Đã chọn lọc được 22 loài cây hoang dại có giá trị làm cảnh cao dựa trên giá trị sử dụng của các loài cây xanh hoa cảnh theo tiêu chí sử dụng và kết quả lựa chọn của người dân đối với các
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 6 năm 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này tôi xin chân thành cảm ơn:
- Quý thầy cô trường đại học nông lâm thành Phố Hồ Chí Minh và bộ môn Nông Lâm Kết Hợp, bộ môn Quản Lí Tài Nguyên Rừng đã truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
- Khu bảo tồn và văn hóa lịch sử Vĩnh Cửu, Đồng Nai đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực tập và thực hiện đề tài
- Thầy Nguyễn Quốc Bình đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ cho tôi trong quá trình thực hiện hoàn thành khóa luận
Xin cám ơn gia đình, người thân, và bạn bè đã bên cạnh động viên tôi trong thời gian học tập và hoàn thành khóa luận
Xin chân thành cám ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2012
Sinh viên
Vũ Văn Nhật
Trang 4Kết quả thu được: Định danh được 44 loài thuộc 33 họ, được phân chia 44 làm
3 nhóm theo dạng thân: Nhóm dây leo gồm 12 loài thuộc 9 họ, nhóm thân thảo gồm
10 loài thuộc 7 họ, nhóm thân gỗ gồm 22 loài thuộc 17 họ Trong từng nhóm đó tiếp tục phân chia theo giá trị sử dụng gồm: Nhóm trang trí hàng rào, đường viền; nhóm trang trí ngoại thất; nhóm trang trí nội thất Đồng thời, qua kết quả cũng đã tìm ra được 20 loài cây để mô tả thực trạng các loài thực vật có thể làm cây xanh, hoa cảnh Đã chọn lọc được 22 loài cây hoang dại có giá trị làm cảnh cao dựa trên giá trị
sử dụng của các loài cây xanh hoa cảnh theo tiêu chí sử dụng và kết quả lựa chọn của người dân đối với các các cây hoang dại đã điều tra được để làm cảnh Đã đề xuất được các giải pháp đưa những cây hoang dại có giá trị cao làm cảnh ra ngoài rừng phục vụ cho lĩnh vực giống cây xanh, hoa cảnh ở Đông Nam Bộ, đã đưa ra các giải pháp phát triển bền vững các loài cây làm cây xanh, hoa cảnh
Trang 5SUMMARY
Project "study the possibility of developing a number of endangered species can trees flower in protected areas and cultural history of the Eternal City, Dong Nai province" from February to June 2012
Research Methodology: The method according to online survey method based
on investigation of the Institute of Forest Inventory and Planning At the same time conducting interviews of people in Ma Da Commune, shops selling trees, flower,
Ho Chi Minh City
The result: The list of 33 families are 44 species, 44 are divided into 3 groups according to body styles: Vine group includes 12 species belonging to 9 families, including 10 species of herbaceous group of 7 families, groups of 22 woody species belonging to 17 families In each group that continues to divide the values used are: Group decorative fence, border; group exterior decoration; interior group Also, the results also found 20 species of trees to describe the status of plant species can trees flower Already selected 22 species of wild plants have high ornamental value based
on the value of the use of green plants flower according to the criteria used and the results of the people selected for the wild plants have the to investigate the scene Are proposed solutions to these wild plants have high ornamental value outside forests for green field plant, flower in the Southeast, has launched the sustainable development solution species make trees flower
Trang 6MỤC LỤC
Trang tựa i
Lời cám ơn ii
Tóm tắt iii
Summary iv
Mục lục v
Danh sách các hình ix
Danh sách các bảng x
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 3
2.1 Khái quát chung về hoa dại và cây cảnh 3
2.2 Phân loại theo hình thái và sinh thái 3
2.2.1 Nhóm làm hàng rào và đường viền 4
2.2.2 Nhóm cây trang trí ngoại thất 4
2.2.3 Nhóm cây trang trí nội thất 5
2.3 Công trình nghiên cứu cây cảnh trong nước 6
2.4 Công trình nghiên cứu cây cảnh nước ngoài 7
2.5 Tổng quan khu vực nghiên cứu 8
2.5.1 Vị trí địa lý 8
2.5.2 Thổ nhưỡng 9
2.5.3 Khí hậu 9
2.5.4 Diện tích rừng và đất rừng 10
2.5.5 Tài nguyên thực vật rừng 10
CHƯƠNG 3: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 12
3.2 Nội dung nghiên cứu 12
Trang 73.3 Phương pháp nghiên cứu 13
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16
4.1 Thực trạng các loài thực vật 16
4.2 Chọn lọc mô tả những cây có giá trị làm cây xanh, hoa cảnh 18
4.2.1 Nhóm dây leo, dây trườn 18
4.2.1.1 Nhóm làm hàng rào, đường viền 18
Dây Dực dài - Calycopteris floribunda (Roxb) Lamk 18
4.2.1.2 Nhóm trang trí ngoại thất 19
Dây Ân đằng - Diplectria barbata (C.B Cl.) Frank & Roos 19
4.2.1.3 Nhóm trang trí nội thất 20
Dây Cứt quạ - Gymnopetalum cochinchinensis var incisa Gagn 20
4.2.2 Nhóm thân thảo 21
4.2.2.1 Nhóm làm hàng rào, đường viền 21
Cây Riềng không mũi - Alpinla mutica Roxb 21
4.2.2.2 Nhóm trang trí ngoại thất 22
Cây Mía dò - Costus speciosus (Koenig) Smith 22
4.2.2.3 Nhóm trang trí nội thất 24
Cây Ráy mũi - Alocasia cuspidata Engler 24
4.2.3 Nhóm thân gỗ 25
4.2.3.1 Nhóm làm hàng rào, đường viền 25
Cây Dành dành trung bộ - Gardenia annamensis Pit 25
4.2.3.2 Nhóm trang trí ngoại thất 26
Cây Kim sương (Mắt trâu cong) - Micromelum minutum (Forst F) W & A 26
4.2.3.3 Nhóm trang trí nội thất 27
Cây Hỏa rô trung bộ - Phlogacanthus annamensis R Ben 27
4.2.4 Sự lựa chọn người dân cho mục tiêu làm cây xanh, hoa cảnh 28
4.3 Các tiêu chí để chọn lựa cây hoang dại có giá trị làm cảnh 29
