1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

XÂY DỰNG BIỂU SẢN PHẨM CHO RỪNG TRỒNG TRÀM (Melaleuca cajuputy Powell) PHỤC VỤ NHU CẦU NGUYÊN LIỆU VÁN GHÉP THANH TẠI LÂM PHẦN CỦA CÔNG TY TNHH MTV LÂM NGHIỆP U MINH HẠ TỈNH CÀ MAU

86 174 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 921,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu quy luật phân bố số cây theo các chỉ tiêu sinh trưởng của rừng tràm, quy luật tương quan giữa các nhân tố tạo thành thể tích thân cây, quy luật tương quan

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH



NGÔ VŨ TRÁNG

XÂY DỰNG BIỂU SẢN PHẨM CHO RỪNG TRỒNG TRÀM

(Melaleuca cajuputy Powell) PHỤC VỤ NHU CẦU NGUYÊN

LIỆU VÁN GHÉP THANH TẠI LÂM PHẦN CỦA CÔNG TY

TNHH MTV LÂM NGHIỆP U MINH HẠ

TỈNH CÀ MAU

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HOC

NGÀNH LÂM NGHIỆP

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 6/2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH



NGÔ VŨ TRÁNG

XÂY DỰNG BIỂU SẢN PHẨM CHO RỪNG TRỒNG TRÀM

(Melaleuca cajuputy Powell) PHỤC VỤ NHU CẦU NGUYÊN

LIỆU VÁN GHÉP THANH TẠI LÂM PHẦN CỦA CÔNG TY

TNHH MTV LÂM NGHIỆP U MINH HẠ

TỈNH CÀ MAU Ngành: Lâm nghiệp

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: TH.S TRƯƠNG VĂN VINH

Thành phố Hồ Chí Minh

Tháng 6/2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Xin gửi lời cảm ơn chân thành và tốt đẹp nhất đến Quý Thầy Cô giáo

Trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh và Khoa Lâm nghiệp đã

truyền đạt những kiến thức quý báu cho chúng tôi trong suốt thời gian học tập tại

trường

Đặc biệt, xin tỏ lòng biết ơn chân thành đến Thầy ThS Trương Văn Vinh

đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong xuốt thời gian thực hiện đề tài này

Xin chân thành cảm ơn tập thể Ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên

chức của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh hạ - tỉnh Cà Mau đã tạo mọi

điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong suốt quá trình thu thập số liệu ngoài thực

tế

Xin chân thành cảm ơn anh Trần Phi Sơn đã tận tình hướng dẫn và giúp

đỡ tôi trong xuốt thời gian ngoại nghiệp và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi

hoàn thành đề tài này

Cảm ơn bạn bè cùng lớp và đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi trong

cuộc sống, công việc cũng như trong xuốt thời gian học tập tại trường

Cuối cùng, chúng con xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cha Mẹ, gia đình đã

sinh thành nuôi dưỡng, dạy dỗ và là nguồn động viên rất lớn để chúng con

trưởng thành đến ngày hôm nay

Tp.HCM, ngày tháng 06 năm 2012

Sinh viên thực hiện

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài ”Xây dựng biểu sản phẩm cho rừng trồng tràm (Melaleuca cajuputy

Powell) phục vụ nhu cầu nguyên liệu ván ghép thanh tại Lâm phần của công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh hạ - tỉnh Cà mau” Thời gian thu thập số liệu trong tháng 4 năm 2012 Số liệu được thu thập trong 15 ô đo đếm ở các tuổi 7, tuổi 8, tuổi 9, tuổi 10, tuổi 11 của rừng tràm

Kết quả nghiên cứu về quy luật tương quan giữa chiều cao và đường kính: Hvn = 1/(0,0580302 + 0,407487/D1,3)

Biểu thể tích và biểu sản phẩm được thiết lập trong đề tài này là biểu thể tích một nhân tố theo cấp đường kính D1,3 và được xác lập từ các phương trình tương quan sau:

 Phương trình tương quan giữa thể tích thân cây không vỏ với đường kính thân cây tại vị trí 1,3 m:ii

Trang 5

SUMMARY

Project "Building represents Melaleuca forest products (Melaleuca cajuputy Powell) to serve the needs of raw materials planks in forest of the company Limited Lower U Minh Forest - Ca Mau province." Time data collection in April

2012 Data were collected for 15 cells measured at age 7, age 8, age 9, age 10, age

Trang 6

MỤC LỤC

Lời cảm ơn - i

Tóm tắt - ii

Mục lục - iv

Danh sách các chữ viết tắt - vi

Danh sách các hình - vii

Danh sách các bảng - viii

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU -1

1.1 Đặt vấn đề - 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu - 2

1.3 Giới hạn của đề tài - 3

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU - 4

2.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu - 4

2.1.1 Khái niệm chung và phân loại biểu sản phẩm - 4

2.1.2 Tổng quan tình hình xây dựng biểu thể tích trên thế giới và trong nước 5

2.1.2.1 Những phương hướng và tình hình xây dựng biểu thể tích cây thế giới 5

2.1.2.2 Tổng quan tình hình xây dựng biểu thể tích trong nước - 6

2.1.3 Nghiên cứu các nhân tố tạo thành thể tích thân cây và thể tích gỗ sản phẩm - 8

2.1.3.1 Tương quan giữa nhân tố hình dạng với đường kính và chiều cao - 9

2.1.3.2 Tương quan giữa chiều cao và đường kính - 10

2.1.3.3 Tương quan giữa thể tích thân cây với các nhân tố cấu thành nên thể tích - 10

2.1.3.4 Tương quan giữa thể tích gỗ sản phẩm với thể tích thân cây - 10

2.2 Tổng quan về đối tượng và khu vực nghiên cứu cây - 11

2.2.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu - 11

Trang 7

2.2.2 Đặc điểm khu vực nghiên cứu cứu - 13

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - 18

3.1 Nội dung nghiên cứu - 18

3.2 Phương pháp nghiên cứu - 18

3.2.1 Ngoại nghiệp - 18

3.2.2 Nội nghiệp - 19

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN - 21

4.1 Quy luật phân bố số cây theo một số chỉ tiêu sinh trưởng - 21

4.1.1 Quy luật phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D1,3) - 21

4.1.2 Quy luật phân bố số cây theo cấp chiều cao (N/Hvn) - 24

4.1.3 Thiết lập mô hình tương quan giữa chiều cao H và đường kính D1,3 - 27

4.2 Xác định kiểu biểu thể tích sẽ được lập - 30

4.3 Quy luật tương quan giữa thể tích thân cây không vỏ với đường kính D1,3 31

4.4 Quy luật tương quan giữa thể tích đoạn gỗ sản phẩm (Vsp) với thể tích không vỏ (Vkv) - 33

4.5 Thiết lập biểu sản phẩm - 34

4.6 Cách sử dụng và phạm vi áp dụng biểu D1,3 - 36

4.6.1 Hướng dẫn sử dụng biểu D1,3 - 36

4.6.2 Phạm vi áp dụng biểu - 36

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ - 38

5.1 Kết luận - 38

5.2 Kiến nghị - 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO - 41

Trang 8

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU

cm Đơn vị đo độ dài (centimet)

Cv % Hệ số biến động, %

D1,3 Đường kính thân cây tại tầm cao 1,3 mét , đơn vị cm

f1,3 Hình số thân cây tại tầm cao 1,3 mét

Hvn Chiều cao vút ngọn

Hvn_lt Chiều cao lý thuyết

Hvn_tn Chiều cao thực nghiệm

Ln Logarit tự nhiên (cơ số e)

