Người dân trồng cà phê từ những năm 1990 theo các hệ thống canh tác chính là cà phê thuần, cà phê xen hồng, cà phê xen bơ và một số hệ thống rau củ khác.. 1.2 Mục tiêu Đề tài có các mục
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Nông Lâm Kết Hợp
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HOC
Người hướng dẫn : TS PHAN TRIỀU GIANG
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 5/2012
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Xin chân thành cám ơn ban giám hiệu cùng toàn thể quý thầy cô trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh đặc biệt là quý thầy cô khoa Lâm Nghiệp đã nhiệt tình giảng dạy cho tôi suốt khóa học tại trường
Xin chân thành cảm ơn thầy Phan Triều Giang đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp
Xin tỏ lòng biết ơn đến các cán bộ làm trong UBND xã Lát, các anh trong phòng nông nghiệp huyện Lạc Dương đã cung cấp các thông tin giúp tôi hoàn thành bài luận văn này Xin chân thành cám ơn dự án “Tăng cường năng lực quản lý dựa vào cộng đồng của vườn Quốc Gia Bidoup-Núi Bà” do Tổ chức Hợp tác Quốc tế (JICA) Nhật Bản đã tài trợ kinh phí cho tôi thực hiện đề tài này
Xin cám ơn bà con ở hai thôn Bon Dơng I và Bnor B đã nhiệt tình cung cấp cho tôi các thông tin cần thiết để hoàn thành luận văn
Nguyễn Đức Phú
Trang 4Qua quá trình phỏng vấn và trao đổi với bà con trong thôn tôi rút ra những kết luận sau:
cà phê là cây chủ lực của địa bàn nghiên cứu Người dân trồng cà phê từ những năm 1990 theo các hệ thống canh tác chính là cà phê thuần, cà phê xen hồng, cà phê xen bơ và một số hệ thống rau củ khác
Trình độ kĩ thuật canh tác hiện nay của bà con ở cả hai thôn còn lạc hậu Chưa nắm bắt kịp thời các kĩ thuật canh tác hiện nay
Công tác chọn giống ở các nhóm hộ vẫn chưa được chú trọng Đa số các loại giống cà phê được bà con tự chọn và ươm nên chất lượng không cao
Lượng phân bón cho cây không đủ cho sự phát triển của cây Các vườn cà phê không được cắt tỉa thường xuyên, dẫn đến tình trạng các khu vườn khá là rậm rạp, sâu bệnh nhiều
Lớp tập huấn về kĩ thuật canh tác cà phê được bà con trong hai thôn đánh giá cao,
vì mang lại nhiều kiến thức mới và hiệu quả
Trang 5SUMMARY
Researching project “Learn symstem coffee production people at Lac Duong
province in Lam Dong province”
The survey was conducted in two villages B’Nor B and Bon Dong I in Lac Duong District, Lam Dong province Study period time from March, 2012 to June, 2012 Total number of households interviewed was 30, the information collected by
questionnaires who were interviewed, including village patriarch, head of village and who knows in village
Through the interview process and discussions with local people I draw the link following as below:
Coffee is the main crops of study area Coffee growers in the 1990s by the farming system is pure coffee, coffee mix rose, coffee mix avocado tree and some
vegetable system
Level cultivation techniques present in both villages are obsolete Still not keep
up the current cultivation techniques
Working in groups of breeding has not been focused Most of the varieties of coffee farmers and nurseries should choose high-quality
Fertilizer for crops not sufficient for the development of plant The coffee plantations are not trimmed regularly leading to the garden is quite dense, more pests
Technical training on coffee farming people in the two villages are highly regarded for providing for farmers new knowledge and apply effective
Trang 7DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 1: Nguồn gốc giống 15
Bảng 2: Thể hiện thời vụ trồng 16
Bảng 3: Thể hiện kiểu trồng của nông hộ 17
Bảng 4: Tình hình bón lót cho cà phê 17
Bảng 5: Thể hiện số lần bón thúc của một hộ/năm 18
Bảng 6: Thể hiện cách thức bón phân 19
Bảng 7: Thể hiện số hộ tưới nước và không tưới 19
Bảng 8: Cách thức làm cỏ của những hộ điều tra 20
Bảng 9: Thời điểm mà nông hộ tiến hành cắt tỉa cành 20
Bảng 10: Thể hiện những loại sâu bệnh thường gặp trong vườn của nông hộ 21
Bảng 11: Thể hiện số hộ có và không trị các loại sâu bệnh trong vườn 22
Bảng 12: Lịch mùa vụ cà phê và các trở ngại 24
Bảng 13: Phân tích SWOT đối với nông dân trồng cà phê 26
Trang 8MỤC LỤC
TRANG TỰA i
LỜI CẢM TẠ ii
TÓM TẮT iii
SUMMARY iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH SÁCH CÁC BẢNG vi
MỤC LỤC vii
CHƯƠNG I ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu 2
CHƯƠNG II TỔNG QUAN 4
2.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 4
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 4
2.1.2 Tài nguyên 5
2.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội 5
2.1.4 Hạ tầng kinh tế - xã hội 6