4.3.1 Các tiêu chí riêng của người dân tại chỗ 29
4.3.2 Các tiêu chí riêng của người dân sống ở thành phố Hồ Chí Minh 30
Trang 84.3.3 Các tiêu chí chung 31
4.3.4 Danh mục các loài cây hoang dại có khả năng sử dụng làm cảnh 32
4.4 Đề xuất các giải pháp đưa những cây hoang dại có giá trị cao làm cảnh ra khỏi rừng để phục vụ cho việc tạo nguồn giống cho cây xanh, hoa cảnh 34
4.4.1 Nhóm nhân giống bằng hạt 34
4.4.2 Nhóm nhân giống bằng giâm cành 35
4.4.3 Nhóm nhân giống bằng chiết cành 36
4.4.4 Nhóm nhân giống bằng phương pháp tách cây 37
4.4.5 Những thuận lợi của việc sử dụng cây hoang dại có giá trị làm cảnh 37
4.4.6 Những khó khăn của việc sử dụng cây hoang dại có giá trị làm cảnh 38
4.5 Quản lý và sử dụng các loài cây làm cây xanh, hoa cảnh 39
4.5.1 Những cơ sở pháp lý liên quan đến việc quản lý, mua bán cây rừng có khả
năng làm cây xanh, hoa cảnh 39
4.5.2 Những đề xuất quản lý bền vững cây hoang dại có giá trị làm cảnh 41
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43
5.1 Kết luận 43
5.2 Kiến nghị 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45 PHỤ LỤC A Phụ lục 1: Mô tả những cây có giá trị làm cây xanh, hoa cảnh A Phụ lục 2: Hình ảnh một số cây điều tra tại khu bảo tồn và văn hóa lịch sử Vĩnh
Cửu, Đồng Nai I
Phụ lục 3: Tổng hợp số lượng loài thu được qua nhiều đợt điều tra tại khu bảo tồn
và văn hóa lịch sử Vĩnh Cửu, Đồng Nai (năm 2012) N
Phụ lục 4: Phiếu lựa chọn cây hoang dại làm cảnh ở xã Mã Đà và ở thành phố Hồ
Chí Minh O
Phụ lục 5: Kết quả sự lựa chọn của người dân ở xã Mã Đà và ở thành phố Hồ Chí
Minh cho mục tiêu làm cây xanh, hoa cảnh Q
Phụ lục 6: Phiếu điều tra nhu cầu trồng cảnh ở xã Mã Đà và ở thành phố Hồ Chí
Trang 9Minh R
Phụ lục 7: Phiếu điều tra tiêu chí để chọn cây hoang dại làm cảnh R Phụ lục 8: Danh sách phỏng vấn người dân ở xã Mã Đà S Phụ lục 9: Danh sách phỏng vấn chủ cửa hàng bán cây cảnh ở thành phố Hồ
Chí Minh T
Trang 10DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 4.1: Dây Dực dài 18
Hình 4.2: Dây Ân đằng 19
Hình 4.3: Dây Cứt quạ 20
Hình 4.4: Cây Riềng không mũi 21
Hình 4.5: Cây Mía dò 22
Hình 4.6: Cây Ráy mũi 24
Hình 4.7: Cây Dành dành trung bộ 25
Hình 4.8: Cây Kim sương 26
Hình 4.9: Cây Hỏa rô trung bộ 27
Trang 11DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Bảng tổng hợp loài cây phân theo dạng thân 16
Bảng 4.2: Bảng tổng hợp loài cây phân theo nhóm sử dụng 17
Bảng 4.3: Các tiêu chí riêng của người dân ở xã Mã Đà 29
Bảng 4.4: Các tiêu chí riêng của người dân sống ở thành phố 30
Bảng 4.5: Tổng hợp sự lựa chọn của người dân xã Mã Đà và ở thành phố Hồ Chí Minh 31
Bảng 4.6: Các tiêu chí chung lựa chọn cây làm cảnh 32
Bảng 4.7: Danh mục các loài cây hoang dại có khả năng sử dụng làm cảnh cao 33
Bảng 4.8: Các loài cây nhân giống bằng hạt 35
Bảng 4.9: Các loài cây nhân giống bằng giâm cành 36
Bảng 4.10: Các loài cây nhân giống bằng chiết cành 36
Bảng 4.11: Các loài cây nhân giống bằng phương pháp tách cây 37
Bảng 4.12: Mức phạt khai thác trái phép đối với gỗ thuộc loài nguy cấp, quý hiếm, hiếm nhóm IIA 39
Trang 12
Chương 1 GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Rừng là tài nguyên vô cùng quý giá, nó cung cấp rất nhiều sản phẩm có lợi cho cuộc sống như: gỗ xây nhà, làm bàn ghế, dược liệu để chữa bệnh, cho cây xanh bóng mát và cây cảnh Do đó vào rừng được xem như là hoạt động không thể thiếu
và gắn liền với cuộc sống tinh thần và vật chất với cộng đồng dân cư sống gần rừng Tuy nhiên, chúng ta đã đi đến với thiên nhiên tại sao chúng ta lại không đem thiên nhiên đến với chúng ta? Chúng ta thử tưởng tượng bên cạnh dàn máy vi tính là một chậu hoa xinh xắn hoặc trong một nhà máy lại có những công viên, những dàn hoa, hay những cành liễu rủ soi bóng bên hồ Và hơn hết, các loài cây này được lấy từ
rừng, vốn là một tài nguyên vô giá của rừng Việt Nam, thì có ý nghĩa biết bao
Tuy hiện nay cuộc sống đã có phần được cải thiện nhưng rừng vẫn là người bạn đem những nét văn hóa, xã hội, kinh tế cho người dân nơi đây Những sản phẩm từ rừng nói chung và lâm sản ngoài gỗ nói riêng, được người dân thu hái rất cao có giá trị trong cuộc sống đặc biệt là những cây có giá trị làm cảnh Ngoài ra các cây thực vật làm cảnh cũng là sản phẩm hàng hóa nhằm làm tăng thu nhập của cộng đồng dân cư sống phụ thuộc vào rừng Cuộc sống ngày càng phát triển thì nhận thức của con người về thực vật làm cảnh cũng khác đi, họ chuộng những sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên hơn là những sản phẩm được điều chế từ những nguyên liệu khác Do đó, việc mua bán cây thực vật rừng làm cảnh trên thị trường càng trở nên mạnh mẽ và sôi động hơn Và thật sự thực vật rừng làm cảnh là một nguồn tài nguyên có giá trị phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường Vì vậy cây thực vật làm cảnh có vai trò tích cực trong việc xóa đói giảm nghèo
Trang 13Đất nước ta nằm trong vùng nhiệt đới, cây cỏ xanh tốt bốn mùa Bên cạnh những cây trồng cho hoa đẹp, trái thơm Trong bối cảnh hội nhập, đời sống người dân ngày càng được nâng cao, nhu cầu cây cảnh trong nước càng lớn trong khi đó việc nhập khẩu các loài hoa và cây cảnh từ nước ngoài giá rất đắt, những người có thu nhập thấp khó có thể thường xuyên mua nhiều cây cảnh về trưng bày hay trồng
ở sân, vườn nhà
Vì vậy để đáp ứng nhu cầu trên nên tôi “ Nghiên cứu khả năng phát triển một
số loài thực vật rừng có thể làm cây xanh, hoa cảnh ở khu bảo tồn và văn hóa lịch
sử Vĩnh Cửu, Đồng Nai.”
