HỒ CHÍ MINH LÊ VĂN PHƯỚC BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH NUÔI TÔM TRONG RỪNG NGẬP MẶN TẠI ĐỊA BÀN XÃ THẠNH HẢI, HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE LUẬN VĂN TỐT NGHI
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
LÊ VĂN PHƯỚC
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH NUÔI TÔM TRONG RỪNG NGẬP MẶN TẠI ĐỊA BÀN XÃ THẠNH HẢI, HUYỆN
THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH LÂM NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 6/2012
Trang 2Lời cảm tạ
Đầu tiên, xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Đại học Nông Lâm
TP Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi có được một môi trường học tập tốt Xin chân thành biết ơn toàn thể giáo viên khoa Lâm nghiệp nói chung, bộ môn Nông lâm kết hợp và Lâm nghiệp xã hội nói riêng đã tận tình dạy dỗ, chỉ bảo, truyền đạt những kiến thức, những kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình tôi học tập và rèn luyện tại trường
Xin gửi lời biết ơn chân thành đến thầy Th.S Đặng Hải Phương, người trực tiếp giảng dạy và hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Tiếp theo, tôi xin gửi lời tri ân đến UBND huyện Thạnh Phú, UBND xã Thạnh Hải, Lâm trường huyện Thạnh Phú, ông Phạm Văn Trường, hộ gia đình ông Nguyễn Văn Ngãi và toàn thể bà con địa phương đã nhiệt tình hợp tác, hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập tại địa phương
Và cuối cùng, tôi xin cảm ơn sự quan tâm, động viên, chia sẽ của gia đình đồng thời cám ơn đến tập thể lớp DH08NK, những người bạn chân thành luôn đoàn kết, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học vừa qua
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
LÊ VĂN PHƯỚC
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH NUÔI TÔM TRONG RỪNG NGẬP MẶN TẠI ĐỊA BÀN XÃ THẠNH HẢI, HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE
Ngành: Lâm Nghiệp
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: Th.S ĐẶNG HẢI PHƯƠNG
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 6/2012
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “Bước đầu tìm hiểu hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi tôm trong rừng ngập mặn tại địa bàn xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre” được tiến hành tại xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre, thời gian từ ngày 10/3/2012 đến ngày 10/6/2012
Kết quả thu được:
Mô hình phát triển mạnh nhưng đa số tự phát và được thực hiện chủ yếu nhờ vào kinh nghiệm
Mô hình mang lại nhiều nguồn lợi: tôm, gỗ, củi và các loài thủy hải sản khác Năng suất tôm không cao, song thu nhập vẫn ổn định và luôn có lãi qua từngnăm với lợi nhuận qua các năm (2007 – 2011) lần lượt là 13,4 triệu/ha, 15,01 triệu/ha, 13,23 triệu/ha, 12,08 triệu/ha, 17,48 triệu/ha và lợi nhuận lợi trung bình trong 5 năm là 14,24 triệu/ha
Hiệu quả đầu tư mang tính khả thi cao với NPV = 44,06 triệu và BCR = 4,3
Mô hình được sự ủng hộ nhiều từ phía người dân và cơ quan các cấp vì không những đem lại hiệu quả về mặt kinh tế mà còn góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường ven biển
Tìm ra một số khuyết điểm trong mô hình rừng – tôm kết hợp do người dân thực hiện, sau đó kết hợp với thực tiễn địa phương và một số tài liệu nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện và phát triển mô hình trong thời gian tới
Trang 5ABSTRACT
"Initial study of the economic efficiency of shrimp farming in mangrove forests in Thanh Hai commune, Thanh Phu district, Ben Tre province" was conducted in Thanh Hai Thanh Phu district, provincial Ben Tre, the time from 10/03/2012 to 06/10/2012
The results are:
The models are well – developed but they are carried out spontaneously and depending on farmer’s experience
The models bring many benefits: shrimp, timber, firewood and other aquatic species
Shrimp yield is not high but the income remained stable and constant over the years with interest (2007 - 2011) respectively of 13.4 million / ha, 15.01 million /
ha, 13.23 million / ha, 12.08 million / ha, 17.48 million / ha and the average profits interests in the 5-year is 14.24 million / ha
Effective and feasible investments with high NPV = 44.06 million and BCR = 4.3
