng, dù xuất phát là một quốc gia nào, với thể chế chính trị có sự khác biệt ra sao thì phát triển kinh tế vùng hướng tới bền vững vẫn là mục tiêu theo đuổi của nhiều quốc gia Tuy nhiên, bước đi và lộ trình phát triển cần được cân nhắc trên cơ sở phù hợp với đặc điểm và giai đoạn phát triển của quốc gia đó Do nguồn lực

có hạn nên các ưu tiên trong phát triển vùng ở mỗi quốc gia có sự khác biệt: có quốc gia trong định hướng đề ra một sổ khu vục phát triển trước để hình thành các cực phát triển, các vùng, hành lang động lực, sau đó mới tiến hành hài hòa chung giừa các vùng; có quốc gia lấy phát triển hài hòa, cân bàng giữa các vùng là định hướng khung để từ đó hình thành cơ sở để cân đối các nguồn lực cho phát triển

trọng tâm, trọng điểm, tập trung nguồn ỉực cho một số vấn đề ưu tiên, nền tảng trước Trong giai đoạn hiện nay, đối với Việt Nam,

Trang 6

Một số vấn để về phát triển bền vững các vùng 221

chính là tập trung vào đội ngũ tri thức và khoa học công nghệ Đối với cấp vùng ở Việt Nam phải hình thành được các hệ thống đổi mới, các trung tâm nghiên cứu ứng dụng công nghệ có quy mô, các đặc khu phát triển của vùng với thể chế mở, hội nhập và phát triển.Việt Nam là một nước đi sau và đang trong quá trình chuyển đổi, lại ở vào bối cảnh mà các liên kết toàn cầu chưa bao giờ lại đa chiều và phức tạp như hiện nay Sự thực phát triển ở các quốc gia

có nền kinh tế mở và một sổ quốc gia bị cấm vận, cho thấy hội nhập đem lại nhiều cơ hội phát triển hơn, nhưng làm thế nào để hội nhập thành công mà các hệ quả tổn hại thấp nhất còn tùy thuộc vào cách thức tiến hành của mỗi quốc gia Chính các yếu tố tác động từ hội nhập đã làm cho các quốc gia cũng trở nên d.ễ bị tổn thương và nhận được nhiều bài học sâu sắc Ngày nay, các mối quan hệ liên kết ở cấp độ quốc gia đã dần xóa nhòa ranh giới của các yếu tố kinh

tế, chính trị, tôn giáo, quân sự, môi trường Các mối liên kết ngày càng lệ thuộc lẫn nhau và ở cấp độ quốc gia có lẽ các vấn đề này khó có thể được dung hòa nếu như không hình thành các mối liên kết đa quốc gia

Vùng nếu chỉ đứng trên góc độ kinh tể (không xét đến các chủ đích chính trị) đòi hỏi phải có các chính sách mở, năng động, hình thành liên kết có lợi cho phát triển bền vững dựa trên các lợi thế so sánh của vùng mới có thể đạt được các mục tiêu bền vững của vùng

2ệ Phát triển kỉnh tế vùng ở Việt Nam theo quan niệm bền vững

2.1 Ở Việt Nam, các quan niệm về phát trỉển kinh tế vùng chưa thực sự được xem xét một cách bài bản, rất ít các tài liệu chỉ dẫn về phát triển bền vững vùng kinh tể

Từ thực tế phát triển bền vững ở một số nước trên thế giới, trước hết cần có một quan niệm tương đối thống nhất về phát triển bền vững

Trang 7

222 HƯỚNG TỚI MỘT NỀN KINH TẾ PHÁT TRIỂN

Để thực sự hiểu và thấy được ý nghĩa và tầm quan ưọng cùa phát triển bền vững kinh tế vùng cần phân biệt được các nội dung bền vững ở tầm quốc gia, các nội dung bền vững ở cấp vùng

và địa phươngẵ Có điểm gì khác biệt ở các cấp độ không gian phát triển này?

Theo Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21), với cả nước mục tiêu của phát triển bền vững là: "Đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và

sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường" Các nội dung định hướng và có tính chất khung cho phát triển bền vững này cần được cụ thể hóa hơn ở cấp địa phương hoặc phân bổ dọc theo ngành

Đối với cấp địa phương, tày vào đặc điểm và tình hình phát triển cũng cần xây dựng cho mình các định hướng phát triển bền vững riêng Tuy nhiên, phát triển bền vững ở địa phương có tính chất chi dẫn, gợi ý nhiều hơn là các mục tiêu có tính bắt buộc

Ở Việt Nam, với đặc điểm nền kinh tế được chia ra theo kiểu hành chính với 63 tỉnh/thành, được phân cấp thẳng từ Trung ương đến địa phương Các chính sách thực thi ban hành từ Trung ương đến thẳng các tỉnh/thành làm cho các địa phương là đổi tượng chính thụ hưởng các chính sách và có nhiều quyền quyết định đối với các vấn đề phát triển của địa phương

Các tỉnh/thành đều nỗ lực để thực hiện thành công các mục tiêu

đề ra, tuy nhiên ở góc độ vùng, các yếu tố để đảm bảo tính cân bằng đều bị xem nhẹ Hệ quả là các tỉnh/thành xuất hiện nhiều phong trào tương tự, mục tiêu khá tương đồng và khi phép cộng được tiến hành thì các vấn đề vùng sẽ xuất hiện những bất cập Thêm vào đó, khả năng thích ứng, biến đổi với các liên kết mới ờ cấp địa phương không cao, đòi hỏi phải đi theo một con đường

Trang 8

Một số vấn đề về phát triển bển vững các vùng 223

chính thống nhưng ở cấp vùng cơ chế liên kết sẽ trờ nên năng động hom rất nhiều và có đầy đủ các điều kiện để có thể tham gia các liên kết bên ngoài trong xu thế hội nhập

Sơ đồ i ẻ* Đề xuất quan niệm về phát triển bền vững vùng

2.2 Phân biệt các đặc điểm vùng khác biệt so với quốc gia và địa phương trong định hướng phát triển bền vững

Vùng trong vai trò chuyển tiếp chính sách phát triển bền vững kinh tế quốc gia và cụ thể hóa thực thi ở cấp địa phương đảm bảo tính hiệu quả, khả thi và uyển chuyển

Thực tế, các chính sách có tính đặc thù của từng vùng ở Việt Nam chưa nhiều, trong quá trình phát triển các chính sách chưa thực sự hình thành môi trường để các hoạt động được diễn ra một cách thuận lợi gắn với lợi thế phát triển và đặc điểm độc đáo của vùng

Ở mỗi vùng, chính sách quốc gia gặp phải các vấn đề có tính khác biệt giữa các vùng và lãnh thổ để đảm bảo tính khả thi nhất

Trang 9

224 HƯỚNG TỚI MỘT NÉN KINH TẾ PHÁT TRlỂNề.

Hình thành khung thể chế cho phát triển bền vững vùng là điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công các kế hoạch phát triển bền vững các vùng kinh tế Thể chế phát triển vùng trên cơ sở đảm bảo thực hiện thành công các mục tiêu phát triển bền vững kinh tế vùng

và đảm bảo các mục tiêu phát triển của quốc gia

Trong giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang kinh

tế thị trường hiện nay, vai trò của Nhà nước và chính quyền địa phương trong phát triển kinh tế đang có nhiều thay đổi Các can thiệp về quản lý của Nhà nước phải có tính mềm dẻo hơn ưên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc hoạt động của "bàn tay vô hình" và bù đắp các khiếm khuyết của thị trường

Bảng l ĩ Đe xuất các nhiệm vụ phát triển bền vững kỉnh tế

Quốc gia - Vùng - Địa phương

Duy trì và năng cao năng lực đổi mới, tích lũy tiềm lực khoa học cồng nghệ, xây dựng hệ thống giáo dục và dào tạo

Vị thế quốc gia và tìm kiếm các cơ hội phát triển

từ bên ngoài

Băn sác được duy tri trong tính đa dạng,

da văn hóa của các dân tộc

Tham gia các cồng ước quốc

tế về bão vệ môi trướng và định hinh thể ché, luặt pháp

để bão vệ môi trường

1 Q uốc

gia

Xây dựng các

hàng rào thương mại phù hợp kẻ hoạch phát triển

sản phẩm

Các liên minh,

các tồ chức trên thế giới

Giải quyết các mâu thuẫn giữa chính sách quốc gia và bản sác riẻng của cộng đồng

Định hình

khung vè môi trường quốc

gia các mục

tiêu hướng tới

về tái thiết cùa các vùng bị

ô nhiễm

Xây dựng chinh sách cạnh tranh quốc gia

Trinh độ phát triển và chính sách mờ cửa

Xây dựng các chinh sách đặc thu vẻ báo

vệ mỏi trương cho các lỉnh thổ lớn cũa quốc gia

Trang 10

Một số vẩn để về phát triển bền vũng các vùng 225

cạnh tranh

T ăng trirửng bền vững

K h i n in g hội nhập

B in sắc cộng dồng

Đ im bảo môi trưốnng sinh thái

Xây dựng năng lực cạnh tranh dựa trẽn lợi thế

so sánh

Duy ừ) lợi thế

so sánh dộng

Trình độ phát triển và khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu

Bản sẳc cộng đồng theo các vùng địa lý

Xác định các khung liên kết

và phối hợp bảo vệ môi trường giữa các địa phương đặc biệt là các địa phương trong vùng ưên củng một lưu vực sông

2 V ùng

Tính liên kết và tưcmg đồng ưên các thế mạnh dộc đáo của vùng

Hình thành các liên kết

có lợi cho tăng trưởng

Hình thành các trung tâm giao lưu kinh tế của vùng với quốc tế

Hội nhập và đóng góp bàn sác văn hóa vùng vào cộng đòng lớn hơn

Xác định khung môi trường của vùng đảm bảo các diều kiện khả thi về nguồn lực thực hiện Các hoạt động

tuân theo quy luật thị trường, cạnh tranh

Duy tri tính tương đồng

về văn hóa, học hỏi và phát triền

Phân công và đóng góp vào lợi thẽ cạnh tranh của quốc gia, vùng

Thực thi các chính sách phát triển bén vững của quốc gia, vận dụng vào diều kiện

cụ thể của địa phương

Đổi mới phương thức sản xuât kinh doanh của các doanh nghiệp địa phương

Xây dựng các nội dung nhàm bảo tồn các giá ưị và bản sác của cộng đồng

Thực hiện các

kế hoạch bào

vệ môi trường

và xử lý các vấn đề phát sinh

Duy trì các lợi thế và vươn lèn nấc thang cao hơn

Tiếp cặn cải cách hành chính theo hướng hội nhập, mở rộng các hoạt động

ra bèn ngoài

Phối hợp với các địa phương làn cận trong các vấn đề chung về môi trường

Vận dụng các chính sách của

Q uốc gia để tham gia vào thị trường quốc tế, cạnh tranh các sản phẩm chù lực có lợi thế

Cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng và các mục tiêu xã hội và môi trường

Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả Ban Phát triển vùng.

