1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SO SÁNH TỶ LỆ SỐNG VÀ ĐÁNH GIÁ TỐC ĐỘ SINH TRƯỞNG CỦA HAI DÒNG CAO SU VÔ TÍNH PB 260 VÀ RRIV 5 KHI GHÉP TRÊN CÙNG GỐC GHÉP GT 1 Ở GIAI ĐOẠN VƯỜN ƯƠM

73 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau đó, theo dõi, thu thập và xử lý số liệu về tỷ lệ sống, tỷ lệ nảy chồi của 2 dòng cao su vô tính tại các thời điểm khác nhau và rút ra được các kết luận: Ở thời điểm 25 ngày và 35 ngà

Trang 1



TRẦN THỊ KHÁNH LY

SO SÁNH TỶ LỆ SỐNG VÀ ĐÁNH GIÁ TỐC ĐỘ SINH TRƯỞNG CỦA HAI DÒNG CAO SU VÔ TÍNH PB 260 VÀ RRIV 5 KHI GHÉP TRÊN CÙNG GỐC GHÉP GT 1

Ở GIAI ĐOẠN VƯỜN ƯƠM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH LÂM NGHIỆP

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 06/2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH



TRẦN THỊ KHÁNH LY

SO SÁNH TỶ LỆ SỐNG VÀ ĐÁNH GIÁ TỐC ĐỘ SINH TRƯỞNG CỦA HAI DÒNG CAO SU VÔ TÍNH PB 260 VÀ RRIV 5 KHI GHÉP TRÊN CÙNG GỐC GHÉP GT 1

Ở GIAI ĐOẠN VƯỜN ƯƠM

Ngành: Lâm Nghiệp Chuyên ngành: Nông Lâm Kết Hợp

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: ThS LÊ HUỲNH

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 06/2012

Trang 3

Lời cảm ơn chân thành nhất đến chú Thanh – người đã tận tình giúp đỡ và chỉ bảo tôi trong suốt thời gian thực tập tại vườn ươm của Nông Trường Cao Su Quản Lợi

Chân thành biết ơn:

Thầy Lê Huỳnh đã tận tình hướng dẫn trong suốt thời gian thực hiện đề tài Các bạn sinh viên lớp DH08NK đã nhiệt tình giúp đỡ và động viên tôi trong thời gian học tập tại trường

Lòng biết ơn vô vàn con xin kính dâng cha mẹ, người đã suốt đời tận tụy nuôi dưỡng, hy sinh cho con đạt được thành quả ngày hôm nay

Tp Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 06 năm 2012

Sinh viên thực hiện

Trần Thị Khánh Ly

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài “So sánh tỷ lệ sống và đánh giá tốc độ sinh trưởng của 2 dòng cao

su vô tính PB 260 và RRIV 5 khi ghép trên cùng gốc ghép GT 1 ở giai đoạn vườn ươm” được tiến hành như sau:

Đề tài được thực hiện từ 15/03/2012 đến 15/05/2012 tại vườn ươm của Nông Trường Cao Su Quản Lợi ở huyện Bình Long tỉnh Bình Phước

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (Randomized completed block design, RCBD), gồm 2 nghiệm thức là: giống PB 260 và giống RRIV 5, 3 lần lặp lại/nghiệm thức

Sau đó, theo dõi, thu thập và xử lý số liệu về tỷ lệ sống, tỷ lệ nảy chồi của 2 dòng cao su vô tính tại các thời điểm khác nhau và rút ra được các kết luận:

Ở thời điểm 25 ngày và 35 ngày sau khi ghép giống RRIV 5 đều có tỷ lệ sống trung bình cao hơn giống PB 260

Tại các mốc thời gian 45 ngày, 52 ngày, 59 ngày sau khi ghép thì tỷ lệ nảy chồi trung bình của dòng vô tính RRIV 5 đều cao hơn so với dòng vô tính PB 260 Sau khi mắt ghép nảy chồi, tiến hành theo dõi và đo đếm các chỉ tiêu tăng trưởng (đường kính, chiều cao) để so sánh tốc độ tăng trưởng của 2 nghiệm thức và thu được các kết quả : qua 3 mốc thời gian là 15 ngày, 30 ngày, 40 ngày sau khi mắt ghép nảy chồi thì chiều cao trung bình và đường kính trung bình của giống RRIV 5 luôn luôn lớn hơn so với giống PB 260

Trang 5

SUMMARY

The research subjects: “Comparison of survival rate and assessing growth

of two clonal lines of rubber PB 260 and RRIV 5 when are grafted on the same rootstock GT 1 at Quản Lợi nursery farm in leaf bud grafting with a stable floor period”, done at nursery of Quan Loi rubber farm, Binh Long district, Binh Phuoc

province, from march 15th, 2012 to may 15th, 2012

The experiment was arranged in randomized complete block design (RCBD), with two treatments is: PB260 and RRIV 5 genus, three replicates/treament

And then, tested, gathered and processed data about survival rate, budding rate of two clonal lines rubber at the other period and gathered conlusions:

After budding genus at twenties five days and thirdies five days point, RRIV

5 genus had average suvival rate higher than PB 260 rate

After budding genus at 45 days, 52 days, 59 days point, average budding rate

of RRIV 5 clonal line was higher than PB 260 clonal line

After grafts budded, conducted testing, and measuring growth targets

(diameter, height), to compare constant growth rate of two treatments, and obtained results: passed three period times such: 15 days, 30 days, 40 days After grafts budded, average height and diameter of RRIV 5 genus are always higher than PB

260 genus

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Trang tựa ……… i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

SUMMARY iv

MỤC LỤC v

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH SÁCH CÁC BẢNG ix

DANH SÁCH CÁC HÌNH xi

Chương 1 1

MỞ ĐẦU 1

1.1Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và mục tiêu 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Mục tiêu 2

1.2.3 Giới hạn đề tài 2

Chương 2 3

TỔNG QUAN 3

2.1 Họ tên và nguồn gốc 3

2.2 Khái quát phân bố cao su trên thế giới 3

2.3 Đặc điểm sinh học và sinh thái 4

2.3.1 Đặc điểm sinh học 4

2.3.1.1 Rễ 4

2.3.1.2 Thân 5

2.3.1.3 Vỏ 5

2.3.1.4 Lá 5

Trang 7

2.3.1.5 Hoa 6

2.3.1.6 Quả và hạt 6

2.3.2 Đặc điểm sinh thái 7

2.3.2.1 Nhiệt độ 7

2.3.2.2 Lượng mưa 7

2.3.2.3 Gió 7

2.3.2.4 Giờ chiếu sáng, sýõng mù 7

2.3.2.5 Ðộ cao 8

2.3.2.6 Ðịa hình 8

2.3.2.7 Lý hóa tính 8

2.4 Ðặc điểm di truyền của cây cao su: 8

2.5 Tình hình nghiên cứu và sản xuất cao su trên thế giới và tại Việt Nam 9

2.5.1 Trên thế giới 9

2.5.2 Tiêu thụ cao su trên thế giới 11

2.5.3 Tiêu thụ cao su ở Việt Nam 11

2.6 Kĩ thuật vườn ươm gốc ghép 14

2.7 Vườn nhân gỗ ghép 16

2.8 Quy trình kĩ thuật ghép 17

2.8.1 Chuẩn bị gốc ghép 17

2.8.2 Cắt mắt ghép 17

2.8.3 Lắp mắt ghép vào gốc ghép 18

2.8.4 Điều kiện để có tỷ lệ ghép sống cao 19

2.9 Đặc điểm di truyền các DVT: GT 1, PB 260, RRIV 5 19

2.9.1 Dòng vô tính cao su giống GT 1 19

2.9.2 Dòng vô tính PB 260 20

2.9.3 Đặc điểm chung dòng vô tính RRIV 5 21

Chương 3 22

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

3.1 Vật liệu thí nghiệm 22

Trang 8

3.1.1 Đất đai và địa hình 22

3.1.2 Nguồn nước 22

3.2 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 23

3.3 Phương pháp thí nghiệm 23

3.3.1 Bố trí thí nghiệm 23

3.3.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 23

3.3.3 Phương pháp theo dõi và xử lý số liệu 24

3.3.3.1 Quy trình thực hiện 24

3.3.3.2 Chỉ tiêu theo dõi 24

Chương 4 26

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26

4.1 Tỷ lệ mắt ghép sống sau khi ghép 26

4.2 Tỷ lệ nảy chồi sau khi ghép 28

4.3 Tốc độ tăng trưởng của 2 dòng cao su vô tính PB260 và RRIV5 ở các thời điểm 15 ngày, 30 ngày, 40 ngày sau khi mắt ghép nảy chồi 33