The models were supporting from the people and agencies of all levels because not only those models brought efficiency in economic terms but also contributes in forest protection, environmental protection coastal
Finding out some shortcomings in the model forest - shrimp combination made by people, then combined with local realities and some research papers suggest some solutions to improve and develop model in the coming time
Trang 6MỤC LỤC
TRANG
Trang tựa i
Tóm tắt ii
Mục lục iv
Danh sách các chữ viết tắt vi
Danh sách các hình vii
Danh sách các bảng viii
Chương 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Giới hạn của đề tài 3
Chương 2: TỔNG QUAN 4
2.1 Tổng quan về nông lâm kết hợp ở Việt Nam 4
2.1.1 Lược sử phát triển nông lâm kết hợp ở Việt Nam 4
2.1.2 Phân loại mô hình nông lâm kết hợp ở Việt Nam 5
2.1.3 Mô hình nông lâm kết hợp vùng ngập mặn ven biển 5
2.2 Tổng quan về địa điểm nghiên cứu 6
2.2.1 Đặc điểm tự nhiên 6
2.2.1.1 Vị trí địa lý 6
2.2.1.2 Địa hình 6
2.2.1.3 Khí hậu - Thủy văn 6
2.2.1.4 Tài nguyên 7
2.2.1.4.1 Hệ thực vật và động vật rừng 7
2.2.1.4.2 Đất đai 7
2.2.1.4.3 Rừng 8
2.2.1.4.4 Mặt nước 8
2.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 8
2.3 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 10
Trang 72.4 Khái quát về hệ thống lâm – ngư kết hợp tại địa bàn nghiên cứu 11
Chương 3: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 13
3.2 Nội dung nghiên cứu 13
3.3 Phương pháp nghiên cứu 13
3.3.1 Ngoại nghiệp 13
3.3.2 Nội nghiệp 14
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 17
4.1 Phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình rừng – tôm kết hợp 17
4.1.1 Chi phí đầu tư 19
4.1.2 Doanh thu 20
4.1.3 Lợi nhuận 22
4.2 Lựa chọn các giải pháp cải thiện và phát triển mô hình rừng – tôm kết hợp 24
4.2.1 Sơ lược về thực trạng xã hội địa phương và đánh giá khả năng chấp nhận của người dân đối với mô hình 24
4.2.2 Kết quả phân tích SWOT của mô hình rừng – tôm kết hợp 34
4.2.3 Đề xuất một số giải pháp cải thiện và phát triển mô hình rừng – tôm kết hợp 35
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 37
5.1 Kết luận 37
5.2 Kiến nghị 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
PHỤ LỤC 42
Trang 8Danh sách các chữ viết tắt
BQL Ban quản lý HST Hệ sinh thái LNXH Lâm nghiệp xã hội NDTQ Nhân dân tự quản NLKH Nông lâm kết hợp ODA Official Development Assistance RĐD Rừng đặc dụng
RNM Rừng ngập mặn RPH Rừng phòng hộ SALT Slopping Agricultural Land Technology TDTT Thể dục thể thao
THCS Trung học cơ sở UBND Ủy ban nhân dân YHCT Y học cổ truyền
Trang 9Danh sách các hình HÌNH TRANG
Hình 4.1 Sơ đồ Venn 33
Hình 2.1 Mô hình rừng – tôm kết hợp của ông Lê Văn Sạch 49
Hình 2.2 Mô hình rừng – tôm kết hợp của ông Lê Văn Lự 49
Hình 2.3 Mô hình rừng – tôm kết hợp của ông Lê Văn Kiểng 50
Hình 2.4 Cống dùng để thu hoạch tôm 50
Hình 2.5 Xẻ kênh, mương làm bờ bao để nuôi tôm 51
Hình 2.6 Rừng đước bị khai thác làm củi 51
Trang 10Danh sách các bảng
Bảng 4.1 Diện tích đất rừng – tôm kết hợp 17
Bảng 4.2 Số lao động chính của mỗi hộ 178
Bảng 4.3 Đầu tư (ĐT) và doanh thu (DT) trên mỗi ha của 10 hộ sản xuất trong 5 năm 18
Bảng 4.4 Hiệu quả kinh tế của mô hình rừng – tôm kết hợp 19
Bảng 4.5 Ví dụ về cách định giá tôm theo người dân 21
Bảng 4.6 Kết quả xử lý 23
Bảng 4.7 Dòng lịch sử 29
Bảng 4.8 Xếp hạng nông hộ 30
Bảng 4.9 Lịch thời vụ 32
Bảng 4.10 Phân tích SWOT 34
Bảng 1.1 Bảng câu hỏi chủ chốt 42
Bảng 1.2 Bảng câu hỏi phỏng vấn hộ gia đình 42
Bảng 1.3 Số liệu chi phí, thu nhập qua các năm của người dân 46
Bảng 1.4 Kết quả phân tích kinh tế (r = 18 %/năm) 48
Trang 11đó bao gồm cả diện tích mặt nước
Việt Nam có đường bờ biển dài trên 3260 km với 12 đầm phá Trong hệ đầm phá thì dải rừng ngập mặn ven biển có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế và
xã hội
Rừng ngập mặn (RNM) của nước ta không những có giá trị kinh tế – xã hội quan trọng mà còn có tác dụng phòng hộ to lớn Do nhiều nguyên nhân rừng phòng
hộ ngập mặn đang bị xâm hại nghiêm trọng, diện tích RNM bị thu hẹp Đặc biệt là