Trang 11

226 HƯỚNG TỚI MỘT NỀN KINH TẾ PHẢT TRIỂN

3 Một sổ vấn đề trong phát triển bền vững kinh tế vùng ở

Việt Nam

3.1 Việt Nam cần một môi trường thể chế để khuyến khích các doanh nghiệp cạnh tranh ở cấp vùng, để đảm bảo các động lực cho quá trình phát triển lảu dài

Khái niệm về cạnh tranh quốc gia, cạnh tranh cấp vùng được đề cập ở nhiều tài liệu quốc tế và là một vấn đề được nhiều nhà kinh tế học nghiên cứu Hiện nay, các quan điểm của Michael Porter1 được nhiều quốc gia quan tâm, vận dụng trong đường lối phát triển kinh

tế Ồng đưa ra các quan điểm để tạo dựng năng lực cạnh tranh và

đảm bảo chiến lược phát triển bền vững như sau: (1) Tạo dựng sự

khác biệt: "Cạnh tranh để trở thành giỏi nhất Cạnh tranh để trở thành độc nhất vô nhị Không cỏ công ty tốt nhất bởi cái tốt nhất tùy thuộc vào nhu cầu của từng khách hàngế Vì thế, chiến lược của công ty sẽ không phải là trở thành tốt nhất, mà phải trở thành độc

nhất vô nhị, là khác biệt"; (2) Tránh nhầm lẫn giữa chiến lược và

khát vọng: "Trong chiến lược, sai lầm lớn nhất là cạnh tranh trực

tiếp trên cùng một quy mô, một lĩnh vực với đối thủ"; (3) Xác định

mục tiêu: "Phải đặt lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu Tăng trường là

mục tiêu sổ 2; Việc đặt ra những mục tiêu không thực tế về khả năng sinh lời hoặc tăng trưởng có thể ảnh hưởng xấu đến chiến

lược"; (4) Lựa chọn và khám phá: "Lặp lại những việc mà người

khác đã làm sẽ là không hiệu quả Chạy theo không phải là tu duy

chiến lược mà là cái bẫy "; (5) Tạo dựng các giả trị mới: "Những

công ty thành công là những công ty biết tạo ra các giá trị mới dựa trên việc đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của khách hàng"

Trong trường hợp của Việt Nam, các địa phương đều đồng loạt thực hiện các chính sách được ban hành từ Trung ương theo các cách thức triển khai tương tự, không nhìn nhận vào năng lực và các đặc điểm riêng biệt của địa phương mình, dẫn đến các vấn đề

1 Giáo sư của Đại học Harvard, Hoa Kỳ.

Trang 12

Một số vẩn đề vể phát triển bển vững các vùng 227

phát triển đều lặp lại tương tự vấn đề ở đây là khi ban hành chính sách cần định hướng được các vùng, địa phương được áp dụng để đảm bảo cân đối chung cho phát triển của cả vùng và cả nước

Tập trung cải thiện năng suất của một sổ loại hình sản xuất có lợi thế so sánh của vùng trong đó đối với các vùng của Việt Nam cần tập trung vào khâu ứng dụng khoa học công nghệ Tuy nhiên

do nguồn lực có hạn phải tập trung vào một sổ ngành và sản phẩm

mà Việt Nam có lợi thế, nhằm hình thành thương hiệu và thậm chí rút kinh nghiệm để tìm ra một số hướng đi riêng cho lĩnh vực và sản phẩm đó Việc hình thành bí quyết và lợi thế độc đáo là rất quan trọng cho quá trình cạnh tranh các sản phẩm trên thị trường quốc tế

3.2 Thiếu các liên kết ở cấp vùng để đảm bảo một cơ chế phân công hợp lý giữa các vùng dựa trên lợi thế so sảnh và lợi thế cạnh tranh và thiếu các liên kết về bảo vệ môi trường sinh thái

Dựa vào các lợi thế, các vùng đã từng bước hình thành các thế manh riêng Tuy nhiên, các thế mạnh cho đến nay đều được phát huy

ở cấp địa phương, trong cùng một vùng đã diễn ra tình trạng các địa phương đều nhận đó là thế mạnh của địa phương mình và địa phương mình mới xứng đáng khai thác thể mạnh đó dẫn đển phát triển theo hàng ngang, không có trọng tâm trọng điểm, không có chính có phụ Ví dụ như vùng Duyên hải miền Trung có lợi thế phát triển cảng biển nước sâu, mỗi địa phương đều hình thành cảng biển trong khi vùng hấp dẫn hàng hóa qua cảng thì nhỏ bé dẫn đến tình trạng các cảng biển vừa thừa, vừa thiếu về công suất phục vụ Vùng Tây Nguyên có sản lượng cà phê, cao su lớn nhất cả nước nhưng các hoạt động chế biển cho thấy sự phân công các khâu trong vùng chưa hợp lý Hay Đồng bằng sông Hồng đất chật người đông mà chi tập trung vào các ngành sản xuất công nghệ thấp, diện tích chiếm đất lớn, hiệu suất phát triển không cao Ngay cả những khu vực được kỳ vọng như khu công nghệ cao Hòa Lạc chưa xứng vai trò của một trung tàm chuyển giao công nghệ hàng đầu của vùng;

Trang 13

228 HƯỚNG TỚI MỘT NÉN KINH TẾ PHÁT TRIỂN

hay vùng Đồng bằng sông Cửu Long là vùng có sản lượng lúa và trồng cây ăn trái lớn của cả nước tuy đã có cơ chế liên kết nhưng các hoạt động liên kết để trao đổi các khâu sản xuất hĩnh thành các sản phẩm chất lượng cao chưa nhiều, nặng về hình thức

5.5ể Thiếu các thể chế và công cụ thực thi để điều tiết các hoạt

động của vùng theo hướng bền vững

Hiện nay, ở Việt Nam các vùng không cỏ bộ máy, công cụ quản lý hữu hiệu để có thể điều tiết được các hoạt động kinh tế có tính vùng, liên địa phương

Khung thể chế quốc gia không cho phép vùng khai thác các cơ hội từ hội nhập quốc tế hoặc cũng làm giảm tính năng động của vùng trong vấn đề đón bắt các cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu

3.4 Phăn cấp quản lý và điều tiết các hoạt động kinh tế giữa trung ương và địa phương và thiểu vắng vai trò của vùng

Hệ thống quản lý ở Việt Nam hiện nay căn cứ vào cách phân chia đom vị hành chính - lãnh thổ hình thành các cấp chính quyền: trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Phân cấp quản lý nhà nước, trước hết được hiểu là phân cấp giữa trung ương với chính quyền cấp tỉnh; đồng thời, còn bao hàm cả phân cấp giữa các cấp chính quyền địa phương với nhau

Việt Nam được chia thành 63 tỉnh thành làm cho quy mô trung bình của một đơn vị phân cấp tương đối nhỏ Do tính cát cứ của mỗi địa phương mà nguồn lực bị phân tán không đảm bảo để hình thành các hệ thống hạ tầng cho phát triển đủ lớn, thậm chí các địa phương trong một sổ vấn đề phát triển còn ở trong tình trạng trùng lặp nhưng thiếu liên kết hệ thống, dẫn đến suy yếu sức cạnh tranh chung của quốc gia Hiện nay, để giải quyết vấn đề này, việc liên kết phát triển mới chỉ đề cập chủ yếu có tính tự nguyện giừa các địa phương với nhau và thực sự chưa có một cơ chế hiệu quả để

Trang 14

Một số vấn đề về phát triển bển vững các vùngỆ 229

phối hợp các địa phương trong một khuôn khổ phát triển không gian chung của vùng Hoạt động điều phổi phát triển theo vùng còn nặng về hình thức, thiếu các công cụ, bộ máy đủ mạnh để đảm bảo các địa phương cùng phối hợp và phát triển

4ẻ Khung phát triển bền vững đối vói các vùng kỉnh tế ở

Việt Nam

Khung phát triển bền vững vùng dựa trên các nguyên tắc sau:

4.1 Tăng trưởng bền vững và hiệu quả phát triển kinh tế vùng

- Hiệu suất phát triển của vùng, thông qua sừ dụng hiệu quả

các nguồn lực cho phát triển, chỉ tiêu này thường được xem xét trên tổng lượng GDP tạo ra khi sử dụng một nguồn lực nhất định Chỉ tiêu ICOR đánh giá về hiệu quả về sử dụng vốn; chi tiêu năng suất lao động; hiệu suất sử dụng năng lượng, tài nguyênế

- Duy trì tốc độ tăng trường vùng, trong một khoảng thời gian

dài, đây là chỉ báo là biểu hiện của nhiều yếu tổ phức tạp nhưng có thể đơn giản hóa bằng cách quan sát các yếu tố đóng góp cho tăng trường có thực sự được duy trì trong dài hạn không