CHƯƠNG III CƠ SỞ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
3.1 Sơ lược về cây cà phê Việt Nam 8
3.2 Phương pháp nghiên cứu 9
3.2.1 Thu thập thông tin thứ cấp 9
3.2.2 Thu thập thông tin sơ cấp 9
CHƯƠNG IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 11
4.1 Sơ lược hệ thống canh tác ở địa bàn nghiên cứu 11
4.1.1 Lịch sử phát triển 11
4.1.2 Các hệ thống sản xuất hiện tại 13
4.1.2.1 Cà phê – hồng 13
4.1.2.2 Cà phê thuần 14
Trang 94.1.2.3 Cây thực phẩm xen cà phê 14
4.1.2.4 Mô hình rau củ 14
4.2 Sản xuất cà phê ở địa phương 15
4.2.1 Tình hình canh tác cà phê hiện nay 15
4.2.1.1 Tình hình sử dụng giống 15
4.2.1.2 Thời vụ trồng 16
4.2.1.3 Kiểu trồng 17
4.2.1.4 Tình hình bón phân 17
4.2.1.5 Cách thức bón phân 19
4.2.1.6 Tưới nước 19
4.2.1.7 Làm cỏ 20
4.2.1.8 Cắt cành 20
4.2.1.9 Các loại sâu bệnh thường gặp trong vườn nông hộ 21
4.2.2 Sử lý sau thu hoạch 22
4.2.2.1 Thu hoạch 22
4.2.2.2 Cách chế biến và bảo quản cà phê 23
4.2.3 Các vấn đề trong canh tác cà phê 24
4.2.3.1 Các vấn đề chung 24
4.2.3.2 Các vấn đề mà các nhóm hộ dân phải đối mặt 26
4.2.3.3 Vấn đề thị trường 28
4.2.3.4 Vấn đề vốn 28
4.3 Đánh giá việc giới thiệu kỹ thuật mới và khả năng tiếp thu kỹ thuật mới 28
4.3.1 Việc giới thiệu kỹ thuật canh tác cà phê ở địa phương 28
4.3.1.1 Đối tượng đánh giá 29
4.3.1.2 Nội dung đánh giá: Các biện pháp kĩ thuật 29
4.3.2 Khả năng tiếp thu và áp dụng những kĩ thuật mới của người dân 41
4.3.2.1 Thiết kế vườn cây 42
4.3.2.2 Kỹ thuật trồng cây ở thời kỳ Kiến thiết cơ bản 44
4.3.2.3 Quản lý cây: Cắt tỉa và kiểm soát chồi 46
Trang 104.3.2.4 Quản lý độ phì của đất 46
4.3.2.5 Quản lý dịch hại trên cây cà phê 47
CHƯƠNG V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Kiến nghị 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
PHỤ LỤC 54
Trang 11CHƯƠNG I ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Đặt vấn đề
Hiện nay cà phê được trồng ở hơn 50 quốc gia trên thế giới, cà phê trở thành cây trồng có giá trị kinh tế cao bởi nhu cầu tiêu dùng của con người và giá trị dinh dưỡng của nó, đây là một mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam
Trong những năm gần đây cà phê luôn giữ vai trò là một trong những mặt hàng trọng yếu của nền kinh tế quốc dân Hàng năm cà phê đóng góp 10% vào tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Với tầm quan trọng của mình, cà phê được xếp vào
10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Tính đến hết 2010 cà phê Việt Nam đạt xấp xỉ 540 ngàn ha đứng thứ tư thế giới, sản lượng đứng thứ hai thế giới chỉ sau Brazil, năng suất đứng đầu (Theo ViCoFa, 2012)
Cà phê đóng vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm ổn định, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho bà con nông dân Cũng như nhiều mặt hàng nông sản khác hoạt động sản xuất cà phê phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khách quan như thời tiết, khí hậu sự biến động rất lớn của thị trường giá cả thế giới về giá sản phẩm bán
ra, giá đầu vào điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc tái đầu tư của những hộ dân tộc K’ho sống vùng xa, cao là những hộ nghèo không đủ điều kiện đầu tư, không
có khả năng tiếp cận với thị trường
Trong thời gian qua, mặc dù chất lượng cà phê Việt Nam đã không ngừng được nâng cao, song những chuyển biến đó mới chỉ là bước đầu, vẫn chưa thật ổn định và
Trang 12chưa phản ánh đúng bản chất vốn có của cà phê Việt Nam Thực chất cà phê Việt Nam từ lâu được liệt vào loại có chất lượng tự nhiên cao và có hương vị đậm đà do được trồng ở độ cao nhất định so với mặt biển Nhưng do yếu kém trong khâu chăm sóc, thu hái, phơi sấy, chế biến do đó ảnh hưởng đến chất lượng vốn có của nó Điều đó đã làm giá bán cà phê Việt Nam thường thấp hơn cùng loại của nước ngoài
từ 100-150 USD/tấn Vì thế việc cải thiện chất lượng cà phê Việt Nam là một vấn
đề quan trọng Lâm Đồng là vùng có điều kiện khí hậu, đất đai khá thuận lợi để phát triển cà phê, đặc biệt là khu vực thị trấn Lạc Dương nơi có người dân tộc K’ho đang sinh sống và sinh kế chủ yếu của họ là canh tác cà phê đây cũng là vùng có tiểu khí hậu thích hợp để phát triển cà phê chè chất lượng cao Từ những lý do đó tôi thực
hiện đề tài “Tìm hiểu hệ thống sản xuất cà phê của người K'ho tại huyện Lạc Dương tỉnh Lâm Đồng”
1.2 Mục tiêu
Đề tài có các mục tiêu sau:
Sơ lược hiện trạng nghề trồng cà phê ở địa bàn nghiên cứu: Trong mục tiêu này chúng tôi thực hiện các mục tiêu cụ thể sau: Nắm được các lịch sử hình thành nghề trồng cà phê, biết được thời gian xuất hiện, sự thay đổi các loại giống cà phê qua các thời kỳ khác nhau như thế nào, biết được các hệ thống canh tác chính ở địa phương là gì