từ những năm 90 của thế kỷ trước trở lại đây, nhiều diện tích RNM bị chặt phá làm đầm nuôi tôm, sau một thời gian đa số các đầm nuôi tôm bị thất bại do ô nhiễm môi trường Cây ngập mặn bị chết dần, dẫn đến tình trạng RNM không đủ khả năng phòng hộ, đê biển đứng trước nguy cơ bị bão lụt phá hoại, đồng ruộng, xóm làng ven biển ngày càng có nguy cơ bị nước mặn xâm lấn ảnh hưởng trực tiếp đến đời
sống cư dân ven biển
Bến Tre là một tỉnh nằm cuối nguồn sông Cửu Long và tiếp giáp biển Đông,
có bờ biển dài 65 km, địa hình bị chia cắt bởi 4 con sông lớn là sông Tiền, sông Ba
Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên
Với vị trí như trên, mặc dù diện tích rừng ngập mặn của tỉnh không nhiều nhưng nó có vai trò rất quan trọng trong việc phòng hộ bảo vệ môi trường, phòng
Trang 12chống xói lở, cố định bãi bồi, đặc biệt là giữ vững sự cân bằng sinh thái vùng cửa
sông ven biển
Ngày nay, dưới tác động của biến đổi khí hậu làm cho bão, lũ, hạn hán, tình hình xâm nhập mặn, diễn ra ngày càng gay gắt và phức tạp, gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân mà theo đánh giá của các nhà khoa học thì Bến Tre là một trong những tỉnh bị ảnh hưởng nặng nề nhất Do vậy, việc đầu tư
bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh Bến Tre có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Hơn nữa, đời sống của đại bộ phận người dân vùng ven biển còn thấp, nhất là thành phần dân cư hoạt động, sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp Tình trạng thiếu đất sản xuất nông nghiệp đang là vấn đề đặt ra ngày càng cấp thiết cho các địa phương Thêm vào đó, nhận thức về bảo vệ môi trường, cảnh quan cũng như vai trò RNM của người dân địa phương còn nhiều hạn chế hoặc do những lợi ích kinh tế trước mắt, đặc biệt là nguồn lợi từ tôm nuôi xuất khẩu nên rừng ngập mặn Việt Nam
nói chung, tỉnh Bến Tre nói riêng đã bị suy thoái nghiêm trọng
Là một trong những huyện giáp biển, với diện tích rừng ngập mặn lớn và nghề nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản phát triển mạnh, Thạnh Phú là đại diện điển hình của tỉnh phải gánh chịu những tác động tiêu cực kể trên Đất đai của huyện phần lớn
bị nhiễm mặn, việc phát triển sản xuất, nâng cao đời sống của người dân gặp không
ít khó khăn Mặc dù có vị trí địa lý thuận lợi là được hai nhánh sông lớn là Hàm Luông và Cổ Chiên ôm trọn, hứng được lượng phù sa nhiều nhất Thế nhưng, Thạnh Phú vẫn là huyện nghèo nhất Bến Tre Chính vì thế mà việc giải quyết sinh
kế người dân, nâng cao thu nhập, giúp người dân thoát nghèo đang là một vấn đề rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay
Do đặc thù của khu vực, việc nuôi trồng thủy sản phát triển nhanh, đặc biệt là nuôi tôm, nhiều gia đình giờ đây đã thoát nghèo thậm chí trở nên khá giả Từ đó dẫn đến diện tích RNM đang ngày càng bị đe dọa vì mục đích kinh tế Điều này đặt ra cho huyện Thạnh Phú nói riêng, tỉnh Bến Tre nói chung nhiều vấn đề cần phải giải quyết cấp bách Một trong số đó là làm sao để người dân vừa mở rộng được diện tích nuôi tôm nhằm nâng cao thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống, vừa bảo vệ
Trang 13và phát triển được diện tích rừng vốn có nhằm đáp ứng nhu cầu phòng hộ, môi trường
Từ những thực trạng nói trên, và được sự cho phép của bộ môn NLKH và LNXH thuộc khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, khóa luận “Bước đầu tìm hiểu hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi tôm trong rừng ngập mặn tại địa bàn xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre” nhằm xem xét các lợi ích tổng hợp, đặc biệt hiệu quả kinh tế từ việc nuôi tôm tự nhiên dưới tán rừng,
tính bền vững của mô hình trong bối cảnh hiện nay
1.2 Giới hạn của đề tài
Do kiến thức và thời gian thực hiện đề tài có giới hạn, cũng như giới hạn của một khóa luận tốt nghiệp nên đề tài chỉ thực hiện tại một xã điển hình của huyện Thạnh Phú và chỉ nghiên cứu, tìm hiểu sơ lược một vài khía cạnh cụ thể, điển hình chứ chưa thật sự chuyên sâu nên nội dung sẽ còn nhiều hạn chế, không phản ánh được hết thực trạng chung của cả huyện, khả năng đóng góp cho thực tế cuộc sống không cao
Trong quá trình làm khóa luận tốt nghiệp chắc chắn tôi sẽ khó tránh khỏi những sai sót, mong quý thầy cô và các bạn sinh viên nhiệt tình góp ý để bài khóa luận được hoàn thiện hơn
Trang 14Chương 2
TỔNG QUAN
2.1 Tổng quan về nông lâm kết hợp ở Việt Nam