- GDP xanh của vùng, hiện nay ở cấp độ quốc gia, GDP xanh

được xem xét để đánh giá thực chất quá trình phát triển và tăng trưởng có hiệu quả hay không nếu như phải tính toán cả các chi phí

để bồi hoàn môi trường và các tổn thất cho môi trường trong quá trình phát triển gây ra Mặc dù ở cấp vùng, các tính toán rất khó đưa ra được các con số chính xác do vùng có tính mở hơn rất nhiều

so với quốc gia Tuy nhiên, chi tiêu này cũng có thể coi như một ý niệm hướng tới của phát triển bền vững kinh tế vùng

- Năng suất lao động cùa vùng, được đánh giá bằng tổng sản

phẩm do vùng tạo ra trên số lao động tham gia vào các ngành kinh

tế của vùng Tuy nhiên, chỉ báo này cần được đánh giá sâu hơn theo các ngành khác nhau và phụ thuộc rất nhiều vào các đóng góp của một sổ ngành có năng suất lao động vượt trội của vùng

Trang 15

230 HƯỚNG TỚI MỘT NẾN KINH TẾ PHẢT TRIỂN

Hộp /.ể Một số vấn đề trong tỉnh toán GDP xanh

Việc thực hiện GDP xanh trước tiên có gặp một số khó khăn về

kỹ thuật Giá trị các sản phẩm và lao động có thể xác định được khi đưa ra thị trường, giá trị của chúng được phản ảnh qua giá thị trườngử Nhưng còn các yếu tố môi trường thì phản ảnh giá trị như thế nào vì nó không đưa vào thị trường? Ví dụ khi một khu rừng bị tàn phá, nhiều loại thú sống trong đó bị tiêu diệt, mất mát này được đánh giá như thế nào?

Các chuyên gia đã đưa ra một số cách ước tính Tuy không tính được mất mát khi một con sông bị ô nhiễm nhưng chúng ta có thể tính được số tiền cần thiết phải chi tiêu để xử lý nó Chi phí môi trường của một dự án cụ thể cũng có thể ước tính theo giá thị trường Ví dụ ở Vân Nam, Trung Quốc, các nhà máy hóa chất và việc khai thác trang trại đã gây ô nhiễm nghiêm trọng cho hồ Dianchi Neu cố gắng làm sạch hồ, chi phí tốn gấp 10 lần lợi nhuận các nhà sản xuất hóa chất và nông dân tạo ra Ước tính theo cách này có thể kết luận rằng các hoạt động kinh tế quanh hồ đã gây ra những tổn thất lớn, chưa tính đến mất đi các loại cá, các cây trong

hồ và sự thay đổi khí hậu ở địa bàn xung quanh Các cách ước tính như vậy cần hoàn thiện thêm trong thực tế

Đưa ra việc tính GDP xanh cũng có gặp trở ngại về tư tưởng Tiêu chuẩn đánh giá sự phát triển của một vùng sẽ thay đổi khi thực hiện tính GDP xanh Việc đánh giá thành tựu và kết quả công tác của các địa phương cũng sẽ thay đổi Trước đây, sự tăng trưởng thuần tuý về kinh tế là tiêu chuẩn duy nhất đánh giá thành tựu kinh

tế Còn GDP xanh sẽ đánh giá toàn diện các mặt tăng trưởng kinh

tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường Con số GDP của một vùng chắc sẽ giảm khi phải khấu trừ chi phí môi trường, khó được các lãnh đạo địa phương chấp nhận Mặc dù có trở ngại về kỹ thuật và

tư tưởng, hệ thống mới về GDP xanh vẫn sẽ được đưa ra bắt đầu thử nghiệm ở một sổ địa bàn và một số dự án

Nguồn: Trích bài cùa tác giả Tích Giang giới thiệu tại địa chi website

ww\v.gso.gov.vn/M odules/Doc_Download.aspx?DocID=3989

Trang 16

"Trung tâm dẫn đầu" về năng lực đổi mới, năng lực chuyển giao kỹ thuật - công nghệ từ thế giới, là "cửa mờ ra" trong các liên kết với bên ngoài Trong cấu trúc phát triển nội vùng có thể theo hình thái

"tầng bậc" hay "phi tầng bậc" nhưng nhất thiết phải có các "Trung tâm hội nhập" trong mối liên kết mạng với nội vùng để truyền tải các hiệu ứng lan tỏa từ tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Cơ hội và thách thức không phải "nhất thành bất biến" mà luôn vận động, chuyển hóa và thách thức đối với ngành này của vùng này song có thể ỉà cơ hội cho ngành khác ở vùng khác phát triển Tận dụng được cơ hội sẽ tạo ra thế và lực mới để vượt qua và đẩy lùi thách thức, tạo ra cơ hội mới lớn hơn Ngược lại, không tận dụng được cơ hội, thách thức sẽ lấn át, cơ hội sẽ mất đi, thách thức

sẽ chuyển thành những khó khăn dài hạn rất khó khắc phục

Quá trình phát triển đặt ra cho mỗi vùng yêu cầu cần tranh thủ tối đa sự chuyển giao công nghệ, tăng nhanh khả năng và những điều kiện cần thiết cho việc tiếp nhận và làm chủ công nghệ mới, gắn kết chặt chẽ khoa học và công nghệ với sản xuất kinh doanh, tổ chức quản lý và với mọi hoạt động của con người Yêu câu đặt ra là

Trang 17

232 HƯỞNG TỚI MỘT NẾN KINH TẾ PHẢT TRIỂN

ở mỗi vùng phải có các chính sách phù hợp và điều hành linh hoạt hơn để tận dụng thời cơ mới của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế, vượt qua thách thức, hạn chế tác động tiêu cực, nâng cao hiệu quả

và năng lực cạnh tranh, từng bước khắc phục nguy cơ tụt hậu về kinh tế Ngoài ra, các vấn đề mang tính toàn cầu như dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, khan hiếm các nguồn nguyên, nhiên vật liệu, ngày càng chênh lệch khoảng cách giàu nghèo sẽ trở nên gay gắt hơn, tác động mạnh và đa chiều đến sự phát triển và hiệu quả của kinh tế xã hội của cả nước và đến từng vùng

là vùng phát triển) như vùng Đồng bàng sông Hồng (trong đó có vùng kinh tế trọng điểm Bẳc Bộ), vùng Đông Nam Bộ (trong đó có

Trang 18

Một số vấn đề về phát triển bển vũhg các vùng 233

vùng kinh tế trọng điểm phía Nam) và vùng kinh tế trọng điểm miền Trung nhìn chung có vị trí thuận lợi về giao lưu kinh tế và hội nhập; là những vùng chịu tác động trực tiếp của việc hội nhập quốc

tế (APEC, ASEAN, WTO ) Đây là các vùng có khả năng thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài, tiếp nhận chuyển giao công nghệ, có thuận lợi hơn trong xuất khẩu các sản phẩm hàng hóa có thế manh khi hội nhập, song cũng là các vùng chịu tác động cạnh tranh trực tiếp và mạnh mẽ của hàng hóa nước ngoài khi tham gia AFTA và WTO Tuy nhiên để phát triển, các vùng này phải đi vào "lợi thế so sánh động"1 (là lợi thế so sánh của 10-15 năm sau hoặc xa hơn, bao gồm những ngành có hàm lượng khoa học - công nghệ cao) Các vùng này cũng sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề như thiếu nước, ô nhiễm môi trường và phải cỏ những biện pháp chiến lược để phòng ngừa những rủi ro do các vấn đề ô nhiễm môi trường gây ra

là kém phát triển) như vùng Trung du miền núi phía Bắc, vùng Tây Nguyên, vùng Đồng bằng sông Cửu Long là những vùng có vị trí biên giới với các nước Trung Quốc, Lào, Campuchia; có các vùng sâu, vùng xa nơi chung sống nhiều dân tộc thiểu số; địa hình núi cao, bị chia cắt rất phức tạp hoặc bị úng ngập 3-4 tháng trong năm (Đồng bằng sông Cửu Long)

Điểm bất lợi hiện nay đối với các vùng trên là sự hấp dẫn của các địa phương để thu hút đầu tư nước ngoài đã thay đổi khác trước Những lợi thế so sánh đơn thuần như đất rẻ, lao động rẻ, thuế thấp, dịch vụ thấp không còn là sự hấp dẫn đổi với nhà đầu tư, họ đòi hỏi những yêu cầu cao hơn, ví dụ như lao động không phải là

"rẻ" mà phải có tay nghề cao, năng động; phải có khả năng tiếp cận công nghệ mới về thông tin; quản lý nhà nước phải linh hoạt tương thích với kinh doanh và đời sống Những vùng này sẽ chịu nhiều

1 G S.TS Trần Văn Thọ, Công nghiệp hóa V iệt Nam thời đại châu Á - Thái Bình Dương, năm 1997.

Trang 19

234 HƯỚNG TỚI MỘT NỀN KINH TẾ PHÁT TRIỂN

thiệt thòi trong xu thế hội nhập, đối đầu với nhiều vấn đề môi trường

do thiên nhiên gây ra Các vấn đề đó đòi hỏi ngay từ bây giờ phải giải quyết hàng loạt các vấn đề hết sức cơ bản như xây dựng mạng kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực, khoa học - công nghệ và xây dựng một đội ngũ lãnh đạo kinh tế địa phương đủ năng lực cho yêu cầu phát triển mới

ích các nước trong khu vực mà còn có liên quan, ảnh hưởng đến nhiều nước khác trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương và thế giới, nhất là các nước lớn như: Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản

đã tác động đến hòa bình ổn định và quan hệ hợp tác quốc tế trong khu vực Mọi chủ trương chính sách đối với Biển Đông của các nước lớn trên thế giới và các nước trong khu vực đều ít nhiều tác động đến sự phát triển bền vững của các vùng ven biển Vùng ven biển miền Trung và phía Nam là những nơi phải đối đầu với những thiên tai như lụt, bão, nước dâng luôn xảy ra nên trong chiến lược phát triển các vùng này, ngoài những định hướng phát triển trọng điểm cần phải có những định hướng và biện pháp chiến lược giải quyết các vấn đề môi trường Mặt khác, trong định hướng chiến lược các vùng ven biển, ngoài phát triển kinh tế, cần phải chú ý đến cả vấn đề kết hợp quốc phòng an ninh, ổn định chính trị xã hội