Nghiên cứu này nhằm cung cấp một danh mục tên của những loài cây xanh, hoa kiểng cho những nhà nghiên cứu phát triển về hoa, người sản xuất cây xanh, hoa cảnh cùng liên kết, hợp tác để tạo ra nhiều giống mới cho lai tạo trong nước, đưa ra những loài hoa, cây cảnh đẹp, có giá trị cao, đạt tiêu chuẩn ra thị trường Nhằm đáp ứng nhu cầu về cuộc sống văn hoá tinh thần, giữ gìn môi trường, tiết
kiệm nguồn tài nguyên, mang lại lợi ích kinh tế từ những loài cây bản địa này
1.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Xác định một số danh mục thực vật rừng có giá trị sử dụng làm cảnh nhưng chưa được nghiên cứu, phục vụ cho nghề cây cảnh ở khu bảo tồn và văn hóa lịch sử
Vĩnh Cửu, Đồng Nai
Trang 14Chương 2 TỔNG QUAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
2.1 Khái quát chung về hoa dại và cây cảnh
Cây hoang dại đóng góp nhiều nguồn gen có ích cho cây trồng nói chung và các giống mới mà hầu hết các cây trồng chính ngày nay có nguồn từ họ hoang dại của chúng Bởi vậy, cây hoang dại là những thực vật hoang dại liên quan tới kinh tế
xã hội bao gồm cây lương thực, cây làm thức ăn cho gia súc, cây thuốc, cây làm gia
vị và cây dùng làm đồ trang trí, các loài cây rừng hoang dại còn được sử dụng cho mục đích công nghiệp như lấy dầu, sợi và chúng còn có thể góp thêm những đặc điểm tốt Cây hoang dại còn được định nghĩa theo cách khác là: Loài hoang dại là một nhóm thực vật dại mà gián tiếp sử dụng xuất phát từ mối liên hệ chặt chẽ di truyền học tới cây trồng Cây cảnh có giá trị làm cảnh cũng cần có những dáng đẹp, gốc có to có khỏe thì cây mới mạnh, gốc phải to hơn thân Gốc càng to càng thể hiện cây đã sống lâu năm Nếu gốc có nhiều rễ nổi, rễ sum suê càng đẹp, thân cây mềm mại duyên dáng, xiêu nghiêng hay đứng thẳng khỏe mạnh là tùy theo các thế cây, cành cây phải được phân bố hợp lý, cấu tạo so le chia ra các hướng lớn không trùng nhau, tránh gò bó Tùy theo hình dáng cây cảnh và điều kiện sống của chúng
mà chúng ta bố trí cho hợp lý để làm cho cây cảnh tăng thêm giá trị thẩm mỹ
2.2 Phân loại theo giá trị sử dụng
Ưu điểm của phương pháp phân loại này là giúp chúng ta dễ dàng lựa cây cảnh trong thiết kế cảnh quan theo từng nhóm cây đã được chọn lựa trước, các nhóm cây chính gồm:
Trang 15
2.2.1 Nhóm làm hàng rào và đường viền
Nhóm này gồm nhiều chủng loại khác nhau: Cây thân thảo, tiểu mộc, thân mọng nước…Chúng có chung đặc điểm là khả năng tái sinh tốt, cắt tỉa dể dàng, được sử dụng để làm hàng rào, đường viền, cắt chữ, tạo hình khối…các cây tiêu biểu là:
1 Ác ó: Acanthus integrifolius T Anders - Acanthaceae: Cây gỗ nhỏ, lá đơn
mọc đối, màu xanh đậm, trồng làm hàng rào, đường viền, cắt hoa văn…
2 Bông bụp: Hibiscus rosa sinensis Lin - Malvaceae: Cây bụi lớn, lá hình bầu
dục, hoa có nhiều màu khác nhau: Trắng, kem, vàng, cam, hồng, đỏ, có loại hoa đơn
5 cánh hoặc hoa kép Trồng làm hàng rào hoặc đường viền
3 Chuỗi ngọc: Duranta repens L - Verbenaceae: Cây bụi Lá hình thuôn Hoa
tập trung ở đầu cành, màu tím, nở quanh năm Quả màu vàng Có loại hoa màu trắng, có loại lá màu vàng Trồng làm đường viền, cắt chữ, làm phông nền…
4 Thiên lý (Dạ lý hương): Telosma corđata (Burm F) Merr - Asclepiadaceae:
Lá đơn nguyên mọc đối màu xanh đậm Hoa mọc thành chùm màu vàng lục nhạt, buổi tối toả mùi thơm, hoa nở tập trung vào mùa hè
5 Cát đằng: Thunbergialaurifolia Lindl - Acanthaceae: Lá moc đối, hình tim
Hoa mọc thành chùm, thòng màu xanh pha tím
2.2.2 Nhóm cây trang trí ngoại thất
Đây là nhóm cây phong phú nhất với nhiều chủng loại khác nhau từ cỏ, cây thân thảo, hoa, cây tiểu mộc, trung, mộc, đại mộc…Có thể chia ra các tiểu nhóm sau:
Tiểu nhóm cây có hoa, lá đẹp sống hằng niên hoặc đa niên được trồng làm nền,
trồng trong các bồn hoa, trong công viên, trong các tiểu đảo, đồi cảnh…để tạo cảnh quan luôn thay đổi, vui tươi, xinh động Các cây tiêu biểu là:
1 Bướm bạc : Mussaenda philiptica L - Rubiaceae: Cây bụi nhỏ, lá mọc đối,
dạng thuôn, bầu dục rộng Hoa màu trắng Có loại hoa màu hồng, đỏ gọi là bướm
hồng, bướm đỏ (Mussaenda erythrophylla Schum Et Tho)
2 Kim đồng: Galphimia glauca Cav - Malpighiaceae: Cây gỗ nhỏ, lá mọc đối
hình bầu dục Cụm hoa dạng tán thưa mọc ở đỉnh hoa màu vàng tươi có 5 cánh
Trang 163 Lá gấm (Tía tô cảnh): Coleus blumei Benth - Lamiaceae: Cây thân thảo, mọc
thẳng, lá mọc đối hình trứng ngược, lá màu tím viền màu lục Hiện nay có nhiều chủng màu sắc khác nhau, đẹp được ưa chuộng trồng trong các bồn hoa nơi công cộng, các hoa viên, sân vườn
Tiểu nhóm cây thân mộc, cắt tỉa, tạo dáng
Gồm các loại cây xanh che bóng hoặc được cắt tỉa, xén tạo hình khối, sửa thành kiểng cổ, bosai, kiểng thú…Các cây thông dụng là:
1 Cần thăng: Limonia acidissima Lin - Rutaceae: Cây gỗ nhỏ có gai nhọn, lá
kép lông chim với 3 đôi lá phụ, hoa nhỏ màu trắng, thơm Quả to như quả cam sành Cần thăng được trồng để sửa kiểng cổ, bonsai
2 Mai chiếu thuỷ: Wrightia religiosa Hook F - Apocynaceae: Cây gỗ, thân
xù xì, lá mỏng hình trái xoan thuôn Hoa màu trắng, thơm, mọc thòng xuống Mai chiếu thuỷ được trồng để sửa kiểng cổ, bonsai Mai chiếu thuỷ có nhiều loài khác nhau như lá lớn, lá trung, lá nhỏ…
3 Phi lao (Dương): Casuarina equisetifolia J R et G Forst - Casuarinaceae:
Cây thân gỗ, lá dạng vảy nhỏ xếp quanh các đốt Quả có cánh dương được trồng để cắt thành hàng rào, hình khối, bonsai…
2.2.3 Nhóm cây trang trí nội thất
Gồm các giống cây chịu được ánh sáng yếu, được trồng trong chậu để trang trí trong nhà, có thể sống được từ 10 ngày đến cả năm Tiêu biểu là các cây họ Ráy (Araceae), ngoài ra còn có:
1 Kè Nhật: Licuala grandis H Wendl - Arecaceae: Thân đơn, ngắn, lá xanh
bóng phiến lá tròn dạng quạt, xanh quanh năm có thể chịu được trong nhà đến 3 tháng