Hiện trạng áp dụng kĩ thuật trồng và chăm sóc cà phê: Nắm được các kĩ thuật canh tác cà phê của các hộ dân, ở các thời kì khác nhau như thời kì hiến thiết cơ bản, thời kì kinh doanh
Tìm hiểu khả năng áp dụng kĩ thuật mới của người dân: Ở mục tiêu này tôi tìm hiểu khả năng áp dụng các kĩ thuật mới mà người dân được học thông qua các lớp tập huấn, xem coi những kĩ thuật nào mà họ áp dụng, hiệu quả ra sao Những kĩ thuật nào họ không áp dụng, nguyên nhân tại sao
Trang 13 Tìm hiểu tính khả thi của việc nâng cao gía trị sản phẩm thông qua cải thiện việc chế biến sau thu hoạch: Vì đa số những hộ dân đều bán cà phê tươi ngay sau thu hoạch nên thường bị lái buôn ép giá và phải bán với giá thấp Do đó mục tiêu này tìm hiểu xem cách nâng cao giá trị sản phẩm qua việc áp dụng công nghệ trong quá trình sản xuất như sử dụng máy say xát để chế biến, cách bảo quản cà phê…
Trang 14CHƯƠNG II TỔNG QUAN 2.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu
- Phía Đông Bắc giáp Thị Trấn Lạc Dương và Xã Đạ Sar
- Phía Bắc giáp với xã Đưng Knơh và xã Đa Nhim
- Phía Đông Nam giáp với Thành Phố Đà Lạt và Huyện Lâm Hà
- Phía Tây Nam giáp với xã Đưng KNơh
- Phía Tây Bắc giáp với huyện Lâm Hà
Xã có diện tích tự nhiên là 25.194,8 ha chiếm 19,23% diện tích tự nhiên toàn huyện (130.963,54 ha) Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo do bị chi phối bởi qui luật độ cao và ảnh hưởng của địa hình có những đặc điểm đặc biệt với vùng xung quanh mát lạnh quanh năm, mưa nhiều, mùa khô ngắn Lượng bốc hơi thấp, không có bão Điều này tạo cho xã Lát có những lợi thế để phát triển của cây công
Trang 15nghiệp dài ngày như cà phê, bơ… bên cạnh đó nó cũng tạo ra một số hạn chế trong việc phát triển kinh tế xã hội Tuy vậy cường độ mưa lớn gây rửa trôi, xói mòn đất, ảnh hưởng đến năng suất của cây trồng
Địa hình của xã thấp dần từ phía đông xuống phía tây độ cao tương ứng 2.000m xuống 1.450m, trung bình xã nằm ở độ cao 1000m so với mực nước biển Một số nơi có độ cao dốc lớn trên 50o, gây nhiều khó khăn cho việc đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển nông nghiệp Tuy vậy đa phần diện tích xã có độ dốc từ 8-150 tương đối thuận lợi cho cho bố trí sử dụng đất nông nghiệp Đây là địa bàn chủ yếu trong phát triển kinh tế xã hội của Xã Hiện trạng chủ yếu là đất trồng cây lâu năm, cây ăn quả
và rau màu
2.1.2 Tài nguyên
Nguồn tài nguyên nước khá là phong phú, ngoài suối Dà Dâng ở khu vực sườn phía tây và dãy Lang Biang và suối Klong Kame còn có một số nhánh suối nhỏ hiện đã được sử dụng để tưới cho khoảng 15ha rau màu và một số cây trồng khác như cà phê, hồng…
Đa số diện tích đất thuộc xã Lát và thị trấn Bon Dưng I thuộc loại đất đỏ vàng tính chất đất tơi xốp, giàu đạm, thích hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp dài ngày như: cà phê, bơ, hồng…
2.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội
Xã Lát là xã có nền kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn Về sản xuất nông
nghiệp, diện tích gieo trồng năm 2010 là 1,819.00 ha, trong đó diện tích cà phê là
976,3 ha, năng suất đạt 25 tạ/ha, sản lượng 1.989 tấn diện tích lúa đông xuân 40 ha, năng suất 32 tạ/ha, diện tích lúa mùa 40 ha, năng suất 30 tạ/ha, sản lượng 120 tấn, diện tích rau màu các loại là 200 ha, sản lượng 15.300 tấn.(Thống kê xã Lát năm 2010)
Trang 16Chính quyền địa phương đã quan tâm tới việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đã chuyển đổi 20 ha diện tích lúa nước tại 4 thôn trung tâm xã sang trồng rau màu các loại, chuyển cà phê giống cũ sang cà phê catimor Gía trị sản xuất nông
nghiệp đạt 80 triệu đồng/ ha /năm
Nhìn chung năng suất cây trồng, vật nuôi của xã cao hơn mức trung bình của toàn toàn huyện
2.1.4 Hạ tầng kinh tế - xã hội
Toàn xã Lát có hệ thống giao thông đường bộ tương đối hoàn chỉnh, đường đã được trải nhựa, những khu vực canh tác ở vùng xa thì vẫn còn đường đất gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp, trong đó có 15,5 km mặt đường được thảm, láng nhựa đạt 20,52%; 28,8 km mặt đường cấp phối, chiếm 83,14% và 46,7 km đường đất chiếm 61,85%
Trục đường liên xã có chiều dài 6 km, trong đó có 4 km mặt đường trải thảm nhựa;
số đường liên thôn có 21 trục đường với tổng chiều dài 21,9 km, trong đó có 6 km mặt đường trải thảm nhựa, 8,3 km đường cấp phối và 9,6 km đường đất; đường ngõ xóm có tổng chiều dài 28,36 km, trong đó toàn bộ là đường đất và 0,8 Km đường bê tông xi măng
Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn đạt 76% tổng số hộ trong xã Điện phủ kín các hộ dân ở hai thôn nghiên cứu tạo điều kiện cho sử dụng các máy móc phục
vụ cho sản xuất chế biến cà phê