¥.5ễ Đảm bảo các vẩn đề về môi trường sinh thải

Đối với vùng, vấn đề về môi trường cần giải quyết nằm ở các phát sinh do thiếu sự phối hợp và cân nhắc trên cơ sở các hoạt động chung Đó là việc bảo vệ vùng sinh thái tự nhiên lớn có ảnh hưởng đến toàn bộ các hoạt động kinh tế của vùng Sự phối hợp giữa các địa phương trong vấn đề môi trường vùng sẽ đảm bảo cho quá trình thực hiện các chương trình bảo vệ môi trường trên quy mô vùng có hiệu quả Hiện nay ở Việt Nam, một thực tế đang diễn ra là các địa phương trong cùng một vùng có các điều kiện sinh thái tự nhiên nhưng cách thức quản lý đối với các vùng lãnh thô đó có sự khác

Trang 20

Một số vấn đề về phát triển bển vững các vùng 235

biệt, các hoạt động chức năng có tác động đến môi trường liên tỉnh (vùng) thiếu sự gán kết, điều này có thể dẫn đến các mâu thuẫn trong phát triển: Có địa phương ở đầu nguồn các lưu vực sông thì tập trung khai thác thủy điện trong khi các địa phương ở cuối nguồn chịu tác động của việc thay đổi lưu lượng và dòng chảy dẫn đến các hậu quả khó lường về sản xuất đặc biệt là sản xuất nông nghiệp hay việc hình thành các vùng khai thác đá của một địa phương lại liền kề với vùng cảnh quan du lịch của một địa phương khác ế

Các vấn đề nổi cộm trong bảo vệ môi trường sinh thái vùng ở Việt Nam hiện nay là:

- Khai thác nguồn nước và bảo vệ chống ô nhiễm lưu vực sông, đặc biệt là phối hợp khai thác các lưu vực sông qua các địa phương trong vùng

- Xử lý chất thải nguy hại ở quy mô vùng cần được đầu tư đồng

bộ theo công nghệ tiên tiến

- Các chính sách khuyến khích các loại hình sàn xuất sản phẩm tái chế phù hợp với điều kiện đặc thù của vùng, sử dụng năng lượng sinh học, sử dụng công nghệ thân thiện với môi trường

- Các hoạt động có tính chất đối nghịch chức năng được phân bố theo các địa phương cần được đánh giá trên phương diện toàn vùng, lấy cân bằng sinh thái tổng thể vùng là nhiệm vụ ưu tiên từ đó sắp xếp bố trí các hoạt động kinh tế vùng, địa phương

4.4 Giữ gìn bản sắc văn hóa cộng đòng

Có thể xem bản sắc không chỉ đon thuần là các biểu hiện bên ngoài mà chính là các đặc điểm không thể thay thế, khác biệt ẩn chứa cả ở bên trong của cộng đồng dân cư trong khu vực đó Bản sắc văn hóa cộng đồng khi đã mất đi thì khó có thể tìm lại và chính

là một dạng tài nguyên vô hình mà mỗi vùng lãnh thổ trong quá trình tương tác với các dòng văn hóa bên ngoài cần duy trì

Trang 21

236 HƯỚNG TỚI MỘT NÉN KINH TẾ PHÁT TRIỂN

Tuy vậy, vấn đề bản sắc văn hóa cộng đồng trong điều kiện hội nhập kinh tế trước hết phải được định hình trong ý thức của mỗi người dân trong cộng đồng đó nhưng đôi khi điều này làm mất đi tính năng động và khả năng thích ứng của mỗi cá nhân với các môi trường và hoàn cảnh mới Đây chính là mâu thuẫn và vấn đề cần giải quyết về vấn đề bản sắc cho mỗi vùng Làm sao để cộng đồng

đó vẫn tiếp thu được các dòng văn hóa mới mà vẫn duy trì được ý thức về bản sắc của cộng đồng mình?

Vai trò của nhà nước là phải hình thành được các chính sách để tạo lập các khung khổ phát triển mà trong đó các yếu tố về văn hóa

và bản sắc luôn được xem xét như là một điều kiện để cân nhắc cho các hướng đi phát triển Các đánh đổi và mất mát về bản sắc văn hóa sẽ khó có thể đo đếm và bù đắp bàng kinh tế Một vùng phát triển bền vững cần đảm bảo giữ gìn được bản sắc văn hóa và đảm bảo các giá trị này được trường tồn trong tương lai

5 Một số giải pháp để thực hiện phát triển bền vững kỉnh tế vùng ử Việt Nam

5.7 Giải pháp nhằm năng cao năng lực cạnh tranh cấp vùng

- Phát triển các cụm liên kết ngành (cluster)

Để các cụm liên kết ngành thực sự phát triển thì trước tiên nó phải có hiệu quả cao hon với các loại hình sản xuất hàng hóa thông thường không tham gia vào chuỗi liên kết Do vậy, các chính sách phát triển các cụm liên kết sẽ tập trung vào các khâu ban đầu:

+ Trung tâm tư vấn dự án cụm liên kết ngành

+ Xúc tiến tìm hiểu nhu càu và khả năng các bên tham gia

+ Xúc tiến tìm hiểu thị trường

+ Các điều kiện ban đầu để có thể tham gia vào chuỗi giá trị

+ Các quy định về sản phẩm đầu vào và sản phẩm đầu ra

Trang 22

Cách tiếp cận mới

Trọng tâm chtrơng trinh

n h ỏ hơn v ớ i d oan h n g h iệp lớn hom, n ế u n h ư k h ô n g c ó sự phân

án nghiên cứu trong lĩnh vực riêng lẻ

Tài chính cho các nghiên

cứ u c ó tổ n g hợp liên kết

m ạng trong đó các ngành sản x u ầ được liên kết với

B a o g ồ m c ả cá c c ô n g ty lớn và

c á c c ô n g ty n h ỏ (g ồ m c à th oái lui v à k h ớ i n g h iệp )

- M ụ c tiêu tăn g trư ớng q u ố c g ia

- H ỗ trợ v iệ c làm tron g q u á Ưình

ch u y ể n đ ổ i c ô n g n g h iệp

- G iú p cá c d oan h n g h iệ p nhò

v u ợ t qua trở ngại và tiếp thu

k h oa h ọ c c ô n g rvghệ

- T ạo ra lợi thế cạnh tranh đ ể thu hút đầu tư tron g n ư ớ c v à tạo

th ư ơ n g h iệu c h o xuất khẩu

Nguồn: O ECD Policy B rief 05/2007, Competitive Regional Cluster: National Policy Approaches.

Trang 23

238 HƯỚNG TỚI MỘT NỀN KINH TẾ PHÁT TRIỂN

- Hình thành hệ thống đổi mới vùng (regional innovation)

Hệ thống đổi mới vùng có vai trò rất quan trọng để duy trì các hoạt động kinh tế của vùng liên tục trên cơ sở hình thành các trung tâm hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tiếp nhận các công nghệ đổi mới và hỗ trợ quá trình đào thải các công nghệ lạc hậu Một số nghiên cứu ở các nước cho thấy, để các vùng duy trì được lợi thế cạnh tranh và nâng cao năng suất chất lượng các sản phẩm của vùng thì cần phải hình thành:

+ Trung tâm nghiên cứu chuyển giao khoa học công nghệ cấp vùng dựa trên các thế mạnh của vùng

+ Trung tâm hỗ trợ công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa

+ Vườn ươm doanh nghiệp

+ Trung tâm thông tin thị trường cấp vùng

+ Hiệp hội ngành nghề cấp vùng

Để trung tâm đổi mới vùng hình thành được thì phải xây dựng các trung tâm trên cơ sờ tài chính phải được lấy từ ngay các hoạt động kinh tế vùng, coi đây là một hệ thống dịch vụ của vùng

Nhà nước sẽ hỗ trợ cho các doanh nghiệp và hiệp hội trong giai đoạn đầu để hình thành các hoạt động Các chính sách cần đặc biệt thông thoáng và ưu đãi để sớm hình thành các trung tâm đổi mới vùng

5.2 Giải pháp năng cao năng lực hội nhập và tạo lập môi trường cạnh tranh

"Mở cửa" để các vùng nhanh chóng hội nhập thích ứng với cả tác động tích cực và tiêu cực từ quá trình này Nắm bắt các cơ hội phát triển trong điều kiện mà mọi hoạt động phải dựa trên các lợi thế và đảm bảo tính cạnh tranh Muốn đủ năng lực để hội nhập thì phải bắt đầu từ các chính sách đảm bảo cho các đối tượng tham gia hội nhập không cảm thấy choáng ngợp trong một sân chơi mới, chủ động

Trang 24

Một số vấn để vể phát triển bền vững các vùng 239

điều tiết và nắm rõ luật chơi Đối với mỗi vùng cần tạo lập một môi trường chính sách đảm bảo để các hoạt động được cạnh tranh bình đẳng, minh bạch Chủ thể của các hoạt động hội nhập về kinh tế là cộng đồng doanh nghiệp của vùng, do vậy phải hình thành các hiệp hội doanh nghiệp của vùng có tiếng nói chung, đề ra các luật chơi phù hợp với khuôn khổ luật pháp quốc tế, giảm bớt các mâu thuẫn

và khác biệt về cách hiểu giữa cộng đồng doanh nghiệp vùng với các quy định của luật pháp quốc tế

5.3 Giải pháp về cơ chế tài chỉnh (financing mechanism)

Hình thành các cơ chế tài chính trên cơ sờ tham gia của các địa phương và một phần hỗ trợ từ trung ương, thành lập quỹ phát triển vùng để tập trung cho các công trình hạ tầng liên kết vùng, cải thiện các hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa, hỗ trợ các hoạt động đổi mới, hạ tầng cho hệ thống đổi mới vùng