4.3.1 Tăng trưởng về chiều cao trung bình 33

4.3.1.1 Chiều cao trung bình sau 15 ngày nảy chồi 33

4.3.1.2 Chiều cao trung bình ở thời điểm 30 ngày sau khi nảy chồi 34

4.3.1.2 Chiều cao trung bình khi cây được 40 ngày từ sau khi cây ghép nảy chồi 36

4.3.2 Tăng trưởng về đường kính trung bình 38

4.3.2.1 Ðường kính trung bình ở thời điểm 15 ngày sau khi mắt ghép nảy chồi 38

4.3.2.2 Đường kính trung bình ở thời ðiểm 30 ngày sau khi mắt ghép nảy chồi 39

4.3.2.3 Ðường kính trung bình khi cây ghép được 40 ngày sau khi nảy chồi 40

Chương 5 43

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43

5.1 Kết luận 43

5.2 Kiến nghị 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

PHỤ LỤC   46

Trang 9

IRRDB: International Rubber Research Development Board

(Hiệp hội nghiên cứu và Phát triển cây cao su Thiên nhiên Thế giới) NT: Nghiệm thức

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang

Bảng 4.1: Tỷ lệ mắt ghép sống của 2 NT sau khi ghép 25 ngày (đõn vị: %) 26

Bảng 4.2: Bảng trắc nghiệm t cho tỷ lệ mắt ghép sống giữa 2 NT 27

sau khi ghép 25 ngày 27

Bảng 4.3: Tỷ lệ mắt ghép sống của 2 NT sau khi ghép 35 ngày (đơn vị: %) 27

Bảng 4.4: Bảng trắc nghiệm t cho tỷ lệ mắt ghép sống của 2 NT 28

sau khi ghép 35 ngày 28

Bảng 4.5: Tỷ lệ nảy chồi của mắt ghép giữa 2 NT ở thời điểm 45 ngày sau khi ghép 29

(đơn vị: %) 29

Bảng 4.6: Bảng trắc nghiệm t cho tỷ lệ nảy chồi của mắt ghép giữa 2 NT 29

sau khi ghép 45 ngày 29

Bảng 4.7: Tỷ lệ nảy chồi của mắt ghép giữa 2 NT ở thời điểm 52 ngày 30

sau khi ghép (đơn vị: %) 30

Bảng 4.8: Bảng trắc nghiệm t cho tỷ lệ nảy chồi của mắt ghép giữa 2 NT 30

sau khi ghép 52 ngày 30

Bảng 4.9: Tỷ lệ nảy chồi của mắt ghép giữa 2 NT ở thời điểm 59 ngày 31

sau khi ghép (đơn vị: %) 31

Bảng 4.10: Bảng trắc nghiệm t cho tỷ lệ nảy chồi của mắt ghép giữa 2 NT 31

sau khi ghép 59 ngày 31

Bảng 4.11: Chiều cao trung bình của 2 NT sau khi nảy chồi 15 ngày (đơn vị: cm) 33 Bảng 4.12: Bảng trắc nghiệm t cho chiều cao trung bình của 2 NT sau khi nảy chồi 15 ngày 34

Bảng 4.13: Chiều cao trung bình sau khi cây ghép của 2 NT nảy chồi 34

30 ngày (đơn vị: %) 34

Bảng 4.14: Bảng trắc nghiệm t cho chiều cao trung bình của 2 NT 35

Trang 11

sau khi nảy chồi 30 ngày 35 Bảng 4.15: Chiều cao trung bình khi cây ghép của 2 NT được 40 ngày từ sau khi nảy chồi (đơn vị: cm) 36 Bảng 4.16: Bảng trắc nghiệm t cho chiều cao trung bình của 2 NT sau khi nảy chồi

40 ngày 37 Bảng 4.17: Ðường kính trung bình của 2 NT ở thời điểm 15 ngày 38 sau khi nảy chồi (đơn vị: cm) 38 Bảng 4.18: Bảng trắc nghiệm t cho đường kính trung bình của 2 NT sau khi nảy chồi 15 ngày 39 Bảng 4.19: Ðường kính trung bình của 2 NT sau khi nảy chồi 30 ngày (đơn vị: cm) 39 Bảng 4.20: Bảng trắc nghiệm t cho đường kính trung bình của 2 NT sau khi nảy chồi 30 ngày 40 Bảng 4.21: Chiều cao trung bình của NT1 và NT2 ở thời điểm 40 ngày 40 sau khi nảy chồi (đơn vị: cm) 40 Bảng 4.22: Bảng trắc nghiệm t cho đường kính trung bình của 2 NT sau khi nảy chồi 40 ngày 41

Trang 12

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Trang

Hình 2.1: Vườn nhân gỗ ghép 17

Hình 2.2: Mắt ghép sau khi lấy ra khỏi cành ghép 18

Hình 3.1: Thao tác đo chiều cao chồi ghép 24

Hình 4.1: Biểu đồ so sánh tỷ lệ sống của 2 NT tại các thời điểm 28

Hình 4.2: Biểu đồ so sánh tỷ lệ nảy chồi của NT1 và NT2 tại các thời điểm 32

Hình 4.3: Biểu đồ so sánh chiều cao trung bình của 2 NT ở các thời điểm 37

Hình 4.4: Biểu đồ so sánh đường kính trung bình giữa 41

Trang 13

tăng thêm ngân sách Nhà nước hằng năm Hiện nay, cây cao su (Hevea brasiliensis)

là một loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, cung cấp nguyên liệu sản xuất ra nhiều loại sản phẩm phục vụ cho nền công nghiệp hiện đại và đời sống con người Bên cạnh đó, cây cao su cũng có tác dụng tạo việc làm, phát triển kinh tế xã hội ở các vùng kinh tế mới, các vùng sâu, vùng xa Ngoài ra, nó còn có tác dụng bảo vệ môi trường sinh thái, phủ xanh đất trống đồi trọc, chống xói mòn cải tạo đất

Cây cao su được du nhập vào Việt Nam từ năm 1897, trải qua nhiều thập niên nghiên cứu và phát triển, cây cao su trở thành cây trồng có giá trị kinh tế trong

cơ cấu cây công nghiệp dài ngày

Ở Việt Nam, nhờ có khí hậu gió mùa nên rất thuận lợi cho việc trồng và phát triển cây cao su trên diện rộng Nhưng bên cạnh đó việc đầu tư phát triển còn gặp nhiều hạn chế bởi thời gian chăm sóc và nguồn vốn cung ứng giai đoạn kiến thiết cơ bản quá dài thường là 5 - 7 năm Đồng thời, việc phát triển thâm canh cây cao su trên diện rộng có khí hậu mưa nhiều, là điều kiện thuận lợi tạo cho nhiều nguồn bệnh gây hại phát triển nhanh dẫn đến ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sản xuất kinh doanh Vì thế, để tiếp tục phát triển ngành cao su phải có những biện pháp, những chính sách đầu tư hợp lý, có hiệu quả, không ngừng ứng dụng những biện pháp khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất, phòng trừ sâu bệnh hại, tăng sản lượng và chất lượng để có thể cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu của thị trường cao su thiên nhiên về số lượng lẫn chất lượng