Log Logarit thập phân (cơ số 10)

Log Logarit thập phân (cơ số 10)

m Đơn vị đo độ dài (mét)

Sk Hệ số biểu thị cho độ lệch của phân bố

Sy/x Sai số của phương trình hồi quy

Trang 9

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 2.1 Quy trình công nghệ sản xuất ván ghép thanh tại công ty TNHH MTV Lâm Nghiệp U Minh hạ - 13 Hình 4.1 Biểu đồ phân bố số cây theo các cỡ kính từ tuổi 7 đến tuổi 11 - 23 Hình 4.2 Biểu đồ phân bố số cây theo các cấp chiều cao từ tuổi 7 đến tuổi 11 26 Hình 4.3 Đường biểu diễn tương quan 5 dạng phương trình thử nghiệm giữa chiều cao và đường kính (Hvn/D1,3) - 28 Hình 4.4 Đường biểu diễn phương trình tương quan được lựa chọn giữa chiều cao

và đường kinh (H/D1,3) cho rừng trồng tràm tại phân trường Sông Trẹm - 29 Hình 4.5 Đường biểu diễn phương trình tương quan được lựa chọn giữa Vkv với

D1,3 cho rừng trồng tràm tại phân trường Sông Trẹm - 32 Hình 4.6 Đường biểu diễn phương trình tương quan được lựa chọn giữa Vsp với Vkv cho rừng trồng tràm tại phân trường Sông Trẹm - 34

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Bảng tóm tắt các đặc trưng mẫu của phân bố N/D1,3 - 21 Bảng 4.2 Bảng tóm tắt các đặc trưng mẫu của phân bố N/Hvn - 24 Bảng 4.3 Kết quả thử nghiệm một số hàm toán học mô tả mối tương quan giữa chỉ tiêu sinh trưởng chiều cao với đường kính - 28 Bảng 4.4 So sánh các chỉ tiêu thống kê từ các hàm thử nghiệm –Tương quan giữa Vkv và D1,3 ở loài tràm - 31 Bảng 4.5 So sánh các chỉ tiêu thống kê từ các hàm thử nghiệm –Tương quan giữa Vsp và Vkv ở loài tràm - 33 Bảng 4.10 Biểu sản phẩm của loài tràm trồng tại phân trường Sông Trẹm thuộc công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh hạ - 35

Trang 11

độ che phủ rừng toàn quốc lên đến 33,2% (Niên giám Thống kê năm 2000) Đồng thời với việc mất rừng, nhu cầu sử dụng gỗ và các sản phẩm từ gỗ ngày càng tăng

cả về số lượng và chất lượng theo đà tiến bộ của xã hội Tuy nhiên nguồn gỗ khai thác từ rừng tự nhiên ngày càng cạn kiệt, vì vậy sản xuất ván gỗ nhân tạo là hướng

ưu tiên đầu tư công nghệ chế biến của nhiều Quốc gia trên Thế giới, giải quyết nguồn nguyên liệu rừng trồng Do khan hiếm nguồn gỗ từ tự nhiên, người tiêu dùng đã chuyển hướng từ sử dụng gỗ rừng tự nhiên sang gỗ rừng trồng và các loại ván nhân tạo Hiện nay gỗ rừng trồng và dây chuyền công nghệ sản xuất ván nhân tạo đã và đang là động lực chính giúp lĩnh vực chế biến gỗ phát triển mạnh, đáp ứng được nhu cầu của thị trường nội địa và xuất khẩu

Nhìn chung, so với nhiều loại vật liệu khác, gỗ là một loại vật liệu đặc biệt

do quá trình tái tạo từ chu kỳ sinh trưởng của cây Rừng được mệnh danh là lá phổi của quả đất, nó đóng một vai trò rất quan trọng trong môi trường sinh thái của con người và muôn loài động thực vật dưới tán rừng, việc trồng rừng nuôi dưỡng, chăm sóc và khai thác rừng là hết sức cần thiết, về mặt sinh học cây gỗ cũng như muôn loài sinh vật sinh trưởng, phát triển và già cỗi Vấn đề quan trọng bậc nhất

Trang 12

được đặt ra là khai thác và sử dụng nguồn nguyên liệu có hiệu quả và mang tính bền vững cân bằng với môi trường sinh thái

Do những đặc tính cơ lý ưu việt, kiểu dáng màu sắc phong phú, nên đồ mộc làm từ ván nhân tạo thích hợp với nội thất hiện đại Hiện nay cả nước có 1.200 doanh nghiệp chế biến, kinh doanh gỗ, trong đó trên 300 doanh nghiệp đã có hàng xuất khẩu, Việt Nam đang đặt mục tiêu xuất khẩu gỗ đạt 2,5 tỷ USD/năm, trong đó ván gỗ nhân tạo sẽ giữ vai trò chủ lực Sản phẩm đồ mộc bàn, ghế, giường, tủ, tủ bếp, vách ngăn, sàn nhà, ốp tường, ốp trần… làm từ ván gỗ nhân tạo rất thích hợp cho nội thất gia đình, công sở, trường học, khách sạn, nhà hàng, nhà văn hóa…

Một trong những danh nghiệp tiêu biểu trong việc chế biến, kinh doanh gỗ nằm ở Tây nam bộ là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp U Minh Hạ thuộc địa phận Tỉnh Cà Mau Sản phẩm đầu ra chủ yếu của công ty là các mặt hàng đồ mộc, ván sàn, ván ốp tường, Nguyên liệu đầu vào chủ yếu là cây

tràm cừ (Melaleuca cajuputi Powell) và sản phẩm trung gian là ván ghép thanh và

ván dăm

Trên thực tế công ty đã có nhiều nghiên cứu lập biểu thể tích cây đứng cho rừng trồng tràm Tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở mức cung cấp về mặt số lượng (tổng thể tích cây đứng, trữ lượng gỗ thương phẩm) chưa xác định được chất lượng

và giá trị tài nguyên gỗ (thể tích gỗ sản phẩm làm ván ghép thanh, làm ván dăm, ) Từ đó việc định giá rừng trong sản xuất của công ty gặp nhiều khó khăn và thiếu căn cứ Tồn tại này có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính là chưa xây dựng được phương pháp điều tra trữ lượng sản phẩm (cụ thể là lập biểu sản phẩm) cho rừng trồng tràm ở các độ tuổi gần đưa vào khai thác

Trước thực tiễn này, tôi thực hiện đề tài “Xây dựng biểu sản phẩm cho rừng trồng tràm phục vụ nhu cầu nguyên liệu ván ghép thanh tại Lâm phần của công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh hạ - tỉnh Cà Mau”nhằm từng bước giải quyết các tồn tại nên trên

Trang 13

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu quy luật phân bố số cây theo các chỉ tiêu sinh trưởng của rừng tràm, quy luật tương quan giữa các nhân tố tạo thành thể tích thân cây, quy luật tương quan giữa thể tích thân cây với thể tích gỗ sản phẩm lấy ra

Xây dựng được biểu thương phẩm rừng trồng tràm phục vụ nhu cầu nguyên liệu ván ghép thanh tại khu vực nghiên cứu thông qua việc xây dựng các phương trình tương quan giữa các yếu tố tạo thành trữ lượng gỗ sản phẩm và tương quan giữa trữ lượng gỗ sản phẩm với các nhân tố cấu thành nên biểu sản phẩm