Xây dựng các hoạt động trên nền tảng của cơ chế tài chính minh bạch, bền vững có sự tham gia của cộng đồng ở tất cả các khâu Các nguồn lực về tài chính để duy trì các hoạt động ở cấp vùng được huy động trên cơ sở chia sẻ trách nhiệm của các địa phương và lợi ích chung

5.4 Giải pháp hình thành thể chể phát triển vùng và điều chỉnh các mối quan hệ phân cấp Trung ương - Địa phương đảm bảo vai trò ở cẩp vùng

Trên hết các giải pháp trên chỉ có thể được triển khai một cách hiệu quả khi thể chế phát triển ở các vùng được hình thành đù mạnh

để điều tiết các hoạt động của địa phương và chuyền tải được các can thiệp của trung ương trên cơ sờ các chính sách mềm theo vùng

Hệ thống phân cấp cần tăng cường mạnh hơn nữa vai ưò của vùng Lồng ghép các nội dung phát triển vùng vào các kế hoạch phát triển cùa quốc gia Xây dựng bộ máy và tài chính cho các hoạt động thực thi các chính sách ở cấp vùng Có chính sách để các địa phương

Trang 25

240 HƯỚNG TỚI MỘT NÉN KINH TẾ PHÁT TRlỂhL

tham gia tích cực và bắt buộc vào các hoạt động điều phối pháttriển chung của vùng trên cơ sở hài hòa lợi ích và đặt lợi ích chungcủa cả quốc gia lên hàng đầu

Tài liệu tham khảo

Tiếng Việt

1 Bùi Tất Thắng (chủ biên), Phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế

Việt Nam (thời kỳ 2011-2020), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010.

2ằ Nguyễn Trọng Xuân (chủ biên), Phát triển kinh tế vùng của Việt Nam,

Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2013

3 Lê Thu Hoa, Kinh tế vùng ở Việt Nam từ lý luận đến thực tiễn,

Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007

4 Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Thực hiện

phát triển bền vững ở Việt Nam, Báo cáo quốc gia tại Hội nghị

cấp cao của Liên hợp quốc về Phát triển bền vững (RIO+20), Hà Nội tháng 5/2012

Tiếng Anh

5 OECD Policy Brief 05/2007, Competitive Regional Cluster: National

Policy Approaches.

6 SM-CO, Extractive Industries & Sustainable Regional Development,

report Western Australian Regional Development Council, June 2010

Trang 26

m ộ t s ố g iả i p h á p p h á t t r iể n b ể n v ữ n gKINH TẾ BIỂN CỦA VIỆT NAM TRONG

BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Ths Nguyễn Thị Thu Lan

Thế kỷ XXI được coi là "Thế kỷ của biển và đại dương", khai thác biển đã trờ thành vấn đề quan trọng mang tính chiến lược của hầu hết các quốc gia trên thế giới, kể cả các quốc gia có biển và các quốc gia không có biển Trong điều kiện các nguồn tài nguyên trên đất liền đang ngày càng cạn kiệt, dân số thế giới ngày càng tăng làm cho các nước ngày càng quan tâm đến biển, nghĩ đến các phương

án biến biển và hải đảo thành không gian kinh tế mới Biển và hải đảo ngày càng trở thành một nguồn lực quan trọng, là nơi đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng về nguyên, nhiên liệu, năng lượng, thực phẩm và không gian sinh tồn trong tương lai, đồng thời có ý nghĩa quan trọng về an ninh, quốc phòng

Việt Nam nằm bên bờ Tây của Biển Đông, một biển lớn, quan trọng của khu vực và thế giới Bờ biển Việt Nam dài 3.260km, vùng biển chủ quyền rộng khoảng 1 triệu kilômét vuông, tính trung bình lOOkm2 đất liền có lkm bờ biển, cao gấp 6 lần tỷ lệ này của thế giới, với hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ Cả nước có 28 tinh, thành phố trực thuộc trung ương tiếp giáp biển với tổng diện tích 136.830km2, dân số gần 46 triệu người, chiếm 41,3% diện tích tự nhiên và hơn 51% dân số cả nước Vùng biển, ven biển và hải đảo Việt Nam có vị trí địa kinh tể, địa chính trị đặc biệt quan trọng

* V iện C h iế n lư ợ c p h á t triển

Trang 27

242 HƯỚNG TỚI MỘT NÉN KINH TẾ PHÁT TRIỂN

đồng thời chứa đựng nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng, trong

đó có những loại nổi trội như: dầu khí, hải sản, cảng biển, du lịch biển - đảo Do vậy, phát triển bền vững kinh tế biển có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước và bảo vệ an ninh chủ quyền quốc gia, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc tế

1 Chính sách phát triển kinh tế biển Việt Nam

Kể từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới đến nay, kinh tế biển Việt Nam ngày càng có nhiều đóng góp cho nền kinh tế quốc dân; vai trò của biển và kinh tế biển ngày càng được coi trọng Qua các văn kiện đại hội Đảng và các chính sách pháp luật của Nhà nước có thể thấy rõ, chúng ta đã có những thay đổi lớn trong nhận thức về vị trí, vai trò của biển và chủ trương, chính sách phát triển kinh tế biển.Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986)

về phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam 5 năm 1986-1990 đã khẳng định vai trò của kinh tế biển; nhận diện rõ những thuận lợi và khó khăn, hạn chế trong khai thác tiềm năng, lợi thế của biển để phát triển đất nước Các văn kiện Đại hội Đảng lần thứ v n (6/1991) và lần thứ VIII (7/1996) đều nhấn mạnh hơn về vai trò, tiềm năng của biển, đồng thời đặt ra các mục tiêu, phương hướng và nhiệm vụ cụ thể để phát triển kinh tế biển

Tại Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 06/5/1993 của Bộ Chính trị

về một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chính thức đặt vấn đề phát triển kinh tế biển, đảo thành nhiệm vụ trọng tâm trong Chiến lược phát

triển kinh tế - xã hội đất nước, đồng thời đặt mục tiêu "Xây dựng

quốc gia Việt Nam trở thành một nước mạnh về biển và kinh tế biển" Tiếp đó, ngày 22/9/1997, Bộ Chính trị ban hành Chi thị số

20-CT/TW về phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong đó nhấn manh: "Vùng biển, hải đảo và ven biển nước ta là địa bàn chiến lược quan trọng về kinh tế, an ninh - quốc phòng và môi trường sống; có nhiều lợi thế phát triển và là cửa ngõ

Trang 28

Một số giải pháp phát triển bển vững kinh tế biển 243

lớn của cả nước để đẩy manh giao lưu quốc tế, thu hút đầu tư bên ngoài ", đồng thời giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành và địa phương liên quan để thực hiện Nghị quyết 03-NQ/TW của Bộ Chính trị.Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII (7/1996) một lần nữa khẳng định kinh tế biển và vùng ven biển có vai trò quan trọng và là "cửa ngõ" để đẩy mạnh giao lưu quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài, hướng tới hình thành một số ngành mũi nhọn có công nghệ tiên tiến, hiện đại, có giá trị xuất khẩu lớn, tạo nguồn tích luỹ cao và ổn định cho nền kinh tế quốc dân

Bước sang thế kỷ XXI, kể từ năm 2000 đến nay, qua các văn kiện Đại hội IX, X, XI của Đảng, Việt Nam đã từng bước định hình

và hoàn thiện Chiến lược phát triển kinh tể biển và nâng cao vai trò quan trọng của kinh tế biển trong nền kinh tế quốc dân Tại Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX (4/2001), Đảng đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tể - xã hội đất nước giai đoạn 2001-2010, trong đó đưa ra phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế biển nước

ta là: "Phát triển ngành thủy sản thành một ngành kinh tế mũi nhọn, vươn lên hàng đầu trong khu vực; đẩy mạnh thăm dò, khai thác và chế biến dầu khí; phát triển đóng tàu và vận tải biển; phát triển tổng hợp kinh tế biển và ven biển, khai thác lợi thể của các khu vực cửa biển, hải cảng để tạo thành vùng phát triển cao thúc đẩy các vùng khác; chú trọng gắn phát triển kinh tế biển, đảo với bảo vệ môi trường, hướng tới phát triển bền vững"

Đến Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X (4/2006), vấn

đề phát triển kinh tế biển càng được coi trọng hơn; các mục tiêu, phương hướng phát triển kinh tế biển cũng được thể hiện rõ hơn

Cụ thể là: (i) Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm; sớm đưa Việt Nam trở thành quốc gia manh về kinh tế biển trong khu vực, gắn với bảo đảm quốc phòng - an ninh và hợp tác quốc tế (ii) Hoàn chỉnh quy hoạch

và phát triển có hiệu quả hệ thống cảng biển và vận tải biên, khai thác và chế biến dầu khí, khai thác và chế biến hải sản, phát triển

Trang 29

244 HƯỚNG TỚI MỘT NẾN KINH TẾ PHÂT TRIỂN

du lịch biển, đảo; đẩy mạnh phát triển công nghiệp đóng tàu và các ngành công nghiệp, dịch vụ bổ trợ (iii) Phát triển mạnh, đi trước một bước một số vùng kinh tế ven biển và hải đảo Hình thành một số

hành lang kinh tế ven biển, (iv) Nhanh chóng phát triển kinh tế - xã hội ở các hải đảo gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh Tiếp đó, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI (01/2011)

về Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước giai đoạn 2011-

2020 một lần nữa khẳng định cần phát triển mạnh kinh tế biển tương xứng với vị thế và tiềm năng biển của Việt Nam, gắn phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh

Đặc biệt, tại Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X, Đảng đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TW về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 Đây là lần đầu tiên Việt Nam có được một chiến lược tổng thể, dài hạn về phát triển kinh tế biển, trong đó xác định mục tiêu "Đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành, quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu, mạnh" Đồng thời trong chiến lược cũng nêu rõ các ngành, lĩnh vực ưu tiên trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 để phát triển thành công, có bước đột phá về kinh tể biển, ven biển, đó là: (1) Khai thác, chế biển dầu khí; (2) Kinh tế hàng hải; (3) Khai thác và chế biến hải sản; (4) Du lịch biển và kinh

tế hải đảo; (5) Xây dựng các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với phát triển các khu đô thị ven biển

Cùng với các văn kiện của Đảng, thời gian qua Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật liên quan, trong đó có một số

bộ luật quan trọng như: Luật Dầu khí, Luật Thủy sản, Luật Hàng hải, Luật Du lịch, Luật Đất đai, Luật Khoáng sản, Luật Bảo vệ môi trường Đặc biệt, ngày 21/6/2012, Quốc hội đã thông qua Luật Biển Việt Nam (Luật số 18/2012/QH13) gồm 7 chương, 55 điều,

Trang 30

Một số giải pháp phát triển bền vững kinh tế biển 245

trong đó có 01 chương riêng (Chương IV) với 5 điều về phát triển kinh tế biển Ngoài ra, để cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế biển và tăng cường công tác quản lý trong các lĩnh vực liên quan, ngày 30/5/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 27/2007/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa X) về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 Đồng thời các bộ, ngành và địa phương liên quan cũng ban hành chương trình hành động của bộ, ngành và địa phương mình để thực hiện chiến lược biển và thực thi các nhiệm vụ được nêu trong Nghị quyết 27/2007/NQ-CP của Chính phủ Nhiều chiến lược, quy hoạch phát triển các ngành kinh tế biển và quy hoạch phát triển các vùng biển, đảo cũng được xây dựng và đang triển khai thực hiện Có thể nói, đến nay, Việt Nam đã có một hệ thống các chính sách, pháp luật quan trọng, tạo hành lang pháp lý cần thiết để phát triển bền vững kinh tế biển và bảo vệ vững chắc an ninh chủ quyền các vùng biển, đảo của Tổ quốc

Như vậy, cùng với quá trình đổi mới đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng, Chính phủ và Nhà nước Việt Nam

đã có những bước chuyển biến quan trọng về tầm nhìn và tư duy chiến lược trong phát triển kinh tế biển Vai trò của biển và kinh tế biển ngày càng được đề cao Việt Nam cũng đã xác định được những nhóm ngành kinh tể biển mũi nhọn để đầu tư có trọng tâm, trọng điểm và ngày càng quan tâm gắn phát triển kinh tế biển, đảo với đảm bảo quốc phòng, an ninh

2 Hiện trạng phát triển các ngành kỉnh tế biển

Sau gần 30 năm đổi mới, cùng với sự phát triển chung của cả nước kinh tế biển Việt Nam đã có bước chuyển biến đáng kể với tốc độ tăng trưởng cao, quy mô kinh tế ngày càng lớn Tính đến năm

2012, kinh tế biển và vùng ven biển của Việt Nam (tính theo GDP) đạt 1.207,6 nghìn tỷ đồng (giá so sánh năm 2010), chiếm 50%

Trang 31

246 HƯỚNG TỚI MỘT NÉN KINH TẾ PHÁT TRIỂN

tổng GDP của cả nước, trong đó GDP từ các ngành kinh tế biển đạt452,8 nghìn tỷ đồng (chiếm 18,8%) và GDP từ kinh tế vùng ven biển đạt 754,8 nghìn tỷ đồng (chiếm 31,8%) Trong số 18,8% GDP

cả nước do các ngành kinh tế biển tạo ra, đóng góp lớn nhất là ngành khai thác dầu khí (chiếm 8,2%), tiếp đến là hải sản (4,3%),

du lịch biển (3,1%) và hàng hải (2,4%) Còn các ngành khác chiếm

tỷ lệ không đáng kể như kinh tế đào: 0,4%; thông tin liên lạc biển: 0,2%; dịch vụ tìm kiếm cứu nạn: 0,1%; diêm nghiệp: 0,04%; cung cấp dịch vụ biển: 0,02%; và nghiên cứu biển: 0,01%

Cơ cấu các ngành nghề kinh tế biển cũng chuyển dịch tích cực theo hướng phục vụ xuất khẩu đem về một lượng ngoại tệ lớn cho

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tại các vùng ven biển và hải đảo đã hình thành một số khu kinh tế và trung tâm kinh tế phát triển để hướng mạnh ra biển và thúc đẩy các khu vực phía trong Các ngành kinh tế biển chủ yếu như dầu khí, hải sản, vận tải biển và du lịch biển, đảo đều tăng nhanh, đã và đang hình thành một số ngành mũi nhọn làm thay đổi đáng kể cơ cấu kinh tế biển và ven biển

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc phát triển kinh tế biển Việt Nam thời gian qua cũng còn không ít bất cập và những khó khăn, hạn chế như: tăng trưởng của các ngành kinh tế biển chưa thật ổn định, một số ngành có xu hướng giảm; phần lớn các ngành mới chỉ dừng lại ở khai thác tài nguyên thô dựa trên trình độ kỹ thuật, công nghệ thấp nên kém hiệu quả và tác động xấu đến tài nguyên, môi trường biển; hệ thống kết cấu hạ tầng ven biển chưa đồng bộ, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu phát triển nhanh và thu hút đầu tư bên ngoài; hệ thống cảng biển manh mún và phân bố chưa hợp lý; đời sổng dân cư ven biển, nhất là ở các khu vục bãi ngang và trên các đảo còn nhiều khó khăn; nguồn nhân lục được đào tạo cho phát triển kinh tế biển còn thiếu nhiều, nhất là lao động chất lượng cao; chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành kinh tế biển và ven biển trên từng vùng, từng khu vực nên chưa phát huy

Trang 32

Một số giải pháp phát triển bền vũng kinh tế biển 247

hiệu quả các tiềm năng, lợi thế của biển, vùng ven biển và hải đảo ể Những điều này thể hiện tính chưa bền vững trong phát triển các ngành kinh tế biển Phát triển kinh tế biển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của biển và yêu cầu đặt ra đó là "Phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển"

Thực trạng phát triển một số ngành kinh tế biển chủ yếu như sau:

2.1 Ngành dầu k h ỉ

* về thăm dò, khai thác: Năm 1986, Việt Nam bắt đầu tổ chức

khai thác dầu khí trên quy mô công nghiệp tại mỏ Bạch Hổ đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của ngành dầu khí, chuyển từ giai đoạn chỉ có các hoạt động tìm kiếm, thăm dò sang giai đoạn tìm kiểm, thăm dò và khai thác dầu thô Có thể nói, thời gian qua, ngành dầu khí Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc, chỉ sau hom 20 năm

đã vươn lên đứng hàng thứ 2 trong khu vực về khai thác dầu khí (sau Indonesia)

Tính đến nay có 98 hợp đồng dầu khí đã được ký kết, trong đó

61 hợp đồng dầu khí đang có hiệu lực (trên tổng sổ 160 lô trong toàn thềm lục địa Việt Nam) Trong 10 năm trờ lại đây, bình quân mỗi năm Việt Nam khai thác hơn 16 triệu tấn dầu thô (cao nhất là năm 2005 đạt 18,5 triệu tấn) và khoảng hom 8 tỷ mét khối khí tự nhiên Riêng năm 2013, sản lượng dầu thô khai thác đạt 16,7 triệu tấn, sản lượng khí thiên nhiên đạt 9,8 tỷ mét khối, sản lượng dầu thô xuất khẩu là 8,4 triệu tấn, đạt giá trị 7,2 tỷ USD Nhìn chung, giai đoạn 1990-2005, ngành dầu khí Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng khá nhanh cả về sản lượng dầu thô khai thác (13,7%/năm)

và xuất khẩu (13,7%/năm) Sang giai đoạn 2005-2013, tuy sản

dầu trên thế giới tăng cao nên giá trị khai thác vẫn tăng nhanh, đạt bình quân 16,2%/năm

Trang 33

248 HƯỚNG TỚI MỘT NẾN KINH TẾ PHÁT TRIỂN

* về công nghiệp chế biến dầu khí: Đến nay, V i ệ t Nam đà hoàn thành và đưa vào vận hành nhà máy lọc dầu đầu tiên ở Dung Quất quy mô 6,5 triệu tấn/năm (tháng 2/2009 vận hành thử, ngày 30/5/2010 vận hành thương mại) và nhà máy sản xuất Polypropylene Dung Quất (vận hành tháng 7/2010); đã hoàn thành 02 nhà máy sản xuất phân đạm từ khí (Phú Mỹ và Cà Mau) với tổng công suất 1,5 triệu tấn/năm, hằng năm đáp ứng được 75% nhu cầu phân urê trong nước; đang triển khai xây dựng 02 tổ hợp lọc hóa dầu lớn với quy

mô 10 triệu tấn/năm ở Nghi Sơn (Thanh Hóa) và Long Sơn (Bà Rịa - Vũng Tàu), nhà máy lọc dầu với quy mô 8 triệu tấn/năm ở Vũng Rô (Phú Yên), đồng thời tìm kiếm đối tác để mở rộng nhà máy lọc dầu Dung Quất lên 10 triệu tấn/năm, đưa tổng công suất lọc hóa dầu cả nước lên 30 triệu tấn/năm trong thời gian tới nhàm đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu Ngoài ra, Việt Nam cũng triển khai đầu tư xây dựng một số dự án hóa dầu khác như nhà máy xơ sợi Đình Vũ (Hải Phòng) và 03 nhà máy nhiên liệu sinh học tại 3 khu vực Bắc, Trung, Nam theo đề án phát triển nhiên liệu sinh học