Trang 14

Để giải quyết một số mục tiêu trên, từ những năm đầu của thế kỉ XX nhiều nhà khoa học đã tìm cách nhân giống vô tính cây cao su bằng cách ghép mắt trên cây cao su thực sinh, nhằm hạn chế các nhược điểm về mặt sinh học như: sản lượng thấp, vườn cây không đồng đều và vỏ dày khó cạo mủ… của phương thức trồng cao

su bằng hạt Chính vì vậy, để tiếp tục phát triển ngành cao su phải có các biện pháp nâng cao giá trị của cây cao su thông qua việc bình tuyển giống mới đạt chất lượng

và mở rộng diện tích trồng

Nhằm đánh giá và so sánh khả năng sinh trưởng của các dòng vô tính trong giai đoạn vườn ươm để chọn ra dòng vô tính có khả năng phát triển mạnh để đưa

vào sản xuất, đề tài “So sánh tỷ lệ sống và đánh giá tốc độ sinh trưởng của 2 dòng

cao su vô tính PB 260 và RRIV 5 khi ghép trên cùng gốc ghép GT 1 ở giai đoạn vườn ươm” đã được tiến hành

1.2 Mục đích và mục tiêu

1.2.1 Mục đích

Hoàn chỉnh kỹ thuật ghép các dòng vô tính ở cây cao su và theo dõi tốc độ sinh trưởng (chiều cao, đường kính) của 2 giống cao su: PB 260 và RRIV 5 ở giai đoạn trong vườn ươm đến khi đạt một tầng lá ổn định

1.2.2 Mục tiêu

 Đánh giá kĩ thuật ghép cây cao su tại địa phương

 So sánh tỷ lệ sống và khả năng nảy chồi của 2 dòng cao su vô tính: PB

260 và RRIV 5

 So sánh tốc độ sinh trưởng tầng lá thứ nhất của chồi ghép cao su ở 2 giống: PB 260 và RRIV 5

1.2.3 Giới hạn đề tài

Do thời gian thực hiện đề tài tương đối ngắn từ 15/03/2012 đến 15/05/2012,

vì vậy các số liệu thu thập cũng như các kết luận chỉ mang tính chất ghi nhận ở giai đoạn chồi ghép được một tầng lá ổn định, để có các kết luận chính xác hơn về tỷ lệ sống, khả năng nảy chồi cũng như tốc độ sinh trưởng thì cần có thêm thời gian nghiên cứu về các chỉ tiêu của các giống cao su tại khu vực nghiên cứu

Trang 15

Chương 2

TỔNG QUAN

2.1 Họ tên và nguồn gốc

Cây cao su (Hevea brasiliensis Muell Arg) là một loài thuộc chi Hevea, họ

Euphorbiaceae Trong chi Hevea, còn có 9 loài Hevea khác: H benthamiana, H camargoana, H camporum, H guianensis, H nitida, H microphylla, H pauciflora, H rigidifolia và H spruceana Mặc dù tất cả các loài Hevea đều là các

loài cho mủ, nhưng chỉ có loài Hevea brasiliensis là loài có ý nghĩa về kinh tế và

được trồng rộng rãi nhất Cây cao su được tìm thấy trong tình trạng hoang dại, mọc

tự nhiên ở vùng rừng lưu vực sông Amazon, Nam Mỹ, trải rộng từ vĩ tuyến 150Nam đến vĩ tuyến 60 Bắc và kinh tuyến 460 - 770 Tây, bao trùm các nước: Brazil, Bolivia, Colombia, Peru, Venezuela, French Guiana, Surinam và Guyana (Webster

et al, 1989) Ngoài vùng xuất xứ trên, người ta không còn thấy cây cao su trong tự nhiên ở các nơi khác trên thế giới (Doung Chan Dara, 2007)

2.2 Khái quát phân bố cao su trên thế giới

Cho đến cuối thế kỉ 19, cao su tự nhiên là do Brazil độc quyền cung cấp từ các cây rừng Để giải quyết nhu cầu về cao su ngày càng tăng, nước Anh đã tìm cách trồng cây cao su ở các nước châu Á Năm 1876, Henry Wickham, nhà thực vật học người Anh, đã chuyển cây con từ hạt cao su thu thập từ Brazil sang trồng ở Sri Lanka, Singapore, Malaysia và Indonesia Từ năm 1883, cây cao su ở Sri Lanka và Malaysia có hạt và làm nguồn giống cung cấp cho nhiều nước châu Á và châu Phi Sau năm 1889, các vườn cao su châu Á bắt đầu sản xuất mủ, nhanh chóng vượt Brazil và đến nay vẫn giữ vị trí chủ đạo, đứng đầu là Thái Lan, Indonesia và Malaysia Cây cao su phát triển tốt trong vùng nhiệt đới ẩm trải dài từ vĩ tuyến 100

Trang 16

Nam đến 150 Bắc, có điều kiện tương tự như nguyên quán và trở thành vùng truyền thống của cây cao su Đến năm 2004, toàn thế giới có khoảng 9,2 triệu ha bao gồm trên 24 nước với sản lượng 8,6 triệu tấn và mức tiêu thụ là 8,64 triệu tấn (IRSG, 2005) Diện tích trồng cao su tập trung ở châu Á 93,1 %, châu Phi 5,1 %, và châu

Mỹ 1,8 % Cao su khó phát triển ở nguyên quán Nam Mỹ vì tác hại của bệnh cháy

rụng lá do nấm Mycrocylus ulei (Doung Chan Dara, 2007)

2.3 Đặc điểm sinh học và sinh thái

2.3.1 Đặc điểm sinh học

Cây cao su Hevea brasiliensis là cây thân gỗ to, sinh trưởng nhanh, thân

thẳng, có vỏ màu xám và tương đối láng Đây là loài cây cao nhất trong các giống cây cho mủ Trong điều kiện hoang dại cây cao su có thể mọc cao 40 m, vanh thân

có thể đạt 5 – 7 m và sống trên 100 năm Hiện nay, cây cao su trưởng thành cao khoảng 20 – 25 m, vanh thân khoảng 1 m vào cuối thời kỳ kinh doanh Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kĩ thuật ngày càng có nhiều giống mới năng suất cao thời kỳ kiến thiết cơ bản ngắn, kĩ thuật khai thác mủ tiến bộ thu được nhiều mủ Vì vậy, tuổi thọ cây rất ngắn chỉ còn 20 - 25 năm Khi năng suất thấp không còn hiệu quả kinh tế, cây cao su sẽ được thanh lý để trồng lại (Nguyễn Thị Huệ, 1997)

2.3.1.1 Rễ

Cây cao su có 2 loại rễ: Rễ cọc và rễ bàng

Rễ cọc (rễ cái, rễ trụ) : Rễ phát triển và có thể ăn sâu 10m ở những vùng đất

có tầng canh tác sâu Rễ có thể ăn sâu đến 2,4 m ở giai đoạn từ 7 đến 8 tuổi, mọc thẳng vào lòng đất giữ cho cây đứng vững, chống đổ ngã và cung cấp chất dinh dưỡng ở tầng đất sâu trong thời kỳ sống của cây

Rễ bàng (rễ hấp thu): Hệ rễ bàng rất phong phú và mọc lan rộng 6 m đến 9

m Vì vậy rễ cây này đan chéo với rễ cây khác và đôi khi có sự ghép lẫn nhau Rễ bàng thường mọc ở tầng canh tác sâu khoảng 30 cm ở lớp đất mặt, rễ có đường kính khoảng 1mm màu nâu vàng và mang nhiều lông để hấp thu chất dinh dưỡng nuôi cây Lúc cây trưởng thành, trọng lượng toàn bộ hệ thống rễ chiếm khoảng 15%

Trang 17

trọng lượng toàn cây Hệ thống rễ phát triển theo mùa, phát triển tối đa vào giai đoạn cây ra lá non và ở mức độ tối thiểu vào giai đoạn lá già trước khi rụng

2.3.1.2 Thân

Cây cao su có thân gỗ to, hình trụ, gốc hơi phình ra, mọc thẳng đứng, ít khi cong và nghiêng, thường là tròn, bắt đầu phân cành ở độ cao 2 m đến 2,5 m Sau khi cạo mủ được vài năm, chiều cao và đường kính thân tăng rất nhanh, từ năm 16 đến năm 20 tuổi trở đi thì sự tăng trưởng đó chậm lại, sau đó cây ngừng tăng trưởng hẳn

và trở về già Mùa khô cây tăng trưởng chậm về chiều cao và đường vanh, về mùa mưa cây tăng trưởng nhanh lá xanh mượt, da vỏ tươi mát Cây non trung bình mỗi tháng mọc được một tầng lá mới