2 Phát tài (Thiết mộc lan): Dracaena fragans (L.) Ker Gawl - Dracaenaceae:
Cây gỗ thân cột, lá hình giải giáo, tập trung ở đỉnh Cụm hoa mọc thành chùm, hoa lớn màu trắng, vàng nhạt, thơm Thường được trồng chậu, trang trí trong nhà chịu
được 3 - 4 tháng
Trang 172.3 Công trình nghiên cứu cây cảnh ở trong nước
Các nhà khoa học về thực vật ở Việt Nam cũng rất quan tâm đến việc nghiên cứu cây xanh, hoa cảnh và có nhiều tác phẩm có giá trị khoa học và thực tiễn cao, giúp phân loại và định danh những loại cây xanh hoa cảnh trong nước:
Quyển “Cây trồng đô thị”, của tác giả Lê Phương Thảo và Phạm Kim Chi (1993) đã phân chia cây bóng mát thành 4 nhóm: Cây bóng mát có hoa đẹp, cây bóng mát có hoa thơm, cây bóng mát ăn quả và cây bóng mát thường Phân cây trang trí ra thành 9 nhóm: Cây họ tre trúc, cây họ cau dừa, cây cảnh dáng đẹp, cây cảnh hoa đẹp, cây cảnh quả đẹp, cây cảnh leo giàn, cây leo giàn, cây hàng rào, cây viền bồn, cây hoa Ngoài tác giả còn phân theo độ cao, hình khối, dạng tán, màu sắc
lá, hoa, thời gian ra hoa, thời gian trơ cành, thời gian ra lá non
Trong quyển “Kiến trúc cảnh đô thị” tác giả Hàn Tất Ngạn (1996), phân cây xanh thành 2 nhóm: Cây bóng mát và cây trang trí Sự phân chia này quá tổng quát
do dó chưa thể hiện được các công dụng đa dạng được cây xanh trong cảnh quan Tuy nhiên tác giả đã cung cấp nhiều thông tin phong phú trong phần phục lục với các chi tiết của 140 loài cây theo 10 tiêu chí: Tên việt Nam, tên khoa học, phân theo
độ cao, đường kính tán, dạng lá, màu lá, chu kì rụng lá trơ cành, chu kì nở hoa Trong quyển “Cây xanh - hoa Việt Nam” tác giả Trần Hợp (1993), tác giả phân thành 6 nhóm chính: Nhóm cây leo - cây hàng rào, cây làm cảnh bằng thân (thân cột, thân rỗng, thân mọng nước), cây làm cảnh bằng lá (quyết thực vật - cây lá kim - cây lá rộng), cây làm cảnh bằng hoa (cây thân cỏ - cây thân gỗ), cây làm cảnh bằng quả, cây làm cảnh ở nước
Trong quyển “Cây xanh - phát triển và quản lí trong môi trường đô thị” Chế Đình lý (1997) phân chia cây xanh đô thị thành 8 nhóm chính dựa vào hình dạng và công dụng: Cây đại mộc (cây bóng mát và cây dáng đặc biệt), cây rào che (nhóm tre trúc và các họ khác), cây rào chắn (có xén tỉa và không quy cách), cây dạng bụi (có hoa và không có hoa), cây che phủ nền (có hoa và không có hoa), cỏ (trang trí và làm thảm cỏ), hoa ngắn ngày (hoa thông thường và hoa cao cấp), dây leo (có hoa và không có hoa)
Trang 18Trong quyển “Cây xanh - cây cảnh Sài Gòn thành phố Hồ Chí Minh” tác giả Trần Hợp (1998), phân chia cây xanh - cây cảnh làm 8 nhóm: Cây xanh đường phố
- cây bóng mát, cây gỗ thân cột làm cảnh, cây leo làm cảnh, cây làm Bonsai, cây có
lá làm cảnh, cây có hoa làm cảnh, cây có quả và cây ở nước làm cảnh
Có rất nhiều tài liệu khác nhau nói về nghiên cứu về cây cảnh, tuy nhiên về mặt lí luận và phân loại cũng tương tự như những công trình nghiên cứu trên, tất cả đều chung mục đích giúp cho việc tra cứu, chăm sóc, bảo trì…Được thuận lợi hơn Theo PGS.TS Trần Hợp thì nhóm cây xanh và cây cảnh là nhóm phong phú và phức tạp hơn cả về số lượng Taxon và khu bảo tồn và văn hóa lịch sử Vĩnh Cửu, Đồng Nai là một nơi có độ phức tạp cao với lượng thực vật dồn dào Hiện nay việc thống
kê các mảng cây xanh khác nhau trong khu bảo và văn hóa lịch sử Vĩnh Cửu, Đồng Nai vẫn đang được tiến hành thực hiện Vì thế việc định danh phân loại các hạng mục cây xanh có giá trị làm cây xanh, hoa cảnh là một việc làm rất cần thiết và thiết thực
2.4 Công trình nghiên cứu cây cảnh ở nước ngoài
Theo quyển Landscape Design của Leroy Hanebaun (1981), có 3 nhóm đặc điểm hình thái của cây xanh liên quan đến việc thiết kế cây trồng trong trang trí hoa viên là: Hình dạng, kết cấu, màu sắc Trong thiết kế cảnh quan, người thiết kế chú ý đến 3 nhóm đặc điểm hình thái đó Việc chọn lựa, phối hợp một cách hợp lý các đặc điểm này sẽ góp phần quyết định trong việc tạo cảnh quan đẹp
Quyển “Tropica color cyclopenia of exotic plant and tree” của tác giả Alfred Byrd Graf
Trong thiết kế cảnh quan nhiều tác giả đã cung cấp các hướng dẫn sử dụng vật liệu xanh (Plant Materals Guidelists) cho từng ứng dụng cụ thể Việc phân phia các nhóm công dụng là vấn đề cần được chú ý trong xây dựng cơ sở dữ liệu về cây xanh
Trong quyển Landscape Plant, nhóm tác giả nhà xuất bản Orthobook (1989)
có đề nghị hệ thống phân loại cây xanh theo hai tiêu chuẩn công dụng và hình dáng:
Trang 19Phân loại theo công dụng: Cây che bóng, cây làm tường che tầm nhìn, cây có hình dạng đặc biệt, cây làm hàng rào có xén tỉa, hoặc trồng tự do, cây che phủ nền, cây leo trên các sân thượng, giàn che
Phân loại theo hình dạng: Cây gỗ lớn, cây bụi, cây lưu niên, cây hoa ngắn ngày, cỏ, dây leo giàn
Quyển “1001 Garden Plant in Singapore” của nhóm tác giả nhà xuất bản National Parks Board (2003) đã điều tra và thống kê các loại cây xanh, hoa cảnh ở Singapore
2.5 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.5.1 Vị trí địa lý
Khu Bảo tồn và văn hóa lịch sử Vĩnh Cửu, Đồng Nai nằm phía bắc sông Đồng Nai, chủ yếu trên địa bàn các xã Phú Lý, Mã Đà, Hiếu Liêm, thuộc huyện Vĩnh Cửu
và xã Đắc Lua (tiểu khu 13 B) thuộc huyện Tân Phú, có tứ cận như sau:
- Phía bắc giáp tỉnh Bình Phước
- Phía nam giáp sông Đồng Nai và Hồ Trị An
- Phía đông giáp vườn quốc gia Cát Tiên và Hồ Trị An
- Phía tây giáp tỉnh Bình Phước và tỉnh Bình Dương
Có tọa độ địa lý:
- Từ 11008’ 55’’ đến 11051’ 30’’ Vĩ độ Bắc
- Từ 106o90’ 73’’ đến 107o23’ 74’’ Kinh độ Đông
Huyện Vĩnh Cửu nằm ở phía tây bắc tỉnh Đồng Nai, có tổng diện tích tự nhiên
109199 ha, ranh giới của huyện được xác định như sau:
- Phía bắc giáp huyện Đồng Phú và Bù Đăng tỉnh Bình Phước
- Phía nam giáp thành phố Biên Hòa và huyện Trảng Bom