1.3 Giới hạn của đề tài

Nội dung: Đề tài chỉ tập trung vào việc khảo sát và đánh giá tình hình sinh trưởng của trừng trồng Tràm tại lâm phần của công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh hạ thông qua đặc điểm cấu trúc rừng dựa trên các quy luật phân bố số cây theo một số chỉ tiêu sinh trưởng như: quy luật phân bố số cây theo chiều cao (N/Hvn), quy luật phân bố số cây theo đường kính (N/D1,3), phân tích tương quan giữa chiều cao với đường kính (Hvn/D1,3), phân tích tương quan thể tích và trữ lượng lượng gỗ sản phẩm Cuối cùng xây dựng biểu sản phẩm cho rừng trồng tràm

thâm canh tại lâm trường của công ty từ tuổi 7 đến tuổi 11

Khu vực nghiên cứu: Đề tài được thực hiện dựa trên nguồn số liệu được thu thập tại tiểu khu 001, 007, 008 của phân trường Sông Trẹm thuộc huyện Thới bình, tỉnh Cà Mau Do vậy, các kết quả nghiên cứu ở đề tài này được giới hạn và áp dụng cho đối tượng rừng trồng Tràm tại lâm phần của công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh hạ nói riêng và ở các khu vực có điều kiện tự nhiên tương tự của tỉnh Cà Mau

Trang 14

Chương 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

2.1.1 Khái niệm chung và phân loại biểu sản phẩm

Biểu sản phẩm là một loại biểu thể tính ra thể tích cụ thể cho từng loại gỗ sản phẩm Hiện có rất nhiều khái niệm về biểu thể tích, theo Giang Văn Thắng (2002), biểu thể tích là một loại biểu ghi những trị số bình quân về thể tích của cây rừng có cùng kích thước và hình dạng và được bố trí theo một trật tự quy định nào

đó Các trị số về thể tích bình quân ghi trong biểu chính là kết quả tính toán thể tích từ các nhân tố cấu thành thể tích như D1,3, Hvn và f1,3 bằng một phương trình toán học được chấp nhận về mặt thống kê và phù hợp với đặc tính sinh học của loài cây Biểu được xây dựng từ các quy luật tương quan giữa cá nhân tố đo được

và những nhân tố định tìm được ghi thành biểu chung

Cũng giống như biểu thể tích, phân loại biểu sản phẩm căn cứ vào phạm vi

sử dụng và các nhân tố cấu thành nên biểu

 Dựa vào phạm vi sử dụng biểu người ta phân loại ra biểu địa phương và biểu chung Để sử dụng biểu địa phương hay biểu chung cho một hay nhiều lãnh thổ người ta dựa vào mức độ thuần nhất về hình dạng thân cây của một loài hay nhóm loài trong phạm vi một vùng sinh thái hay giữa nhiều vùng sinh thái với nhau Bên cạnh việc phân loại biểu theo vùng , khoa học điều tra rừng còn phân chia ra các kiểu biểu sản phẩm căn cứ vào số lượng nhân tố điều tra tham gia lập biểu như biểu sản phẩm một nhân tố và biểu sản phẩm nhiều nhân tố

 Biểu sản phẩm một nhân tố là loại biểu được được xây dựng từ phương trình tương quan giữa thể tích gỗ sản phẩm (Vsp) với đường kính (D1,3) Kiểu biểu

Trang 15

này chỉ được lập với điều kiện chiều cao (Hvn) và hình số (f) của loài cây cần điều tra tương đối ổn định

 Biểu sản phẩm 2 nhân tố là biểu ghi giá trị thể tích trung bình gỗ sản phẩm một cây tương ứng với từng tổ hợp đường kính (D1,3) và chiều cao (H) Vì ở mỗi cây người ta đo đường kính và chiều cao trực tiếp mà không cần ước lượng chiều cao qua đường kính nên không cần tìm quy luật tương quan giữa chiều cao

và đường kính mà tìm quy luật tương quan giữa hình số thân cây vời đường kính hoặc chiều cao để đối với mỗi tổ hợp đường kính và chiều cao có thể chấp nhận một hình số bình quân nào đó Do vậy biểu được xây dựng cho từng loài hay nhóm loài cây có cùng hình dạng, nên thường được sử dụng đối với rừng trồng hỗn loài không đều tuổi

 Biểu thể tích ba nhân tố là biểu ghi thể tích trung bình gỗ sản phẩm một cây tương ứng với từng tổ hợp đường kính (D1,3), chiều cao (H) và hình số (f1,3)

Do vậy không cần nghiên cứu quy luật tương quan giữa chiều cao, hình số với đường kính mà chỉ cần nghiên cứu quy luật tương quan giữa hình số và hệ số độ tho giữa thân

 Biểu càng nhiều nhân tố thì độ chính xác càng cao nhưng khi sử dụng thì phức tạp, đòi hỏi trình độ kiến thức của người điều tra viên nên ít được sử dụng rộng rãi

2.1.2 Tổng quan tình hình xây dựng biểu thể tích trên thế giới và trong nước 2.1.2.1 Những phương hướng và tình hình xây dựng biểu thể tích cây thế giới

Theo Đồng Sĩ Hiền (1974), các biểu thể tích được xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1846 ở nước Đức Từ đó đến nay trên thế giới và trong từng nước đã có nhiều biểu thể tích được lập theo những nguyên tắc, phương pháp và loại hình rất khác nhau, nhìn chung có thể xếp vào ba phương hướng chủ yếu:

 Phương hướng thứ nhất dựa trên sự phân tích các nhân tố cấu thành thể tích Theo phương hướng này có các loại biểu thể tích sau:

 Biểu một nhân tố có biểu tạm thời của nước Nga, các biểu thể tích của Cục công nghiệp rừng Liên Xô (cũ) do giáo sư Zakharov V.K lập cho loài Vân

Trang 16

sam, Tovstoless D.I lập cho loài thông, Tiourin A.V lập cho loài Hoa mộc và Bạch dương, Choustov B.A lập cho loài Sồi, Dẻ …

 Biểu hai nhân tố gồm có biểu Bavière (1846), biểu chung cho nước Đức của Grunder Schwappach (1898), biểu của Hoàng Gia Nga do Krioudenere lập (1904 – 1913)

 Biểu ba nhân tố có biểu của Schiffel ở Áo (1899 – 1908), biểu của Mass ở Thụy Điển (1911)

 Phương hướng thứ hai dựa trên sự nghiên cứu tổng hợp qui luật tương quan giữa thể tích của thân cây với một, hai, ba nhân tố hay nhiều hơn nữa dưới dạng một hàm của thể tích V = F (D1,3, H, f) Quy luật tương quan được xác định bằng biểu đồ hoặc bằng phương pháp toán thống kê Bao gồm: Biểu thể tích một nhân tố, biểu thể tích hai nhân tố và biểu thể tích ba nhân tố

 Biểu một nhân tố dựa trên quan hệ giữa thể tích với đường kính do Huffel G lập từ cuối thế kỷ 19 giựa trên biểu đồ quan hệ giữa thể tích và đường kính ở tầm cao 1,3 m

 Biểu hai nhân tố dựa trên tương quan giữa thể tích với đường kính và chiều cao do Spurr S.H (1952) đề xuất phương trình V = a + b*(D2*H) Schumacher và Hall (1933) đã đề xuất phương trình logV = logK + b1logD +

b2logH

 Biểu ba nhân tố có biểu của Nãslund (1940) dung tương quan nhiều lớp có dạng: V = F(D2, D2H, DH2, D2HT, DH2E), trong đó HT cchieeuf cao dưới tán, E là bề dày vỏ