2.3.1.3 Vỏ

Gồm 3 lớp chính là: Lớp da bần, lớp vỏ cứng và lớp vỏ mềm (lớp da lụa) Lớp da bần tập hợp các tế bào chết bảo vệ các lớp bên trong Lớp vỏ cứng là lớp da cát có chứa một số mạch mủ Lớp vỏ mềm có chứa nhiều mạch mủ nơi cung cấp Latex Mạch mủ xếp nghiêng từ phải qua trái tính từ dưới lên làm thành một góc 3

độ đến 5 độ so với đường thẳng

2.3.1.4 Lá

Lá cao su là lá kép gồm 3 lá chét với phiến là nguyên mọc cách Khi trưởng thành lá có màu xanh đậm ở mặt trên lá và màu nhạt hơn ở mặt dưới Lá gắn với cuống lá thành một góc 1800, cuống lá dài khoảng 15 cm, mảnh khảnh Các lá chét

có hình bầu dục, hơi dài hoặc hơi tròn Màu sắc lá thay đổi tùy theo giống Lá cao

su tập trung thành từng tầng để hình thành một tầng lá Khi lá mới bắt đầu mọc ra,

lá non uốn cong gần như song song với cuống lá Lá non có màu tím sậm, khi các lá này lớn dần có màu xanh lục nhạt và vươn thẳng ra Lá trưởng thành có màu xanh lục đậm Để hình thành một tầng lá, trong điều kiện khí hậu Việt Nam mùa mưa cần đến 25 - 30 ngày, vào mùa nắng cần đến 40 - 50 ngày hay nhiều hơn nữa để có một tầng lá ổn định Các nghiên cứu ở Mã Lai cho thấy hiện tượng quang hợp lá cao su chỉ bắt đầu khi lá phát triển được một tuần, cường độ quang hợp tăng dần đến mức tối đa đạt được mức ổn định khi lá được 50 - 60 ngày tuổi Cây cao su có hiện tượng

Trang 18

rụng lá qua đông, lá rụng toàn bộ sau đó nảy lộc phát triển bộ lá mới Cây thay lá sớm hay muộn tùy thuộc vào đặc điểm giống và điều kiện môi trường Trong điều kiện Việt Nam cây rụng lá qua đông từ cuối tháng 12 đến tháng 2 năm sau ở Tây Nguyên và miền trung cây cao su thay lá sớm hơn

2.3.1.5 Hoa

Cây cao su 5 đến 6 tuổi trở lên bắt đầu trổ hoa và thường mỗi năm trổ một lần sau thời kì rụng lá sinh lý hay còn gọi là rụng lá qua đông Trong điều kiện khí hậu Việt Nam cây cao su trổ hoa vào khoảng tháng 2 - 3 dương lịch Hoa cao su là hoa đơn tính đồng chu Phát hoa hình chùm mọc ở đầu cành Trên mỗi chùm hoa đều có hoa đực và hoa cái với tỉ lệ 1:60 (một hoa cái cho khoảng 60 hoa đực) Một chùm hoa lớn có khoảng 2.500- 3.000 hoa đực Hoa cao su có hình chuông nhỏ, dài khoảng 3,5 - 8,0 mm, màu vàng nhạt có mùi thơm thoang thoảng Trong thiên nhiên hoa cao su thụ phấn do các loại côn trùng như ong, bướm, kiến, ruồi và một phần rất nhỏ nhờ gió Tỉ lệ đậu trái trong tự nhiên là rất thấp, thường dưới 3 % Ở Manaus và Sao Paulo (Brazil), những vùng phía Nam xích đạo, cao su chỉ nở hoa vào tháng 8 -

9 (Priyadarshan và cộng sự, 2001)

2.3.1.6 Quả và hạt

Quả cao su hình tròn hơi dẹt, có đường kính 3 cm đến 5 cm thuộc loại quả nang gồm 3 ngăn, mỗi ngăn chứa 1 hạt Quả cao su sau khi hình thành và phát triển được 12 tuần thì quả đạt kích thước lớn nhất, 16 tuần vỏ quả đã hóa gỗ và 19 - 20 tuần thì quả chín, quả khi chín là quả khô, tự động nứt để tung hạt ra bên ngoài

Hạt cao su hình tròn, dài hoặc hình bầu dục, có kích thước thay đổi 2 cm đến 3,5 cm, lớp vỏ ngoài hạt láng, màu nâu đậm hay nhạt hoặc màu vàng đậm trên

có các vân màu đậm hơn Kích thước, hình dáng, màu sắc thay đổi nhiều giữa các giống cây là một trong những đặc điểm để nhận dạng giống cao su Bên trong vỏ hạt có nhân hạt gồm phôi nhũ và cây mầm (Nguyễn Thị Huệ, 1997)

Trang 19

2.3.2 Đặc điểm sinh thái

2.3.2.1 Nhiệt độ

Cây cao su cần nhiệt độ cao và đều với nhiệt độ thích hợp nhất 250C - 28

0C, trên 400C cây khô héo, dưới 100C cây có thể chịu đựng được trong một thời gian ngắn, nếu kéo dài cây sẽ bị nguy hại như là: cây bị héo, rụng lá, chồi ngọn ngưng tăng trưởng, thân cây cao su kiến thiết cơ bản bị nứt nẻ, xì mủ… Nhiệt độ thấp 50C kéo dài sẽ dẫn đến chết cây, ở nhiệt độ 250C năng suất cây đạt mức tối hảo, nhiệt độ mát dịu vào buổi sáng sớm (1 - 5 giờ sáng) giúp cây sản xuất mủ cao nhất Các vùng trồng cao su trên thế giới hiện nay phần lớn ở vùng khí hậu nhiệt đới có nhiệt

độ bình quân năm 280C 20C và biên độ nhiệt trong ngày là 7 - 80C

2.3.2.2 Lượng mưa

Mưa là một yếu tố quan trọng đối với sự sinh trưởng và sản lượng của cây cao su Cây cao su có thể trồng ở các vùng đất có lượng mưa 1500 - 2000 mm nước/năm Tuy vậy, đối với các vùng có lượng mưa thấp dưới 1500 mm nước/năm thì lượng mưa cần phải phân bố đều trong năm thì cây phát triển tốt nhất Đối với cây cao su trưởng thành thì có sức chịu hạn tốt, khi cây còn non khả năng chịu hạn kém hơn Ở miền Nam Việt Nam với hai mùa mưa nắng rõ rệt, vào mùa khô cây cao su có sản lượng thấp, cũng như sinh trưởng kém Vào mùa mưa, chế độ mưa ở miền Nam đặc biệt là miền Đông Nam Bộ rất thích hợp cho cây cao su

2.3.2.3 Gió

Cây cao su phát triển tốt nhất trong điều kiện gió nhẹ 1 – 2 m/giây, khảo nghiệm ở Mã Lai cho thấy khi gió có tốc độ 8 - 13,8 m/giây, lá cao su non bị xoắn lại, lá bị rách, làm chậm tăng trưởng của cây, khi tốc độ gió lớn hơn 17,2 m/giây cây bắt đầu gãy thân và cành, nếu lớn hơn 25 m/giây cây bị gãy thân và lật gốc Mức độ thiệt hại phụ thuộc vào dòng vô tính và kĩ thuật canh tác

2.3.2.4 Giờ chiếu sáng, sương mù

Giờ chiếu sáng ảnh hưởng trực tiếp đến cường độ quang hợp của cây và như thế ảnh hưởng đến mức tăng trưởng của sản xuất mủ cao su Ánh sáng đầy đủ giúp cây ít bị bệnh, tăng trưởng nhanh và sản lượng cao, giờ chiếu sáng được ghi

Trang 20

nhận tốt nhất cho cây cao su bình quân là 1800 - 2800 giờ/năm và tối hảo là khoảng

1600 - 1700 giờ/năm

Sương mù nhiều gây một tiểu khí hậu ẩm ướt tạo cơ hội cho các loại nấm, bệnh phát triển và tấn công cây cao su, như trường hợp bệnh phấn trắng do nấm

