Ở nước ngoài, cây xanh là một phần quan trọng của kiến trúc đô thị, luôn được quy hoạch một cách khoa học và đồng bộ cùng với sự xây dựng, kiến tạo đô thị.. Vì vậy, cây xanh được trồng d
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN ĐÌNH CƯƠNG
CẢI TẠO HỆ THỐNG THỰC VẬT KHU VỰC BÁN KHÔ HẠN VÀ NHÀ PHONG LAN TẠI THẢO CẦM VIÊN SÀI GÒN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH LÂM NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 6 /2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN ĐÌNH CƯƠNG
CẢI TẠO HỆ THỐNG THỰC VẬT KHU VỰC BÁN KHÔ HẠN VÀ NHÀ PHONG LAN TẠI THẢO CẦM VIÊN SÀI GÒN
Ngành: Lâm nghiệp
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Giáo viên hướng dẫn: Th.S TRƯƠNG MAI HỒNG
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 6 /2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, em nhận được rất nhiều sự giúp đỡ và chia sẻ
động viên từ thầy, cô, gia đình, bạn bè và sự giúp đỡ nhiệt tình của các bạn cùng
nhóm thực tập
Em xin chân thành cảm ơn:
Những người thầy, người cô trong khoa lâm nghiệp, các thầy cô của trường
Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
Đặt biệt sự giúp đỡ tận tình của cô Trương Mai Hồng ThS_Giảng viên khoa
Lâm Nghiệp, trường đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
Các anh chị đang học cao học tại khoa Lâm Nghiệp
Các bạn lớp DH08LN
Nhóm bạn cùng thực tập đã giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài luận
văn
Và em cũng vô cùng biết ơn gia đình luôn tạo điều kiện tốt nhất để em có thể
hoàn thành luận văn
Tp HCM, ngày tháng năm 2012 SVTH
Nguyễn Đình Cương
Trang 4một không gian thư giãn, vui chơi lành mạnh cho khách tham quan
Kết quả đề tài đã đạt được:
Diện tích khu vực thiết kế là 3972.67 m2 bao gồm 2 phần chính là nhà Phong
lan với khu thực vật bán khô hạn và khô hạn
Đề tài đã chia khu vực cải tạo thành 4 khu nhỏ và được kí hiệu lần lượt là khu
I, II, III, IV Trong đó khu III, IV được chia ra làm các khu nhỏ hơn Tại mỗi khu
được thiết kế bản vẽ 2D và phối cảnh 3D bằng phần mềm Sketchup Pro 8.0
Đề tài đã thiết kế cải tạo lại hệ thống thực vật trong đó nhà Phong lan được bổ sung 25 loài và hệ thống hồ nước để giữ ẩm Còn khu thực vật bán khô hạn và khô hạn được thiết kế thành 2 mô hình, trong đó khu bán khô hạn được trồng bổ sung 3
loài: Gõ đỏ, Bằng lăng núi chúa, Gõ nước Đồng thời chỉnh sửa lại khu xương rồng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH CÁC BẢNG vii
DANH SÁCH CÁC HÌNH, BẢN VẼ viii
Chương 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích, ý nghĩa của đề tài 5
1.3 Mục tiêu 5
1.4 Giới hạn đề tài 5
Chương 2:TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
2.1 Điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế, xã hội thành phố Hồ Chí Minh 6
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 7
2.1.1.1 Vị trí, địa hình 7
2.1.1.2 Địa chất, thủy văn 8
2.1.1.3 Khí hậu, thời tiết 9
2.1.1.4 Môi trường 10
2.2 Giới thiệu khu vực cải tạo 11
2.2.1 Vị trí 11
2.2.2 Quá trình hình thành 12
2.3 Lợi ích của cây xanh đối với đô thị 13
2.3.1 Tác dụng cải thiện khí hậu của cây xanh 13
2.3.1.1 Điều chỉnh nhiệt độ 14
2.3.1.2 Bảo vệ gió và sự di chuyển không khí 14
2.3.1.3 Lượng mưa và độ ẩm 14
2.3.2 Công dụng trong kĩ thuật học môi sinh 14
2.3.3 Công dụng trang trí mỹ quan và kiến trúc 15
2.3.4 Một số công dụng khác 15
2.4 Những định hướng cho phát triển cây xanh trong các công viên ở đô thị 15
2.5 Các nguyên lý thiết kế cảnh quan hoa viên 16
2.5.1 Các cơ sở của việc bố cục cảnh quan hoa viên 16
2.5.1.1 Điểm nhìn 16
2.5.1.2 Tầm nhìn 17
2.5.1.3 Góc nhìn 18
2.5.2 Kỹ xảo tạo hình, trang trí không gian, cảnh quan hoa viên 18
Trang 62.5.2.1 Tạo hình không gian 18
2.5.2.2 Sử lý các thành phần tạo không gian 18
2.5.2.3 Tạo cảnh và trang trí không gian 18
2.5.3 Các quy luật bố cục chủ yếu 19
2.5.3.1 Bố cục cân xứng 19
2.5.3.2 Bố cục tự do 19
2.5.3.3 Điểm nhấn 19
2.6 Những chi tiết cần quan tâm khi chọn cây 19
2.7 Các nguyên lý trồng cây trong thiết kế hoa viên 20
2.7.1 Cây độc lập 20
2.7.2 Khóm cây 20
2.7.3 Hàng cây 21
2.7.4 Cây leo 21
2.7.5 Cỏ 21
Chương 3:NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Nội dung nghiên cứu 23
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 23
3.3 Đối tượng nghiên cứu 23
3.4 Đặc điểm khu vực nghiên cứu 23
3.5 Phương pháp nghiên cứu 23
3.5.1 Thu thập thông tin thứ cấp 23
3.5.2 Phương pháp ngoại nghiệp 24
3.5.3 Phương pháp nội nghiệp 24
3.5.4 Quan điểm thiết kế 25
3.5.5 Phương tiện phân tích, xử lý 26
Chương 4:KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Tổng quan khu vực cải tạo 27
4.1.1 Hiện trạng xây dựng 27
4.1.2 Các yếu tố khí hậu 27
4.1.3 Thành phần thực vật trong khu vực cải tạo 28
4.1.3.1 Khu vực I 29
4.1.3.2 Khu vực II 30
4.1.3.3 Khu vực III 31
4.1.3.4 Khu vực IV 33
4.2 Chọn phương án thiết kế cải tạo hệ thống cây xanh trong khu vực 36
4.2.1 Khu I 36
Trang 74.2.2 Khu II 38
4.2.3 Khu III 40
4.2.4 Khu IV 45
4.2.5 Cải tạo hệ thống thực vật bên trong nhà Phong lan 47
4.2.6 Tổng thể 50
4.3 Ý tưởng thiết kế mái nhà Phong lan 51
4.4 Danh sách các cây trồng mới trong khu vực cải tạo 53
4.5 Bảng danh sách các loài cây được trồng bổ sung trong khu vực cải tạo 53
4.6 Dự toán giá thành các loại cây xanh, hoa kiểng và các loại lan 54
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 56
5.1 Kết luận 56
5.2 Đề nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Phụ lục 1 1
Phụ lục 2 1
Phụ lục 3 1
Trang 8DANH SÁCH CÁC BẢNG
4.1 Kết quả phân loại hệ thống cây bóng mát tại khu vực I
4.2 Kết quả phân loại hệ thống cây bóng mát tại khu vực II
4.3 Kết quả phân loại hệ thống cây bóng mát tại khu vực III
4.4 Kết quả phân loại hệ thống cây bóng mát tại khu vực IV
4.5 Bảng danh sách các loài cây được trồng bổ sung trong khu vực cải tạo
Trang 9Bản vẽ 3.1 Sơ đồ phân chia khu vực cải tạo
Bản vẽ 4.1 Mặt bằng hiện trạng cây xanh khu bán khô hạn và nhà lan Bản vẽ 4.2 Mặt bằng hiện trạng cây xanh khu vực I
Bản vẽ 4.3 Mặt bằng hiện trạng cây xanh khu vực II
Bản vẽ 4.4 Mặt bằng hiện trạng cây xanh khu vực III
Bản vẽ 4.5 Mặt bằng hiện trạng cây xanh khu vực IV
Bản vẽ 4.6 Mặt bằng thiết kế sau cải tạo khu vực I
Bản vẽ 4.7 Phối cảnh khu vực I
Bản vẽ 4.8 Mặt bằng thiết kế sau cải tạo khu vực II
Bản vẽ 4.9 Phối cảnh khu vực II
Bản vẽ 4.10 Mặt bằng thiết kế sau cải tạo khu vực III
Bản vẽ 4.11 Phối cảnh khu vực IIIA
Bản vẽ 4.12 Phối cảnh khu vực IIIB
Bản vẽ 4.13 Phối cảnh khu vực cửa trước nhà Phong lan
Bản vẽ 4.14 Phối cảnh khu vực cửa sau nhà Phong lan
Bản vẽ 4.15 Phối cảnh khu vực IIIC
Bản vẽ 4.16 Mặt bằng thiết kế sau cải tạo khu vực IV
Bản vẽ 4.17 Bản vẽ phối cảnh mặt chuồng dê của khu IV
Bản vẽ 4.18 Bản vẽ phối cảnh bên trong nhà Phong lan