Có thể nói, ngành dầu khí Việt Nam còn khá non trẻ, tuy mới hoạt động được gần 30 năm (từ năm 1986) nhưng đà phát triển rất nhanh và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có đóng góp nhiều nhất trong số các ngành kinh tế biển vào nền kinh tế cả nước Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau như: sự suy giảm trữ lượng dầu thô ở thềm lục địa; khả năng tăng công suất các mỏ đang khai thác gặp khó khăn vì các mỏ có cấu tạo tương đổi phức tạp (về địa chất, địa tầng, tình trạng các tầng sản phẩm ), đồng thời phải đảm bảo sơ đồ công nghệ khai thác ở các mỏ; một phần do biến đổi khí hậu và những ảnh hưởng của tình hình an ninh chính trị trên Biển Đông , đã tác động không nhỏ đến sự phát triển của ngành dầu khí nước ta, sản lượng khai thác dầu thô trong 5 năm qua

có xu hướng giảm và có thể sẽ tiếp tục bị suy giảm trong những năm tới

Trang 34

Một số giải pháp phát triển bền vữrig kỉnh tế biển 249

2.2 Ngành hải sản

* về khai thác hải sản: Theo số liệu thống kê giai đoạn

2001-2012, số tàu thuyền máy khai thác hải sản của Việt Nam tăng khá nhanh, từ 74.495 chiếc năm 2000 lên 126.458 chiếc năm 2012, tốc độ tăng bình quân 6,2%/năm Tổng công suất máy cũng tăng từ 3,5 triệu c v năm 2000 lên 6,24 triệu c v năm 2012, tăng bình quân 7,1%/năm, trong đó tổng công suất của đội tàu đánh bắt xa bờ tăng

từ 1,3 triệu c v lên gần 6 triệu c v , tăng bình quân gần 13%/năm; nâng công suất bình quân của đội tàu cá từ 47CV/chiếc lên trên

51 CV/chiếc Do năng lực tàu thuyền tăng nhanh nên sản lượng khai thác hải sản cũng liên tục tăng trong những năm qua Năm

2000, sản lượng khai thác hải sản cả nước (kể cả cá biển và các loại hải sản khác) mới đạt khoảng 1,3 triệu tấn, đến năm 2010 tăng lên 2,4 triệu tấn và năm 2013 đạt 2,8 triệu tấn, cao gấp hơn

2 lần sản lượng năm 2000; giá trị khai thác cũng tăng nhanh từ58,8 nghìn tỷ đồng (giá hiện hành) năm 2010 lên 96,7 nghìn tỷ đồng năm 2013

Tuy nhiên, nghề khai thác hải sản cùa Việt Nam cũng đang đứng trước không ít khó khăn Đó là: những hạn chế, bất cập trong quản

lý khai thác; những khó khăn về tài chính để đóng tàu lớn khai thác

xa bờ; đội tàu cá Việt Nam được đầu tư theo phong trào, thiếu quy hoạch, chủ yếu tập trung tăng sổ lượng và công suất máy đẩy nên sau thời gian dài tập trung khai thác, nguồn lợi hải sản đã có những biến động đáng kể về mật độ, chủng loại, kích thước Đặc biệt vùng biển ven bờ hàng năm tập trung hơn 80% tổng sổ phương tiện của cả nước (riêng 3 ngư trường trọng điểm là Hải Phòng - Quảng Ninh Ninh Thuận - Bình Thuận và Cà Mau - Kiên Giang tập trung trên 50% số phương tiện), sản lượng khai thác chiếm tới 50-60% tổng sản lượng hải sản cả nước dẫn đến tình trạng khai thác quá mức nguồn lợi ở nhiều khu vực bị giảm sút nghiêm trọng cả về số

2001 đến năm 2011, năng suất khai thác theo tàu thuyền giảm từ

Trang 35

250 HƯỚNG TỚI MỘT NÊN KINH TẾ PHÁT TRIỂN

20,6 tấn/chiếc xuống còn 18,8 tấn/chiếc và năng suất theo công suất tàu giảm từ 0,44 tấ n /c v xuống còn 0,37 tấn /cv , trung bình giảm 3%/năm Cùng với sự suy giảm về năng suất, nguồn lợi hải sản cũng bị giảm mạnh về chủng loại, mật độ và kích cỡ nhiều loài ngày càng trở nên quý hiếm và có nguy cơ tuyệt chủng

* về nuôi trồng hải sản: Nghề nuôi trồng ờ biển và ven biển

Việt Nam những năm qua phát triển đáng kể; diện tích nuôi trồng liên tục tăng lên Năm 2012, diện tích nuôi trồng thủy sản nước lợ

và nước mặn cả nước đạt 750.000ha, trong đó diện tích nuôi tôm

sú đạt 658.000ha, diện tích nuôi tôm chân trắng đạt 38.000ha Sản lượng nuôi trồng mặn, lợ năm 1990 mới đạt 162 nghìn tấn, đến năm 2000 đạt 590 nghìn tấn và năm 2012 đạt hom 1 triệu tấn, trong đó, riêng sản lượng nuôi tôm đạt 490 nghìn tấn, chiếm 46,8%

và sản lượng nuôi cá biển đạt 86 nghìn tấn, chiếm 8,2% v ề giá trị, năm 2000 đạt 11,8 nghìn tỷ đồng, đến năm 2012 đạt gần 100 nghìn tỷ đồngể Các hình thức và chủng loại nuôi ngày càng đa dạng homế Phương thức nuôi cũng được cải tiến theo hướng từ nuôi quảng canh sang thâm canh và nuôi công nghiệp, vì vậy năng suất, sản lượng nuôi cũng như chất lượng các sản phẩm nuôi được nâng cao, cung cấp nguồn nguyên liệu quan trọng cho chế biến xuất khẩu Hiện nay, các sản phẩm thủy sản Việt Nam (cả khai thác

và nuôi trồng) đã được xuất khẩu sang nhiều nước trên thể giới; năm 2013 giá trị xuất khẩu hàng thủy sản đạt hơn 6,7 tỷ USD

Mặc dù vậy, nghề nuôi trồng thủy sản trên biển ở Việt Nam hiện nay mới tập trung vào một số doanh nghiệp, xí nghiệp liên doanh

và các hộ có vốn lớn sản xuất mang tính tự phát; còn đại bộ phận người dân ven biển do thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm và sự hiểu biết

về kỹ thuật nuôi và các nguyên nhân khác nên tham gia vào nuôi trồng hải sản trên biển không nhiều Việc sử dụng diện tích mặt nước biển để nuôi trồng hải sản chưa đáng kể, các giống loài thủy sản nuôi có năng suất, chất lượng và giá trị cao đưa vào sản xuất còn ít; cơ sở hạ tầng phục vụ nuôi biển hầu như chưa có gì đáng kể

Trang 36

Một số giải pháp phát triển bền vững kinh tế biển 251

là những hạn chế lớn trong việc phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển và hải đảo nước ta

2.3 Ngành hàng hải

* về cảng biển: Cảng biển có vai trò hết sức quan trọng, là cửa

ngõ chủ yếu của đất nước để mờ ra Biển Đông giao thương với bên ngoài, thúc đẩy kinh tế phát triển Mặt khác, vùng ven biển Việt Nam có rất nhiều khu vực thuận lợi để xây dựng cảng nên hệ thống cảng biển phát triển khá nhanh Hiện nay, cả nước đã đầu tư xây dựng 54 cảng biển các loại, bao gồm gần 200 bển cảng, 350 cầu cảng với tổng chiều dài hơn 40km

Khối lượng hàng hóa thông qua các cảng biển tăng nhanh từ49,6 triệu tấn năm 1996 lên 83,3 triệu tấn năm 2000, 196,6 triệu tấn năm 2008 và 294 triệu tấn năm 2012 Hiện nay, hệ thống cảng biển Việt Nam đã có thể tiếp nhận các tàu tổng hợp, tàu chở container có trọng tải đến 80 nghìn DWT (đã tiếp nhận thành công hàng trăm chuyến tàu container trọng tải trên 100 nghìn DWT), tàu chở dầu thô đến 300 nghìn DWT, tàu chở các sản phẩm dầu từ 30-50 nghìn DWT và các tàu chở than, quặng đến 100 nghìn DWT đáp ứng kịp thời nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam (các cảng biển đã thông qua tới 90% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu

cả nước)

Nhìn chung, hệ thống cảng biển Việt Nam đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, phục vụ tích cực cho phát triển đất nước, tuy nhiên nhìn tổng thể vẫn còn nhiều bất cập So với các nước có biển thì số lượng cảng ở Việt Nam quá nhiều, mật độ cảng cao, nhưng phần lớn thuộc loại nhỏ, trang thiết

bị công nghệ bốc xếp lạc hậu và thiểu đồng bộ nên năng suất xếp

dỡ thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực; ngay cả những cảng chính năng suất bốc xếp cũng chỉ bằng 40-50% các cảng trong khu vực Mặt khác, sự thiếu kết nổi giữa kết cấu hạ tầng cảng biển với các lĩnh vực kết cấu hạ tầng công khá< , giữa các cảng biển với

Trang 37

252 HƯỚNG TỚI MỘT NỀN KINH TẾ PHÂT TRIỂN

hệ thống giao thông quốc gia (nhất là đường sẳt) và các hạ tầng kỳ thuật khác (điện, nước ); giữa cảng biển với hệ thống logistics; giữa phát triển cảng với bảo vệ môi trường, quy hoạch sử dụng đất

và phát triển đô thị, các khu công nghiệp , cùng với trình độ quản

lý, điều hành cảng lạc hậu là những hạn chế lớn của hệ thống cảng biển Việt Nam nên hiệu quả khai thác thấpẳ Xét về chi tiêu hàng hóa thông qua cảng trên đầu người của Việt Nam thì chỉ bằng 1/5 của Thái Lan, 1/7 của Malaysia và 1/140 của Singapore Đặc biệt, hiện nay Việt Nam vẫn còn thiếu cảng nước sâu cho tàu container

cỡ lớn theo tiêu chuẩn quốc tế cập cảng

* về vận tải biển: Thời gian qua, Việt Nam đã đẩy mạnh đầu

tư, nâng cấp kết cấu hạ tầng vận tải biển đồng bộ nhằm bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện các yêu cầu về cơ sở vật chất cảng theo quy định của các công ước quốc tế về biển, hàng hải mà Việt Nam là thành viên