Oidium gây nên ở mức độ nặng tại các vùng trồng cao su Tây Nguyên Việt Nam, do

ảnh hưởng của sương mù buổi sáng xuất hiện thường xuyên

2.3.2.5 Ðộ cao

Cây cao su thích hợp với các vùng đất có độ cao tương đối thấp dưới 200

m Càng lên cao càng bất lợi do độ cao của đất có tương quan với nhiệt độ thấp và gió mạnh

2.4 Ðặc điểm di truyền của cây cao su

Năm 1876, Henri Wickham đã thu thập 70.000 hạt cao su từ vùng quanh sông Tapajoz, hữu ngạn sông Amazon và chuyển về công viên Kew (Anh), chỉ có 4

% hạt nảy mầm Sau 2 tháng, 1919 cây được đưa sang trồng ở Sri Lanka và sống khoảng 9 %, 18 cây đưa sang Indonesia chỉ sống được 2 cây, 50 cây đưa sang Singapore không sống cây nào Năm 1877, một đợt chuyển 22 cây từ Kew sang Singapore thành công và từ đó phát triển rộng khắp Malaysia Từ năm 1883, cây

Trang 21

cao su ở Sri Lanka và Malaysia có hạt làm nguồn giống cho nhiều nước châu Á và châu Phi

Cây cao su có bộ nhiễm sắc thể 2n = 36 Cây cao su có thể là một dạng tứ bội, với số nhiễm sắc thể cơ bản n = 9 Các đặc tính khác như sinh trưởng, sản lượng, khả năng kháng bệnh đều do những tính trạng đa gen, di truyền theo phương thức cộng hợp và khả năng phối hợp chung quan trọng hơn khả năng phối hợp riêng Cho đến nay, chưa có bằng chứng về sự tự bất tương hợp ở cây cao su, mặc

dù thường cho tỷ lệ đậu trái cao hơn khi giao phấn so với tự thụ Tương tự, người ta

cũng không thấy có trở ngại nào trong việc lai giữa các loài Hevea Trong thực tế,

người ta đã tạo ra nhiều tổ hợp lai liên loài cho mục đích nghiên cứu cũng như tìm

thấy nhiều dạng lai liên loài Hevea trong tự nhiên (Doung Chan Dara, 2007)

2.5 Tình hình nghiên cứu và sản xuất cao su trên thế giới và tại Việt Nam

2.5.1 Trên thế giới

Bắt đầu từ thế kỷ 20 ở Đông Nam Á, việc chọn dòng vô tính là yếu tố quan trọng góp phần vào sự thành công của cây cao su từ cây hoang dại trở thành cây trồng có hiệu quả kinh tế cao như hiện nay (Simmonds, 1989)

Tuy mỗi nước có phương hướng và bước đi khác nhau, nhưng mục tiêu chọn giống hàng đầu ở cao su vẫn là sản lượng mủ Tuy nhiên việc khai thác sớm

và năng suất cao có ý nghĩa đặc biệt khi tính toán đến hiệu quả đầu tư (Wychereley, 1969) Sinh trưởng khỏe và năng suất cao trong khi cạo có vai trò quan trọng trong việc rút ngắn thời gian kiến thiết cơ bản và đạt trữ lượng gỗ cao cung cấp cho nhu cầu thị trường gỗ ngày càng lớn (Ong và cộng sự, 1985)

Vào năm 1910, Cramer là người đầu tiên nghiên cứu cải tiến sản lượng cao

su bằng phương pháp chọn lọc quần thể Dựa vào phân tích biến thiên sản lượng của 33 cây thực sinh có nguồn gốc, Wickham đã khuyến cáo phương pháp chọn lọc cây thực sinh đầu dòng: trồng hạt thực sinh từ những cây có năng suất cao Kết quả

là những vườn cao su trồng bằng hạt có chọn lọc đạt năng suất 639 – 704 kg/ha/năm, vượt hơn những vườn cây trồng bằng cây thực sinh không chọn lọc (496 kg/ha/năm) (Dijkman, 1951) Đến năm 1917 Van Helten, Bodde và Tas đã ứng

Trang 22

dụng ghép cây cao su ở Indonesia và nhờ kĩ thuật này mà nhiều dòng vô tính được chọn từ phương pháp này như: GT 1, PB 235, PB 86, PR 107…

Ngày nay ở nhiều quốc gia trên thế giới như Indonesia, Thái Lan, Ấn Độ, Malaysia và Trung Quốc những dòng vô tính sản xuất qua các thời kỳ là sản phẩm của tập hợp này, đã đem lại nguồn nguyên liệu rất phong phú đa dạng cho công tác tuyển chọn giống mới

Năm 2002, Hiệp hội nghiên cứu và Phát triển cây cao su Thiên nhiên Thế giới (IRRBD - International Rubber Research Development Board) đề xướng hợp tác giữa các nước để xây dựng một chiến lược sử dụng quỹ gen cao su Nam Mỹ vào chương trình chọn lọc giống cao su theo hướng đa dạng hóa sản phẩm và chức năng của cao su (mủ, gỗ, rừng), nâng năng suất 3 tấn/ha/năm để tăng hiệu quả kinh tế ngành cao su Và đến nay công tác lai tạo giống cao su ở Việt Nam được cải tiến qua việc trao đổi giống từ các vùng Nam Á, Đông Nam Á và nhận tập đoàn giống

từ IRRDB

Các tổ chức quốc tế dự đoán nhu cầu về mủ cao su sẽ tiếp tục gia tăng, bình quân 3,25 % hàng năm cho đến năm 2020, cùng theo sự gia tăng dân số và phát triển kinh tế chung toàn cầu Nhưng các nước sản xuất cao su khác như Malaysia, Thái Lan, Indonesia… khó tăng sản lượng do hạn chế đất đai, thiếu lao động và trước đây ở thời điểm giá thấp các nước trên đã thay đổi cây trồng Đây là cơ hội để ngành cao su Việt Nam tiếp tục phát triển và có vị trí cao trên thị trường cao su

Đến năm 2006, tổng diện tích trồng cao su trên thế giới khoảng 9,2 triệu ha, sản lượng đạt 9,121 triệu tấn, dẫn đầu là Thái Lan (2.943 ngàn tấn), Indonesia (2.312 ngàn tấn), Malaysia (1.238 ngàn tấn), Ấn Độ (818 ngàn tấn), Trung Quốc (462 ngàn tấn) (nguồn VRA, 2007) Theo Nhóm Nghiên cứu Cao su Quốc Tế (IRSG), năm 2008 sản lượng cao su thế giới là 10 triệu tấn trong đó Thái Lan chiếm sản lượng 1,26 triệu tấn và Việt Nam là 644 ngàn tấn Năm 2009 nhu cầu cao su thiên nhiên trên thế giới dự kiến đạt 9,56 triệu tấn Sản lượng cao su thiên nhiên trên thế giới hiện nay chủ yếu do tiểu điền nắm giữ, với tỷ lệ 76 - 78%, phần còn lại là sản xuất cao su quốc doanh Tại Thái Lan cao su tiểu điền chiếm 99,2%, ở Malaysia

Trang 23

chiếm tỷ lệ là 95,8 %, ở Ấn Độ chiếm 89,7 % và tại Indonesia là 85 % (Báo cáo thường niên ngành hàng cao su năm 2008 triển vọng 2009, 2009)

2.5.2 Tiêu thụ cao su trên thế giới

Cao su thiên nhiên được tiêu thụ ở các nước có nền công nghiệp hiện đại hoặc đông dân Năm 2005, đứng đầu là Trung Quốc với 2,05 triệu tấn, Hoa Kỳ 1,09 triệu tấn, kế đến là Nhật, Ấn Độ, Malaysia, Hàn Quốc Phần lớn cao su được dùng

để chế tạo vỏ ruột xe, bánh máy bay 68 %, sản phẩm từ mủ nước (găng tay, nệm xốp, bong bóng, chỉ thun 8 %), vật liệu kĩ thuật (xây dựng, đệm chống động đất, đệm cầu cảng, đệm nối 7,8 %, đế giày 5 %, keo dán 3,2 %), và sản phẩm khác: dụng

cụ y tế, đồ chơi 8 %

Sản lượng và giá cao su thiên nhiên nhiều lúc thăng trầm vì có sự cạnh tranh của cao su nhân tạo Nhưng hiện nay, đã có sự phối hợp giữa 2 loại cao su trong nhiều loại sản phẩm, vì cao su thiên nhiên có những đặc điểm mà cao su nhân tạo chưa đạt được