Tỷ lệ kênh mương cấp 3 do xã quản lý chưa được đầu tư xây dựng Diện tích được tưới từ hệ thông nước tự chảy chỉ có 40 ha (thực tưới được 30 ha hệ thống thủy lợi
do dn tự lm)/ 50 ha cần phải tưới, Số còn lại cần phải tạo nguồn nước mới bằng các công trình và thi công công trình khác
Trang 17Năm 2010, giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 40,53 tỷ đồng, chiếm 77,5% tổng giá trị sản xuất toàn bộ nền kinh tế (trong đó trồng trọt chiếm 77,5%, chăn nuôi chiếm 1,7% giá trị sản xuất nông nghiệp), các ngành dịch vụ chiếm 20,8%
Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất trên địa bàn 22% năm Tỷ lệ hộ nghèo 21,64%,
trong đó tỷ lệ hộ nghèo người đồng bào dân tộc thiểu số là 26,66%
Kinh tế Xã Lát đã có bước phát triển sang nền kinh tế hàng hoá, sản phẩm chính là
cà phê, rau, đậu các loại, lúa, hoa, dâu tây
Tổng số lao động trong độ tuổi có 2.397 lao động (tính từ 18 - 60), phần lớn là lao động nông nghiệp chiếm 97,14% (1.897 người), lao động trong xây dựng, tiểu thủ công nghiệp chiếm 6% (143 người), lao động trong dịch vụ - du lịch chiếm 5,3
%(127 người)
Cơ cấu lao động xã Lát chưa có sự chuyển dịch đáng kể sang làm phi nông nghiệp, lao động nông nghiệp chiếm 97,14 Nhu cầu nâng cao dân trí rất lớn, đòi hỏi cần phải đầu tư tích cực cho công tác đào tạo nghề Xã Lát có tiềm năng đất đỏ Bazan
và đất dốc tu, thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp dài ngày và rau màu Khó khăn lớn nhất của Xã Lát là nguồn nước cho sản xuất và đường giao thông đi lại
Xã Lát là xã đa sắc tộc, trình độ dân trí chưa cao, thiếu về nguồn nhân lực có tay
nghề, quản lý xã hội gặp khó khăn
Trang 18CHƯƠNG III
CƠ SỞ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Sơ lược về cây cà phê Việt Nam
Cây cà phê có nguồn gốc ở châu phi, chúng mọc trên cao nguyên Kafa thuộc Ethiôpia đây chính là vùng đất khởi nguyên của cây cà phê Ở Việt Nam, cây cà phê được các cha đạo người Pháp mang đến để trồng làm cảnh từ những năm 1857 Năm 1930 cây cà phê được trồng thành đồn điền để khai thác nhân
Cà phê là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao, góp phần tích cực trong chương trình xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm ổn định góp phần phần phát triển kinh tế xã hội bền vững ở nông thôn Theo thống kê của ViCoFa, 2011 thì diện tích trồng cà phê của cả nước trong năm 2011 đạt gần 571 ngàn ha, diện tích cho sản phẩm đạt 534 ngàn ha, sản lượng đạt 1,17 triệu tấn, tăng 3% về diện tích và tăng 5%
về sản lượng so với năm 2010
Xuất khẩu nông sản nói chung và xuất khẩu cà phê nói riêng là một trong những ngành hàng đem lại nguồn ngoại tệ lớn cho nền kinh tế trong nước Cà phê là một ngành hàng kinh tế mũi nhọn của Việt Nam, giúp thúc đẩy phát triển kinh tế Theo thống kê của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn, nước ta hiện xuất khẩu cà phê sang 90 thị trường, trong đó 16 thị trường đứng đầu như Mỹ, Đức, Italia… chiếm khoảng 79% tổng kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu niên vụ, xuất khẩu cà phê trong tháng 4 ước đạt 155 ngàn tấn với trị giá 325 triệu USD, nâng cao tổng lượng
cà phê xuất khẩu 4 tháng lên 675 ngàn tấn, đạt giá trị 1,4 tỉ USD, tăng 45,4% về lượng và gấp hơn 2 lần về giá trị so với cùng kì năm trước
Trang 19Nói chung ngành cà phê nước ta đã có những bước phát triển nhanh vượt bậc Chỉ trong vòng 10 năm trở lại đây chúng ta đã đưa sản lượng cà phê cả nước tăng lên mức kinh ngạc từ 840.6 ngàn tấn năm 2001 lên mức 1,17 triệu tấn 2011
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Thu thập thông tin thứ cấp
Thu thập thông tin từ các phòng ban của UBND xã gồm: Điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, bản đồ hành chính, tình hình sử dụng đất
Thu thập thông tin liên quan đến tình hình phát triển của xã trong những năm gần đây Thu thập thêm một số tài liệu, sách báo có liên quan đến ngành và hoạt động sản xuất cà phê, phương tiện thông tin đại chúng và các tài liệu có liên quan
3.2.2 Thu thập thông tin sơ cấp
Sử dụng bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp trưởng thôn, già làng những người đưa tin then chốt lấy thông tin chung
Sử dụng câu hỏi đóng, phiếu câu hỏi phỏng vấn các hộ dân tộc thiểu số trồng cà phê
ở hai thôn khảo sát
Phỏng vấn bán cấu trúc được dựa vào một bảng câu hỏi mở mà cho phép tập trung vào chủ đề nghiên cứu và đối thoại hai chiều Không giống như bảng câu hỏi phỏng vấn có cấu trúc, không phải tất cả các câu hỏi được thiết kế và phân chia theo thời gian Nhiều câu hỏi phát sinh trong quá trình phỏng vấn, cho phép người phỏng vấn
và người trả lời linh hoạt trong việc tìm hiểu kỹ những chi tiết hoặc thảo luận những vấn đề mong muốn