Bản vẽ 4.19 Mặt bằng thiết kế tổng thể khu bán khô hạn và nhà Phong lan Bản vẽ 4.20 Phối cảnh tổng thể khu bán khô hạn và nhà Phong lan
Bản vẽ 4.21 Bản vẽ mái nhà lan trước thiết kế
Trang 10Nẵng trời rất nóng bức Lúc này mới thấy giá trị của những hàng cây xanh Nhưng
những con đường có bóng mát ấy ngày càng ít đi nhường chỗ cho các tòa nhà mọc lên cùng những hàng cột điện vô cảm Nền kinh tế càng phát triển, thu nhập của người dân càng tăng cao nhưng chất lượng, môi trường sống lại có xu hướng tỷ lệ nghịch Ở các nước tiên tiến, chất lượng cuộc sống cao có tiêu chí về cây xanh rất lớn Phát triển thành phố hiện đại, năng động về kinh tế là cần thiết nhưng cũng cần hài hòa giữa cơ sở hạ tầng và cảnh quan cây xanh Những vùng vành đai thành phố trước kia được che phủ bởi bạt ngàn vườn cây, vườn rau, bãi cỏ nay đã được thay thế bằng những dãy nhà liên tiếp, hiện đại hơn, bề thế hơn và cũng ngột ngạt hơn Còn những ngôi nhà trong đô thị dường như hiếm thấy nhà nào có chỗ cho cây trồng, cùng lắm là một vài kiểng cây cảnh đơn lẻ bởi “đất hẹp, người đông” và ai cũng cố gắng tận dụng đất để xây nhà ở cho rộng hơn Theo nguyên tắc quy hoạch, mỗi công trình phải dành ít nhất 20% diện tích cho cây xanh, nhưng trong tình trạng tấc đất tấc vàng như hiện nay Thiếu cây xanh tưởng như là chuyện nhỏ với quan niệm Nhưng cái giá phải trả trong tương lai thì vô cùng lớn, không chỉ cho môi trường mà cho cả việc xây dựng nhân cách con người Đánh giá của Bộ Tài Nguyên
và Môi Trường cho biết hiện nay cây xanh ở đô thị nước ta chưa đạt tiêu chuẩn về
độ che phủ cũng như cân bằng hệ sinh thái Tại các vùng đô thị hóa nhanh, chưa có vành đai xanh để bảo vệ môi trường Hệ thống cây xanh mới hình thành và tập
Trang 11trung tại các đô thị lớn và trung bình, còn tại các đô thị nhỏ, cây xanh chiếm diện tích không đáng kể So với các tiêu chuẩn và quy chuẩn thì tỷ lệ diện tích đất dành cho cây xanh còn rất thấp.Theo các cơ quan chức năng, vấn đề phát triển cây xanh tại các đô thị đang bộc lộ nhiều tồn tại Có nhiều lý do cho sự thiếu vắng màu xanh Một nguyên nhân chính là thiếu nguồn lực cho sự phát triển Hầu hết chi phí này chủ yếu chỉ dựa vào ngân sách nhà nước và chưa có cơ chế, chính sách cụ thể để khuyến khích mọi thành phần kinh tế và nhân dân tham gia Một số thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng có chi phí đầu tư cho cây xanh tương đối cao hơn còn các đô thị khác chỉ được đầu tư với chi phí rất thấp Việc quản lý cây xanh còn lỏng lẻo, tình trạng chặt phá cây vẫn diễn ra thường ngày Nhiều đô thị cải tạo, nâng cấp và mở rộng đường phố còn tùy tiện chặt hạ hàng loạt cây xanh, cây quý Tại hầu hết các khu đô thị lớn, hệ thống công trình ngầm chưa được quy hoạch nên tình trạng đào lên, lấp xuống thường xuyên khiến hàng loạt cây trồng lâu năm bị ảnh hưởng dẫn đến chết, hoặc đổ hàng loạt khi gió bão Ai trong chúng ta chẳng mơ ước
có được cuộc sống tốt đẹp trong một môi trường sống trong lành, sạch đẹp, nhưng với phần lớn dân cư ở đô thị như TP Hồ Chí Minh hiện nay thì điều này trở thành một mơ ước xa xỉ khi mặt trái của sự phát triển đô thị đã bộc lộ đủ loại ô nhiễm môi trường và chúng trở thành một loại hiểm họa ngày một lớn
Trong điều kiện sống như thế, phát triển cây xanh là một giải pháp cứu nguy môi trường rất nên được đầu tư thỏa đáng Tuy nhiên, cho đến nay, khi sự phát triển
cơ sở hạ tầng tại các đô thị lớn đã rõ nét thì cây xanh vẫn chưa có quy hoạch bài bản Ngày nay, luật lệ nói chung về quy hoạch và quản lý cây xanh đã khá chi tiết
và nghiêm ngặt, đảm bảo quyền lợi được hưởng thụ cây xanh của người dân Rất nhiều cơ quan hữu quan chỉ đạo, thực thi, từ UBND TP Hồ Chí Minh, Sở Giao thông Vận tải, các khu quản lý giao thông đô thị, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Quy hoạch Kiến trúc, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng,
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Kế hoạch và Đầu tư cho đến Hội Kiến trúc sư, Hội Mỹ thuật cũng giữ vai trò chủ trì phối hợp, tham gia tư vấn, giám sát, góp ý chuyên ngành cho công việc này Trong cuộc sống cũng đang hiện diện sự bất bình
Trang 12đẳng trong việc hưởng thụ giá trị môi trường từ cây xanh Chỉ có những khu dân cư cao cấp mới đảm bảo có không gian xanh cho những người dân sinh sống tại đó được hưởng thụ Còn người nghèo ở các khu vực đông dân nếu muốn thì phải chia nhau hít thở khí trời ở những công viên công cộng vốn không nhiều cây mà lại lắm người tập trung
Ở nước ngoài, cây xanh là một phần quan trọng của kiến trúc đô thị, luôn được quy hoạch một cách khoa học và đồng bộ cùng với sự xây dựng, kiến tạo đô thị Trồng cây xanh không chỉ là giải pháp góp phần tạo nên mỹ quan mà còn bảo vệ môi trường, giúp cân bằng sinh thái, điều hòa khí hậu Không phải không có lý khi
có người nói đến một nơi nào đó, chỉ cần nhìn cách con người hành xử với cây xanh
sẽ biết được văn hóa của người dân ở nơi ấy Bởi khi con người sống trong môi trường gần gũi, chan hòa với thiên nhiên thì tính khí họ cũng hiền hòa và thân thiện hơn những nơi xô bồ hoặc bị bê tông hóa
Ở các nước trên thế giới, mức độ phủ xanh thành phố không phụ thuộc vào chỉ
số GDP hay diện tích của quốc gia, mà do ý thức của con người Vì vậy, cây xanh được trồng dọc theo đường giao thông nội bộ, khu tiểu cảnh, công viên ven sông, công viên tập trung tạo nên một không gian thoáng mát, trong lành, gây ấn tượng
rõ ràng về đô thị xanh, sạch, văn minh Với những lợi ích thiết thực như thế, cây xanh đô thị đã trở thành đề tài luôn thu hút sự quan tâm của nhiều người để tìm cách phát triển và gìn giữ cây xanh
Ở nước ta, việc trồng cây xanh đô thị cũng đã có hàng trăm năm trước Những hàng cây cổ thụ còn lại ở Sài Gòn - TP Hồ Chí Minh đã trở thành tài sản quý hiếm, được xếp vào danh mục cần bảo vệ đặc biệt Sau này, việc trồng cây xanh chủ yếu
là để trang trí, tạo cảnh quan và nằm trong phạm vi hẹp như nhà riêng hay khu vực nội bộ Vì vậy, việc chọn giống cây gì, trồng như thế nào, trồng ở đâu hầu như phụ thuộc vào sự tư vấn, sắp đặt của các nhà kiến trúc hoặc của chính chủ nhân
Quy hoạch cây xanh là một nội dung trong quy hoạch đô thị Phải xác định chỉ tiêu đất cây xanh, tổng diện tích đất cây xanh cho toàn đô thị cũng như từng khu vực, diện tích đất để phát triển vườn ươm và phạm vi sử dụng đất cây xanh đô thị
Trang 13Chính phủ đã ban hành Nghị định số 64/2010/NĐ-CP về quản lý cây xanh đô thị
Về một nguyên tắc, Nhà nước chủ trương huy động các tổ chức, cá nhân có đủ năng lực, kinh nghiệm tham gia vào quản lý cây xanh đô thị theo hình thức đấu thầu hoặc đặt hàng thông qua hợp đồng