2.5.3 Tiêu thụ cao su ở Việt Nam

Cây cao su được ghi trong danh mục của vườn thực vật Sài Gòn năm 1878

do giám đốc Jean Louis Pierre thử trồng ở vườn Bách thảo Sài Gòn nhưng không sống được cây nào Đến năm 1897, một dược sĩ hải quân Pháp mang 2.000 hạt giống cao su vào Việt Nam từ vườn Buitenzorg ở Batavia (Java, Indonesia) trong đó

có 1.600 cây sống, 1.000 cây giao cho trạm thực nghiệm ông Yệm (Bến Cát – Bình Dương), 2000 cây giao cho bác sĩ Yersin trồng thử ở suối Dầu (cách Nha Trang 200 km), 1000 cây trồng ở Thủ Đức và 100 cây được đưa thử nghiệm ở nhiều nơi Năm

1897 đã đánh dấu sự hiện diện của cây cao su ở Việt Nam, nhận thấy cao su phát triển thuận lợi Đến năm 1920, một số đồn điền cao su tư bản Pháp đã được thành lập như: SIPH, SPTR, CEXO, CHPI, MICHELIN… một số đồn điền cao su tự nhiên Việt Nam cũng được thành lập, chủ yếu tập trung ở Đông Nam Bộ Cây cao

su được trồng thử ở Tây Nguyên năm 1923 và phát triển mạnh trong giai đoạn 1960

- 1962 trên những vùng đất cao 400 – 600 m, sau đó ngưng vì chiến tranh Sau năm

Trang 24

1975, cây cao su tiếp tục được phát triển và từ năm 1977 Tây Nguyên lại bắt đầu chương trình trồng mới cây cao su

Tại Việt Nam, chương trình lai tạo giống cao su mới bắt đầu từ năm 1935

do công ty Pháp SPRT (Société des Plantations des Terres Rouges) đảm nhận Năm

1936 - 1955 Viện IRCI (Viện Nghiên cứu Cao su Đông Dương) đã tuyển chọn được

55 dòng IR, đặc biệt là IR 22, IR 45, TR 3702 cho năng suất cao nhưng chưa đáp ứng được ở những vùng cao có gió mạnh, dễ đổ ngã

Sau năm 1975 Viện nghiên cứu cao su Việt Nam tiếp tục theo dõi những thí nghiệm giống cũ và thiết lập các vườn thí nghiệm giống mới trên nhiều địa bàn từ Đông Nam Bộ đến Tây Nguyên, miền Trung, miền Bắc hình thành mạng lưới tuyển chọn giống Kết quả là đã xây dựng cơ cấu bộ giống cao su địa phương có hiệu quả kinh tế, ở nhiều nơi trồng cao su, giống mới đã thay dần các giống cũ trong diện tích trồng hằng năm

Đến năm 1976, Viện nghiên cứu Cao su Việt Nam xây dựng một chương trình cải tiến giống vừa tuyển chọn giống đã có hoặc mới nhập nội, vừa lai tạo giống mới bằng phương pháp lai hữu tính Viện lưu giữ 14 giống RRIC của Sri Lanka nhập từ năm 1977, 43 giống của Malaysia (kí hiệu RRIM, PB, PBIG, VM) nhập từ năm 1978, 278 giống nhập từ nhiều nguồn thông qua chương trình do CIRAD hỗ trợ, trong đó có 11 giống được lai tạo tại Côte d’ Ivoire (kí hiệu IRCA) Thông qua tài trợ của FAO, Viện đã nhập trên 3000 kiểu di truyền của cây cao su thu nhập từ Nam Mỹ theo đề án của IRRDB Đến nay, quỹ gen cao su do Viện quản

lý rất phong phú về số lượng và đa dạng về nguồn gốc di truyền (3.552 dòng vô tính), làm vật liệu giống quý cho chương trình cải tiến giống cao su dài hạn và hiệu quả bền vững

Từ năm 1977, Viện nghiên cứu Cao Su Việt Nam đã thành lập mạng lưới khảo nghiệm giống trên các vùng cao su trọng điểm, trải dài từ 110 đến 120 vĩ Bắc, bao gồm Miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, miền Trung và miền Bắc Việt Nam Kết quả đã cho phép chọn lọc các dòng vô tính triển vọng đưa vào bộ giống khuyến cáo giai đoạn 1998 - 2000

Trang 25

Năm 1981, ngành cao su Việt Nam tiếp nhận một số giống mới sưu tập từ vùng Nam Mỹ thông qua việc tham gia vào IRRDB Đồng thời, nhiều nguồn giống mới tiến bộ được du nhập và trao đổi song phương với Malaysia, Srilanka và IRCA

Đó là giống quý cho công tác tuyển chọn giống

Năm 1982 - 1984, lai tạo trong Viện Kinh tế Kỹ Thuật cao su Việt Nam được 400 giống mới kí hiệu là LH

Năm 1987, Viện Kinh tế Kỹ Thuật cao su Việt Nam nhập 5 giống của Malaysia kí hiệu là VM

Tháng 7 năm 1994, KS Lê Mậu Túy trình bày kết quả khảo nghiệm một số giống nhập nội trên mạng lưới địa phương và đề xuất một số giống mới có triển vọng bổ sung vào cơ cấu giống khuyến cáo cho sản xuất đại trà trong giai đoạn

1994 - 1996

Tháng 1 năm 1996, Hội thảo và trình diễn giống cao su đã được tổ chức tại Viện nghiên cứu cao su Việt Nam Báo cáo từ tổng kết tất cả các Công ty cao su ở miền Đông Nam Bộ cho thấy được tầm quan trọng của việc sử dụng bộ giống mới cho sản xuất Báo cáo đã đúc kết thành tích và tính ưu việt của một số giống cao su

ưu tú được chọn lọc từ mạng lưới khảo nghiệm và đề xuất cơ cấu bộ giống

1994-1996, để làm cơ sở cho việc đưa bộ giống mới vào sản xuất đại trà thích hợp từng vùng nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao nhất

Năm 1997 các giống cao su mới lai tạo trong nước, vụ sản xuất đầu tiên đã được công nhận là giống quốc gia Viện nghiên cứu cao su Việt Nam đã tập trung vào công tác cải tiến giống Việc đưa nguồn gen mới vào lai tạo các dòng vô tính đã được áp dụng và đến năm 1998, nhiều con lai mới có bố xuất phát từ quỹ gen được đưa vào tuyển non nhằm đánh giá thành tích nông học của nguồn vật liệu mới này

Những năm gần đây Viện nghiên cứu cao su Việt Nam thực hiện việc chọn tạo giống cao sản với các đề tài, dự án như: “Nghiên cứu tạo tuyển giống cao su khuyến cáo 1998 - 2000”, “Nghiên cứu chọn tạo bộ giống cao su thích hợp cho các vùng sinh thái 2001 - 2005”, “Dự án giống cao su năng suất cao trên 1,6 - 2 tấn/ha/năm và trữ lượng gỗ 130 - 160 m3 gỗ/ha”, “Nghiên cứu chọn tạo giống cao

Trang 26

su có năng suất 3 - 3,5 tấn/ha/năm” Thí nghiệm SXTĐP 01 (sản xuất thử Đồng Phú 2001) là một trong những thí nghiệm quan trọng của các đề tài và dự án trên

Cuối năm 2007, tổng diện tích cao su cả nước đạt 549.000 ha với tổng sản lượng 601.700 tấn cao su các loại, năng suất bình quân 1.612 kg/ha đứng hàng thứ 3 trên thế giới sau Ấn Độ (1.670 kg/ha) và Thái Lan (1.650 kg/ha) Vùng Đông Nam

Bộ chiếm 67 % diện tích cao su nhưng đóng góp 78 % sản lượng cao su cả nước đồng thời là vùng có năng suất cao nhất cao nhất cả nước (1.714 kg/ha) Tây Nguyên và Duyên Hải miền Trung là vùng có điều kiện khí hậu ít thuận lợi hơn thì cây cao su vẫn phát triển và đạt năng suất bình quân tương ứng là 1.360 kg/ha và 1.712 kg/ha Trong khi đó diện tích cao su đại điền chiếm 54 % diện tích cả nước, sản lượng đạt 66 % và năng suất bình quân là 1.716 kg/ha so với tiểu điền là 1.440 kg/ha