 Phương hướng thứ ba được hình thành dựa trên việc nghiên cứu đường sinh thân cây Phương hướng này dựu trên việc tiếp cận đường sinh của thân cây nào đó xác định được đường kính ở tầm cao khác nhau tùy thuộc vào vị trí đo đường kính y = F(x) Theo phương hướng này người ta có thể xác định độ thon của thân cây và tính thể tích bằng tích phân với độ chính xác cao

2.1.2.2 Tổng quan tình hình xây dựng biểu thể tích trong nước

 Biểu thể tích rừng gỗ tự nhiên hỗn loài

Trang 17

Ở nước ta, từ sau 1954 đã xuất hiện nhiều nghiên cứu xây dựng biểu thể tích cây đứng cho rừng tự nhiên hỗn loài, như:

Biểu thể tích cây đứng rừng Việt Nam do Đồng Sĩ Hiền và một số tác giả thuộc Viện nghiên cứu Lâm nghiệp lập năm 1974

Một số biểu thể tích cho rừng tự nhiên do Viện điều tra quy hoạch rừng xây dựng như:

Biểu thể tích cây đứng theo cấp chiều cao khu vực Hà Tĩnh – Quảng Bình Biểu thể tích theo cấp chiều cao rừng Quảng Ninh

Biểu thể tích hai nhân tố cho rừng khộp Tây Nguyên

 Biểu thể tích thân cây có vỏ cho rừng Thông nhựa vùng Đông Bắc

 Biểu thể tích theo cấp chiều cao rừng Thông ba lá ở Lâm Đồng

 Biểu thể tích hai nhân tố thân cây không vỏ Thông ba lá ở Lâm Đồng

 Biểu thể tích vút ngọn và thể tích dưới cành cây Tràm vùng Tây Nam Bộ

 Biểu thể tích rừng trồng Bạch đàn đỏ và Bạch đàn trắng vùng trung tâm

 Biểu thể tích rừng trồng Keo cho vùng trung tâm

 Biểu thể tích rừng trồng Thông

 Biểu thương phẩm cho một số loài cây khai thác chính rừng thường xanh

ở Kon Hà Nừng – tỉnh Gia lai, Trần Hồng Sơn, 2009

 Những năm gần đây, một số luận văn Thạc sĩ của các học viên Cao học chuyên ngành Lâm nghiệp đã lập được các biểu thể tích cho một số loài như:

 Biểu thể tích rừng trồng Đước đôi ở vùng ven biển Nam bộ, Phạm Trọng Thịnh, 1999

 Biểu thể tích rừng trồng Sao đen ở vùng Đông Nam Bộ, Nguyễn Minh Cảnh, 2003

Trang 18

Ngoài ra, nhiều sinh viên thuộc Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã tiến hành lập biểu thể tích cho một số loài cây ở một số rừng trồng như: Sao đen, Quế, Dầu rái, Cao su, Đước, Tràm …

2.1.3 Nghiên cứu các nhân tố tạo thành thể tích thân cây và thể tích gỗ sản phẩm

Khi nghiên cứu các nhân tố tạo thành thể tích, các tác giả đều tập trung nghiên cứu quy luật phân bố của từng nhân tố và mối tương quan giữa các nhân tố

đó với nhau

Thể tích thân cây được tạo thành từ 3 nhân tố: đường kính, chiều cao và hình dạng thân cây Đối với thể tích đoạn gỗ sản phẩm (cụ thể là đoạn gỗ làm ván ghép thanh), chiều cao đoạn gỗ sẽ được xác định theo quy các sản phẩm làm ván ghép thanh của công ty đề ra, giá trị của hình dạng đoạn gỗ sản phẩm sẽ bằng với giá trị hình dạng thân Hình dạng thân cây được suy ra từ thể tích viên trụ có cùng chiều cao với chiều cao thân cây và có cùng diện tích đáy tại tầm cao quy ước nào

đó Có 2 chỉ tiêu biểu thị cho hình dạng thân cây đó là chỉ tiêu hình dạng tuyệt đối

và chỉ tiêu hình dạng tương đối Hai nhân tố dùng để đánh giá chỉ tiêu hình dạng thân cây là hình số thân cây và độ thon thân cây

Hình số thân cây tuyệt đối (f1,3) là tỉ lệ giữa thể tích thân cây với thể tích viên trụ có cùng chiều cao với chiều cao thân cây và có diện tích đáy bằng diện tích đáy viên trụ tại tầm cao quy ước nào đó (f1,3 = Vcây/Vtrụ) Song hình số f1,3 không đặc trưng cho hình dạng thân cây như người ta mong đợi, mà chỉ là một hệ

số đổi toán, một hệ số giảm để tính thể tích cây đừng (V) Thật vậy, những cây có hình dạng khác nhau đều có thể có có một f1,3 như nhau,miễn là tỷ lệ giữa thể tích cây đứng và thể tích viên trụ bằng nhau Để biểu thị tốt hơn về hình dạng thân cây, các nhà khoa học lâm nghiệp đã đề xuất một chỉ tiêu khác, đó là hệ số thon thân cây (k)

Hệ số thon cây (k) là tỉ lệ giữa đường kính thân cây tại một tầm cao nào đó trên thân cây (thường là vị trí giữa thân cây) so với đường kính quy ước nào đó tương ứng Cũng như hình số ngang ngực f1,3, trong thực tiễn điều tra đo cây người

ta thường sử dụng đường kính quy ước là D1,3 và hệ số thon (k) được gọi là hệ số

Trang 19

thon ngang ngực k1,3 Từ định nghĩa trên, hệ số thon có thể biểu thị bằng công thức sau:

K1,3 = D0,5/D1,3 với 0 < K

2.1.3.1 Tương quan giữa nhân tố hình dạng với đường kính và chiều cao

Để phục vụ cho việc lập biểu, điều cần thiết là phải nghiên cứu mối quan hệ giữa các chỉ tiêu đường kính, chiều cao với các chỉ tiêu hình dạng thân cây nhằm thiết lập nên mô hình mô phỏng mối tương quan giữa chúng với nhau

Theo Spiranec M (1947) đặt mối quan hệ giữa hình số f1,3 và chiều cao theo dạng sau đây:

f1,3 = a - b D; f1,3 = a0/(b0 + b1.D);

f1.3 = a + b/g; gf1,3 = a + b.g;

f1,3 = a0 + a1.H + a2.H/D f1,3 = a0 + a1/H + a2.H/D + a3.H/D2; logf1,3 = a0 + a1logD + a2logH

Nguyễn Minh Cảnh (2003) khi nghiên cứu mối quan hệ giữa các chỉ tiêu đường kính, chiều cao với các chỉ tiêu hình dạng thân cây nhằm thiết lập biểu thể tích cây đứng cho loài Sao đen, tác giả đã sử dụng một số dạng phương trình sau:

f1,3 = a + b.q22 + c.(1/Hq2)

Hq2 = a + b.H

Hf1,3 = a + b.H

gf1,3 = a + b.g

Trang 20

2.1.3.2 Tương quan giữa chiều cao và đường kính

Trong việc lập biểu thể tích thì tương quan giữa chiều cao và đường kính rất quan trọng Nhìn chung, các tác giả trong và ngoài nước khi mô tả mối tương quan nay đã sử dụng một số phương trình mô phỏng sau đây:

Một số hàm toán học chủ yếu được các tác giả thử nghiệm để mô phỏng cho mối tương quan giữa thể tích với các nhân tố cấu thành nên thể tích là:

V= kDb hay logV = a + blogD

2.1.3.4 Tương quan giữa thể tích gỗ sản phẩm với thể tích thân cây

Hiện nay, trên thế giới và trong nước có rất ít tác giả nghiên cứu về mối liên hệ giữa thể tích gỗ sản phẩm với thể thân cây Qua thử nghiệm một số hàm toán học thường dùng trên số liệu thu thập được và tham khảo nghiên cứu của một

số tác giả về mối tương quan này (Biểu thương phẩm cho một số loài cây khai thát chính rừng thường xanh ở Kon Hà Nừng – tỉnh Gia lai, Trần Hồng Sơn, 2009), Đề

Trang 21

tài chọn một số hàm toán học để mô phỏng cho mối tương quan giữa thể tích gỗ sản phẩm với thể tích thân cây

2.2 Tổng quan về đối tượng và khu vực nghiên cứu

2.2.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là cây, rừng tràm bản địa và sản phẩm ván ghép thanh làm từ gỗ tràm

2.2.1.1 Cây tràm

Tên thông thường: tràm ta, tràm cajuputi

Tên khoa học: Melaleuca cajuputi Powell

Tràm là loài cây có thể mọc và sống được ở vùng đất sét nhiễm phèn nặng, nhưng không sống được ở những vùng trũng ngập nước quanh năm Tràm là loài cây ưa sáng hoàn toàn có vai trò tiên phong trong sinh trưởng, tán lá nhỏ, thân cây thẳng tròn và gốc không bạnh Lượng tăng trưởng bình quân hàng năm về chiều cao từ 1 – 2 m, đường kình từ 2 – 3 cm Tràm có khả năng tái sinh chồi, nở hoa suốt năm, mùa ra hoa chính vào tháng 11 và tháng 12, hoa tồn tại từ 7 đến 15 ngày

Trang 22

thì tàn, quả chín vào tháng 3 và tháng 4 Cây tràm ở tuổi 3 có thể cho quả và cho quả nhiều vào tuổi 6 trở lên

Cừ tràm là vật liệu cần thiết cho các công trình xây dựng đặc biệt ở nhưng nơi có tầng đất yếu Ngoài ra cây tràm còn cung cấp củi, cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghệ giấy, lá cất tinh dầu làm dược liệu

2.2.1.2 Rừng tràm

Rừng tràm nói chung có ý nghĩa rất quan trọng nhằm bảo tồn hệ sinh thái vùng đất ngập nước, bảo tồn đa dạng sinh học, điều hòa khí hậu, môi trường Với đặc tính sinh thái đặc biệt, rừng tràm tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều động vật cư trú như: rùa, rắn, cá… Ngoài ra hoa tràm còn thu hút nhiều đàn ong đến làm tổ, đây chính là nguồn đặc sản của rừng tràm Rừng tràm có tác dụng cải tạo đất thích nghi với độ chua phen và tích lũy chất hữu cơ ngăn chặn quá trình phèn hóa

2.2.1.3 Ván ghép thanh

Quy cách sản phẩm đối với ván ghép thanh tại công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh hạ:

 Đường kính

 Đường kính của đoạn gỗ sản phẩm làm ván ghép thanh nhỏ nhất là 6

cm (đường kính không vỏ), đường kính lớn nhất không giới hạn

 Bề rộng của thanh gỗ dùng để ghép ván thường là 5 cm và độ dày của thanh gỗ dùng để ghép ván là 1,4 cm

 Chiều dài

 Chiều dài của đoạn gỗ sản phẩm làm ván ghép thanh tối thiểu là 30

cm, không giới hạn chiều dài tối đa

 Chiều dài của thanh gỗ dùng để ghép thanh không cố định thường không ngắn quá 30 cm và không dài quá 60 cm

 Phẩm chất đoạn gỗ sản phẩm được xác định là nhưng đoạn gỗ thằng có chiều dài trên 30 cm, không bi mối, mọt, hư hỏng, ít mắt chết

Ván ghép thanh (còn gọi gỗ ghép) được sản xuất từ nguyên liệu chính là gỗ rừng trồng Những thanh gỗ nhỏ đã qua xử lý hấp sấy, trên dây chuyền công nghệ

Trang 23

tiên tiến, thiết bị hiện đại, gỗ được cưa, bào, phay, ghép, ép, chà và sơn phủ trang trí Ván ghép thanh được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực sản xuất đồ mộc, trang trí nội thất, sản xuất ván sàn và nhiều sản phẩm khác Có 4 cách thức gỗ ghép song song, mặt, cạnh, giác Gỗ ghép song gồm nhiều thanh gỗ cùng chiều dài, có thể khác chiều rộng, ghép song song với nhau Gỗ ghép mặt gồm nhiều thanh gỗ ngắn, ở hai đầu được xẻ theo hình răng lược rồi ghép lại thành những thanh có chiều dài bằng nhau, rồi tiếp tục ghép song song các thanh, cho nên chỉ nhìn thấy vết ghép hình răng lược trên bề mặt ván, thị trường Nhật rất chuộng cách ghép này Sau đây là sơ đồ dây chuyền công nghệ sản xuất ván ghép thanh tại công ty:

Hình 2.1: Quy trình công nghệ sản xuất ván ghép thanh tại công ty TNHH MTV

Lâm Nghiệp U Minh hạ

2.2.2 Đặc điểm khu vực nghiên cứu

Phân trường Sông Trẹm (trước đây là công ty Lâm Nghiệp Sông Trẹm) trực thuộc Lâm trường U Minh hạ của Công ty Lâm nghiệp U Minh Hạ, nằm ở phía tây nam Sông Trẹm

Diện tích: Tổng diện tích 10.079 ha Trong đó diện tích đất có rừng trên 6.500 ha Còn lại là đất sản xuất nông nghiệp, đất kinh bờ và đất vườn ươm diện tích là: 10 ha trong đó gieo xạ tràm giống 5 ha còn lại 5 ha, theo hàng năm diện tích này cho hộ dân thuê để nuôi cá và sản xuất nông nghiệp

Trang 24

2.2.2.1 Vị trí địa lý

Phân trường Sông Trẹm thuộc địa phận huyện Thới bình, tỉnh Cà Mau Phía Đông giáp 03 xã (Biển Bạch, Tân Bằng, Biển Bạch Đông) và thị trấn Thới Bình, với chiều dài 25,5km, chu vi 60km

Phía Tây giáp với Phân trường U Minh II và một phần xã Nguyễn Phích huyện U Minh

Phía Nam giáp với ấp 4, thị trấn Thới Bình và xã Thới Bình

Phía Bắc giáp với 1 phần Phân trường U Minh II và một phần của xã Đông Hưng B, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

2.2.2.2 Địa hình và thổ nhưỡng

Địa hình khu vực tương đối bằng phẳng, hơi nghiêng về phía tây, độ nghiêng không quá 2o.Địa hình chủ yếu là đồng bằng, độ cao trung bình từ 0,4 - 0,8 m so với mặt nước biển

Đất đai ở đây thuộc nhóm đất phù sa ven biển được bồi tụ lâu năm, có chế

độ ngập nước thường xuyên từ tháng 6 đến tháng 11 hàng năm Loại đất chính là đất phèn hoạt động, phân hủy hoàn toàn trên nền phèn tiềm tàng, trên mặt đất dưới tán rừng

Trang 25

bình khoảng 1.022 mm/năm, lớn nhất từ tháng 12 đến tháng 4 Độ ẩm trung bình năm khoảng 85,6%, độ ẩm thấp nhất là vào tháng 3, khoảng 80%