Theo đó, khi triển khai xây dựng đô thị mới, chủ đầu tư phải đảm bảo quỹ đất cho cây xanh Cây được trồng phải đúng chủng loại, đúng tiêu chuẩn theo quy hoạch Khi xây dựng mới đường đô thị thì phải đồng thời lo trồng cây xanh trong tiến trình xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật Khi cải tạo, nâng cấp đường đô thị hoặc các công trình có liên quan đến việc bảo vệ, chặt hạ, dịch chuyển, trồng mới cây xanh, chủ đầu tư phải thông báo cho cơ quan quản lý cây xanh Việc lựa chọn các hình thức bố trí cây, loại cây trồng trên đường phố phải phù hợp với từng loại đường phố, điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng, đảm bảo an toàn cho người và phương tiện tham gia giao thông, đáp ứng các yêu cầu về mỹ quan và vệ sinh môi trường đô thị, cố gắng không làm ảnh hưởng các công trình cơ sở hạ tầng
Cùng với nhịp đập đô thị hóa, sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của cơ sở hạ tầng, đời sống của người dân ngày càng nâng cao thì nhu cầu về thư giãn, giải trí của người dân được nâng lên một mức mới song song với điều đó cần có một khoảng không gian xanh ở trung tâm thành phố để thỏa mãn nhu cầu của người dân Thảo Cầm Viên là một trong số ít những địa điểm đó Đây là một khu vui chơi giải trí mang nhiều giá trị nhân văn sâu sắc, nó vừa thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người vừa giáo dục cho mọi người về vai trò của thiên nhiên và môi trường Hiện nay Thảo Cầm Viên Sài Gòn đang trong tình trạng xuống cấp, hệ thống thực vật trong khuôn viên phát triển không tốt, hệ thống cây xanh ngày càng phát triển do đó cần có sự thay đổi về phương cách quản lý điều hành chăm sóc động thực vật Tuy vậy nó vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu cần có của Thảo Cầm Viên Do đó song song với việc bảo tồn các loài động thực vật quý hiếm thì Thảo Cầm Viên cần có một đề án quy hoạch cải tạo tổng thể hệ thống thực vật trong khuôn viên nhằm hướng đến mục đích là một vườn thực vật bách thảo lớn ở Việt Nam
Với những lý do trên em đã chọn và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp:
Trang 14“Cải tạo hệ thống thực vật khu bán khô hạn và nhà Phong lan tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn”
Đề tài được hướng dẫn bởi cô Trương Mai Hồng, Th.S giảng viên chính bộ môn Lâm nghiệp đô thị, khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh
1.2 Mục đích, ý nghĩa của đề tài
Cải tạo hệ thống thực vật cây xanh trong khu bán khô hạn và nhà lan để tạo khung cảnh đẹp Tăng tính thẩm mỹ nhằm phù hợp với yêu cầu tham quan giải trí của người dân Đồng thời tạo một không gian phù hợp với từng đặc tính sinh thái của từng loại cây, tìm ra loại thực vật phù hợp với từng điều kiện đất đai của khu vực thiết kế Nâng cao giá trị mảng xanh chung cho Thảo Cầm Viên nói riêng và địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói chung
1.3 Mục tiêu
Đánh giá hiện trạng mảng thực vật trong khu vực bán khô hạn và nhà Phong
lan
Lựa chọn loài cây trồng và bố trí thích hợp cho khu vực
Xây dựng, thiết kế mảng xanh 2D và 3D
1.4 Giới hạn đề tài
Đề tài chỉ tập trung vào phân loại, cải tạo hệ thống thực vật trong khu bán khô hạn và nhà Phong lan
Thời gian thực hiện ngắn chỉ trong 3 tháng từ 3/2012 đến 5/2012
Khả năng nghành học không chuyên về thiết kế nên phải học thêm phần vẽ thiết kế, phối cảnh
Trang 15Chương 2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế, xã hội thành phố Hồ Chí Minh
Các thông tin trong phần này được lấy từ
Theo website: http://vi.wikipedia.org và http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đông dân nhất, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục quan trọng của Việt Nam
Vùng đất này ban đầu được gọi là Prey Nokor, thành phố sau đó hình thành nhờ công cuộc khai phá miền Nam của nhà Nguyễn Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh cho lập phủ Gia Định, đánh dấu sự ra đời thành phố Khi người Pháp vào Đông Dương, để phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa, thành phố Sài Gòn được thành lập và nhanh chóng phát triển, trở thành một trong hai đô thị quan trọng nhất Việt Nam, được mệnh danh Hòn ngọc Viễn Đông hay Paris Phương Đông Sài Gòn là thủ đô của Liên Bang Đông Dương giai đoạn 1887-1901 Năm 1954, Sài Gòn trở thành thủ đô của Việt Nam Cộng hòa và thành phố hoa lệ này trở thành một trong những đô thị quan trọng của vùng Đông Nam Á Việt Nam Cộng hòa sụp đổ năm 1975, lãnh thổ Việt Nam hoàn toàn thống nhất Ngày 2 tháng 7 năm 1976,Quốc hội nước Việt Nam thống nhất quyết định đổi tên Sài Gòn thành "Thành phố Hồ Chí Minh", theo tên vị Chủ tịch nước đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay bao gồm 19 quận và 5 huyện, tổng diện tích 2.095,01 km² Theo kết quả điều tra dân số chính thức vào thời điểm 0 giờ ngày 1 tháng 4 năm 2009 thì dân số thành phố là 7.162.864 người (chiếm 8,34% dân số Việt Nam), mật độ trung bình 3.419 người/km² Đến ngày 1/4/2010 theo số liệu của Tổng cục Thống kê, dân dố thành phố tăng lên 7.382.287 người Tuy nhiên nếu tính
Trang 16những người cư trú không đăng ký thì dân số thực tế của thành phố vượt trên 8 triệu người Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 20,2 % tổng sản phẩm và 27,9 % giá trị sản xuất công nghiệp của cả quốc gia Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam và Đông Nam Á, bao gồm cảđường
bộ, đường sắt, đường thủy và đường không Vào năm 2007, thành phố đón khoảng
3 triệu khách du lịch quốc tế, tức 70 % lượng khách vào Việt Nam Các lĩnh vựcgiáo dục, truyền thông, thể thao, giải trí, Thành phố Hồ Chí Minh đều giữ vai trò quan trọng bậc nhất
Tuy vậy, Thành phố Hồ Chí Minh đang phải đối diện với những vấn đề của một đô thị lớn có dân số tăng quá nhanh Trong nội ô thành phố, đường sá trở nên quá tải, thường xuyên ùn tắc Hệ thống giao thông công cộng kém hiệu quả Môi trường thành phố cũng đang bị ô nhiễm do phương tiện giao thông, các công trường xây dựng và công nghiệp sản xuất
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí, địa hình
Thành phố Hồ Chí Minh có tọa độ 10°10' – 10°38' Bắc và 106°22' – 106°54' Đông
Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương,
Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh,
Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai,
Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu,
Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang
Nằm ở miền Nam Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1.730 km theo đường bộ, trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50 km theo đường chim bay Với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, Thành phố Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một cửa ngõ quốc tế