- Phía nam giáp huyện Định Quán và huyện Tân Phú
- Phía tây giáp huyện Tân Uyên tỉnh Bình Dương
Trung tâm huyện cách thành phố Biên Hòa khoảng 20 km, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 50 km, cách Vũng Tàu 120 km Là một trong những huyện có lợi thế thu hút đầu tư phát triển công nghiệp và du lịch, có điều kiện thuận lợi về phát
Trang 20triển nông lâm nghiệp theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hóa, huyện Vĩnh Cửu có các đơn vị hành chính bao gồm: Thị trấn Vĩnh An, Thiện Tân, Bình Hòa, Tân Bình, Tân An, Bình Lợi, Thạnh Phú,Vĩnh Tân, Mã Đà, Hiếu Liêm
- Đất xám địa hình thấp, có khả năng tưới, thích hợp cho việc trồng lúa, hoa màu
- Đất xám có tầng đất hữu hiệu mỏng < 30 - 50 cm, ưu tiên cho việc trồng và bảo vệ rừng
Nhìn chung nhóm đất xám của huyện Vĩnh Cửu có tầng đất hữu hiệu rất mỏng
và tập trung nhiều trong lâm phần Vì vậy đất xám sử dụng chính cho sản xuất lâm nghiệp Trong khu bảo tồn và văn hóa lịch sử Vĩnh Cửu, Đồng Nai có loại đất xám gley phân bố tập trung khu vực bờ hào thuộc các tiểu khu 105, 108, 110, 114
Do nằm ở vĩ độ thấp, Vĩnh Cửu nhận được nhiều năng lượng bức xạ mặt trời và
ít bị ảnh hưởng của gió mùa phương bắc Bởi vậy nhiệt độ không khí trung bình
Trang 21quanh năm cao với nhiệt độ bình quân 25 - 270C, chênh lệch nhiệt độ giữa tháng nóng nhất với tháng lạnh nhất chỉ có 40C Nhiệt độ trung bình tối cao các tháng là
29 - 350C, nhiệt độ tối thấp trung bình tháng trong năm từ 18 - 250C Độ ẩm tương đối 80 - 82 % Ít có gió bão và sương muối Đây là điiều kiện thuận lợi cho việc phát triển các cây trồng nhiệt đới, đặc biệt là cây công nghiệp có giá trị cao
Lượng mưa tương đối lớn, phân bố theo vùng và theo mùa vụ, đã chi phối mạnh
mẽ nền sản xuất nông - lâm nghiệp
2.5.4 Diện tích rừng và đất rừng
Theo số liệu kiểm kê rừng tháng 10/1999 của ban kiểm kê Trung ương và số liệu theo dõi diễn biến tài nguyên rừng, sau khi ban quản lí rừng phòng hộ Vĩnh An sát nhập vào khu bảo tồn theo quyết định số 2053/Quyết Định - Ủy Ban Nhân Dân ngày 27/6/2008 của Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Đồng Nai, kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng theo chỉ thị 38 của thủ tướng chính phủ (đã được ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai phê duyệt tại Quyết Định số 4505/ Quyết Định - Ủy Ban Nhân Dân ngày 29/12/2008), tổng diện tích quản lí và hiện trạng sử sụng đất của khu bảo tồn và văn hóa lịch sử Vĩnh Cửu, Đồng Nai là 67903 ha
- Từ phía tây và tây nam sang là luồng thực vật thân thuộc với khu hệ thực vật Ấn
Độ - Miến Điện với các họ thực vật đặc trưng: họ Tử vi (Lythraceae), họ Bàng (Combretaceae), họ Tung (Datiscaceae), họ Gòn (Bombaceae), họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae)….Những họ này có các loài cây rụng lá trong mùa khô, hình thành các kiểu rừng kín nửa rụng lá
- Từ phía tây bắc xuống là luồng thực vật á nhiệt đới và ôn đới của khu hệ thực vật Himalaya - Vân Nam - Quý Châu (Trung Quốc) với các họ đặc trưng như họ Re
Trang 22(Lauraceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Kim giao (Podocarpaceae), họ Gấm (Gnetaceae),
họ Chè (Theraceae), họ Tích tụ (Aceraceae), họ Đỗ quyên (Ericaceae)…
- Hệ thực vật bắc Việt Nam - Nam Trung Quốc xuống với các họ đặc trưng: họ Đậu (Fabaceae), họ Ba mảnh vỏ (Euphorbiacea), họ Thị (Ebenaceae), họ Bồ hòn
(Sapindaceae), họ Xoan (Meliaceae), họ Cà phê (Rubiaceae)…
Trang 23Chương 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu này nhằm tiến hành các mục tiêu sau:
- Mô tả thực trạng các loài thực vật có thể làm cây xanh, hoa cảnh phục vụ cho lĩnh vực cây xanh, hoa cảnh
- Phân loại giá trị sử dụng của chúng dựa trên giá trị sử dụng các loài cây xanh, hoa cảnh đang được sử dụng tại Việt Nam dựa trên các tiêu chí để lựa chọn cây có giá trị làm cảnh
- Đề xuất các giải pháp đưa những cây hoang dại có giá trị cao làm cảnh ra ngoài rừng phục vụ cho lĩnh vực giống cây xanh, hoa cảnh ở Đông Nam Bộ và hướng quản lý và sử dụng các loài cây làm cây xanh, hoa cảnh theo giá trị sử dụng
3.2 Nội dung nghiên cứu
* Đặc điểm sinh thái, hình thái, sinh trưởng của các loài nghiên cứu có thể là cây xanh, hoa cảnh phục vụ cho lĩnh vực cây xanh, hoa cảnh
* Giá trị sử dụng của chúng được phân chia dựa trên giá trị sử dụng các loài cây xanh, hoa cảnh đang được sử dụng tại Việt Nam dựa trên các tiêu chí để lựa chọn cây có giá trị làm cảnh Giá trị sử dụng được dựa vào:
- Dựa vào phân loại giá trị thực vật làm cây xanh, hoa cảnh ta ứng dựng trong thiết kế trồng làm cảnh cho hợp lý
- Sự lựa chọn của người dân cho mục tiêu cây xanh, hoa cảnh
* Các tiêu chí để lựa chọn cây hoang dại có giá trị làm cảnh
- Các tiêu chí riêng của người dân tại xã Mã Đà
- Các tiêu chí riêng của người dân ở thành phố Hồ Chí Minh
Trang 24- Các tiêu chí chung
- Danh mục các loài cây hoang dại có khả năng sử dụng làm cảnh
* Các giải pháp được đề xuất nhằm đưa những cây hoang dại có giá trị cao làm cảnh ra ngoài rừng phục vụ cho việc tạo nguồn giống cây xanh, hoa cảnh ở Đông Nam Bộ và hướng quản lý theo giá trị sử dụng Các đề xuất được đề theo các nội dung:
- Các loài cây hoang dại và cách đưa chúng ra ngoài rừng
- Thuận lợi và khó khăn của việc sử dụng các loài cây hoang dại có giá trị làm cảnh
* Việc quản lý và sử dụng các loài cây làm cây xanh, hoa cảnh được nghiên cứu
trên khía cạnh:
- Những cơ sở pháp lý liên quan đến việc quản lý, mua bán cây rừng có khả năng làm cây xanh hoa cảnh
- Những đề xuất quản lý bền vững cây hoang dại có giá trị làm cảnh
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu cần thu nhập những thông tin sau:
- Thông tin thứ cấp