2.1.1 Lược sử phát triển nông lâm kết hợp ở Việt Nam
Thật khó có thể xác định một cách chính xác thời điểm mà tại đó hệ thống nông lâm kết hợp ra đời Mặc dù vậy, người ta vẫn thừa nhận rằng sự hình thành và phát triển của nó gắn liền với sự phát triển của các ngành khoa học thuộc nông lâm nghiệp; và gắn liền với sự nhận thức của con người về sử dụng đất và nhu cầu kinh
tế
Ở Việt Nam, tập quán canh tác nông lâm kết hợp đã có từ lâu đời, như các hệ thống canh tác nương rẫy truyền thống của đồng bào các dân tộc ít người, hệ sinh thái vườn nhà ở nhiều vùng địa lý sinh thái trên cả nước
Xét ở khía cạnh mô hình và kỹ thuật thì nông lâm kết hợp ở Việt Nam đã phát triển không ngừng Từ những năm 1960, hệ sinh thái Vườn – Ao – Chuồng (VAC) được nông dân các tỉnh miền Bắc phát triển mạnh mẽ và lan rộng khắp cả nước với nhiều cải tiến khác nhau để thích hợp cho từng vùng sinh thái cụ thể
Sau đó là hệ thống Rừng – Vườn – Ao – Chuồng (RVAC) và vườn đồi được phát triển mạnh mẽ ở các khu vực dân cư miền núi
Các hệ thống rừng ngập mặn – nuôi trồng thủy sản cũng được phát triển mạnh
mẽ ở vùng duyên hải các tỉnh miền Trung và miền Nam
Các dự án ODA cũng giới thiệu các mô hình canh tác trên đất dốc theo đường đồng mức (SALT) ở một số khu vực miền núi
Trang 152.1.2 Phân loại mô hình nông lâm kết hợp ở Việt Nam
Sử dụng đất theo phương thức NLKH đã hình thành từ lâu đời với những hình thức khác nhau Tùy thuộc vào phong tục tập quán của từng địa phương mà mô hình NLKH được áp dụng từ đơn giản đến phức tạp Theo báo cáo của Giáo Sư Hoàng Hòe tại Hội nghị NLKH vùng Châu Á Thái Bình Dương năm 1990 thì các hệ thống NLKH ở Việt Nam bao gồm:
- Phương thức du canh du cư;
- Các mô hình NLKH ở đồng bằng;
- Các mô hình NLKH trên vùng đất cát ven biển;
- Các mô hình NLKH trên đất dốc;
- Phương thức sản xuất Lâm Ngư nghiệp kết hợp ở các vùng ngập mặn;
- Phương thức Lâm Ngư nghiệp trên các vùng đất phèn
2.1.3 Mô hình nông lâm kết hợp vùng ngập mặn ven biển
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, Việt Nam có 447000 ha đất ngập mặn ven biển và 2283000 ha đất phèn (đặc biệt trong đó có 588000 ha đất phèn mặn, đang thực hiện hệ canh tác này)
Hệ canh tác nông lâm kết hợp vùng ngập mặn ven biển là hệ canh tác được áp dụng ở các dạng đất đai ngập nước Trong hệ canh tác nông lâm kết hợp có 3 kiểu
mô hình chính: Trồng rừng ngập mặn kết hợp nuôi tôm hoặc cua, cá; mô hình nông – lâm – ngư kết hợp (rừng tràm + lúa nước + cá + ong + VAC) và mô hình VAC (vườn – ao – chuồng) trên đất thổ cư
Trồng rừng ngập mặn kết hợp nuôi tôm hoặc cua, cá
Diện tích đầm giành cho trồng rừng ngập mặn biến động từ 60 – 80 %, trung bình chiếm 70 % diện tích đầm
Diện tích đào các hệ thống kênh mương nuôi tôm (bao gồm cả diện tích các
bờ bao và bờ mương) chiếm từ 20 – 40 %, trung bình chiếm 30 % diện tích đầm Dạng lập địa thích hợp: ở một số tỉnh thuộc đồng bằng Sông Cửu Long, nơi đất được ngập khi triều cường cao trung bình, độ thành thục của đất thấp, có số ngày ngập triều trung bình từ 16 – 18 ngày trong 1 tháng hoặc đất được ngập khi
Trang 16triều cường thấp, đất có độ thành thục rất thấp, có số ngày ngập triều trung bình từ
19 – 24 ngày trong 1 tháng thường áp dụng mô hình này
RNM được trồng có mật độ thưa hơn so với mật độ trồng rừng bình thường
Ví dụ: Rừng đước trồng trong đầm lâm – ngư kết hợp có mật độ 10000 cây/ha, chỉ bằng 50 % so với mật độ trồng rừng đước không lâm – ngư kết hợp
2.2 Tổng quan về địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Đặc điểm tự nhiên
2.2.1.1 Vị trí địa lý
Trên bản đồ tỉnh Bến Tre, huyện Thạnh Phú nằm ở phía Đông Nam tỉnh Bến Tre, cuối cù lao Minh
Phía Đông giáp Biển Đông,
Phía Tây giáp huyện Mỏ Cày,
Phía Nam giáp tỉnh Trà Vinh, ngăn cách bởi con sông Cổ Chiên,
Phía Bắc giáp huyện Ba Tri, có ranh giới chung con sông Hàm Luông
Thạnh Hải hiện nay là một trong 18 xã, thị trấn của huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre Phía Bắc giáp sông Hàm Luông, phía Nam giáp xã Thạnh Phong, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp xã Giao Thạnh và An Điền Địa bàn được chia thành 8 ấp gồm: Thạnh Thới A, Thạnh Thới B, Thạnh Thới Đông, Thạnh Hưng A, Thạnh An, Thạnh Hưng B, Thạnh Lợi và Thạnh Hải Trung tâm xã được đặt tại ấp