Trang 17Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, địa hình thành phố thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông Vùng cao nằm ở phía Bắc - Đông Bắc và một phần Tây Bắc, trung bình 10 đến 25 mét Xen kẽ có một số gò đồi, cao nhất lên tới 32 mét như đồi Long Bình ở quận 9 Ngược lại, vùng trũng nằm ở phía Nam - Tây Nam và Ðông Nam thành phố, có độ cao trung bình trên dưới 1 mét, nơi thấp nhất 0,5 mét Các khu vực trung tâm, một phần các quận Thủ Đức, quận 2, toàn bộ huyện Hóc Môn và quận 12 có độ cao trung bình, khoảng 5 tới 10 mét
Thành phố Hồ Chí Minh gồm có bốn điểm cực:
Cực Bắc là xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi
Cực Tây là xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi
Cực Nam là xã Long Hòa, huyện Cần Giờ
Cực Đông là xã Thạnh An, huyện Cần Giờ
2.1.1.2 Địa chất, thủy văn
Địa chất Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm chủ yếu là hai tướng trầm tíchPleistocen và Holocen lộ ra trên bề mặt Trầm tích Pleistocen chiếm hầu hết phần Bắc, Tây Bắc và Đông Bắc thành phố Dưới tác động của các yếu tố tự nhiên
và hoạt động của con người, trầm tích phù sa cổ hình thành nhóm đất đặc trưng riêng: đất xám Với hơn 45 nghìn hecta, tức khoảng 23,4 % diện tích thành phố, đất xám ở Thành phố Hồ Chí Minh có ba loại: đất xám cao, đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng và hiếm hơn là đất xám gley Trầm tích Holocen ở Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều nguồn gốc: biển, vũng vịnh, sông biển, bãi bồi hình thành nhiều loại đất khác nhau: nhóm đất phù sa biển với 15.100 ha, nhóm đất phèn với 40.800 ha và đất phèn mặn với 45.500 ha Ngoài ra còn có một diện tích khoảng hơn 400 ha là
"giồng" cát gần biển và đất feralite vàng nâu bị xói mòn trơ sỏi đá ở vùng đồi gò
Về thủy văn, nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai - Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh có mạng lưới sông ngòi kênh rạch rất đa dạng.Sông Ðồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên, hợp lưu bởi nhiều sông khác, có lưu vực lớn, khoảng 45.000 km² Với lưu lượng bình quân 20–500 m³/s, hàng năm cung cấp 15
Trang 18tỷ m³ nước, sông Đồng Nai trở thành nguồn nước ngọt chính của thành phố Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Hớn Quản, chảy qua Thủ Dầu Một đến Thành phố Hồ Chí Minh, với chiều dài 200 km và chảy dọc trên địa phận thành phố dài 80 km Sông Sài Gòn có lưu lượng trung bình vào khoảng 54 m³/s, bề rộng tại thành phố khoảng 225 m đến 370 m, độ sâu tới 20 m Nhờ hệ thống kênh Rạch Chiếc, hai con sông Đồng Nai và Sài Gòn nối thông ở phần nội thành mở rộng Một con sông nữa của Thành phố Hồ Chí Minh là sông Nhà Bè, hình thành ở nơi hợp lưu hai sông Đồng Nai và Sài Gòn, chảy ra biển Đông bởi hai ngả chính Soài Rạp và Gành Rái Trong đó, ngả Gành Rái chính là đường thủy chính cho tàu ra vào bến cảng Sài Gòn Ngoài các con sông chính, Thành phố Hồ Chí Minh còn có một hệ thống kênh rạch chằng chịt: Láng The, Bàu Nông, rạch Tra, Bến Cát, An Hạ, Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Bến Nghé, Lò Gốm, Kênh Tẻ, Tàu Hũ, Kênh Ðôi Hệ thống sông, kênh rạch giúp Thành phố Hồ Chí Minh trong việc tưới tiêu, nhưng do chịu ảnh hưởng dao động triều bán nhật của biển Ðông, thủy triều thâm nhập sâu đã gây nên những tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp và hạn chế việc tiêu thoát nước ở khu vực nội thành
Nhờ trầm tích Pleistocen, khu vực phía Bắc Thành phố Hồ Chí Minh có được lượng nước ngầm khá phong phú Nhưng về phía Nam, trên trầm tích Holocen, nước ngầm thường bị nhiễm phèn, nhiễm mặn Khu vực nội thành cũ có lượng nước ngầm đáng kể, tuy chất lượng không thực sự tốt, vẫn được khai thác chủ yếu ở
ba tầng: 0–20 m, 60–90 m và 170–200 m (tầng trầm tích Miocen) Tại Quận 12, các huyệnHóc Môn và Củ Chi, chất lượng nước tốt, trữ lượng dồi dào, thường được khai thác ở tầng 60–90 m, trở thành nguồn nước bổ sung quan trọng
2.1.1.3 Khí hậu, thời tiết
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, Thành phố Hồ Chí Mình có nhiệt độ cao đều trong năm và hai mùa mưa – khô rõ rệt Mùa mưa được bắt đầu
từ tháng 5 tới tháng 11, còn mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau Trung bình, Thành phố Hồ Chí Minh có 160 tới 270 giờ nắng một tháng, nhiệt đó trung bình
27 °C, cao nhất lên tới 40 °C, thấp nhất xuống 13,8 °C Hàng năm, thành phố có
Trang 19330 ngày nhiệt độ trung bình 25 tới 28 °C Lượng mưa trung bình của thành phố đạt 1.949 mm/năm, trong đó năm 1908 đạt cao nhất 2.718 mm, thấp nhất xuống 1.392
mm vào năm 1958 Một năm, ở thành phố có trung bình 159 ngày mưa, tập trung nhiều nhất vào các tháng từ 5 tới 11, chiếm khoảng 90%, đặc biệt hai tháng 6 và 9 Trên phạm vi không gian thành phố, lượng mưa phân bố không đều, khuynh hướng tăng theo trục Tây Nam – Ðông Bắc Các quận nội thành và các huyện phía Bắc có lượng mưa cao hơn khu vực còn lại
Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính là gió mùa Tây – Tây Nam và Bắc – Ðông Bắc Gió Tây – Tây Nam từ Ấn Độ Dương, tốc độ trung bình 3,6 m/s, vào mùa mưa Gió Gió Bắc – Ðông Bắc từ biển Đông, tốc độ trung bình 2,4 m/s, vào mùa khô Ngoài ra còn có gió tín phong theo hướng Nam – Đông Nam vào khoảng tháng 3 tới tháng 5, trung bình 3,7 m/s Có thể nói Thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng không có gió bão Cũng như lượng mưa, độ ẩm không khí ở thành phố lên cao vào mùa mưa, 80%, và xuống thấp vào mùa không, 74,5% Trung bình, độ ẩm không khí đạt bình quân/năm 79,5%
Theo thống kê của Thạc sĩ Nguyễn Thị Hiền Thuận, Phó phân viện trưởng Phân viện Khí tượng Thuỷ văn phía Nam cũng cho thấy, nhiệt độ trung bình tại TP.HCM liên tục tăng lên Đặc biệt, trong 5 năm 2001-2005, nhiệt độ trung bình tại thành phố đã lên đến 280C, tăng 0,40C so với giai đoạn 1991-2000, bằng mức tăng của 40 năm trước đó Trong khi đó, theo các nhà khoa học trên thế giới, việc thay đổi nhiệt độ ở mức 0,20C đã có thể gây ra những tác hại lớn
2.1.1.4 Môi trường
Với tốc độ gia tăng dân số quá nhanh, cơ sở hạ tầng chưa kịp quy hoạch nâng cấp tổng thể, ý thức một số người dân lại quá kém trong nhận thức và bảo vệ môi trường chung Vì vậy, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường quá lớn Hiện trạng nước thải không được xử lý đổ thẳng vào hệ thống sông ngòi còn rất phổ biến Nhiều cơ sở sản xuất, bệnh viện và
cơ sở y tế chưa có hệ thống xử lý nước thải là một thực trạng đáng báo động Tại cụm công nghiệp Tham Lương, nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi chất thải công nghiệp
Trang 20với tổng lượng nước thải ước tính 500.000 m³/ngày Sông Sài Gòn, mức độ ô nhiễm
vi sinh chủ yếu do hoạt động nuôi trồng thuỷ sản gây ra vượt tiêu chuẩn cho phép đến 220 lần Cho tới 2008, vẫn chưa có giải pháp cụ thể nào để chấm dứt tình trạng