Thu nhập các thông tin về điều kiện tự nhiên và xã hội của khu vực nghiên cứu, những thông tin liên quan đến các loài cây có giá trị làm cây xanh, hoa cảnh, loài và đặc điểm loài, loài phân bố, giá trị trong thiết kế làm cảnh quan, điều kiện sống của loài
Và kế thừa các công trình nghiên cứu, bài báo và báo cáo khoa học có liên quan đến phân loại thực vật, đặc điểm sinh trưởng và phân bố, đối chiếu với danh mục thực vật hiện có tại khu bảo tồn và văn hóa lịch sử Vĩnh Cửu, Đồng Nai Và một số chuyên khảo thực vật (Phạm Hoàng Hộ, 2000) Sau khi thu thập và tổng hợp các tài liệu về cây cảnh hoa dại đã được biết đến sẽ đưa ra một thư mục và bảng xác định các tiêu chí phục vụ cho công tác hiện trường
Trang 25- Thông tin sơ cấp
Tiến hành điều tra thực địa nhiều đợt trong đầu tháng 3 đến cuối tháng 3 để được danh mục các loài hoang dại có giá trị làm cảnh Việc điều tra sẽ được tiến hành theo phương pháp điều tra tuyến Đi thực địa chụp ảnh và lấy ảnh trên internet
để đặc trưng và sau đó chọn lọc một số loài để mô tả
Phỏng vấn bằng các câu hỏi trắc nghiệm ở 40 hộ gia đình ở xã Mã Đà và 40 cửa hàng ở thành phố Hồ Chí Minh để lấy được thông tin về các tiêu chí chọn lựa cây xanh, hoa cảnh Danh mục các cây hoang dại có khả năng làm cảnh được lựa chọn từ những người được phỏng vấn Việc phỏng vấn 40 hộ gia đình ở xã Mã Đà
để lấy được thông tin chính xác do ở đây dân cư thưa thớt, hiểu biết về cây cảnh còn hạn chế nên ta phải tiến hành phỏng vấn 40 hộ mới đảm bảo thu nhập thông tin một cách tổng thể và cũng là mẫu cần thiết để phỏng vấn Việc phỏng vấn 40 cửa hàng ở thành phố Hồ Chí Minh là do để ta thuận tiện so sánh cách chọn lựa cây làm cây xanh, hoa cảnh, và các tiêu chí để lựa chọn cây hoang dại có giá trị làm cảnh ở xã
Mã Đà có gì giống hoặc khác nhau và có tiêu chí gì chung để chọn lựa cây hoang dại có giá trị làm cảnh Để cho những người dân ở xã Mã Đà và ở thành phố Hồ Chí Minh biết về những loài cây mà họ lựa chọn để làm cây xanh, hoa cảnh thì chúng tôi có kèm theo hình ảnh chụp các loài cây đó khi phỏng vấn họ
Mặt khác, việc phỏng vấn các cửa hàng bán hoa là để tìm người mua cây xanh, hoa cảnh để giúp người dân xã Mã Đà tăng thêm thu nhập khi trồng cây cảnh Sau đó ta dựa vào kết quả phỏng vấn ta đề xuất các giải pháp đưa những cây hoang dại có giá trị cao làm cảnh ra ngoài rừng phục vụ cho việc tạo nguồn giống cây xanh, hoa cảnh ở Đông Nam Bộ, và cũng qua kết quả phỏng vấn và đi điều tra thực địa ta cũng biết được thuận lợi và khó khăn của việc sử dụng các loài cây hoang dại
Trang 26- Phương pháp xử lý và phân tích thông tin:
+ Thông tin từ tài liệu thứ cấp: Thu nhập các tài liệu có liên quan đến đề tài, lựa chọn, chọn lọc và tổng hợp thông tin
+ Thông tin sơ cấp
Khi ta được danh mục các loài hoang dại có giá trị làm cảnh, sau đó ta chọn lọc mô tả những loài tiêu biểu nhất cho mục đích sử dụng cây xanh, hoa cảnh của chúng
Thông tin từ phỏng vấn hộ: Khi ta được kết quả phỏng vấn các hộ ở xã
Mã Đà và cửa hàng ở thành phố Hồ Chí Minh thì ta thống kê lại thì ta được bảng kết quả sự lựa chọn người dân cho mục tiêu làm cây xanh, hoa cảnh, bảng các tiêu chí chọn lựa cây hoang dại có giá trị làm cảnh ở xã Mã Đà và ở thành phố Hồ Chí Minh, các tiêu chí chung ở cả hai địa điểm, đồng thời thông qua kết quả chọn lựa người dân cho mục tiêu làm cây xanh, hoa cảnh và tiêu chí chung để chọn lựa cây hoang dại có giá trị làm cảnh ta được danh mục các loài cây hoang dại có khả năng làm cảnh cao
Từ thông tin phỏng vấn và điều tra thực địa ta cũng thống kê lại để biết được những khó khăn và thuận lợi cho việc sử dụng cây hoang dại có giá trị làm cảnh và cách quản lý và sử dụng cây hoang dại có giá trị làm cảnh Đồng thời thông qua thông tin phỏng vấn và điều tra thực địa cũng đề xuất các biện pháp quản lý và
sử dụng bền vững cây hoang dại có giá trị làm cảnh
Trang 27Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thực trạng các loài thực vật
Như vậy qua nhiều đợt khảo sát tại khu bảo tồn và văn hóa lịch sử Vĩnh Cửu, Đồng Nai, ta thu được 44 loài thuộc 33 họ thuộc nhóm thân thảo, thân gỗ, thân leo
Bảng 4.1: Bảng tổng hợp loài cây phân theo dạng thân
Phân theo dạng thân Số lượng loài Phần trăm (%) Mô tả
Nhóm dây leo, dây
trườn
12 27,27 Nhóm dây leo có tua cuốn mền
không mọc thẳng đứng được phải dựa vào các cây khác hoặc vật khác làm giá thể hoặc những cây bụi có cành hóa gỗ dựa vào những cây khác mà leo lên gọi là dây bụi trườn
Nhóm thân thảo 10 22,73 Nhóm thân thảo có thân mền trên
mặt đất, thân cây không hóa gỗ chết lụi vào thời kỳ tạo quả tùy một số năm phân biệt ra cây thảo một năm, hai năm, nhiều năm
Nhóm thân gỗ 22 50 Nhóm thân gỗ có thân sinh trưởng
thứ cấp hóa gỗ, thân chính phát triển mạnh hoặc yếu, thân chính của cây gỗ to, nhỏ, cao hoặc thấp tùy thuộc vào từng loài
Tổng 44 100
Kết quả bảng 4.1 cho thấy các loài thực vật rừng có giá trị làm cây xanh, hoa cảnh ở khu bảo tồn có đầy đủ các dạng thân nhiều nhất là dạng thân gỗ chiếm 51,51% các loài cây có giá trị làm cây xanh, hoa cảnh đã điều tra do dạng thân gỗ là
Trang 28loài cây phổ biến rộng và sống được trong các điều kiện thời tiết không thuận lợi, sau đó lần lượt là các dạng dây leo, thân thảo nhìn chung tương đối nhiều
Qua bảng 4.1 cũng cho thấy khu bảo tồn không chỉ đa dạng về các loài thực vật nói chung mà còn đa dạng về các loài thực vật rừng có giá trị làm cây xanh, hoa cảnh vì đa dạng như vậy nên trong mỗi dạng thân ta lại chia theo giá trị sử dụng được trình bày ở bảng 4.2
Bảng 4.2: Bảng tổng hợp loài cây phân theo nhóm sử dụng
Phân theo giá trị sử
dụng
Số lượng loài Phần trăm (%) Các đối tượng được
chọn làm cảnh Nhóm làm hàng rào,
đường viền
15 34,09 - Hoa, quả, lá
- Cây ưa sáng, cây ưa bóng, cây vừa ưa sáng, vừa ưa bóng