Thạnh Hưng B nằm cách trung tâm huyện 21 km về hướng Tây
2.2.1.2 Địa hình
Xã có địa hình bằng phẳng, kênh rạch chằng chịt, được hình thành là do sự bồi đắp của 2 con sông lớn: Sông Cổ Chiên và sông Hàm Luông
2.2.1.3 Khí hậu – Thủy văn
Khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa riêng biệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng
11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Có các đặc trưng sau:
- Nhiệt độ bình quân khoảng 26,6 oC/năm
- Ẩm độ không khí bình quân khoảng 83,7 %
Trang 17- Lượng mưa vào loại trung bình thấp: 1525 mm Hầu như không có mưa trong các tháng 1, 2, 3
- Vùng này chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam mang theo mưa từ tháng 5 đến tháng 11 hàng năm và gió mùa Đông Bắc thịnh hành trong mùa khô với vận tốc cao nhất từ 3 – 5 m/s có khi đạt tới 10 m/s, đôi khi gây thiệt hại cho vùng bờ biển
Thạnh Hải chịu ảnh hưởng bởi sông Cổ chiên, Hàm Luông và Biển Đông Thủy triều cao nhất vào tháng 9 – 10 âm lịch và thấp nhất từ tháng 2 – 4 âm lịch Môi trường nước trong vùng có sự khác biệt rõ rệt giữa mùa mưa và mùa khô
Sự chênh lệch về nhiệt độ nước hàng năm trong khoảng 4,9 đến 8,5 oC
Nhìn chung khí hậu địa bàn xã thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản
2.2.1.4 Tài nguyên
2.2.1.4.1 Hệ thực vật và động vật rừng
2.2.1.4.1.1 Hệ thực vật rừng
Các yếu tố thủy triều, lưu lượng nước sông và độ mặn ảnh hưởng rất lớn đến
sự phân bố và thành phần loài cây ưu thế của rừng ngập mặn trong khu vực
Nơi đây đa dạng các loài cây ngập mặn như: Mấm lưỡi đồng, mấm đen, đước, các loài bần,
Sự biến thiên độ mặn của môi trường, sự đa dạng về địa mạo (các giồng cát xen giữa các dòng thủy triều) và các hoạt động của con người đã tạo nên sự phong phú của các hệ thực vật Loài thực vật được gây trồng thành rừng có diện tích lớn nhất hiện nay trong khu vực là loài đước
2.2.1.4.1.2 Hệ động vật rừng
Đa dạng và phong phú các loài động vật Những vùng bãi biển ngập triều và các kênh rạch của Lâm trường khi nước triều xuống là những bãi ăn lý tưởng cho các loài chim Quần xã mấm trắng dày đặc là nơi cư trú thích hợp cho nhiều loài bò sát và các loài lưỡng cư kể cả những loài thú nhỏ
2.2.1.4.2 Đất đai
Diện tích đất tự nhiên toàn xã là 6387,42 ha Trong đó:
Trang 18Đất sản xuất nông nghiệp 622,09 ha Đất nuôi trồng thủy sản 2049 ha
Đất phi nông nghiệp 661,83 ha
Đất chuyên dùng 34,02 ha Đất tôn giáo, tín ngưỡng 0,82 ha
Diện tích đang nuôi trồng thủy sản: 886,4 ha
Đất đai xã Thạnh Hải thuộc nhóm đất phù sa có độ phì từ khá đến cao, thích nghi với phát triển kinh tế nông nghiệp như trồng dưa, sắn và đậu phọng Xã có Rạch Cây Dừa, Rạch Hồ Cỏ, Rạch Vàm Hồ đi qua thuận lợi phát triển giao thông thủy phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản
Đặc điểm tự nhiên của xã Thạnh Hải rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Đất đai mặc dù còn bị nhiễm phèn, mặn nhưng không ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp do khai thác hợp lý và nhờ có hệ thống nước ngầm rất tốt thuận lợi trong việc tưới tiêu
2.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Theo thống kê của UBND xã năm 2011, toàn xã có 2013 hộ với 8196 nhân khẩu
Trang 19Số người trong độ tuổi lao động Khoảng 4450 người
Số lao động làm việc ngoài địa phương 450 người
Lao động nông nghiệp Chiếm 60 % tổng lao động
Số hộ nuôi trồng thủy sản Chiếm 80 % tổng số hộ
Đời sống của nhân dân trong xã chủ yếu là nuôi trồng thủy sản và sản xuất nông nghiệp Bà con nông dân có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, mặc dù trình
độ lao động vẫn còn hạn chế nhưng với tính cần cù, nhạy bén nên trong quá trình lao động có thể tiếp cận được với khoa học kỹ thuật trong sản xuất, còn lại là hoạt động thương mại, tiểu thủ công nghiệp và một số nhân khẩu đi lao động ngoài tỉnh Toàn xã có 39,81 km đường nông thôn gồm:
- Đường xã: 15,1 km được trãi nhựa 100 %
- Đường ấp, đường ngõ: 23,91 km, trong đó có 4,417 km được bêtông
- Phần lớn mặt đường đều hẹp, đường xã có bề rộng mặt đường là 5 m; đường
ấp, ngõ xóm, tổ hẹp bình quân khoảng 2 m
Thủy lợi: Năm 2011 được sự hổ trợ của Sở Nông Nghiệp xã nạo vét được 2 tuyến kênh chiều dài khoảng 4 km