ô nhiễm này
Lượng rác thải ở Thành phố Hồ Chí Minh lên tới 6.000 tấn/ngày, trong đó một phần lượng rác thải rắn không được thu gom hết Kết quả quan trắc năm 2007 cho thấy, so với năm 2006, sự ô nhiễm hữu cơ tăng 2 đến 4 lần Các phương tiện giao thông, hoạt động xây dựng, sản xuất Còn góp phần gây ô nhiễm không khí Khu vực ngoại thành, đất cũng bị ô nhiễm do tồn đọng thuốc bảo vệ thực vật từ sản xuất nông nghiệp gây nên
Tình trạng ngập lụt trong trung tâm thành phố đang ở mức báo động cao, xảy
ra cả trong mùa khô Diện tích khu vực ngập lụt khoảng 140km2 với 85% điểm ngập nước nằm ở khu vực trung tâm Thiệt hại do ngập nước gây ra ước tính 8
tỷ đồng mỗi năm Nguyên nhân là do hệ thống cống thoát nước được xây cách đây
50 năm đã xuống cấp Ngoài ra, việc xây dựng các khu công nghiệp và đô thị ở khu vực phía nam – khu vực thoát nước của thành phố này đã làm cho tình hình ngập càng nghiêm trọng hơn
Trước những bức xúc về thực trạng môi trường, Thành phố Hồ Chí Minh đang khẩn trương tìm mọi cách nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân trên địa bàn Việc trích ra một nguồn vốn lớn nhiều tỷ đồng đầu tư xây dựng hồ sinh học cải tạo nước kênh Ba Bò là một ví dụ
2.2 Giới thiệu khu vực cải tạo
Nguồn thông tin được lấy từ: website http://vi.wikipedia.org
2.2.1 Vị trí
Thảo Cầm Viên Sài Gòn (tên gọi tắt: Thảo Cầm Viên), tên ban đầu: Vườn
Bách Thảo, còn người dân quen gọi Sở thú; là nơi bảo tồn động thực vật có tuổi thọ
đứng hàng thứ 8 trên thế giới, tại Việt Nam
Khuôn viên rộng lớn này hiện tọa lạc ở số 2B Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Bến Nghé, quận 1, Thành Phố Hồ Chí Minh
Trang 212.2.2 Quá trình hình thành
Ngày 23 tháng 3 năm 1864, Đề đốc De La Grandière ký nghị định cho phép xây dựng Vườn Bách Thảo tại Sài Gòn Ngay sau đó, ông Louis Adolphe Germain, một thú y sĩ của quân đội pháp, được giao nhiệm vụ mở mang 12ha vùng đất hoang
ở phía đông bắc rạch Thị Nghè (Pháp gọi là Arrroyo d'Avalanche, lấy theo tên chiến tàu chiến đã vào rạch Thị Nghè để tấn công thành Gia Định) để làm nơi nuôi thú và ươm cây Tháng 3 năm sau (1865) bước đầu, ông Germain đã xây dựng được một
số chuồng trại
Để biến nơi này thành nơi nuôi trồng các loài động vật, thực vật của toàn
Đông Dương; vừa để trưng bày, vừa để cung cấp cây giống cho Muséum national
d'histoire naturelle và trồng dọc theo các trục lộ ở Sài Gòn; viên Toàn quyền Đông
Dương nhận thấy cần phải có người giỏi chuyên môn hơn, nên đã mời cho ông J.B Louis Pierre, người phụ trách chăm sóc thực vật củaVườn bách thảo Calcutta (Ấn Độ), sang làm giám đốc vào ngày 28 tháng 3năm 1865
Cuối năm 1865, Vườn Bách Thảo đã được nới rộng đến 20 ha Sang năm 1924, khuôn viên sáp nhập thêm bên bờ bắc rạch Thị Nghè 13 ha nữa; một cây cầu đúc được bắc qua rạch để nối liền hai khu vực hoàn thành năm 1927 Và cũng trong năm đó, nhờ sự vận động của một viên chức Pháp tại Nhật, chính phủ Nhật đã cung cấp cho Vườn Bách Thảo khoảng 900 giống cây lạ
Ngày 15 tháng 12 năm 1867, Thống đốc De La Grandière ban hành nghị định
số 183 nhằm chấn chỉnh tổ chức và điều hành Vườn Bách Thảo, đặt nơi đây dưới sự quản lý của Hội đồng thành phố Sài Gòn, với một ngân khoản điều hành 21.000 quan Pháp/năm, do ngân sách thuộc địa cung cấp
Ngày 17 tháng 2 năm 1869, phó đô đốc G Ohier, quyền Thống đốc Nam Kỳ,
ký nghị định số 33 thành lập Ủy ban thường trực do Philastre làm chủ tịch, để giám sát việc chi tiêu tại Thảo Cầm Viên Vào thời điểm này, chi phí hàng năm của Vườn Bách Thảo đã được nâng lên 30.000 quan Pháp/năm Cũng theo nghị định trên, đúng ngày Quốc khánh của Pháp 14 tháng 7 năm1869, Vườn Bách Thảo mở cửa thường trực cho công chúng vào xem
Trang 22Liệt kê thêm một số lần chỉnh trang, tôn tạo khác:
Năm 1924 - 1927: trải nhựa đường nội bộ trong khuôn viên, xây dựng các chuồng thú có qui mô lớn và kiên cố như chuồng lồng tròn để nuôi khỉ, chuồng cọp Năm 1956: lại được tu sửa, tái thiết và đổi tên là Thảo Cầm Viên Sài Gòn Năm 1984: xây dựng mới nhiều hạng mục công trình, như: kè đá dọc kênh Thị Nghè, cải tạo hệ thống thoát nước và hệ thống dây điện trần, trải nhựa và bê tông đường nội bộ, xây dựng tường rào dọc đường Nguyễn Bỉnh Khiêm
Đặc biệt là từ năm 1990, nhiều chuồng thú được cải tạo và mở rộng cho phù hợp với đời sống của từng loài thú, đã nâng tổng diện tích chuồng thú sau năm 1975 từ 8.500m2 lên đến năm 2000 là 25.000m2
Nhờ mối quan hệ hợp tác, trao đổi, mua bán với nhiều vườn động thực vật và các tổ chức khoa học quốc tế, bộ sưu tập động vật của Thảo Cầm Viên Sài Gòn ngày một thêm phong phú
Ngoài ra, trong Thảo Cầm Viên Sài Gòn còn có hai công trình kiến trúc đặc sắc khác, đó là Đền thờ vua Hùng (Thành phố Hồ Chí Minh) dựng năm 1926 và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - Thành phố Hồ Chí Minh mở cửa từ năm 1929
2.3 Lợi ích của cây xanh đối với đô thị
Theo Chế Đình Lý (1997) thì cây xanh đã được trồng từ lâu trong đô thị với nhiều lý do khác nhau Từ những cây với ý nghĩa tín ngưỡng đặc biệt trong các đền thờ cổ cho đến các cây trồng trong các chậu đặt bên các tòa nhà mới xây Chúng ta
đã làm hài hòa cuộc sống đô thị bằng cách tạo ra sự hiên diện của các thành phần tự nhiên trong đời sống đô thị Trong những năm kinh tế phát triển, mọi người và toàn
xã hội đã có những sự quan tâm đến cây xanh đô thị, trong chiều hướng cải thiện cuộc sống cộng đồng Sự quan tâm này tạo ra nhu cầu cần tìm hiểu về kĩ thuật trồng, bố trí thiết kế, chọn chủng loại và quản lý cây xanh trong môi trường đô thị
Nó giữ một vai trò quan trọng trong đời sống của người dân đô thị và được biểu hiện như sau:
2.3.1 Tác dụng cải thiện khí hậu của cây xanh
Trang 232.3.1.1 Điều chỉnh nhiệt độ
Nhiệt độ tối ưu cho cơ thể con người là 370C Vùng đô thị nóng hơn ngoại ô xung quanh trung bình 0,5- 1,50C (theo Grey, 1978) Sự chênh lệch này có lợi và mùa đông nhưng bất tiện vào mùa hè Sự khác biệt vào mùa hè chủ yếu gây ra bởi
sự thiếu thực vật trong đô thị, và vai trò chính của thực vật là trong việc hấp thụ bức
xạ mặt trời và trong việc làm lành qua quá trình làm bay hơi nước
Cây to, cây bụi và cỏ điều hòa nhiệt độ trong môi trường đô thị nhờ vào kiểm soát bức xạ mặt trời Lá cây ngăn chặn, phản chiếu, hấp thụ và truyền dẫn bức xạ mặt trời Hiệu quả của chúng tùy thuộc vào mật độ lá của loài cây, dạng của lá, cách phân cành của cây
Cây và các thực vật khác cũng giúp điều hòa nhiệt độ không khí mùa hè thông qua sự hô hấp Cây xanh còn được gọi là nhà máy điều hòa không khí tự nhiên
2.3.1.2 Bảo vệ gió và sự di chuyển không khí
Cây cao và thấp kiểm soát gió bởi sự cản trở, định hướng, làm chệch hướng và lọc gió Hiệu quả và mức độ kiểm soát thay đổi theo kích thướt loài, hình dạng, mật