Năm 2008, Việt Nam xuất khẩu 685.000 tấn với tổng giá trị là 1,69 tỷ USD,

so với năm 2007 giảm 4,1 % về số lượng nhưng tăng 21,6 % về giá trị

Năm 2010 cao su tăng trưởng đột biến, cả nước xuất khẩu 760.000 tấn và lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này vượt mốc 2 tỷ USD, đạt 2,3 tỷ USD

Năm 2011 xuất khẩu 816.500 tấn cao su nhưng giá trị xuất lại tăng vọt lên đến 3,2 tỷ USD, tăng 4,4 % về lượng và tăng 35,4 % về giá trị so với năm 2010, đạt 102,1 % kế hoạch năm đề ra Với kết quả đó, xuất khẩu cao su xếp vị trí thứ 2 trong các mặt hàng xuất khẩu nông sản của Việt Nam, sau gạo

2.6 Kĩ thuật vườn ươm gốc ghép

x 60 cm thì tốn công vào đất và công vận chuyển, nếu dùng bầu quá nhỏ sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây giống

Trang 27

Kích thước bầu tốt nhất đang sử dụng hiện nay là 16 x 33 cm hoặc 18 x38

cm Bầu dùng làm thí nghiệm 20 x 40 cm, trọng lượng bầu khi đổ đầy đất thay đổi theo các kích thước sau:

Vô bầu đất: Nếu đất vào bầu nhiều cát bầu dễ vỡ khi vận chuyển, đất nhiều sét bí chặt gây trở ngại cho việc phát triển của rễ cây giống Đất vào bầu tốt nhất có

tỷ lệ sét 25 – 30 % Chọn lớp đất mặt tơi xốp nhiều chất hữu cơ

Trộn phân hữu cơ vào đất với liều lượng 50 – 100 g/bầu hoặc vi sinh hữu

cơ 10 g/bầu và 8 – 10 g phân lân nung chảy/bầu để cho vào bầu Đất cho vào bầu nén vừa đủ chặt, đất còn cách miệng bầu 1 – 2 cm

Đặt hạt: Trước khi đặt hạt vào bầu phải tưới nước cho đất trong bầu đủ độ

ẩm Mỗi bầu đặt một hạt cao su đã nảy mầm ở giữa bầu ,15 ngày sau khi đặt hạt kiểm tra nếu bầu nào cây chết thì trồng dặm lại, phải đảm bảo mỗi bầu đất có một cây Số lượng hạt giống cần cho 1 ha là 1200 – 1500 kg hạt

Tưới nước: Cây trong bầu được cách ly hoàn toàn với nền đất bên ngoài do

đó cần cung cấp nước đầy đủ và thường xuyên thì cây mới phát triển tốt Tưới nước trong suốt mùa nắng với liều lượng 100 – 200 m3/ha Tốt nhất là tưới bằng giàn phun mưa

Trang 28

Phân bón: Ngoài liều lượng phân bón lót từ đầu, cần bón bổ sung thêm phân vô cơ cho cây với liều lượng 800 – 1000 kg lân nung chảy và 400 – 500 kg KCl cho mỗi ha vườn ươm Chia làm 2 - 3 lần để bón hoặc pha loãng trong nước để phun lên lá nhiều lần Ngưng bón phân trước khi ghép cây 30 ngày

Phòng trị bệnh: Thường xuyên kiểm tra để phun phòng và trị kịp thời các loại bệnh lá nhất là bệnh héo đen đầu lá và bệnh phấn trắng

Làm cỏ: Thường xuyên loại bỏ các loại cỏ dại mọc trên nền đất vườn ươm, nhất là trong các bầu đất

2.7 Vườn nhân gỗ ghép

Cành gỗ ghép được trồng trong vườn nhân gỗ ghép là 1 vườn trồng các cây ghép dòng vô tính đã được lựa chọn, các tược của cây phát triển thành một đoạn thân cao 1,2 - 2,0 m, trên đó chứa các mầm sẽ được sử dụng làm gỗ ghép cho các vườn cây đại trà Chỉ có vườn nhân gỗ ghép mới sản xuất đủ số lượng mắt ghép tốt, đúng tiêu chuẩn và đáp ứng đủ số lượng lớn của yêu cầu sản xuất Vườn ươm được chia làm nhiều ô, diện tích 500 – 1000 m2 mỗi ô chỉ được trồng 1 dòng vô tính có bảng tên trên đầu ô

Vườn nhân gỗ ghép phải được giữ sạch cỏ, phải thường xuyên làm sạch cỏ bằng tay hoặc hóa chất Vườn nhân gỗ ghép phải được tưới thường xuyên từ tháng 2 đến tháng 4 dương lịch Phải kiểm tra các loại bệnh về lá để kịp thời phun thuốc phòng trị vì bệnh lá có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ sử dụng gỗ ghép

Mùa khô phải tưới nhiều nước với liều lượng khoảng 80 – 10 m3/ha/lần tưới, tưới 2 - 3 lần/tuần

Thường xuyên cắt bỏ chồi thực sinh và chồi ngang (đây là khâu quan trọng nếu không sẽ bị lẫn giống gây tổn thất rất lớn, nhất là dùng để dùng tạo vườn nhân

gỗ ghép mới)

Trang 29

Hình 2.1: Vườn nhân gỗ ghép 2.8 Quy trình kĩ thuật ghép

2.8.1 Chuẩn bị gốc ghép

Thao tác ghép được triển khai khi gốc ghép đo ở chiều cao 10 cm, đường kính thân cách mặt đất đạt trên 10 mm Trước hết dùng giẻ lau sạch gốc ghép đảm bảo vệ sinh Trên gốc ghép cách mặt đất 10 cm rạch hai đường thẳng đứng song song sâu đến lớp gỗ, hai đường rạch cách nhau 12 – 15 mm tùy theo kích thước gốc ghép (thường chiếm 1/3 vòng thân), sau đó ở vị trí thấp nhất của 2 đường thẳng song song rạch 1 đường ngang hơi xéo, cả 3 đường tạo thành 1 cửa sổ gốc ghép Hướng mở cửa sổ gốc ghép thường là hướng Đông Nam để tránh ánh nắng mặt trời chiếu vào mắt ghép làm hỏng mắt ghép

2.8.2 Cắt mắt ghép

Dùng dao rạch 2 đường thẳng song song ở 2 bên mắt ghép đã lưạ chọn, khoảng cách giữa 2 đường rạch này hơi nhỏ hơn bề ngang của cửa sổ gốc ghép.Tựa vào 2 đường thẳng đã rạch dùng dao bén khoét sâu vào thân gỗ lấy ra 1 mảnh vỏ có chứa mắt ghép và bên dưới mắt ghép có dính 1 mảnh gỗ Rồi cẩn thận tách nhẹ lớp

vỏ không bị dập ứa mủ ở lớp tượng tầng Quan sát mắt ghép nếu có mầm gạo tốt thì

sử dụng mắt ghép đó, nếu hư thì loại bỏ

Trang 30

Hình 2.2: Mắt ghép sau khi lấy ra khỏi cành ghép 2.8.3 Lắp mắt ghép vào gốc ghép

Dùng đầu dao nâng nhẹ lớp vỏ cửa sổ gốc ghép, bắt đầu từ đường rạch hơi xéo bên dưới rồi lùa mảnh vỏ có chứa mắt ghép vào cửa sổ gốc ghép sao cho tượng tầng của mắt ghép tiếp xúc với tượng tầng của cửa sổ gốc ghép Sau đó cắt bỏ phần

vỏ của cửa sổ gốc ghép đã nâng lên chỉ giữ lại khoảng 0,5 cm ở phía trên của cửa sổ gốc ghép Dùng dây băng PE quấn chặt lại, các mép dây băng phải phải chồng lên nhau (quấn dây băng từ dưới lên) sao cho nước không thấm vào được mắt ghép là được