Trung bình có 165 ngày mưa/năm, lượng mưa đạt khoảng 2.400 mm Lượng mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm khoảng 90% tổng lượng mưa cả năm Từ tháng 8 đến tháng 10 là thời gian mưa nhiều nhất Mưa thường diễn ra theo đợt Trong mùa mưa, thường có 5 đến 7 đợt mưa gắn liền với thời kỳ diện hội tụ nhiệt đới hoạt động trong khu vực hoặc thời kỳ xuất hiện áp thấp trên biển Đông và di chuyển vào đất liền Mỗi đợt mưa có thể kéo dài từ 10 đến 25 ngày, lượng mưa mỗi đợt thường từ 150 đến 250 mm

Chế độ gió không bị chi phối bởi địa hình Hoàn lưu khí quyển tầng thấp đã xác lập chế độ gió của tỉnh Chế độ hoàn lưu mùa đã quyết định chế độ gió Mùa khô, hướng gió chủ yếu là hướng Đông và Đông Bắc, vận tốc trung bình là 1,6 - 2,8 m/s Mùa mưa, hướng gió chủ yếu là hướng Tây hoặc Tây Nam, vận tốc trung bình từ 1,8 - 4,5 m/s

Nhìn chung, khí hậu ở đây ổn định quanh năm, không bị ảnh hưởng của lũ

và ít có bão Đây chính là điều kiện thuận lợi để phát triển nền nông nghiệp và lâm nghiệp, đặc biệt là trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản

2.2.2.4 Thủy văn

Thủy văn chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều nhưng không đáng kể, vào mùa mưa khu vực ngập nước thường xuyên, với độ ngập bình quân 0,5m và ngập sâu nhất là vào tháng 10 là 0,7m, sau đó giảm dần và khô kiệt nước ở các tháng 1,

3 và tháng 4.Mùa gió chướng có thể gây ra hiện tượng nước mặn tràn sông vào nội đồng, ảnh hưởng đến sinh hoạt, sản xuất và giao thông

Các nguồn cung cấp nước trên địa bàn:

 Nguồn nước ngọt từ Sông Hậu đổ về qua các con kênh: Quản Lộ - Phụng Hiệp, Chắc Băng, Bạch Ngưu phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất ở các huyện phía Bắc tỉnh như: huyện Thới Bình, huyện U Minh, huyện Trần Văn Thời

Trang 26

 Nguồn nước mưa là nguồn nước chủ yếu cung cấp cho cây trồng, nuôi trồng thủy sản nước ngọt và một phần cho sinh hoạt Hiện nay, tại các huyện vùng sâu của tỉnh, người dân thường trữ nước mưa để dùng vào mùa khô

 Nguồn nước mặn rất dồi dào, là lợi thế để phát triển ngành nuôi trồng và đánh bắt hải sản Cần làm tốt công tác thủy lợi để điều tiết hiệu quả nguồn nước này phục vụ các vùng nuôi trồng thủy sản

 Nguồn nước ngầm: chủ yếu là nước nhiễm mặn và nhiễm phèn Để có nước ngọt người dân ở đây thường phải khoan giếng ở độ sâu khoảng 150 m

Nhìn chung, điều kiện thủy văn trên toàn khu vực phù hợp với yêu cầu sinh trưởng và phát triển của rừng tràm, lúa nước, cá nước ngọt, lợ theo cơ cấu lâm-ngư-nông nghiệp

Do chế độ khí hậu thủy văn vào mùa khô bị khô kiệt nước nên nguy cơ cháy rừng được báo động lên đỉnh điểm

2.2.2.5 Tình hình kinh tế, xã hội khu vực nghiên cứu

Dân cư sống thưa thớt, tỉ lệ hộ nghèo trong vùng rừng tràm còn khá cao (điều tra số hộ khá, giàu ở rừng tràm chiếm tỷ lệ 16%, số hộ đủ ăn là 46%, số hộ nghèo theo tiêu chí cũ là 38%)

Kết cấu hạ tầng vùng rừng vẫn còn rất thiếu, đi lại chủ yếu là đường sông, kênh rạch Các công trình phúc lợi xã hội còn rất ít, trong khi đó dân cư sống trong vùng rừng rãi rác, xen kẻ nên rất khó đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, kinh tế xã hội

Trong số các nguyên nhân trên làm cho nhân dân chưa thoát ra khỏi nghèo đói có nguyên nhân là: Sản phẩm lâm nghiệp sản xuất ra chưa được chế biến nên khả năng tiêu thụ kém, giá trị không cao và hoàn toàn phụ thuộc vào thị trường trong khu vực

Trang 27

Cây thân thảo: cây tâan thảo rất phong phú về số lượng và chủng loài như: choại, sậy, năn, cỏ lác, dớn, các loại rau… mọc ở đất trống hay dưới tán rừng tràm, lấn áp cây tràm và là vật liệu dể bắt lửa khi mùa khô đến

Các loài động vật trên cạn có: Nai, heo rừng, khỉ, rái cá, trăn, rắn, các loài chim, nhưng năn gần đây do biến động môi trường sống nên số lượng cá thể những loài động vật mất dần Hiện nay, số lượng động vật rất hạn chế

Các loài thủy sinh chủ yếu gồm các loài cá như: cá lóc, cá trê, cá rô…

Ngoài ra, còn có ong mật rừng tràm là đặc sản và là nguồn lợi đáng kể của người nông dân ở vùng rừng

Trang 28

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Nội dung nghiên cứu

Từ những mục tiêu nghiên cứu đã được xác định, các nội dung sẽ được nghiên cứu trong luận văn bao gồm:

 Nghiên cứu quy luật phân bố số cây theo chiều cao và đường kính (N/Hvn, N/D1,3)

 Nghiên cứu quy luật tương quan giữa chiều cao và đường kính (Hvn/D1,3), giữa hình số với đường kính (f1,3/D1,3), giữa hình số với chiều cao (f1,3/Hvn)

 Nghiên cứu quy luật tương quan giữa các loại thể tích

 Xác định kiểu biểu sản phẩm sẽ được lập

 Xây dựng biểu sản phẩm cho loài tràm phục vụ nhu cầu ván ghép thanh của công ty

 Hướng dẫn sử dụng biểu

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Ngoại nghiệp

 Tìm hiểu quy cách sản phẩm của công ty

 Sơ thám toàn bộ khu vực điều tra và chọn ra những vị trí đại diện, điển hình để tiến hành điều tra

 Xác định tuổi lâm phần bằng các hồ sơ lý lịch, tài liệu liên quan (vòng năm, hiểu biết của nhân viên trồng rừng hay người dân được giao rừng)

 Trong một cỡ tuổi lập 3 ô điều tra hình vuông (diện tích 100 m2) bằng thước dây dài (20m), dây nhựa và đánh dấu thứ tự từng cây bằng bút lông

Trang 29

 Cách bước tiến hành lập ô: trên diện tích rừng cần điều tra, lựa chọn khu vực có số cây phân bố tương đối đại diện cho diện tích rừng Dùng thước có góc

vuông để định hướng và xác định góc vuông của ô điều tra

 Đo đường kính cây ở 1,3 m (D1,3 =C1,3/π) tính từ mặt đất lên bằng thước dây 1,5 m với sai số 0.5 cm (đo cây đứng)

 Đo chiều cao vút ngọn của một số cây bằng các dụng cụ đo cao (thước ngắm tự chế, gậy đo cao, sào….) với sai số 0,5 m rồi suy ra chiều cao của một số cây lân cận