độ lá, sự lưu giữ của lá và vị trí hiện tại của cây xanh
Sự ngăn chặn bao gồm việc bố trí cây nhằm giảm tốc độ gió và gia tăng sự chịu đựng đối với luồng gió Cây xanh và kết hợp với các kiến trúc khác, có thể thay đổi luồng gió trong khuôn viên ngoại thất và chung quanh nhà ở
Chặn thẳng góc hướng gió để ngăn gió, có thể giảm gió từ 2 đến 5 lần chiều cao của cây cao nhất phía trước của hàng cây và đối với khoảng cách 30 – 40 lần ở phía dưới gió
2.3.1.3 Lượng mưa và độ ẩm
Cây xanh ngăn và lọc bức xạ mặt trời, ngăn chặn luồng gió, làm giảm bay hơi của ẩm độ đất Vì vậy dưới tán rừng, ẩm độ thường cao hơn và tốc độ bay hơi thường thấp hơn Nhiệt độ dưới tán cây cũng thấp hơn không khí chung quanh ban ngày và ấm hơn suốt thời gian ban đêm
2.3.2 Công dụng trong kĩ thuật học môi sinh
Trang 24Robinette (1972) (dẫn theo Chế Đình Lý, 1997) đã liệt kê các đặc trưng của thực vật và tác dụng của chúng giúp giải quyết các vấn đề môi sinh như:
Các lá mập dày có tác dụng chặn đứng tiếng ồn
Các cành di chuyển và rung động có tác dụng hấp thụ và ngăn chặn âm thanh Các lông tơ trên lá giữ, hứng các hạt ô nhiễm
Các khí khổng trong lá để trao đổi khí
Hoa và lá có cho mùi thơm dễ chịu để ngăn mùi hôi
Lá và cành cây làm chậm tốc độ gió, giảm cường độ mưa
Hệ rễ phân bố rộng làm giảm xói mòn đất
Mật độ lá dày ngăn ánh sáng
Lá thưa lọc được ánh sáng
2.3.3 Công dụng trang trí mỹ quan và kiến trúc
Cây và cây bụi tạo ra các tường và trân xanh trong các ngoại thất hoa viên Cùng với các thành phần kiến trúc khác, có thể dùng để rào chắn, khoanh ranh giới, nối kết, mở rộng, thu nhỏ, trang trí nội thất
Một trong những công dụng chính mà chúng ta có kết hợp cây xanh là che chắn Nó không chỉ bao gồm che chắn tầm nhìn mà bao gồm che chăn sự xâm nhập
tư viên
2.3.4 Một số công dụng khác
Cung cấp các sản phẩm gỗ có giá trị kinh tế cao Làm bóng mát trong các khu công cộng, cây xanh cung cấp chỗ nô đùa, vui chơi cho trẻ em Cây xanh còn được dùng như một chỉ dẫn của biến cố lịch sử, nơi tưởng niệm Ít ra, chúng ta cũng có thể nói rằng, đô thị sẽ là một nơi đìu hiu, hoang vắng nếu chúng không có cây xanh
2.4 Những định hướng cho phát triển cây xanh trong các công viên ở đô thị
Định hướng phát triển cho cây xanh công viên đã được đề cập đến trong đề tài nghiên cứu: Bảo tồn và phát triển mảng xanh đô thị do Công ty Công viên Cây xanh Tp.Hồ Chí Minh thực hiện Trong đó đã nêu ra các định hướng phát triển cho Cây xanh Công viên ở Tp.Hồ Chí Minh nói riêng, có thể vận dụng vào các đô thị nước
ta nói chung:
Trang 25Chuyển hóa dần các loài cây đơn điệu, không có bóng che nhưng chiếm số lượng lớn trong các công viên như: bạch đàn, keo lá tràm bằng cách thay thế các loài cây cho bóng mát, có hoa, cây đặc trưng của các vùng thực vật phía Nam Phong phú hóa tổ thành loài nhằm tạo ra sự đa dạng sinh học và các bố cục cây xanh có giá trị cảnh quan
Chú trọng khía cạnh thẩm mỹ và bố cục cảnh quan trong việc xây dựng các công trình kiến trúc trong các công viên Không xây dựng công trình làm phã vỡ bố cục cảnh quan thiên nhiên trong công viên
Tận dụng không gian và diện tích để tăng thêm diện tích xanh Bằng cách phối trí đại mộc + trung mộc + tiểu mộc + hoa + thảm cỏ, kết hợp với chọn loài cây ưu sáng chịu bóng thích hợp, tạo ra các tiểu cảnh với khoảng xanh nhiều tầng
Chú trọng việc phát triển các tiểu cảnh, các bộ sưu tập thực vật của nhiều vùng sinh cảnh khác: vùng Tây Nguyên, cao nguyên Đà Lạt, vùng đồng bằng Nam Bộ từ
đó sẽ tạo được nét độc đáo và tăng giá trị mỹ thuật, khoa học và giáo dục cho các công viên
2.5 Các nguyên lý thiết kế cảnh quan hoa viên
Theo Hàn Tất Ngạn (1999) thì trong quá trình thiết kế bản vẽ một khu vực hoa viên, nhà thiết kế luôn luôn tuân theo các nguyên lý cơ bản nhất đó là bố cục cảnh quan hoa viên, kĩ xảo tạo hình, trang trí không gian cảnh quan hoa viên, và các quy luật bố cục chủ yếu
Một vấn đề cần quan tâm khi chọn loài cây và thiết kế cây xanh là cần tạo sự phối hợp theo đặc điểm loài cây, màu sắc, chiều cao và cần tuân theo các nguyên tắc trong thiết kế
2.5.1 Các cơ sở của việc bố cục cảnh quan hoa viên
Mỗi một bố cục cảnh quan hoa viên có toát lên được giá trị thẩm mỹ hay không phụ thuộc vào các giác quan của con người, chủ yếu là thị giác Song hiệu quả ra sao còn phụ thuộc vào các điều kiện nhìn, bao gồm điểm nhìn, tầm nhìn và góc nhìn
2.5.1.1 Điểm nhìn
Trang 26Điểm nhìn là vị trí đứng nhìn Nếu vị trí nhìn cùng chiều với ánh sáng thì chi tiết của các vật thể được nhìn nổi rõ Ngược lại khi vị trí ngược chiều ánh sáng thì chi tiết của các vật thể bị lu mờ đi, còn đường bao vật thể nổi rõ hơn do sự tương phản của khoảng sáng bao quanh và diện tối của toàn thân vật thể
2.5.1.2 Tầm nhìn
Tầm nhìn là khoảng cách từ điểm nhìn tới tiêu điểm nhìn Khoảng cách này có mối quan hệ gắn bó với các đặc tính quang học của mắt, chiều cao và ngang của vật thể và chi tiết, chất liệu bề mặt vật thể
Đặc tính quang học của mắt người bình thường cho phép nhìn rõ trong góc hình nón 280 Với góc này tương quan giữa khoảng cách nhìn và chiều cao ngang của vật thể là 2 thì cho phép thu nhận trọn vẹn toàn thể vật thể D/2L Song nếu muốn quan sát vật thể trong không gian rộng có bầu trời, cây cỏ xung quanh, cần được nhìn dưới góc 180, nghĩa là D/3L Như vậy, tỉ lệ D/H là tương quan quan trọng
để xác định chất lường không gian
Nếu D/H nhỏ hơn 1: tác động nội tại của các thành phần bao quanh không gian là rất mạnh mẽ, không gian nhỏ hẹp, con người cảm thấy kín, khó thể và sợ hãi
Nếu D/H bằng 1: cảm giác có sự cân bằng tỉ lệ với con người, gây ấn tượng thân mật gần gũi
Nếu D/H từ 1 – 2, con người vẫn còn có cảm giác cân xứng; D/H > 2 thì không gian trở nên bao la, trống chếnh, kém lực hút và các mối quan hệ giữa các thành phần tạo không gian trở nên lỏng lẽo
Song nếu L và H có kích thướt từ 150m trở lên, để nhìn được trọn vẹn vật thể, tức D/L = 2 thì phải đứng cách xa 300m Ở khoảng cách này không thể nhìn thấy chi tiết, chất liệu trang trí bề mặt của vật thể Do đó khi thiết kế cảnh quan hoa viên cần phải lưu ý đặc điểm quan trọng này
Qua điều tra xã hội học, D có kích thướt không quá 25m là khoảng cách nhìn
rõ, hợp lý và gần gũi Theo kinh nghiệm của các chuyên gia thiết kế cảnh quan hoa viên, cải tạo mảng xanh cũng cần theo một module tương tự như bước cột trong
Trang 27thiết kế công trình Module trong thiết kế cảnh quan hợp lý là 21 – 24m Đây được coi là một đơn vị tiêu chuẩn trong thiết kế cảnh quan gần với tỉ lệ con người
2.5.1.3 Góc nhìn
Góc nhìn là hướng nhìn vật thể Mỗi một vật thể có một hướng nhìn khác nhau dẫn đến sự thay đổi tương ứng của viễn cảnh và hình dạng của các vật thể trong bố cục