Thực hiện công cụ lát cắt giúp chúng ta biết rõ hơn về môi trường, điều kiện kinh tế
và xã hội trong cộng đồng Lát cắt là một bản đồ một chiều của một đường cắt ngang qua thôn hoặc một khu vực và thường xây dựng dựa trên bản đồ tài nguyên
Trang 20Nó vẽ một đường cắt ngang qua một khu vực với chiều dọc là một số vấn đề được xác định Tại khu vực đi lát cắt, đối với từng loại thể hiện tài nguyên, thông tin về hiện trạng sử dụng đất, những thuận lợi, khó khăn và tiềm năng cũng được ghi nhận Những thông tin này được thu thập từ quan sát trực tiếp trong khi thực hiện vẽ
sơ đồ lát cắt đi qua các dạng sử dụng đất điển hình tại địa phương Lát cắt được các nhóm sinh kế dựa vào nông nghiệp sử dụng để xác định những khó khăn và tiềm năng của hiện trạng sử dụng đất trong các thôn
Sơ đồ Venn được sử dụng để xác định mối quan hệ giữa các cá nhân và các tổ chức
có ảnh hưởng trong một số hoạt động Mỗi bên liên quan được thể hiện bởi một vòng tròn với kích thước khác nhau phụ thuộc vào tầm quan trọng của họ và vị trí của các vòng tròn này phụ thuộc vào mức độ ảnh hưởng của họ đến từng hoạt động, cách sắp xếp này theo quan điểm của những người tham gia
Phỏng vấn người dân để tìm ra các điểm yếu, điểm mạnh, cơ hội, thách thức tìm hiểu về lịch thời vụ của cây cà phê ở địa bàn nghiên cứu
Trang 21CHƯƠNG IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Sơ lược hệ thống canh tác ở địa bàn nghiên cứu
4.1.1 Lịch sử phát triển
Trước năm 1992, hệ thống canh tác tự cung tự cấp truyền thống chiếm ưu thế tại địa phương với các loại cây trồng hàng năm truyền thống như lúa nước, bắp, đậu Vào năm 1992, để thực hiện chương trình định canh định cư, các cơ quan địa phương và Trung tâm Khuyến nông khuyến khích người dân chuyển đổi kỹ thuật canh tác bằng cách giới thiệu cây cà phê robusta, nhà nước hỗ trợ giống, kỹ thuật, tuy vậy khoảng 5 năm sau thì cà phê bị rớt giá, thêm vào đó năng suất kém do điều kiện khí hậu không phù hợp và thiếu kỹ thuật chăm sóc Sau thời gian đó người dân
ở đây đã phá đi nhiều để trồng một số loại cây khác như khoai lang, môn…
Cùng thời điểm 1992 trung tâm khuyến nông cũng hỗ trợ giống hồng, nó được trồng xen với cà phê Loài cây này được người Kinh trong tỉnh trồng cách đây nhiều năm Lúc ban đầu, người dân nơi đây còn lưỡng lự trong việc trồng cây hồng vì loại cây thương mại này quá mới đối với canh tác truyền thống của người dân, thậm chí ngay cả có sự hỗ trợ mạnh mẽ từ phía Sở nông nghiệp Nhưng vài năm sau đó, loài cây này đã được đánh giá cao, và nhu cầu thị trường tăng lên, tạo ra một động lực cho người dân địa phương mở rộng diện tích trồng hồng Nhưng thật không may, từ năm 1996, giá của trái hồng bị giảm vì không cạnh tranh nổi với các loại cây ăn trái khác, gồm cả các trái cây nhập từ Trung Quốc Đây là kinh nghiệm đầu tiên của người dân địa phương trong việc đối mặt với vấn đề sản xuất cây trồng thương mại trong thị trường mở
Trang 22Trung tâm Khuyến nông chuyển sang chính sách khuyến khích người dân địa phương trồng cây cà phê arabica vào năm 1999 – 2000 Vào thời điểm đó, giống cà phê Moka được cung cấp miễn phí cho người dân Mặc dù giống cây này có chất lượng tốt, phù hợp khí hậu nhưng năng suất lại thấp và dễ mắc bệnh gỉ sắt Những người làm công tác khuyến nông đổ lỗi cho người dân vì không hoàn toàn tuân theo hướng dẫn của tiến trình sản xuất Sau đó, Trung tâm Khuyến nông lại chuyển sang
hỗ trợ cây cà phê Catimo, với cành nhánh thấp hơn, và có thể cho trái chỉ sau ba năm canh tác Về mặt kỹ thuật, mặc dù nó chỉ có trái đạt chất lượng thứ hai, nhưng giống cà phê này có vài điểm thuận lợi khi so với giống cà phê Moka như có sức đề kháng sâu bệnh cao hơn, năng suất cao hơn, và dễ dàng hơn trong bảo quản Ngay lúc đầu, người dân trồng chúng dưới tán cây hồng trong vườn hộ Trong điều kiện này, cây cà phê phải cạnh tranh ánh sáng với cây hồng Chính quyền địa phương khuyến khích người dân chặt bỏ cây hồng để tạo ra khoảng không cho cà phê phát triển với việc hỗ trợ 1 triệu đồng cho việc chặt bỏ hồng Tuy nhiên, nhiều hộ gia đình vẫn còn giữ lại hồng trong vườn của họ
Người dân địa phương cho biết, với giá cả hiện nay 2012, cây hồng cho thu nhập rất thấp, và giá bán còn thấp hơn nữa vào giữa mùa, nhưng tiền thu được từ bán hồng trước khi thu hoạch cà phê trong thời điểm giáp hạt giữa tháng Tư và tháng Tám là quan trọng đối với người dân Mặt khác, người dân không nghĩ đến việc tối đa hóa lợi nhuận từ đất mà chỉ chú trọng đến nguồn thu nhập thường xuyên, cũng như việc không hiểu về cách lựa chọn tối ưu giữa việc chặt bỏ cây hồng để làm tăng thu nhập