 Giải tích cây tiêu chuẩn trong ô điều tra (cây tiêu chuẩn phải là cây

có đường kính và chiều cao đại diện trong ô điều tra, không cong quẹo, không cụt ngọn, không sâu bệnh, ít phân nhánh lớn và số cây giải tích phụ thuộc vào hiện trạng của lâm phần và điều kiện cho phép của công ty)

 Đo chiều dài đoạn gỗ sản phẩm làm ván ghép thanh; xác định vị trí nào trên thân cây không vỏ có đường kính là 6 cm Sau đó dùng thước dây đo chiều dài thân cây tại vị trí đã xác định về phía gốc chặt và đó là chiều dài đoạn gỗ sản phẩm

 Đo chiều cao men thân và chia thân cây thành 10 phần bằng nhau (Đo đường kính có vỏ và không vỏ ở các vị trí đã cưa trên thân cây và vị trí 1,3 m tính

từ gốc lên

3.2.2 Nội nghiệp

 Tính toán các thông số thống kê bằng phần mềm excel 2007

 Thiết lập mô hình tương quan giữa chiều cao H và đường kính D1,3

 Tính thể tích có vỏ và không vỏ của các loại gỗ sản phẩm

 Tính thể tích cây giải tích (không vỏ và có vỏ) bằng tổng thể tích của 10 đoạn gỗ đã cắt

 Thiết lập các phương trình tương quan, vẽ đường thực nghiệm, biểu diễn mối quan hệ giữa các nhân tố cấu thành nên thể tích và các loại thể tích

 Kiểm tra lại

 Hệ số tương quan bằng trắc nghiệm Student

Trang 30

 Kiểm tra sự tồn tại của tham số phương trình bằng trắc nghiệm Student

 So sánh để lựa chọn dạng phương trình phù hợp nhất thông qua kiểm tra giả thuyết về dạng liên hệ bằng tiêu chuẩn 2 (khi bình phương), hệ số tương quan (r), sai số phương trình Sx-y, đặc tính sinh học loài cây đang nghiên cứu

 Vẽ biểu đồ, nhận xét, đánh giá đường thực nghiệm và đường lý thuyết

 Tổng hợp và xây dựng biểu sản phẩm dựa vào các phương trình tuyến tính

và phi tuyến tính đã thiết lập

Trang 31

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Quy luật phân bố số cây theo một số chỉ tiêu sinh trưởng

Để đánh giá và nghiên cứu tình hình sinh trưởng và phát triển rừng Tràm dưới ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh cũng như biện pháp tác động kĩ thuật lâm sinh đã được áp dụng, người ta thường tìm hiểu các đặc điểm cấu trúc của rừng dựa trên việc nghiên cứu các quy luật phân bố số cây theo một số chỉ tiêu sinh trưởng cơ bản là đường kính D1,3 và chiều cao vút ngọn H của cây

Từ số liệu thu thập được ở các ô tiêu chuẩn tạm thời theo từng cỡ tuổi (tuổi

7, 8, 9, 10, 11), đề tài tiến hành chia tổ, ghép lớp, tính tần suất, tính toán các đặc trưng mẫu, mô tả chúng bằng biểu đồ thực nghiệm Sau đây là kết quả nghiên cứu

cụ thể:

4.1.1 Quy luật phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D 1,3 )

Kết quả tính toán các đặc trưng mẫu và đồ thị biểu diễn đặc điểm phân bố

số cây theo cấp đường kinh (N/D1,3) của rừng trồng Tràm theo các cấp tuổi nghiên cứu tại khu vực điều tra ở phân trường Sông Trẹm Kết quả xử lý và tính toán được trình bày ở bảng 4.1 và phụ biểu 2 dưới đây:

Bảng 4.1 Bảng tóm tắt các đặc trưng mẫu của phân bố N/D1,3

Đặc trưng

mẫu

Tuổi Tuổi 7 Tuổi 8 Tuổi 9 Tuổi 10 Tuổi 11

Trang 33

Hình 4.1 Biểu đồ phân bố số cây theo các cỡ kính từ tuổi 7 đến tuổi 11

Trang 34

cao nhất ở tuổi 11 Hầu hết các đỉnh cao của đường phân bố đều lệch trái, cho thấy tình hình sinh trưởng của rừng ở khu vực nghiên cứu không được tốt

Nhìn chung tình hình sinh trưởng về đường kính còn chưa tốt vì vậy cần duy trì những biện pháp chăm sóc và tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng để nâng cao hơn nữa sức sức sản xuất của rừng

4.1.2 Quy luật phân bố số cây theo cấp chiều cao (N/H vn )

Kết quả tính toán các đặc trưng mẫu và đồ thị biểu diễn quy luật phân bố số cây theo cấp chiều cao (Hvn) của các cỡ tuổi tại khu vực nghiên cứu được trình bày

Trang 36

Hình 4.2 Biểu đồ phân bố số cây theo các cấp chiều cao từ tuổi 7 đến tuổi 11

Nhận xét:

Qua biểu đồ phân bố % số cây theo cấp chiều cao của rừng tràm trồng tại phân trường Sông Trẹm và bảng tóm tắt các chỉ tiêu thống kê có thể rút ra nhận xét như sau: đường phân bố số cây có dạng một đỉnh, đỉnh của các biểu đồ đa số lệch trái và có xu hướng tiến vào giữa (Sk > 0 và Sk gần bằng 0) Điều đó cho thấy ở rừng tràm trồng cấu trúc theo chiều thẳng đứng thường chỉ có một tầng tán và có thể xác định được một tầng vượt tán khá rõ rệt Giá trị trung bình về chiều cao ở tất

cả các năm trồng có xu hướng tăng theo tuổi và tăng mạnh hơn ở giai đoạn từ tuổi

8 đến tuổi 10, từ tuổi 7 đến tuổi 8 tăng trưởng hơi chậm, điều này cho thấy sự tăng trưởng của cây còn phụ thuộc khá lớn điều kiện tự nhiên Mặc dù vậy những biện pháp lâm sinh cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sinh trưởng và phát triển của cây và rừng tràm

Biên độ biến động về chiều cao ở các cỡ tuổi nhìn chung là không lớn khoản từ 2,5 m đến 3 m, trừ cỡ tuổi 11 có biên độ biến động tương đối lớn (R = 6 m), cho thấy rừng ở khu vực này diển ra sự tỉa thưa tự nhiên mạnh Rừng sinh trưởng khá đồng đều; hệ số biến động tương đối thấp, cao nhất là 11,5%

Nhìn chung diện tích rừng tràm sinh trưởng về chiều cao khá đồng đều nhưng chưa thực sự tốt, ở tuổi 11 biên độ biến động lớn vì vậy cần có những biện

Trang 37

pháp kĩ thuật thuật lâm sinh phù hợp để giảm số cây có chiều cao không đạt và nuôi dưỡng rừng để có trữ lượng rừng lớn nhất

4.1.3 Thiết lập mô hình tương quan giữa chiều cao H vn và đường kính D 1,3

Trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây rừng các chỉ tiêu đường kính

và chiều cao thân cây có quan hệ với nhau và có thể định lượng bằng quy luật tương quan giữa chiều cao vút ngọn (Hvn) với đường kính thân cây tại vị trí 1,3 m (D1,3) Đây là một trong những chỉ tiêu rất quan trọng trong công tác điều tra rừng, nhưng trong thực tiễn việc xác định chiều cao thân cây gây khó khăn hơn việc xác định đường kính Chính vì vậy, đề tài tiến hành xây dựng phương trình tương quan giữa chiều cao vút ngon (Hvn) với đường kính tại tầm cao 1,3 m (D1,3) với độ chính xác cho phép