Hướng nhìn liên quan đến việc di chuyển điểm nhìn Nếu tốc độ di chuyển điểm nhanh, hình ảnh lưu trên võng mạc quá ngắn chưa thể nhận rõ chi tiết bên trong vật thể Ngược lại, tốc độ di chuyển chậm, thời gian thu nhận lâu, nhận biết chi tiết rõ nét hơn Do đó khi thiết kế cảnh quan cần lưu ý kênh thị giác của tuyến đi
bộ và cơ giới (Hàn Tất Ngạn, 1999)
2.5.2 Kỹ xảo tạo hình, trang trí không gian, cảnh quan hoa viên
2.5.2.1 Tạo hình không gian
Không gian là một bộ phận thẩm mỹ - chức năng cơ bản của cảnh quan Việc tạo hình không gian với quy mô, hình dạng hợp lý, phù hợp với chức năng hoạt động và tâm lý của con người là hết sức quan trọng Có 3 loại không gian chủ yếu: không gian mở, không gian đóng và không gian hỗn hợp đóng mở
2.5.2.2 Sử lý các thành phần tạo không gian
Kiến trúc nền là thành phần cơ bản của không gian Sự lồi lõm của nó đã tạo nên cảm giác về các thành phần không gian – chức năng khác nhau Sự chênh lệch cao độ giữa đường dành cho xe cơ giới và vỉa hè đã tạo nên hai không gian sử dụng riêng
Các yếu tố hình khối được bố trí trên mặt nền góp phần quan trọng để phân định không gian như những bậc thang, tường chắn đất, bức tường thấp, bể nước tạo nên chuỗi không gian liên tục Các yếu tố trang trí trên bề mặt góp phần tạo không gian sinh động
2.5.2.3 Tạo cảnh và trang trí không gian
Trang 28Các yếu tố tạo cảnh và trang trí không gian có thể là địa hình phần lồi, các kiến trúc công trình, cây hay các tác phẩm hoành tráng – trang trí khi được xử lý bằng các kĩ xảo tạo cảnh sẽ gây biến động lớn về sự biến đổi không gian
Các giải pháp như xử lý không gian mặt nước
Các giải pháp xử lý không gian bề mặt đất, trang trí không gian
2.5.3 Các quy luật bố cục chủ yếu
2.5.3.1 Bố cục cân xứng
Là tổ chức không gian hình học, các yếu tố hình khối đối xứng qua hệ thống trục bố cục Quy luật này thường áp dụng trên địa hình bằng phẳng, các yếu tố tạo cảnh thường có hình khối hình học, cây xanh có hình cân xứng trong quá trình sinh trưởng hoặc được cắt xén tạo hình
Trên địa hình phẳng, việc xử lý bố cục đăng đối chọn vẹn hai phương, dọc, ngang, dễ dàng biểu đạt sự quy tụ của bố cục về trung tâm Ngược lại, bố cục cân xứng trên địa hình phức tạp khó khăn hơn, thường xử lý được trên một trục
2.5.3.2 Bố cục tự do
Đó là một tổ chức không gian tự do, các yếu tố hình khối không đối xứng nhưng cân bằng qua trục bố cục Bố cục tự do có hệ thống đường, mặt nước, rừng thưa dường như được mô phỏng từ cảnh quan thiên nhiên
2.5.3.3 Điểm nhấn
Điểm nhấn là điểm nổi trội nhất và có ý nghĩa rất lớn trong thiết kế ngoại cảnh Điểm nhấn trở thành tiêu điểm, đủ sức lôi cuốn hướng nhìn khi kết hợp tương tác chặt chẽ với xung quanh Các thành tố của ngoại cảnh là động lực dẫn dắt tia nhìn hướng về điểm nhấn Điểm nhấn mang lại không gian nghỉ cho thị giác, đồng thời giúp cho người nhìn định hướng được thứ bậc của các thành tố tổ hợp
2.6 Những chi tiết cần quan tâm khi chọn cây
- Tên, chủng loại, điều kiện sống đòi hỏi
- Loài cây thay lá hay thường xanh
Trong tất cả các loại kiểu vườn phải luôn luôn nắm vững loại cây nào thay lá theo mùa và những cây không thay lá theo mùa Cây thường xanh cần thiết để duy
Trang 29trì màu sắc phối hợp cơ bản của khu vườn và giữ cho khu vườn được màu xanh quanh năm Trong khi đó cây thay lá tạo sự thay đổi, khiến cho khu vườn không đơn điệu, đồng thời tạo cho khu vườn những nét sinh động theo từng mùa
- Chiều cao: khi lựa chọn cây phải chú ý một yếu tố rất quan trọng là chiều cao của cây Chiều cao của cây trong vườn là chiều cao sau khi cắt, tỉa
- Cây dùng để làm dáng, trang điểm: cần lựa chọn cây thích hợp và điều tiết ở mức độ tối thiểu Chú ý đến những cây thay lá theo mùa, màu sắc của cây thường xanh, đặc trưng biểu cảm của cành nhánh (Hoài Đức, 1996)
2.7 Các nguyên lý trồng cây trong thiết kế hoa viên
Trong không gian nhỏ của vườn, quảng trường hay sân trong…thường được cắt xén, tỉa tót Ở đây khoảng cách nhìn gần nên hình dáng và màu sắc cây rất quan trọng Do đó khi sử dụng tối đa nghệ thuật và các tính chất khác của cây cỏ hoa và
lá cần nghiên cứu việc chọn loài cây và nguyên tắc phối kết cây xanh
Để có được bản vẽ như mong muốn, trong từng trường hợp cụ thể cần phải tìm tòi hình khối dáng dấp và màu sắc cây có tính phù hợp cao nhất cho ý đồ của công trình Mặt khác cũng chú ý đến khoảng cách trồng giữa các cây, khoảng cách giữa các cây với công trình xây dựng
Theo Hàn Tất Ngạn (1999) thì thông thường trong thiết kế cảnh quan đô thị, thiết kế hoa viên có một số dạng phối kết hợp cây: cây độc lập, khóm cây, hàng cây, cây leo, cỏ
2.7.1 Cây độc lập
Cây có hình khối dáng dấp và màu sắc đẹp, độc lập, có kích thướt tỉ lệ hài hòa với không gian trong quần thể kiến trúc, thường được bố trí độc lập Khi bố trí cần chú ý tới các yếu tố đặc trưng về hình khối dáng dấp và màu sắc sao cho có thể thụ cảm được trọn vẹn các yếu tố ấy và đồng thời góp phần thể hiện tính chất bố cục chung Ở đây để thụ cảm được trọn vẹn giá trị trang trí của cây độc lập, cây phải có hình thức tán độc đáo màu sắc lá rực rỡ tương phản với màu mảng cây xung quanh
2.7.2 Khóm cây
Trang 30Khóm cây gồm một số cây tổ hợp trong một bố cục trọn vẹn, riêng rẽ Thành phần của khóm cây có thể là cây thân gỗ, cây bụi hay hỗn hợp cây thân gỗ và cây bụi Cây trong nhóm có thể khác nhau về độ lớn, bố trí dày hay thưa, độ thưa thoáng của tán Do đó việc bố cục tạo hình và khóm cây rất phong phú và đa dạng Khóm cây được bố trí bên công trình xây dựng, có thể bố trí khóm cây bên cạnh cửa
để nhấn mạnh lối ra vào chính, hướng dòng người tập trung vào phía đó Hoặc khóm cây là yếu tố trung gian chuyển tiếp hình khối kiến trúc với phong cảnh xung quanh
2.7.3 Hàng cây
Mục đích của trông cây theo hàng là nhằm phân đoạn không gian Cây trồng theo hàng có hai dạng cơ bản: dạng trồng thưa và dạng trồng dày Khái niệm trông thưa ở đây là khoảng cách giữa hai tán cây cùng lắm chỉ được chạm nhau đối với cây thân gỗ và không được chạm nhau đối với cây bụi Trồng dày phải là những cây
có tán lá giao nhau và gây cảm giác hàng cây như một dãy liên tục
2.7.4 Cây leo
Cây leo là loài chỉ đứng được khi dựa vào các yếu tố tạo cảnh khác như tường nhà, mặt chắn Do đó dây leo có tác dụng trang trí trực tiếp trên bề mặt kiến trúc Đồng thời dây leo sinh trưởng và phát triển nhanh, diện tích đất trồng lại chiếm ít nên mau chóng mang lại hiệu quả trang trí và cải thiện môi trường
Trang 31 Cỏ có tuổi thọ lâu đời trong các loài che phủ sống
Cỏ cung cấp một bề mặt mát, tiện cho việc đi dạo trên cỏ hay ngoài trên thảm cỏ
Cỏ là nền cho cây xanh và hoa phản chiếu