từ cây cà phê hay để lại cây hồng cùng với cà phê và chấp nhận có tổng thu nhập thấp hơn Sự chọn lựa mô hình tốt nhất phụ thuộc vào năng lực và tình hình cụ thể của mỗi nông dân, các khía cạnh kỹ thuật cũng cần phải được xem xét kỹ hơn
Các thông tin ở trên đã phản ánh được một số nhận xét và bài học kinh nghiệm từ cách tiếp cận phát triển nông nghiệp Các cơ quan phát triển nông nghiệp đã có ý định tốt trong việc cải thiện hệ thống canh tác thông qua việc giới thiệu giống cây trồng mới và chính phủ cũng đã cung cấp những hỗ trợ lớn cho mục đích này Tuy
Trang 23nhiên, việc thực hiện hệ thống canh tác mới phụ thuộc vào khả năng của người dân địa phương trong việc đầu tư và quản lý hệ thống mới một cách hợp lý Một sự hiểu biết tốt hơn về bối cảnh kinh tế xã hội nơi mà người dân nơi đây tổ chức nông trại của họ là một yếu tố then chốt cho một hệ thống canh tác bền vững hơn
4.1.2 Các hệ thống sản xuất hiện tại
Cà phê và hồng được liệt kê như là các loại cây trồng lâu năm cho thu nhập tiền mặt chính được người Lạch canh tác và chiếm khoảng 85% của tổng diện tích canh tác ở các thôn canh tác Đối với hoa màu ngắn ngày, các loại rau củ và dâu tây chiếm khoảng 15% Rau củ ở khu vực này được canh tác mang tính hàng hóa và đa dạng Ngoài ra một số ít cây bơ được trồng xung quanh nhà để tiêu dùng trong gia đình Trung tâm nông nghiệp huyện đã cung cấp một số cây giống cam và chanh nhưng dường như các loài cây này không thích hợp với khí hậu địa phương Ở địa phương
có các hệ thống canh tác như
4.1.2.1 Cà phê – hồng
Vào thời điểm những năm 1986 cây hồng bắt đầu được bà con đưa vào trồng thuần loài với sự hỗ trợ của ngành nông nghiệp, với mật độ là hàng cách hàng 6m, cây cách cây cũng 6m, những năm đầu thì giá cao và mô hình này nhanh chóng được bà con nhân rộng, năm 1988 – 1989 thì mô hình này chiếm khoảng 80% Ở cùng thời điểm 1986 thì nhà nước có hỗ trợ giống cà phê arabica và được bà con trồng xen vào vườn hồng Tuy nhiên năng suất cà phê không cao do cây hồng có nhiều sâu bệnh hại lây lan cho cà phê, mặt khác do cây hồng không được cắt tỉa che bóng làm
cà phê không phát triển được
Vào năm 1995 – 1996 hồng bị mất giá nên bà con bắt đầu phá hồng đi thay thế bằng cây cà phê, năm 2005 phá nhiều Thời điểm hiện nay 2012 thì giá hồng rất rẻ, không
có đầu ra, hiện nay mô hình này còn lại khoảng 15%
Trang 24Đây là một kiểu canh tác phổ biến ở hai thôn, đặc biệt là thôn Bonnơr B Cây trưởng thành đạt chiều cao trung bình khoảng 2.5 m Vẫn còn một số vườn hồng trồng thuần nhưng diện tích này có xu hướng giảm
4.1.2.2 Cà phê thuần
Giống cà phê chính là catimor, mật độ trồng cao cây cách cây là khoảng 1,3m còn hàng cách hàng là khoảng 1,8m Mô hình này thường xuyên phải đối mặt với tình hình sâu bệnh khá nhiều như nấm, rệp sáp, sâu đục thân Sâu bệnh là nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm mạnh cả về năng suất lẫn chất lượng cà phê Theo người dân lý do chính dẫn đến sâu bệnh là do cách chăm sóc cây không đúng kĩ thuật, không đủ tiền để mua thuốc, phân bón ccho cây
4.1.2.3 Cây thực phẩm xen cà phê
Quan sát trực tiếp chúng tôi đã phát hiện một số cây thực phẩm được trồng xen trong vườn cà phê, mô hình này chiếm đa số trong các vườn cà phê chưa khép tán bao gồm bắp, khoai lang, đậu hòa lan, dưa leo, bí và su su… Nông dân cho biết thời gian đầu trồng cà phê, họ có thể trồng xen với một số cây hàng năm đặc biệt là khoai môn và sắn Những sản phẩm thu được từ mô hình này thì đa phần là người dân mang đi bán, chỉ để lại một ít ăn Với việc áp dụng mô hình này mang lại nguồn thu nhập cho bà con trong những năm đầu, bên cạnh đó mô hình này còn có tác dụng trong việc làm giảm xói mòn do nước mưa gây ra Tuy nhiên cây khép tán nhanh và giai đoạn trồng xen chỉ kéo dài trong 2 năm đầu tiên
4.1.2.4 Mô hình rau củ
Lạc Dương là vùng đất khá phù hợp với việc trồng các loại rau củ Vào những năm
1980 – 1990 mô hình này phát triển rất mạnh chiếm 50% diện tích canh tác, các loại rau củ được bà con ở đây trồng như bắp xú, bắp cải, cà rốt, đậu hòa lan… thời điểm này thì mô hình mang lại thu nhập cao cho bà con
Trang 25Từ 1990 đến nay giá rau củ này bị mất giá dẫn đến bà con bị thua lỗ và nguyên nhân là do kĩ thuật canh tác lạc hậu, thiếu vốn đầu tư, thị trường bị thương lái ép giá Từ đó bà con chuyển sang trồng cà phê Hiện nay mô hình này chỉ còn lại khoảng 10%
4.2 Sản xuất cà phê ở địa phương
4.2.1 Tình hình canh tác cà phê hiện nay
Trang 26Nhận xét: số hộ sử dụng giống tự ươm chiếm đa số với tỷ lệ là 76.67% còn những
hộ mua ở các cơ sở giống khuyến nông thì chiếm tỷ lệ nhỏ 16.67% Qua đó ta thấy