Thêm vào đó cách phân chia này cũng làm cho cây hoang dại có giá trị làm cảnh tăng thêm giá trị thẩm mỹ và phù hợp với điều kiện sống của chúng, vừa làm thay đổi cảnh trang trí vừa làm chỗ dừng chân cho người thưởng ngoạn
Trang 294.2 Chọn lọc mô tả những cây có giá trị làm cây xanh, hoa cảnh
4.2.1 Nhóm dây leo, dây trườn
4.2.1.1 Nhóm làm hàng rào, đường viền
Trong nhóm này có 3 loài (xem phụ lục 1), sau đây chỉ trình bày loài ưu tiên
* Dây Dực dài - Calycopteris floribunda (Roxb) Lamk
Hình 4.1: Dây Dực dài (a) (b)
Nguồn: Vũ Văn Nhật, năm 2012
Phân loại khoa học:
Ngành ngọc lan - Magnoliophyta
Lớp song tử diệp - Magnoliopsida
Bộ sim - Myrtales
Họ chưn bầu (bàng) - Combretaceae
Mô tả : Dây Dực dài là dạng tiểu mộc trườn, nhánh đầy lông xám hoe Lá có phiến
xoan, đầy lông hoe mặt dưới, cuống có lông Chùm lá tụ ở tán đầy lông, lá đài sau này thành cánh dài đến 1 cm, cánh hoa vàng, tiểu nhụy 10, noãn cong, bầu dưới Trái hình thoi, trên đài đồng trưởng thành 5 cánh vàng vàng Rễ cây làm thuốc trị
nọc rắn Lá trị rét, kiết
Nơi sống: Dây Dực dài thường hay bắt gặp trong rừng thưa nơi có nhiều ánh sáng,
cây có thể mọc và phát triển ở nơi khô ráo, những cây thường phát triển mạnh ở nơi đất ẩm
Trang 30Mục đích sử dụng: Dây Dực dài có hoa đẹp và thường xuyên ra hoa quanh năm,
phát triển tốt cả nhưng nơi ít ánh sánh hoặc có ánh sánh nhiều, sống lâu năm, trồng cho trườn lên hàng rào nhà, hoặc có thể trồng cho trườn lên các chuồng nuôi nhốt thú cảnh để trang trí rất đẹp
4.2.1.2 Nhóm trang trí ngoại thất
Trong nhóm này có 2 loài (xem phụ lục 1), sau đây chỉ trình bày loài ưu tiên
* Dây Ân đằng - Diplectria barbata (C.B Cl.) Frank & Roos
Hình 4.2: Dây Ân đằng (a) (b) (c)
Nguồn: Vũ Văn Nhật, năm 2012 (a và c) Nguồn: [8]
Phân loại khoa học:
Ngành ngọc lan - Magnoliophyta
Lớp song tử diệp - Magnoliopsida
Bộ sim - Myrtales
Họ muôi (Mua) - Melastomataceae
Mô tả: Dây Ân đằng là dạng dây leo to, nhánh có ít lông, có vòng lông ở mắt Lá có
phiến bầu dục thon chót nhọn, đáy tròn, gân từ đáy, gân tam cấp hình thang, cuống
6 - 8 mm Chùm hoa tụ tán ở ngọn, to, hoa hường, phần dưới của hoa ít lông, hình
ly, cánh hoa 4, xoan, hoa dây Ân đằng lưỡng tính, bao phấn có phụ bộ nhọn Trái
dài 1 cm, rộng 6 mm
Nơi sống: Dây Ân đằng sống leo quanh năm, cây ưa áng sáng sống nơi có độ ẩm
tương đối cao
Trang 31Mục đích sử dụng: Dây Ân đằng có hoa đẹp, sống lâu năm, cây ưa ánh sáng nên có
thể trồng cho leo lên cây khác làm điểm tựa để trang trí, cây chỉ leo lên cây khác
làm điểm tựa chứ không hút chất dinh dưỡng và không bóp chết cây khác Ta trồng
cây này để làm trang trí sân vườn tạo một phong cảnh như là các lớp dây leo cổ đại
trong rừng
4.2.1.3 Nhóm trang trí nội thất
Trong nhóm này có 2 loài (xem phụ lục 1), sau đây chỉ trình bày loài ưu tiên
* Dây Cứt quạ - Gymnopetalum cochinchinensis var incisa Gagn
Hình 4.3: Dây Cứt quạ (a) (b)
Nguồn:Vũ Văn Nhật, năm 2012 Nguồn: Nguyễn Thị Lan Phương, 2011
Phân loại khoa học:
Ngành ngọc lan - Magnoliophyta
Lớp song tử diệp - Magnoliopsida
Bộ bầu bí - Cucurbitales
Họ bầu bí - Cucurbitaceae
Mô tả: Dây Cứt quạ có dạng thân cỏ bò hoặc leo, có thân mảnh, phân nhánh nhiều,
vòi đơn, dài 1 - 2 m Lá có phiến nhám, có tuyến và lông thưa Hoa đực gắn thành
chùm có cánh hoa kết lợp, vành trắng, rộng 3 - 4 cm, bao phấn dính nhau, chót bao
phấn có mũi Hoa cái mọc cô độc Phì quả bầu dục, đỏ, thon hẹp ở gốc, có mũi, dài
3 - 5 cm, có 10 cạnh, hạt nhiều, màu nâu, hình bầu dục, dài 7 - 8 mm
Trang 32Nơi sống: Dây Cứt quạ sống nơi ẩm cũng có, nơi khô ráo cũng có, cây ưa ánh sáng,
cũng là cây chịu bóng, cây mọc trong rừng thưa, không rậm rạp
Mục đích sử dụng: Dây Cứt quạ sống được khoảng một năm là chết, cây vừa ưa
ánh sáng đồng thời cũng là cây thích hợp trong bóng râm, lá có nét đặc thù là giống hình con quạ đồng thời kết hợp với hoa và quả nên ta trồng trong nhà cho leo lên cây thân bụi để trang trí nội thất mang một phong cảnh rất đẹp trong ngôi nhà
4.2.2 Nhóm thân thảo
4.2.2.1 Nhóm làm hàng rào, đường viền
Trong nhóm này có 2 loài (xem phụ lục 1), sau đây chỉ trình bày loài ưu tiên
* Cây Riềng không mũi - Alpinla mutica Roxb
Hình 4.4: Cây Riềng không mũi (a) (b) (c)
Nguồn: Vũ Văn Nhật, năm 2012 ( a và b) Nguồn: Nguyễn Thị Lan
đến 40 cm, rộng 4 - 5 cm, đầu nhọn, không lông, trừ trên gân chính ở mặt dưới, mép
có rìa lông, cuống lá dài 5 - 13 mm, mép cao 6 - 8 mm, nguyên Cụm hoa chùy mọc
Trang 33ngang hay rủ xuống, dài 20 - 25 cm, hẹp, thưa, gồm nhiều xim ngắn với 2 - 5 hoa Hoa có cuống không lông, lá bắc con làm thành một bao phình to, cao 18 mm, mau rụng Đài có ống dài 15 - 20 mm, có 3 răng ống tràng ngắn, cánh hoa hình bầu dục dài 35 mm, nhị lép dạng sợi, môi dài 25 mm Quả mọng tròn, có lông, đường kính 2
cm, hạt nhiều cạnh, cỡ 4 mm
Nơi sống: Cây Riềng không mũi mọc ở nơi ẩm mát, ven suối và dưới tán rừng
Mục đích sử dụng: Cây Riềng không mũi có hoa đẹp, có đặc tính sống ở mùa mưa
khi mùa khô thì thân và lá chết còn củ riềng không mũi vẫn sống và khi đến mùa mưa thì tiếp tục mọc lại, cho nên cây này có thể trồng làm hàng rào để trang trí đường viền cho ngôi nhà và phải tưới nước vào mùa khô để duy trì sự sống của cây
4.2.2.2 Nhóm trang trí ngoại thất
Trong nhóm này có 2 loài (xem phụ lục 1), sau đây chỉ trình bày loài ưu tiên
* Cây Mía dò - Costus speciosus (Koenig) Smith
Hình 4.5: Cây Mía dò (a) (b)
Nguồn: Vũ Văn Nhật, năm 2012 Nguồn: Nguyễn Thị Lan Phương, 2011
Phân loại khoa học :
Ngành ngọc lan - Magnoliophyta
Lớp song tử diệp - Magnoliopsida
Bộ gừng - Zingiberales
Họ gừng - Zingiberaceae