Trong phần lớn hoa viên, sự mở rộng thảm cỏ tạo một cảm giác mở rộng không gian, về bề rộng lẫn chiều sâu tầm nhìn Thảm cỏ giúp cung cấp một cảm giác hài hòa của một khuôn viên khi chúng ta đi bộ trong khuôn viên của nó
Kết cấu của một thảm cỏ thô hơn khi nhìn gần, mịn hơn khi nhìn xa, bổ sung
sự đa dạng cho tầm nhìn Trong hoa viên, vai trò thẩm mỹ của một nền cỏ dù là do
tự nhiên hay do nhân tạo, màu xanh của thảm cỏ hài hòa tốt với các màu khác trong hoa viên, bổ sung sự sinh động Một bề mặt cỏ thấp phẳng, hướng tầm mắt dễ nhìn hơn các phần tử khác của hoa viên, cải thiện các cây trồng khác thay vì làm phai mờ
đi như các cây che phủ khác
Trang 32Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung nghiên cứu
Khảo sát và phân tích hiện trạng khu vực cải tạo
Xây dựng phương pháp cải tạo hệ thống thực vật phù hợp tại khu vực này
Nghiện cứu chọn lựa loài cây trồng phù hợp
Xây dựng bản thiết kế mặt bằng 2D và phối cảnh 3D
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 2/2012 đến tháng 6/2012 tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn
3.3 Đối tượng nghiên cứu
Trong thời gian nghiên cứu, đề tài chỉ tập trung vào cải tạo và thiết kế lại mảng xanh cũng như phân định lại hiện trạng cho một số loài lan trong khu bán khô hạn và nhà phong lan tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn
3.4 Đặc điểm khu vực nghiên cứu
Với diện tích khoảng 3972.67m2 bao gồm nhiều loại thực vật, cây cỏ, bồn hoa – kiểng, khu chuồng thú và các công trình xây dựng Sự phát triển không ngừng của các loại thực vật và hoa Sự đa dạng và bố cục phân bố nhiều kiểu tạo cho từng khu vực có một nét hài hòa riêng Các loài lan liên tục được thay thế với muôn màu sắc nhẹ nhàng
3.5 Phương pháp nghiên cứu
3.5.1 Thu thập thông tin thứ cấp
Thu thập thông tin thứ cấp từ Thảo Cầm Viên gồm: bản đồ Thảo Cầm Viên, tỉ
lệ 1/200
Bảng thống kê cây xanh Thảo Cầm Viên năm 2008
Trang 33Thu thập các tài liệu về điều kiện tự nhiên, dân sinh, đặc điểm kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu từ internet và phỏng vấn người dân
3.5.2 Phương pháp ngoại nghiệp
-Khảo sát hiện trạng,tính diện tích khu vực, điều tra hệ thống thực vật gồm hoa phong lan và cây bán khô hạn: số lượng cây, phân bố, sinh trưởng cây và hình ảnh minh họa
- Đánh giá phân loại theo độ cao ngay tại hiện trường khu vực thiết kế dựa vào tiêu chuẩn của tài liệu thống kê cây xanh Thảo Cầm Viên cung cấp:
(1) Loại I :cây có chiều cao ≤ 6m
(2) Loại II: cây có chiều cao > 6m và ≤ 12m
(3) Loại III: cây có chiều cao > 12m
- Thiết kế ý tưởng cải tạo tại hiện trường
- Tham khảo thông tin từ các nhân viên chăm sóc khu thiết kế
- Ý kiến của các nhà chuyên môn
3.5.3 Phương pháp nội nghiệp
Để thuận tiện cho việc cải tạo khu vực được chia thành các phân khu nhỏ
Bản vẽ 3.1 Sơ đồ phân chia khu vực cải tạo
Trang 34Để thuận tiện hơn cho quá trình thiết kế và cải tạo của đề tài nên đã chia khu vực thiết kế thành 4 khu vực được đánh số từ I đến IV Trong đó khu vực II và III được chia thành các khu vực nhỏ hơn
Khu vực I: là khu vực nằm phía trái cổng trước của khu bán khô hạn và nhà lan Nó tiếp giáp với vườn Bướm và lối đi của du khách
Khu vực II: là khu vực nằm phía phải cổng trước của khu bán khô hạn và nhà lan Là khu vực tiếp giáp với khu nuôi Hồng hạc, Vịt trời Khu này được chia thành
Khu IIIA: là khu vực bên hông trái của nhà phong lan
Khu IIIB: là khu nhà Phong lan Khu vực này là một hệ thống trưng bày rất nhiều loại lan và một số loại hoa kiểng
Khu IIIC : là khu vực bên hông phải nhà Phong lan Khu này tiếp giáp với công trình nhà
Khu vực IV : là khu vực bao gồm toàn bộ hậu viên và cổng sau của khu thiết
kế Khu vực này tiếp giáp với chuồng dê và lối đi dạo của du khách
Chọn loài cây và thiết kế phù hợp
Xây dựng bản vẽ sơ bộ, chi tiết 2D; bản vẽ phối cảnh 3D cho từng khu vực: Sử dụng phần mềm Google SketchUp version 8.0 vẽ phối cảnh cho khuôn viên, dùng phần mềm Photoshop để chỉnh sửa hình ảnh
3.5.4 Quan điểm thiết kế
Bản thiết kế nhằm đáp ứng hai ý tưởng:
Ý tưởng thẩm mỹ: tạo được sự nổi bật, ấn tượng đáp ứng nhu cầu tham quan giải trí của du khách
Trang 35Ý tưởng công năng:
- Tạo môi trường trong lành, thu hút được khách tham quan nghỉ ngơi, ngắm cảnh trong khu vườn
- Hài hòa với các công trình khác
3.5.5 Phương tiện phân tích, xử lý
Phương tiện đo đạc:
Để đo diện tích, hướng đề tài đã sử dụng thước dây và la bàn
Để đo chiều cao vút ngọn (Hvn), chiều cao dưới cành (Hdc) đã dùng máy đo cao Vitex VI, thước dây 30m, phấn để đánh dấu
Để tính chu vi thân cây tại vị trí 1,3m (D1,3): dùng thước dây để đo
Phương tiện xử lí và vẽ bản thiết kế 2D và 3D: Đề tài vẽ thiết kế đã sử dụng phần mềm Google SketchUp version 8.0 vẽ phối cảnh cho khuôn viên và phần mềm Photoshop để chỉnh sửa ảnh
Trang 36Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tổng quan khu vực cải tạo
4.1.1 Hiện trạng xây dựng
Khu vực thiết kế với 3972.67 m2 , chủ yếu là hệ thống thực vật và chậu cảnh
Hệ thống cơ sở hạ tầng rất ít chỉ với hệ thống nhà lan được xây dựng từ lâu nằm ngay giữa khu vực cải tạo Hệ thống đường nối khuôn viên bên ngoài với khu bán khô hạn trải rộng khắp khu cải tạo và được lát xi măng Cây cỏ, chậu và vườn lan luôn được tưới bởi hệ thống nước tưới trong vườn
Hình 4.1 Hiện trạng mặt trong Hình 4.2 Hiện trạng mặt ngoài
4.1.2 Các yếu tố khí hậu
Đánh giá yếu tố khí hậu là việc quan trọng để có thể đề xuất một số biện pháp cải tạo hệ thống cây xanh cũng như môi trường trong khu vực nghiên cứu, giúp thay đổi môi trường theo hướng có lợi cho cây trồng tại khu vực Dưới đây là bảng đo nhiệt độ, độ ẩm tại 3 vị trí là trong nhà lan, khu cải tạo và ngoài Thảo Cầm Viên Quá trình đo được tiến hành trong một ngày và chia thành 4 lần đo, sau đó lấy trung bình các giá trị đo được bảng số liệu sau:
Trang 37VT Y/T Nhiệt độ (0C) Độ ẩm (%)
Nhà Phong lan: vị trí đo được tiến hành trong nhà Phong lan
Khu cải tạo: vị trí đo được tiến hành bên ngoài nhà Phong lan
Vùng ngoài: vị trí đo được tiến hành bên ngoài Thảo Cầm Viên
4.1.3 Thành phần thực vật trong khu vực cải tạo
Kết quả điều tra, khảo sát có thể nhận thấy hệ thống cây xanh ở khu vực này chiếm số lượng ít Số lượng cây thân gỗ là 45 cây với 25 loài
Các cây được đánh số theo mã số của Thảo Cầm Viên Cây phát triển không tốt, không đồng đều về chiều cao, một số ít cây bị còi cọc do sâu bệnh Sự phân bố của những loài cây này sẽ được đề cập trong phần chi tiết từng khu vực
Phần thực vật còn lại chủ yếu ở khu vực này là cây bụi, cây hoa cảnh và thảm
cỏ Các nhóm thực vật được trồng ở những mảng không gian riêng như Phong lan được trồng chủ yếu trong nhà Phong lan Số lượng chậu cảnh, cây hoa cảnh nhiều
và phân bố rộng khắp khu vực, việc chăm sóc không được thường xuyên, dẫn đến
số lượng chậu cảnh còi cọc và hoa cảnh bị sâu bệnh nhiều