sự quan tâm về giống của các hộ dân chưa cao, do hạn chế về hiểu biết, điều kiện kinh tế còn khó khăn nên giống được các hộ sử dụng đa số là giống tự ươm ở nhà, còn ở các trạm khuyến nông nơi mà các loại giống đã được kiểm định thì các hộ dân
ở không tiếp cận được
Nhận xét: Qua bảng 2 ta thấy số hộ trồng cây cà phê con vào đầu mùa mưa chiếm
tỷ lệ cao đạt 73,3 %, còn hộ trồng vào thời điểm khác là 27,7 % Qua đó nhận thấy rằng người dân ở đây đã nhận thức được thời điểm thích hợp cho cây con là vào đầu mùa mưa khi đất đã đảm bảo được độ ẩm vào khoảng tháng 6 Nếu năm mưa sớm cây con đã đủ tiêu chuẩn trồng thì có thể trồng vào tháng 5 Những năm mưa muộn
có thể trồng sau tháng 7 Những vùng có chế độ mưa chấm dứt vào cuối năm thì có thể trồng muộn hơn Đối với những hộ có đủ điều kiện để tưới thì có thể trồng muộn vào cuối mùa mưa
Trang 27Nhận xét: Qua điều tra thì đa số những hộ dân ở đây trồng độc canh với tỷ lệ
76.67%, Còn những hộ trồng xen canh chiếm tỷ lệ nhỏ 23.33%, họ đã tận dụng được khoảng đất trống để có thể tăng thêm thu nhập, cung cấp nguồn thực phẩm cho gia đình ngoài ra thì việc trồng xen còn che đất hạn chế sự xói mòn, trồng những cây lớn như cây hồng thì chúng có thể che bóng, làm nhiệt độ trong vườn ổn định hơn
Trang 28Nhận xét: Ta thấy đa số người dân ở đây nhận thức được tác dụng của việc bón lót
cho cây con chiếm 93.33%, việc bón lót cho cây con là việc làm rất cần thiết để cung cấp dinh dưỡng cho sự phát triển ở giai đoạn đầu khi mà hệ thống rễ chưa phát nhiều, số hộ không bón lót chiếm tỷ lệ nhỏ 6.67%
Bảng 5 Thể hiện số lần bón thúc của một hộ/năm
Nhận xét: Qua bảng 5 ta thấy số hộ bón phân 1 lần/năm và 3 lần/năm có 4 hộ
chiếm 13.33%, còn các hộ bón trên 4 lần/ năm có 2 hộ chiếm 6.67%, cón đa số người dân ở đây chỉ bón 2 lần/năm chiếm 66.67% với việc chỉ bón 2 lần/năm thì không đủ các dinh dưỡng cho cây phát triển dẫn đến năng suất không cao, một năm cần phải bón 3 lần vào đầu, giữa, cuối mùa mưa bón đúng kịp thời để cung cấp đầy
đủ dưỡng chất cho sự phát triển của cây
Trang 29Nhận xét: Qua kết quả điều tra ta có số hộ rãi phân xung quanh tán là 22 chiếm tỷ
lệ 73.33%, số hộ đào rãnh quanh tán là 6 chiếm 20% còn số hộ có cách bón khác là
2 chiếm 6.67% Điều này ta thấy vẫn còn nhiều hộ chưa nắm được kĩ thuật bón phân đúng cách vì thế gây lãng phí, thất thoát phân Cần mở thêm những lớp tập huấn về kĩ thuật chăm sóc cà phê cho hộ dân ở đây
Nhận xét: Qua bảng 7 ta thấy số hộ có tưới nước chỉ có 7 hộ chiếm 23,3 %, số hộ
không tưới là 23 đạt 76,7 % Qua đó ta thấy đa số các hộ ở đây không tưới nước cho
Trang 30cà phê, nguyên nhân chủ yếu ở đây là do không đủ điều kiện đầu tư máy móc, dây tưới và một nguyên nhân khác nữa là do khí hậu ở đây khá ổn định, đất có độ ẩm cao Cách tưới ở đây là tưới gốc, nguồn nước ở sông, suối, hồ
Nhận xét: Qua bảng 8 ta thấy có 27 hộ làm bằng tay chiếm 90 %, số hộ xịt thuốc 3
chiếm 10 % Ta rút ra nhận xét đa số người dân ở đây chủ yếu làm cỏ bằng tay, họ nhận thức tác hại của việc xịt thuốc, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, sinh vật khác và môi trường sống, giết thiên địch, sâu có thể kháng thuốc, gây tái phát sâu hại, tạo điều kiện cho sâu thứ yếu trở thành sâu hại chính
4.2.1.8 Cắt cànhBảng 9: Thời điểm mà nông hộ tiến hành cắt tỉa cành
Nhận xét: Qua bảng 9 ta thấy số hộ tỉa cành ngay sau khi thu hoạch là 12 hộ chiếm
40%, số hộ không tỉa cành ngay sau thu hoạch là 18 chiếm tỷ lệ 60%, các hộ dân ở đây ít quan tâm đến thời điểm tỉa cành, việc tỉa cành cho cây ngay sau khi thu hoạch
Trang 31là việc cần phải tiến hành nhanh chóng vì sau khi thu hoạch cây có nhiều tay chết, tay yếu cần phải tỉa để tạo thông thoáng cho những cành nhánh khác phát triển, hạn chế sự lây lan của sâu bệnh
4.2.1.9 Các loại sâu bệnh thường gặp trong vườn nông hộ
Bảng 10: Thể hiện những loại sâu bệnh thường gặp trong vườn của nông hộ
Nhận xét: Qua bảng 10 ta thấy các loại sâu bệnh thường gặp trong vườn cà phê của
hộ dân ở đây là, sâu đục thân có 12 hộ chiếm 40%, nấm hồng có 8 hộ chiếm 26.67%, rệp sáp có 6 hộ chiếm 20%, bệnh khô cành khô quả có 20 hộ chiếm 66.67% và bệnh gỉ sắt có 24 hộ chiếm 80% Loại sâu bệnh xuất hiện nhiều nhất là bệnh khô cành khô quả, gỉ sắt, sâu đục thân đây là những loại sâu bệnh gây tác hại rất lớn cho cây đặc biệt là giảm năng suất Vì vậy cần có những biện pháp phòng trừ thích hợp bảo vệ cho cây trồng và nâng cao năng suất
Trang 32Bảng 11: Thể hiện số hộ có và không trị các loại sâu bệnh trong vườn
Nhận xét: Qua bảng 11 ta thấy số hộ có trị sâu bệnh cho cây cà phê là 24 chiếm
80%, số hộ không trị là 6 chiếm 20%, qua đó thấy bà con ở đây nhận thức được tác hại của các loại sâu bệnh, quan tâm đến năng suất của cây