Xã có 3 điểm trường trung tâm với 3 bậc học:
1 Mẫu giáo: Trường có tổng diện tích 1986 m2, có 2 điểm trường, có 6 phòng học, cơ sở vật chất đầy đủ, cổng trường và vòng rào kiên cố Tổng số 4 lớp học, lớp được phân chia theo độ tuổi
2 Tiểu học: Trường có tổng diện tích 8045 m2, có 6 điểm trường, có 25 phòng học và đủ các phòng chức năng, cơ sở vật chất khang trang đáp ứng tốt cho việc dạy
và học
3 THCS: Trường có tổng diện tích là 320,6 m2, có 1 điểm trường, 8 phòng học chưa đầu tư xây dựng theo hướng đạt chuẩn quốc gia, có nhà công vụ cho giáo viên
Xã đã xây dựng Đền thờ liệt sĩ Hoàn thiện khu trung tâm văn hóa (nâng cấp
mở rộng và xây dựng đủ các phòng chức năng như: Hành chính; thông tin; đọc sách, báo; truyền thanh; câu lạc bộ) 8/8 ấp có tụ điểm sinh hoạt văn hóa gia đình
Trang 20(nhờ vào nhà dân để sinh hoạt) và hoạt động TDTT Xây dựng 1 nhà văn hóa khu trung tâm xã
Mạng lưới dịch vụ bưu chính viễn thông và Internet đã phủ khắp địa bàn xã;
có 1 điểm Bưu điện văn hoá và hộp thư công cộng; xã có 2/8 điểm Internet công cộng; có trên 450 điện thoại các loại, bình quân 18 máy/100 dân
Y tế: Trạm y tế xã có 1 bác sĩ, 1 y sĩ sản nhi, 1 y sĩ YHCT, 2 y tá sơ cấp, … y
tế ấp và 3673 tổ NDTQ có tình nguyện viên sức khỏe cộng đồng
Giáo dục: Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS đạt 100 %, trong đó có trên 80 % tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ túc, học nghề) Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt
25 %, chưa hoàn thành phổ cập giáo dục trung học
Tốc độ tăng trưởng bình quân 11,6 %/năm (năm 2005 - 2010) Thu nhập bình quân đầu người 14 triệu đồng/người/năm (ngang bằng mức thu nhập bình quân của huyện, đạt 0,64 lần so với bình quân chung của tỉnh)
Tỷ lệ hộ nghèo còn ở mức cao, xét theo tiêu chí hộ nghèo giai đoạn 2010 –
2015 tỷ lệ hộ nghèo của xã khoảng 25,1 %
Cơ cấu kinh tế:
1 Nông nghiệp: 83,15 %
2 Công nghiệp – xây dựng: 2,6 %
3 Dịch vụ: 14,25 %
2.3 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Mô hình nuôi thủy sản thân thiện với rừng (Mangrove – friendly aquaculture)
đã được hình thành từ vài thập kỷ qua ở nhiều quốc gia như Indonesia, Myanmar, Việt Nam, Thái Lan, Philippines, Malaysia, Kenya, Tanzania và Jamaica nhằm mục đích vừa khôi phục và bảo vệ rừng vừa phát triển kinh tế thông qua nuôi thủy sản (Fitzgerald J R, 2000), (trích dẫn bởi Trần Ngọc Hải và ctv, 2006)
Riêng ở Việt Nam, mô hình – lâm ngư kết hợp được nhân dân ta áp dụng nhiều ở các vùng ngập mặn ven biển Đây là một mô hình khá phổ biến ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ như: Cà Mau, Kiên Giang, Bạc Liêu, Trà Vinh, Bến Tre, … Đặc biệt là ở tỉnh Cà Mau với tổng cộng trên 48000 ha, trong đó, diện tích mặt nước
Trang 21dành nuôi tôm khoảng 19000 ha (Sở Thủy Sản tỉnh Cà Mau, 2003), (trích dẫn bởi Trần Ngọc Hải và ctv, 2006), nguyên nhân chủ yếu là do có điều kiện tự nhiên thích hợp, đất ngập nước mặn khi triều cường và ngập nước ngọt trong mùa mưa Mục đích cơ bản là nuôi trồng thủy sản, nhưng để việc nuôi trồng thủy sản có năng suất cao và bền vững, phải kết hợp trồng cây đước nhằm: (1) Tạo nguồn thức ăn cần thiết cho các loài thủy sản (2) Giảm nhiệt độ nước lên quá cao trong mùa nắng (mùa hè) và nhiệt độ nước giảm quá thấp trong mùa đông Hạn chế hiện tượng nước
bị quá mặn trong mùa khô (sắc mặn) (3) Giảm độ đục của nước (4) Hạn chế quá trình phèn hóa
Với vai trò khá quan trọng về mặt kinh tế cũng như môi trường, mô hình đã được áp dụng rộng rãi và được sự quan tâm của các cấp, các nhà nghiên cứu như Cục Lâm nghiệp và Trung tâm Nghiên cứu Sinh thái – Môi trường; Thị trường Sinh thái (IMO); Mô hình quản lý tổng hợp Rừng – Tôm, Lâm Ngư trường Tam Giang
do Bộ Thuỷ Sản thực hiện; mô hình trồng rừng kết hợp nuôi tôm ở Lâm Ngư trường
184 (LNT 184) ở Cà Mau (nay là Công ty Lâm nghiệp 184); “Nghiên cứu của PGS.TS Bùi Thị Nga (Đại học Cần Thơ) đăng trên Tạp chí Hoạt động khoa học tháng 12/2011” nhằm khắc phục nhược điểm, đồng thời duy trì tính ổn định của mô hình (trích dẫn bởi Thanh Huyền, 2012); Ngoài ra mô hình còn là nội dung nghiên cứu cho nhiều báo cáo khoa học mà điển hình là luận án Tiến Sĩ của Lê Bá Toàn (Trưởng khoa Lâm nghiệp, Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh): “Nghiên cứu hệ thống canh tác kết hợp rừng đước với nuôi tôm quảng canh cải tiến tại huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau”