Đến năm 2012, đội tàu vận tải biển Việt Nam gồm 1.755 tàu các loại, với tổng dung tích hơn 4,3 triệu GT và tổng trọng tải hơn 6,9 triệu DWT (tăng cả về dung tích và trọng tải so với cùng kỳ năm 2011) Hiện nay, nhiều hãng tàu đã mở các tuyến vận tải biển trực tiếp từ Việt Nam đến các nước trên thế giới, cả các nước châu

Âu, châu Mỹ, không phải trung chuyển tại các cảng khác như Hồng Kông, Singapore làm giảm đáng kể chi phí vận tải và tăng sức cạnh tranh của Việt Nam trên thị trường vận tải biển quốc tế

v ề khối lượng vận tải, năm 2012, khối lượng hàng hóa vận tải biển đạt 100,6 triệu tấn và khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 173,2 tỷ tấn.km, trong đó khói lượng hàng hóa vận tài nước ngoài là 69,73 triệu tấn (62,45%), khối lượng hàng hóa trong nước 30,8 triệu tấn (30,6%) Mặc dù vận tải biển là lực lượng chủ lực đảm nhận việc vận chuyển hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam và vận chuyển trên tuyến Bắc Nam nhưng những năm gần đây, do chịu ảnh hưởng mạnh của suy giảm kinh tê thê giới và khu vực nên ngành vận tải biển nước ta giảm mạnh Khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu do đội tàu Việt Nam đảm nhận

Trang 38

Một số giải pháp phát triển bền vững kinh tế biển 253

giảm từ 19-20%/năm trong giai đoạn 2002-2008 xuống 17% năm 2009

và chì cồn 4,41% năm 2012 Tỷ trọng hàng hóá vận tải biển trong tổng khối lượng hàng hỏa vận tải cả nước cũng giảm từ 19-20% giai đoạn 2002-2008 xuống còn 15-17% giai đoạn 2011-2012ỂNhìn chung, đội tàu vận tải biển của Việt Nam thời gian qua

đã có bước phát triển mạnh, đạt tốc độ tăng trường cao cả về số lượng và trọng tải Bình quân giai đoạn 2009-2012, tổng trọng tải đội tàu biển tăng 35,78%/năm Tuy nhiên, phần lớn các tàu biển của nước ta thuộc loại nhỏ và tàu cũ Mặc dù cơ cấu chủng loại tàu đà được cải thiện đáng kể nhưng vẫn chưa phù hợp với yêu cầu của thị trường Tuổi tàu bình quân của đội tàu cao, tính đến năm 2013, trọng tải các tàu trên 15 tuổi chiếm tới 39,4% tổng trọng tải đội tàu biển Việt Nam Tình trạng kỳ thuật và trang thiết bị trên tàu kém, thậm chí một số tàu không đáp ứng được yêu cầu về an toàn hàng hải theo các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia

Bên cạnh những hạn chế về đội tàu thì đội ngũ thuyền viên và quản lý tàu cũng đang là vấn đề làm đau đầu các hãng tàu Theo đánh giá của Cục Hàng hải Việt Nam, nước ta đang thiểu trầm trọng đội ngũ thuyền viên, đặc biệt là thuyền trưởng, máy trường Tính đến ngày 31/12/2012, đội ngũ sỹ quan thuyền viên được cấp chứng chỉ hành nghề trên biển là: 3.046 thuyền trưởng, 1.995 thuyền phó, 1.694 máy hai, 3.900 sỹ quan boong, 3.762 sỹ quan máy, 8.876 thủy thủ và 5.771 thợ máy Tuy mức lương trên tàu khá cao nhưng

do tính chất công việc phải thường xuyên xa nhà nên không nhiều người theo đuổiể Hiện nay, gần 10% số sỹ quan thuyền viên đã chuyển nghề, chi còn khoảng 20.000 người làm việc trên đội tàu trong nước hoặc lao động theo hợp đồng trên tàu nước ngoài Không những thiếu về số lượng, đội ngũ này còn yếu về chất lượng đặc biệt là tiếng Anh Tình trạng chuyển nghề, bỏ nghề đối với sỹ quan thuyền viên có năng lực, kinh nghiệm được đào tạo, huấn luyện bài bản là rất đáng lo ngạiễ Chính vì vậy, rất nhiều tàu của

Trang 39

254 HƯỚNG TỚI MỘT NÉN KINH TẾ PHẢT TRlỂNế.

Việt Nam đang phải thuê thuyền trường hoặc quản lý là người nước ngoài, và nhiều nơi còn cho nước ngoài thuê tàu

* về đóng mới và sửa chữa tàu biển: Thời gian qua ngành công

nghiệp đóng tàu nước ta có nhiều thăng trầm nhưng ngành đã cổ gắng khắc phục khó khăn để tái cơ cấu lại bộ máy tổ chức và cơ

sở hạ tầng nên đang dần khôi phục và phát triểnỂ Ngoài các cơ sở đóng tàu truyền thống ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Nha Trang, Hồ Chí M inh Việt Nam đang tiếp tục xây dựng nhiều nhà máy đóng tàu mới ở Thái Bình, Nam Định, Nghệ An, Quảng Ngãi và Vũng Tàu để nâng cao năng lực đóng mới và sửa chữa tàu biển Đến nay,

cả nước có 46 nhà máy đóng mới và sửa chữa tàu biển, hàng năm

có thể đóng mới 150 chiếc trọng tải từ 1-400 nghìn DWT, kể cả các tàu đòi hỏi những tính năng kỹ thuật cao và đã hạ thủy nhiều tàu lớn, hiện đại có thể hoạt động trên mọi đại dương, mọi thời tiết.Tuy nhiên, do các nhà máy đóng tàu được đầu tư dàn trải, trang thiết bị công nghệ sản xuất chưa đồng bộ, mức độ tự động hóa thấp; trình độ công nghệ sản xuất còn hạn chế, vẫn còn bộc lộ những sai phạm trong quản lý, điều hànhễ nên hiệu quả sản xuất chưa caoễ Các ngành công nghiệp phụ trợ cho đóng tàu như: luyện kim, sản xuất thép, chế tạo máy hầu như chưa có; toàn bộ các vật tư, thiết

bị chính cho đóng tàu đều phải nhập khẩu làm cho chi phí sản xuất cao, giảm tính chủ động và khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp tàu thủy Việt Nam

2.4 Ngành du lịch biểnkinh tế đảo

* Du lịch biển: Du lịch biển có tiềm năng rất lớn, với nhiều bãi

biển đẹp và các hệ sinh thái biển, đảo phong phú và đa dạng Tại vùng biển, ven biển và hải đảo tập trung tới 5/7 khu vực trọng điêm

ưu tiên phát triển du lịch của cả nước, 3/13 di sản thế giới và 6/8 khu dự trữ sinh quyển; 3/4 khu du lịch tổng hợp và 10/17 khu du lịch chuyên đề Hiện nay, các địa phương đã đầu tư khai thác hom

30 bãi biển vào phát triển du lịch, trong đó tập trung theo các tuyến:

Trang 40

Một sổ giải pháp phát triển bền vững kỉnh tế biển 255

Vịnh Hạ Long - Hải Phòng - Cát Bà, Huế - Đà Năng - Quảng Nam, Vân Phong - Đại Lãnh - Nha Trang, Vũng Tàu - Long Hải - Côn Đảo, Hà Tiên - Phú Quốc và Phan Thiết - Mũi Né - Phú Quý Hàng năm, du lịch biển, đảo thu hút tới 76,8% lượt khách quốc tế và gần 56,7% lượt khách du lịch nội địa, đóng góp hơn 60% trong tổng doanh thu của ngành du lịch cả nước; tốc độ tăng trường bình quân thời kỳ 2001-2010 đạt 16,0 %/năm về lượt khách du lịch quốc tế và 17,4 %/năm về lượt khách du lịch nội địa

Cùng với sự tăng nhanh về khách du lịch, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch cũng không ngừng tăng lên Hầu hết các khu du lịch truyền thống đã được nâng cấp cải tạo; nhiều khu

du lịch mới được đầu tư xây dựng với các sản phẩm du lịch mới, hấp dẫn du khách trong và ngoài nước Đặc biệt các trung tâm du lịch lớn như Hạ Long, Nha Trang, Đà Nang, Vũng Tàu đã đầu tư

cơ sờ hạ tầng phục vụ du lịch khá tốt Đến năm 2010, tại vùng ven biển và hải đảo Việt Nam có 6.646 cơ sở lưu trú với 148.972 buồng; đội ngũ lao động du lịch biển chiếm khoảng 75% tổng số lao động ngành du lịch cả nước, trong đó tập trung nhiều ở 3 tuyến

du lịch chính là thành phổ Hồ Chí Minh - Bà Rịa - Vũng Tàu (chiếm 60%), Thừa Thiên - Huế - Đà Nang (8,5%) và Hải Phòng - Quảng Ninh (8,1%) Các khu resort cao cấp, các khách sạn 3 sao trở lên được xây dựng và đưa vào khai thác ngày càng nhiều, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của các du khách, nhất là khách quốc tế

Mặc dù số cơ sở lưu trú trong khu vực tăng nhanh, song phần lớn có quy mô nhỏ và tập trung ở một số trung tâm lớn, tại các khu vực khác còn rất thiếu thốn Các dịch vụ hỗ trợ còn nhiều bất cập, phần lớn các khu du lịch biển còn rất thiếu các cơ sở vui chơi, giải trí, thể thao ; các hoạt động du lịch còn rất đơn điệu, nghèo nàn (chủ yếu chi có tắm biển), chất lượng phục vụ thấp.ế hạn chế đến việc thu hút khách và hiệu suất sử dụng phòng, hiệu quả kinh doanh (tại một sổ trung tâm du lịch lớn, hiệu suất sử dụng phòng

Ngày đăng: 04/06/2018, 07:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w