4.2.2 Sử lý sau thu hoạch
4.2.2.1 Thu hoạch
Việc thu hái của bà con ở đây thường được tiến hành vào đầu tháng 10, tuy nhiên vào thời điểm này thì cà phê chỉ mới chín lác đác, nên khi hái phải lựa trái chín đỏ hoặc mức độ chín đạt một phần ba trái thì đạt yêu cầu Để có cà phê chất lượng cao nhất thiết quả phải chín đỏ hay chín vừa tới, không hái quả xanh Không để quả chín quá hay khô trên cây Nếu có lẫn những loại này thì cần bỏ ra phơi riêng, vì khi cho vào máy say những quả xanh, khô sẽ bị nát nhân Trong sản phẩm thu hoạch số quả chín hoặc vừa chín ít nhất là 95%, trừ đợt thu hoạch lần cuối tỷ lệ có thể thấp hơn
Hái cà phê bằng cách dùng ngón tay bứt quả, không tuốt cành, không bứt cả chùm đối với cà phê chè, vì loại cà phê này chín rải rác không cùng lúc Khi hái phải chú
ý một điều rằng tránh làm hư hại cành, lá, nụ tránh ảnh hưởng tới vụ sau Cà phê sau khi hái được đựng trong cái rổ hay cái sô, sau đó đổ dồn vào trong một cái bao phân ure đã được rửa sạch và được chở về nhà bằng xe máy Cà phê hái xong được
Trang 33chế biến ngay, một vài nhà không đủ lao động hái nên để dồn hai ngày mới chế biến một lần Số lượng một lần chế biến thường là năm tạ đến một tấn cà phê tươi
4.2.2.2 Cách chế biến và bảo quản cà phê
Khái niệm: Chế biến ướt, là một công nghệ chế biến phức tạp Chế biến ướt bao
gồm các giai đoạn xát, rửa quả tươi để loại bỏ vỏ, thịt và chất nhờn bên ngoài nhân
để có cà phê thóc, sau đó làm khô để có cà phê nhân sống Phương pháp này cho sản phẩm chất lượng tốt, giảm được đáng kể diện tích sân phơi Tuy có giá trị kinh
tế cao nhưng công nghệ này đòi hỏi thiết bị phức tạp, đặc biệt dễ gây ô nhiễm môi trường
Cách chế biến: Cà phê sau khi hái về phải chọn lọc loại riêng quả xanh, quả khô,
loại bỏ cành lá và đất đá Quả cà phê chín được đưa vào máy xát tươi để tách vỏ qủa
ra Sau đó cho cà phê vào trong máy say xát để làm bung cái vỏ ở bên ngoài, kết hợp với việc đổ nước vào cối, kết quả cho ra hai phần riêng biệt một bên là vỏ, một bên là nhân Nhân sau khi được làm bung vỏ thì được đựng trong một cái bao ni lông nhằm giữa ẩm cho nhân cà phê, và để trong 24 giờ
Sau đó là giai đoạn rửa, cà phê được đổ lại ra cái rổ lớn, dùng tay hoặc dùng chân
để đạp cho ra hết chất nhờn, có người thì rửa ở nhà, có người thì mang ra suối để rửa, rửa cho đến khi nào mà nhân cà phê không còn nhớt
Tiếp đó là giai đoạn phơi, đa phần bà con ở đây tận dụng ánh nắng mặt trời, cà phê được đổ lên cái bạt phơi từ 3-4 nắng to, phơi đến khi thấy nhân khô cứng lại, bà con
ở đây thử bằng cách bỏ vào miệng cắn mà thấy nhân không bị vỡ ra thì được
Bảo quản: Khi cà phê đã đủ khô khi bà con mua thuốc chống ẩm mốc, mối, mọt
Aluminium phophide dạng viên để ở đáy bao, một số nhà thì lại dùng dạng thuốc nước pha vào trong bình xịt tiến hành xịt đều lên đống cà phê sau đó đóng vào bao
và được cất giữ trong nhà
Trang 344.2.3 Các vấn đề trong canh tác cà phê
4.2.3.1 Các vấn đề chung
Mở rộng diện tích cà phê ở bìa rừng là một vấn đề nghiêm trọng Mỗi năm, nhiều cây thông trong các khu rừng lân cận với các vườn cà phê bị giết chết do bị bóc vỏ quanh gốc Diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp
Hiện tại, cà phê là nguồn thu nhập chính của người dân Canh tác cà phê hiện nay trở nên khó khăn hơn trước do sâu bệnh và dịch hại Một khó khăn khác nữa là thiếu lao động Nhu cầu lao động trong sản xuất cà phê là quanh năm và tăng cao trong mùa thu hoạch Việc thiếu lao động đang gia tăng khi mà diện tích cà phê trong khu vực đang được mở rộng Mặc dù cà phê đã được trồng từ lâu, người dân trồng cà phê vẫn làm theo kinh nghiệm truyền thống, điều này làm cho việc sản xuất không chắc chắn và thiếu hiệu quả Vì vậy viêc mở các lớp tập huấn kỹ thuật về chăm sóc cà phê cho bà con ở đây là cần thiết
Bảng 12: Lịch mùa vụ cà phê và các trở ngại
Tỉa cành, bón phân
lần 1
Vay vốn
vay vốn
Trang 35Bón phân lần 2 Cần
vốn nhiều Bón phân lần 3 (đối
với các hộ khá)
lao động
lao động Quả thật, phân tích SWOT cho cây trồng chính ở các thôn như cà phê cho thấy thiếu kiến thức về kỹ thuật, thiếu lao động và vốn là các điểm yếu chính của hầu hết các nông dân trồng cà phê Việc thiếu lao động dường như có tính mùa vụ theo như trình bày của lịch mùa vụ sản xuất cà phê Những trở ngại khác là đường đi lại khó khăn làm giảm lợi nhuận của người dân, đặc biệt là những người canh tác ở các khu vực xa do chi phí vận chuyển và lao động Vì lý do này, nam giới khỏe mạnh thường thuận lợi hơn trong làm thuê so với phụ nữ Phụ nữ, nếu được thuê thì tiền công nhận được cũng thấp hơn nam giới khoảng 20% Cơ sở hạ tầng khó được cải thiện nếu không có sự hỗ trợ từ phía nhà nước