Hình 2.3: Thao tác lắp mắt ghép vào gốc ghép và quấn băng

Trang 31

2.8.4 Điều kiện để có tỷ lệ ghép sống cao

Khi ghép cả gốc ghép và cành gỗ ghép đều phải ở tình trạng đầy đủ nước để lớp vỏ dễ dàng bóc

Thời gian ghép trong ngày: sáng từ 5 - 6 giờ đến 10 giờ, chiều bắt đầu từ 15 giờ Tránh ghép lúc nắng gắt hoặc lúc trời mưa dầm

Khi ghép gốc ghép phải có tầng lá cuối cùng ổn định

Tuổi gốc ghép và mắt ghép phải tương đương nhau

Khi ghép thao tác phải nhanh, tránh chạm tay vào lớp tượng tầng của gốc ghép và mắt ghép

Đảm bảo vệ sinh trong khi ghép, tránh không để cát bụi bay dính vào cửa sổ gốc ghép và mắt ghép

2.9 Đặc điểm di truyền các DVT: GT 1, PB 260, RRIV 5

2.9.1 Dòng vô tính cao su giống GT 1

Phổ hệ: nguyên sơ, xuất sứ: Indonesia, tuyển chọn từ cây thực sinh đầu dòng tại Godang Tapen năm 1921

Ở Việt Nam, giống GT 1 chiếm gần 38 % diện tích trồng mới từ 1976 –

2000, hiện nay là giống phổ biến ở Tây Nguyên và miền Trung

Sinh trưởng KTCB : Trung bình, ổn định Ở vùng thuận lợi Đông Nam Bộ

và Tây Nguyên cao dưới 600 m, cũng như ở miền Trung, giống GT 1 sinh trưởng kém hơn nhiều giống khác Nhưng trong điều kiện bất thuận của vùng Tây Nguyên

độ cao 600 – 700 m, giống GT 1 sinh trưởng tương đương với các giống phổ biến

Tăng trưởng trong khi cạo: Trung bình

Sản lượng: Ở Việt Nam, năng suất giống GT 1 kém hơn nhiều dòng vô tính khác ở vùng thuận lợi, nhưng tương đương với giống phổ biến khác trong điều kiện bất thuận Năng suất khởi đầu chậm, 10 năm đầu khai thác với chế độ cạo không kích thích, đạt khoảng 1,4 tấn/ha/năm Tại Côte d’Ivoire đạt năng suất khá (trên 2 tấn/ha/năm có kích thích); tại Malaysia cao điểm có thể đạt 2,3 tấn/ha/năm nhưng năng suất bình quân chỉ ở mức trung bình so với các giống khác

Các đặc tính quan trọng khác:

Trang 32

 Thân thẳng, vỏ nguyên sinh hơi mỏng, cứng, tán hẹp, hạt làm gốc ghép tốt

 Kháng gió khá, nhiễm nhẹ đến trung bình các loại bệnh lá

 Có thể áp dụng chế độ cạo trung bình, đáp ứng kích thích bền Đặc tính

mủ thích hợp cho việc sơ chế hầu hết các chủng loại cao su

2.9.2 Dòng vô tính PB 260

Phổ hệ: PB5/51 x PB49

Xuất xứ: Trạm Prang Besar, công ty Golden hope, Malaysia, chọn lọc từ

vườn cây lai 1956

Quy mô trồng ở Việt Nam: Đưa vào sơ tuyển từ năm 1986, trúng tuyển năm

1989, sản xuất từ năm 1991

Đặc điểm hình thái

Vỏ nguyên sinh: Hơi mỏng, hơi láng

Vỏ tái sinh: Tái sinh vỏ kém, phản ứng nặng với vết cạo phạm

Thân: Thẳng, tròn, chân voi rõ

Bộ tán: Tán thông, cân đối, cành thấp tự rụng, cành trung bình, phân tầng,

Trong thời gian khai thác: Khá

Sản lượng: là dòng vô tính cao sản tại các nước Đông Nam Á cũng như ở

Châu Phi, năng suất đạt trên 2 tấn/ha/năm từ năm cạo thứ 3 trở đi Năng suất của giống PB 260 tương đương giống PB 235 (ở Malaysia) hoặc cao hơn (ở Indonesia) Tại Việt Nam : miền Đông Nam Bộ, các năm đầu PB 260 có xu hướng tăng cao vào các năm sau Tại Tây Nguyên sản lượng cao ngay từ các năm đầu vượt nhiều so với

các giống khác

Trang 33

Các đặc tính khác:

Nấm hồng: Nhiễm trung bình

Loét sọc mặt cạo: Nhiễm trên trung bình

Héo đen đầu lá:Nhiễm nhẹ.Chống chịu gió: Kháng gió tại Malaysia nhưng

dễ gãy tai Côte d’Ivoire

Xì mủ thân,nổ vỏ: Ít

Ra hoa, rụng hạt, rụng lá: Rụng lá từng phần, hoa nhiều, có hoa 2 đợt trong

năm

Ghép nhân vô tính: Cành nhiều mắt, tỷ lệ ghép sống cao

2.9.3 Đặc điểm chung dòng vô tính RRIV 5

Xuất xứ: Viện nghiên cứu cao su Việt Nam, lai tạo năm 1982

Tốc độ tăng trưởng: Khỏe, tăng trưởng khá trong thời gian khai thác

Năng suất: Cao, sớm, trung bình 5 năm đầu đạt 2 tấn/ha/năm, ít đáp ứng với kích thích mủ Mủ nước trắng, mủ đông màu sẩm, hàm lượng cao su dưới trung bình

Dạng thân: Thân hơi cong, tán rậm, vỏ nguyên sinh hơi mỏng, vỏ tái sinh trung bình

Bệnh hại: Dễ nhiễm bệnh phấn trắng, nhiễm nhẹ các loại bệnh khác

Chống chịu ngoại cảnh đặc biệt: Chưa rõ

Hướng sử dụng: khuyến cáo sản xuất quy mô vừa ở Đông Nam Bộ

Trang 34

 Dây băng nylon: Để quấn vết ghép

 Thước kẹp: Đo vanh gốc ghép

 Thước đo 50 cm: Đo chiều cao chồi ghép

 Thuốc vaseline: Bôi vết xử lý chồi

Trang 35

3.2 Thời gian và địa điểm thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (Randomized completed block design, RCBD) Mỗi nghiệm thức có 40 cây/lần lặp lại, thí nghiệm

Trong đó:

NT1: Giống PB 260

NT2: Giống RRIV 5

LI: Lô thí nghiệm I

LII: Lô thí nghiệm II

LIII: Lô thí nghiệm III

Trang 36

3.3.3 Phương pháp theo dõi và xử lý số liệu

3.3.3.1 Quy trình thực hiện

Quan sát tỷ lệ mắt ghép sống ở thời điểm 25 ngày sau khi ghép (ngày tháo

băng ghép)

Quan sát tỷ lệ mắt ghép sống ở thời điểm 35 ngày sau khi ghép (ngày nhấc

bầu lên khỏi rãnh trồng và xử lý bấm ngọn)

Quan sát tỷ lệ nảy chồi ở thời điểm 45 ngày sau khi ghép

Ở thời điểm 60 ngày sau khi ghép đo chiều cao, đường kính chồi ghép lần 1 Chiều cao chồi ghép tính từ chỗ mắt ghép nảy chồi đến đỉnh sinh trưởng

Ở thời điểm 75 ngày sau khi ghép đo chiều cao, đường kính chồi ghép lần 2

Ở thời điểm 84 ngày sau khi ghép đo chiều cao, đường kính chồi ghép lần 3

3.3.3.2 Chỉ tiêu theo dõi

Tỷ lệ mắt sống (%) ở thời điểm 20 ngày và 35 ngày sau khi ghép

Tỷ lệ nảy chồi của mắt ghép ở thời điểm 45 ngày sau khi ghép

Chiều cao của chồi ghép (cm) ở các thời điểm 15 ngày, 30 ngày và 40 ngày sau khi mắt ghép nảy chồi

Đường kính của chồi ghép (cm) ở các thời điểm 15 ngày, 30 ngày và 40

ngày sau khi mắt ghép nảy chồi

Hình 3.1: Thao tác đo chiều cao chồi ghép

Ngày đăng: 03/06/2018, 16:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w