Để nghiên cứu tương quan giữa chiều cao với đường kính của rừng trồng tràm tại phân trường Sông Trẹm, đề tài đã tập hợp số liệu đo đếm về chiều cao và đường kính từ các ô tiêu chuẩn ở các tuổi Số liệu điều tra thu thập từ các ô tiêu chuẩn được trình bày ở (phụ biểu 1) Cụ thể, đề tài đã phân chia thành các cấp đường kính từ 5 cm trở lên, mỗi cấp cách nhau 1 cm và mỗi cấp kính sẽ có một giá trị trung bình về chiều cao (những cây có chiều cao nằm trong cấp kính đó)

Sau các bước chỉnh lý, tính toán nội nghiệp và trên cơ sở phân tích các quy luật sinh học và toán học về các mối quan hệ của các chỉ tiêu tham gia mô hình, thử nghiệm các dạng mô hình toán học nhằm tìm ra mô hình phù hợp nhất Ở đề tài này đã thử nghiệm một số hàm toán học thông dụng trong phần mềm Statgraphics Centurion, vận dụng để mô phỏng cho quy luật tương quan Hvn/D1,3 ở đối tượng rừng trồng Kết quả tính toán và thử nghiệm các dạng phương trình được trình bày trong (phụ biểu 3), được tóm tắt ở bảng 4.3 dưới đây:

Trang 38

Bảng 4.3 Kết quả thử nghiệm một số hàm toán học mô tả mối tương quan giữa chỉ

tiêu sinh trưởng chiều cao với đường kínhHàm số r Sy/x 2

Hình 4.3: Đường biểu diễn tương quan 5 dạng phương trình thử nghiệm giữa

chiều cao và đường kính (Hvn/D1,3) Nhận xét:

Từ kết quả thử nghiệm một số hàm toán học, đề tài tiến hành so sánh để lựa chọn hàm lý thuyết phù hợp nhất với số liệu thực nghiệm để mô tả cho quy luật

Trang 39

tương quan giữa Hvn và D1,3 dựa trên các tiêu chí thống kê như: Hệ số tương quan (r) hay hệ số R2 đạt giá trị lớn nhất, sai số phương trình (Sy/x), sự tồn tại của các tham số phương trình, sự phù hợp của dạng phương trình thông qua trắc nghiệm 2với mức ý nghĩa ấn định (0,05), đồng thời phải thỏa mãn về đặc tính sinh học của loài cây nghiên cứu

Dựa vào kết quả của bảng 4.3 cho thấy tất cả các hàm thử nghiệm đều cho

hệ số tương quan rất chặt (r = 0,95-0,99), trong đó hàm Y = a + b*X có hệ số tương quan thấp nhất, các tham số của phương trình đều tồn tại (p < 0,05), sai số phương trình của hàm Y = 1/(a + b/X) là thấp nhất và cao nhất là hàm Y = a + b*X Giá trị 2

tính < 2

bảng trong đó hàm Y = 1/(a + b/X) có giá trị 2

tính là nhỏ nhất, chứng tỏ chênh lệch giữa giá trị Hvn lý thuyết và Hvn thực nghiệm là nhỏ nhất so với các hàm còn lại, đồng thời giá trị 2

tính < 2

bảng và là nhỏ nhất trong các hàm thử nghiệm Vì vậy đề tài đã chọn hàm (4.1.a) Y = 1/(a + b/X) để mô tả cho quy luật tương quan giữa Hvn và D1,3 hàm này thỏa mãn các điều kiện đồng thời dễ tính toán, dễ vận dụng vào thực tế của loài tràm trồng tại khu vực nghiên cứu Sau đây

là kết quả cụ thể: Hvn = 1/(0,0580302 + 0,407487/D1,3)

Với r = 0,986; Sy/x = 0,003; Ftính = 288 > F0.05; 2

tính = 0,093 < 2

bảng =14,07

Hình 4.4: Đường biểu diễn phương trình tương quan được lựa chọn giữa chiều cao

và đường kinh (H/D1,3) cho rừng trồng tràm tại phân trường Sông Trẹm

Qua đường cong tương quan giữa chiều cao và đường kính (hình 4.4) và kết quả tính toán các chỉ tiêu thống kê cho thấy: Giữa H và D1,3 của loài tràm có mối tương quan chặt chẽ theo hướng thuận (r = 0,986) Sai số của phương trình tương

Trang 40

đối nhỏ (SY-X = 0,003), đồng thời kết quả tính toán các tham số phương trình đều tồn tại Đường cong có có dạng hơi lồi nên chiều cao vút ngọn sẽ tăng hơi chậm lại

ở các cấp đường kính 12 – 14 cm Dựa vào phương trình hồi quy lý thuyết được thiết lập người làm công tác điều tra có thể xác định nhanh chiều cao của cây rừng thông qua nhân tố dễ xác định D1,3 với một độ tin cậy nhất định, giảm bớt thời gian

và chi phí điều tra

4.2 Xác định kiểu biểu sản phẩm sẽ được lập

Trong sản xuất kinh doanh rừng, trong điều tra quy hoạch hay trong quản lý bảo vệ rừng người ta đều muốn biết được thể tích bình quân của cây còn đang đứng trong rừng để từ đó suy ra trữ lượng của rừng bằng những biện pháp đơn giản, nhanh gọn mà vẫn đảm bảo độ chính xác ở một mức độ nào đó Nhưng hiện nay, trong kinh doanh người ta thường chú ý đến thể tích gỗ sản phẩm để tính ra giá trị kinh tế Thật ra biểu sản phẩm cũng giống như biểu thể tích nhưng biểu thể tích thì tính thể tích cho nguyên một cây còn biểu sản phẩm chỉ tính thể tích cho một đoạn gỗ nào đó trên cây tùy vào sản phẩm được lấy từ đoạn gỗ nào

Thể tích thân cây được tạo thành từ ba nhân tố cơ bản: đường kính thân cây tại tầm cao 1,3 mét (D1,3), chiều cao vút ngọn của cây (Hvn) và hình dạng của thân cây (f1,3), nó được suy diễn từ thể tích viên trụ có cùng chiều cao với chiều cao thân cây và có diện tích đáy bằng với diện tích đáy tại một tầm cao quy ước nào đó của thân cây Cũng giống như thể tích thân cây, thể tích đoạn gỗ sản phẩm cũng được tạo thành từ ba nhân tố, riêng chiều cao vút ngon của cây được thay thế bằng chiều dài của đoạn gỗ sản phẩm

Chúng ta hoàn toàn có thể lập biểu sản phẩm ba nhân tố hoặc hai nhân tố cho rừng trồng tràm tại khu vực nghiên cứu Việc lập biểu sản phẩm ba nhân tố hay hai nhân tố sẽ chính xác hơn so với việc lập biểu sản phẩm một nhân tố Tuy nhiên, biểu ba nhân tố khi sử dụng rất phức tạp, do phải thu thập cả ba chỉ chỉ tiêu đường kính, chiều cao và hình số thân cây Vì vậy loại biểu này chỉ sử dụng ở những nước có trình độ lâm nghiệp phát triển và cường độ kinh doanh cao như các nước phương tây Biểu hai nhân tố hầu hết được sử dụng ở các nước

Ngày đăng: 03/06/2018, 16:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w