Trang 34Mô tả:CâyMía dò có dạng thân thảo, sống lâu năm, cao 1 - 2 m, có khi đến 3 m Thân rễ to, nạc, mọc bò ngang, phần non có vẩy bao bọc, vẩy có lông ngắn Thân xốp, ít phân nhánh Lá mọc so le, hình trứng thuôn, gốc tròn có bẹ, đầu nhọn, mép nguyên, mặt trên nhẵn, mặt dưới có lông mịn, dài 15 - 20 cm, rộng 6 - 7 cm, gân chính nổi rõ Lá non mọc thành một đường xoắn ốc rất đặc biệt Bẹ lá nhẵn hoặc có lông, lúc non màu lục nhạt sau chuyển trắng ngà hoặc đỏ sẫm, lưỡi bẹ phẳng hoặc hơi vát Cụm hoa mọc ở ngọn thân thành bông chùy, dài 8 - 13 cm, rộng 5 - 9 cm, lá bắc dày, xếp lớp, màu đỏ, có mũi nhọn, lá bắc con kề bên, cùng màu, đài hình ống loe ở đầu, có 3 răng cứng màu đỏ sẫm, tràng hình phễu, có ống ngắn và cong màu trắng, hoặc trắng vàng, nhẵn hoặc có lông, nhị dạng cánh mang một bao phấn, chỉ nhị kết hợp với trung đới kéo dài thành một phần phụ hình trứng đảo hẹp, đầu tròn cong lòng máng ôm lấy vòi nhụy, cánh môi to, màu hồng, trắng hoặc vàng, khía răng ở đầu, bầu nhẵn hoặc có lông Quả nang hình trứng hoặc hình bầu dục có 3 cạnh, màu đỏ sẫm, có đài tồn tại, hạt nhiều, có cạnh không đều màu đen Mùa hoa quả vào tháng 3 - 7
Nơi sống: Cây mía dò sống ở những nơi ẩm thấp, cây ưa ánh sáng
Mục đích sử dụng: Cây mía dò là cây sống lâu năm, ưa sáng và có hoa đẹp nên ta có
thể trồng làm trang trí sân vườn, ngoài ra còn có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi
tiểu, tiêu thũng, chống viêm
Trang 354.2.2.3 Nhóm trang trí nội thất
Trong nhóm này có 2 loài (xem phụ lục 1), sau đây chỉ trình bày loài ưu tiên
* Cây Ráy mũi - Alocasia cuspidata Engler
Hình 4.6: Cây Ráy mũi (a) (b)
Nguồn: Vũ Văn Nhật, năm 2012
Phân loại khoa học :
Ngành ngọc lan - Magnoliophyta
Lớp một lá mần - Liliopsida
Bộ ráy - Arales
Họ ráy - Araceae
Mô tả: Cây Ráy mũi có dạng địa thực vật có củ Lá nhọn phiến mũi giáo tam giác,
dài 30 cm, chót nhọn, tai tà nhọn, xanh đậm, gân phụ 4 - 5 cặp, cuống gắn cách bìa
1 - 2 cm, mảnh, dài 30 cm Buồng hoa cao 8 - 10 cm, mô xanh, chót nhọn, phần cái
có noãn đảo, bầu dưới đính phôi ở đáy, mang 6 - 10 noãn, hoa lép màu da người, phần đực mang liên hùng rộng 3 - 5 mm, do 6 - 8 tiểu nhụy, bao phấn có phụ bộ bất
thụ, màu trắng Phì quả tròn, to 6 - 8 mm
Nơi sống: Cây Ráy mũi sống ở nơi ẩm, thường thấy trong rừng rậm, đôi khi bắt gặp
trong rừng thưa, cây có tính vừa chịu bóng, vừa chịu ánh sáng
Mục đích sử dụng: Cây Ráy mũi có hoa đẹp và lá cũng đặc trưng và chịu bóng tốt
nên ta trồng trong chậu làm cảnh trước cửa nhà, hoặc trong phòng khách
Trang 364.2.3 Nhóm thân gỗ
4.2.3.1 Nhóm làm hàng rào, đường viền
Trong nhóm này có 2 loài (xem phụ lục 1), sau đây chỉ trình bày loài ưu tiên
* Cây Dành dành trung bộ - Gardenia annamensis Pit
Hình 4.7: Cây Dành dành trung bộ (a) (b)
Nguồn: Vũ Văn Nhật, năm 2012
Phân loại khoa học:
Ngành ngọc lan - Magnoliophyta
Lớp song tử diệp - Magnoliopsida
Bộ long đởm - Gentianales
Họ cà phê - Rubiaceae
Mô tả: Cây Dành dành trung bộ có thân dạng tiểu mộc không lông Lá có phiến bầu
dục, dài đến 18 cm, đáy nhọn, dai, lúc khô nâu đen đen mặt trên, gân phụ 12 - 14 cặp, cuống 6 - 10 mm, lá bẹ 8 - 14 mm Hoa mọc cô độc ở nách lá trên, màu vàng ngà có mùi thơm như hoa nhài, cuống hoa 2 - 4 cm, đế hoa cao 1,5 cm, cắt ngang hay có răng nhỏ, vành hoa có ống cao 3 cm, cánh hoa 5, cao 22 mm, tiểu nhụy 5, đính phôi trắc mô 2, n noãn Phì quả xoan, có 5 sóng cao dọc, dài 1,5 - 4 cm, rộng 1
- 2,5 cm, có đài tồn tại, hột nhiều, dẹp dẹp
Nơi sống: Cây Dành dành trung bộ sống ở nơi ẩm, thường thấy ở ven rừng rậm,
rừng thưa
Trang 37Mục đích sử dụng: Cây Dành dành trung bộ có hoa đẹp và thơm, cây sống lâu năm
và ưa ánh sáng nên ta có thể trồng làm hàng rào để tạo không khí thoáng mát với những hương thơm của hoa dành dành trung bộ kết hợp với sự che nắng với những tán lá dầy và xanh đậm
4.2.3.2 Nhóm trang trí ngoại thất
Trong nhóm này có 2 loài (xem phụ lục 1), sau đây chỉ trình bày loài ưu tiên
* Cây Kim sương (Mắt trâu cong) - Micromelum minutum (Forst F) W & A
Hình 4.8: Cây Kim sương (a) (b)
Nguồn: Vũ Văn Nhật, năm 2012
Phân loại khoa học:
Ngành ngọc Lan - Magnoliophyta
Lớp song tử diệp - Magnoliopsida
Bộ cam - Rutales
Họ cam quýt - Rutaceae
Mô tả: Cây Kim sương có dạng thân gỗ nhỏ cao 2 - 6 m, thân cong queo, mập, màu
xám xanh, phân cành sớm, dài, lúc non có lông mịn sau nhẵn, tán rộng thưa Lá kép lông chim 1 lần lẻ, mang 7 - 9 lá phụ, dạng thuôn bầu dục lệch, cong, đầu lá thuôn nhọn dài, gốc tù rộng, lệch, màu xanh lục vàng, nhẵn (trừ gân ở mặt dưới) mép răng reo, gợn sóng Gân bên 6 - 8 đôi Cụm hoa chùy mọc ở nách lá và ngắn hơn lá Hoa màu trắng nhạt hay vàng, có mùi thơm, Cuống chung có lông mềm Hoa cao 0,5
cm, cánh tràng 5, có lông thưa mềm Nhị đực 10 Quả mọng dạng trái xoan, màu
Trang 38vàng cam hay đỏ, nhẵn, có nhiều tuyến thơm, chứa 2 - 3 ô, mỗi ô 1 hạt Cây ra hoa vào tháng 11 đến tháng 3, quả tháng 5 - 7 Cây cho rễ, lá dùng làm thuốc Lá, quả có tinh dầu thơm, hoa có hương thơm Rễ, lá có vị đắng cay có tác dụng trị cảm mạo, chữa vết thương, nọc rắn, sâu bọ đốt Lá ngâm rượu xoa bóp tê thấp Rễ chữa ho, tê
thấp, tức ngực, tổn thương do té ngã
Nơi sống: Cây Kim sương sống ở rừng thưa, nơi có nhiều ánh sáng, đôi khi cũng
thường thấy cây con mọc ở rừng rậm
Mục đích sử dụng: Cây Kim sương có hoa đẹp, và có mùi thơm, cây ưa sáng nên
trồng cây làm cảnh ở trước sân nhà tạo được một không khí đầy hương thơm kết hợp với dáng cây cong queo, uốn lượn tạo được phong cảnh đẹp tự nhiên cho ngôi nhà ở
4.2.3.3 Nhóm trang trí nội thất
Trong nhóm này có 3 loài (xem phụ lục 1), sau đây chỉ trình bày loài ưu tiên
* Cây Hỏa rô trung bộ - Phlogacanthus annamensis R Ben
Hình 4.9: Cây Hỏa rô trung bộ (a) (b)
Nguồn: Vũ Văn Nhật, năm 2012
Phân loai khoa học :
Ngành ngọc Lan - Magnoliophyta
Lớp song tử diệp - Magnoliopsida
Bộ hoa mõm chó - Scrophulariales
Họ ô rô - Acanthaceae