2.4 Khái quát về hệ thống lâm – ngư kết hợp tại địa bàn nghiên cứu
Xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú là một xã điển hình về rừng ngập mặn và các
mô hình rừng – tôm kết hợp Do có địa phận giáp biển và có diện tích rừng ngập mặn lớn nhất so với các xã khác trong huyện nên phần lớn người dân nơi đây sống bằng nghề nuôi trồng thủy sản mà đặc biệt là nuôi tôm kết hợp với rừng đước Từ
đó giúp cho việc nghiên cứu tại xã được thuận lợi và mang tính đại diện cao trong việc phản ánh tình hình chung của toàn huyện về mô hình rừng – tôm này
Trang 22Các thành phần cấu tạo nên các hình thức lâm – ngư kết hợp khá đa dạng và
có thể được đặc trưng bằng các đối tượng thủy sinh như: Hệ thống rừng – tôm, rừng – tôm – cá, rừng – tôm – cua, rừng – tôm – sò huyết, rừng – tôm – ốc len, trong khi các thành phần cây gỗ sai khác không đáng để Các mối quan hệ trong trường hợp này khá phức tạp, có lúc tương phản nhưng cũng có lúc lại hỗ trợ cho nhau Hiệu quả kinh tế là do cả rừng và thủy sản mang lại từ đó làm cho người dân có ý thức quản lý, bảo vệ và trồng rừng
Canh tác lâm – ngư kết hợp trên từng nông hộ còn gọi tắt là canh tác “vuông tôm” (vuông tôm là từ địa phương để chỉ mảnh đất rừng nơi mà người dân đã xẻ kênh cho nước vào để nuôi tôm bên trong) Đầu tiên người dân được giao khoán đất lâm nghiệp, sau đó tiến hành chặt hạ cây rừng theo từng băng, tiếp theo xẻ kênh mương làm thành một hệ thống dẫn nước vào để nuôi tôm Thường các vuông tôm được cung cấp nước từ một cửa thông với các con sông hoặc rạch gọi là “cống xổ” (ở đây người ta chỉ lắp một cống xổ), đây cũng là nơi 2 lần trong tháng (ngày 15 và
30 âm lịch) người dân tiến hành tháo nước ra xổ vuông và dùng lưới chặn ở miệng cống để thu hoạch tôm
Vuông tôm có nhiều hình thức xẻ kênh mương khác nhau: Xẻ kênh rộng hoặc hẹp khác nhau, xẻ kênh nhiều hay ít khác nhau, xẻ kênh theo phương hướng cũng khác nhau, … những yếu tố này tùy thuộc vào kinh nghiệm của mỗi hộ nhưng nhìn chung vuông tôm của mỗi hộ điều có một diện tích rừng và diện tích đất mặt nước
để nuôi thủy sản với một tỷ lệ nhất định theo quy định của Nhà nước
Trang 23Chương 3
MỤC TIÊU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu 1: Phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình tại địa phương
Mục tiêu 2: Lựa chọn các giải pháp cải thiện và phát triển mô hình hợp lý
3.2 Nội dung nghiên cứu
Mục tiêu 1 bao gồm nội dung nghiên cứu sau:
- Tính toán, đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình dựa vào phương pháp CBA Mục tiêu 2 bao gồm các nội dung nghiên cứu sau:
- Tìm hiểu sơ bộ thực trạng xã hội địa phương, sự chấp nhận của người dân đối với mô hình thông qua một số công cụ PRA
- Phân tích các ưu, nhược điểm của mô hình
- Đưa ra các giải pháp cải thiện và phát triển mô hình hợp lý dựa vào hiệu quả kinh tế đã phân tích và các thông tin sơ cấp thu thập được
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Ngoại nghiệp
Tham khảo các tài liệu trong và ngoài nước
Thu thập thông tin thứ cấp (có sẵn từ huyện, xã, ấp)
Thu thập thông tin sơ cấp:
- Phỏng vấn và lấy ý kiến của các chuyên gia, lãnh đạo và cán bộ kỹ thuật ở địa phương
Trang 24- Phương pháp điều tra và khảo xác thực địa (dùng bảng liệt kê các câu hỏi chủ chốt)
- Phương pháp thu thập thông tin từ cộng đồng địa phương (sử dụng công cụ PRA):
+ Số liệu liên hệ về thời gian:
Sơ lược lịch sử (cơ sở hạ tầng, kỹ thuật canh tác – công nghệ, sự bùng phát nạn dịch, thiên tai, thay đổi về hành chính tổ chức, sự kiện chính trị, …);
Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích thông tin
Phương pháp xử lý số liệu (toán kinh tế):
LNi: Là tổng lợi nhuận của năm i
Bi: Thu nhập của năm i
Ci: Chi phí của năm i
- Phương pháp CBA – Cost Benefit Analysis:
Phương pháp CBA – Cost Benefit Analysis là phương pháp so sánh giữa thu nhập (đầu ra) và chi phí cho đầu vào có tính giá trị đồng tiền theo thời gian
Các giá trị hiện tại thu nhập và chi phí theo Jonh Gunter được xác định bằng các công thức sau:
Trang 25+ Giá trị hiện tại của thu nhập:
Trong đó:
Bt: Giá trị thu nhập tại thời điểm t (t = 0,1,2,3, … n)
i: Tỷ lệ lãi của tiền vay ngân hàng ở thời điểm hiện tại hay tỷ lệ chiết khấu t: Thời gian đầu tư
n: Độ dài chu kỳ kinh doanh
+ Giá trị hiện tại của chi phí:
Trong đó:
Ct: Giá trị chi phí tại thời điểm t (t = 0,1,2,3, … n)
+ Giá trị hiện tại ròng NPV (Net Present Value)
Chỉ tiêu NPV cho phép đánh giá tính hiệu quả kinh tế của các dự án đầu tư kinh doanh tạo thu nhập như sau:
- Khi NPV > 0: Dự án có hiệu quả, phương án được chấp nhận
- Khi NPV < 0: Dự án không có hiệu quả
- Khi NPV = 0: Có nghĩa là dự án chỉ đạt mức lãi thông thường
Do vậy, dự án đầu tư có thể chấp nhận được khi NPV ≥ 0
+ Tỷ lệ thu nhập trên chi phí BCR (Benefit Cost Rate)
Sử dụng chỉ tiêu BCR trong đánh giá hiệu quả kinh tế của các dự án tạo thu nhập cho phép ta nhận định tổng quát về dự án như sau:
Trang 26BCR > 1: Dự án đầu tư có tổng thu nhập đã chiết khấu > tổng chi phí đã chiết khấu, phương án đầu tư có lãi và chấp nhận tốt
BCR < 1: Phương án đầu tư bị thua lỗ và không chấp nhận được, bởi vì tổng thu nhập đã chiết khấu nhỏ hơn tổng chi phí đã chiết khấu
BCR = 1: Tổng thu nhập đã chiết khấu bằng tổng chi phí đã chiết khấu, dự án
có lãi thông thường bằng lãi suất thanh toán
Như vậy, khi BCR ≥ 1, dự án đầu tư có thể được lựa chọn
Trang 27Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình rừng – tôm kết hợp
Diện tích đất canh tác rừng – tôm kết hợp của mỗi hộ được thể hiện trong bảng 4.1 Bình quân mỗi hộ áp dụng mô hình sở hữu 6,25 ha đất rừng – tôm
Bảng 4.1: Diện tích đất rừng – tôm kết hợp
4 Nguyễn Văn Cương 7
(Nguồn: Kết quả điều tra)
Số lao động chính của mỗi hộ được thể hiện trong bảng 4.2, số lao động bình quân/hộ là 2 người, tất cả các hộ đều sử dụng lao động gia đình, không thuê mướn, chỉ đổi công qua lại mỗi khi cần nhiều lực lượng Theo họ, mô hình rất dễ thực hiện, tôm tự sinh trưởng và phát triển trong môi trường tự nhiên nên không cần phải đầu nhiều thời gian, công sức
Trang 28Bảng 4.2: Số lao động chính của mỗi hộ
8 Nguyễn Văn Cương 2
(Nguồn: Kết quả điều tra)
Hiệu quả kinh tế của mô hình rừng – tôm kết hợp được thể hiện trong bảng 4.3
và bảng 4.4 Tỷ lệ chiết khấu được tính theo lãi suất cho vay của ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, huyện Thạnh Phú là 18 %/năm
Bảng 4.3: Đầu tư (ĐT) và doanh thu (DT) trên mỗi ha của 10 hộ sản xuất trong 5
năm (Đơn vị tính: Triệu đồng)
Tên hộ
ĐT /ha
DT /ha
ĐT /ha
DT /ha
ĐT /ha
DT /ha
ĐT /ha
DT /ha
ĐT /ha
DT /ha
Lê Văn Sạch 4,5 18,64 5,5 20,91 4,73 18,18 7,73 19,55 4,55 22,27 Bùi Văn Hiệp 3,5 15,83 4 18,33 6,83 18,33 3,58 16,67 3,33 20,83
Lê Văn Kiểng 3,5 15,71 4 17,14 3,71 16,43 7,29 17,86 3,57 20
Trang 29(Nguồn: Kết quả điều tra)
Bảng 4.3 cho thấy cả 10 hộ sản xuất đều có chi phí đầu tư/ha nhỏ hơn doanh thu/ha qua từng năm Điều đó đã phần nào phản ánh được hiệu quả đầu tư của mô hình
Bảng 4.4: Hiệu quả kinh tế của mô hình rừng – tôm kết hợp
(triệu/ha)
Doanh thu (triệu/ha)
Lợi nhuận (triệu/ha)
(Nguồn: Kết quả điều tra)
4.1.1 Chi phí đầu tư
Việc xác định chi phí đầu tư cho 1 ha rừng – tôm kết hợp nói chung là xác định chi phí xây dựng mô hình, chăm sóc, tu bổ qua các năm để mô hình được tồn tại lâu dài và cho hiệu quả cao
Để xác định được các chi phí đó căn cứ vào thông tin thu thập từ các hộ gia đình tại địa bàn thực tập được xem là điển hình, gắn bó lâu năm và thành công với
mô hình
Trang 30Tôm giống: Theo như kết quả điều tra, giá tôm giống dao động từ 20 – 30 đồng/con Phần lớn mua lại từ các hộ trong ấp, không qua kiểm dịch và kiểm tra tình trạng sức khỏe, sức sống
Chi phí thức ăn để thuần tôm trong nửa tháng đầu trước khi thả là một giá trị không cố định và không có quy luật chung, nó phụ thuộc vào số lượng tôm giống và điều kiện mỗi hộ muốn cho ăn ít hay nhiều
Chăm sóc: Không tốn kém chi phí cho thức ăn, thuốc thủy sản, trong chăm sóc, phòng và trị bệnh
Cơ sở hạ tầng thuận lợi cho việc đi lại, quản lý, khai thác vuông tôm Thương lái đến tận nơi để thu mua nên không cần phải tốn kém chi phí vận chuyển
Theo thông tin thu thập được từ các hộ sản xuất, cách 3 năm họ tiến hành nạo vét vuông tôm một lần, chi phí khoảng từ 3 – 4 triệu/ha
Như vậy: Theo bảng 4.4 thì chi phí đầu tư trung bình/ha của các hộ qua từng năm là: