BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH LÊ THANH NHÂN ĐIỀU TRA HỆ THỐNG CÂY THÂN GỖ KHU THỰC VẬT BÁN KHÔ HẠN VÀ NHÀ PHONG LAN, KHU THỰC VẬT RỪNG NHI
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
LÊ THANH NHÂN
ĐIỀU TRA HỆ THỐNG CÂY THÂN GỖ KHU THỰC VẬT BÁN KHÔ HẠN VÀ NHÀ PHONG LAN, KHU THỰC VẬT
RỪNG NHIỆT ĐỚI VÀ KHU VƯỜN ƯƠM
TẠI THẢO CẦM VIÊN THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH LÂM NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 6/2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHI MINH
LÊ THANH NHÂN
ĐIỀU TRA HỆ THỐNG CÂY THÂN GỖ KHU THỰC VẬT BÁN KHÔ HẠN VÀ NHÀ PHONG LAN, KHU THỰC VẬT
RỪNG NHIỆT ĐỚI VÀ KHU VƯỜN ƯƠM
TẠI THẢO CẦM VIÊN THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
Ngành: Lâm Nghiệp
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: Th.s TRƯƠNG MAI HỒNG
Thành phố Hồ Chí Minh,
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến:
Ban Giám Hiệu trường Đại học Nông Lâm cùng toàn thể quý thầy cô đã truyền đạt và trang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp cùng toàn thể thầy cô trong khoa đã tạo điều kiện tốt cho tôi hoàn thành đề tài
Tỏ lòng biết ơn cô Trương Mai Hồng, giảng viên khoa Lâm nghiệp, người trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện tốt khóa luận này
Gửi lời cảm ơn đến anh Trần Công Trường, Xí nghiệp thực vật, và ban lãnh đạo Thảo Cầm Viên Sài Gòn, thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giúp đỡ cũng như tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm các bạn đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường và thực hiện khóa luận
Cuối cùng, xin gữi lời cám ơn chân thành, lòng biết ơn sâu sắc đến những người thân trong gia đình đã hỗ trợ, động viên tôi trong quá trình học tập và thục hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn
Tp HCM,ngày…tháng 6 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Lê Thanh Nhân
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài: “Điều tra hệ thống cây thân gỗ khu thực vật bán khô hạn và nhà phong lan, khu thực vật rừng nhiệt đới và khu vườn ươm tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn TP.HCM từ tháng 2/2012 đến
số cây điều tra)
- Điều tra phân bố số cây theo cấp chiều cao vút ngọn (Hvn)
khu thực vật bán khô hạn và nhà phong lan : Tổng số cây thân gỗ là 35 cây Trong
đó cấp chiều cao H 1 có 4 cây thuộc 3 loài, 3 họ; cấp chiều cao H 2 15 cây thuộc 12 loài, 9 họ; cấp chiều cao H 3 xuất hiện 16 cây thuộc 14 loài, 10 họ
Khu thực vật rừng nhiệt đới : Tổng số cây thân gỗ là 811 cây Trong đó cấp chiều cao H 1 có 53 cây thuộc 29 loài, 20 họ; cấp chiều cao H 2 244 cây thuộc 117 loài, 44 họ; cấp chiều cao H 3 có 514 cây thuộc 146 loài, 45 họ
Khu vườn ươm : Tổng số cây thân gỗ là 92 cây Trong đó cấp chiều cao H 1 có 26 cây thuộc 16 loài, 14 họ; cấp chiều cao H 2 40 cây thuộc 23 loài, 17 họ; cấp chiều cao H 3
xuất hiện 26 cây thuộc 15 loài, 9 họ
- Điều tra phân bố số cây theo cấp đường kính tại vị trí 1,3 m (D 1,3 )
Khu thực vật bán khô hạn và nhà phong lan: Ở cấp đường kính D 1 có 13
cây, thuộc 12 loài, 9 họ; cấp đường kính D 2 có 15 cây, thuộc 12 loài, 7 họ; ở cấp
đường kính D 3 xuất hiện 7 cây, thuộc 7 loài, 7 họ
Khu thực vật rừng nhiệt đới: Ở cấp đường kính D 1 có 229 cây, thuộc 103 loài, 42 họ; ở cấp đường kính D 2 có 361 cây, thuộc 122 loài, 43 họ; ở cấp đường kính D 3 có 221
Trang 5Khu vườn ươm : Ở cấp đường kính D 1 có 58 cây, thuộc 23 loài, 19 họ;ở cấp đường kính D 2 có 24 cây, thuộc 17 loài, 10 họ; ở cấp đường kính D 3 xuất hiện 10 cây, thuộc 8
loài, 6 họ
- Tình hình sinh trưởng
- Danh sách các loài cây tại 3 khu vực nghiên cứu nằm trong Danh lục đỏ Việt Nam năm 2007 và Danh lục đỏ các loài bị đe dọa của IUCN (1994): gồm 11 loài thuộc trong 6 họ
Trang 6SUMMARY
The subject: "Investigation of the tree system at semi-arid vegetation zone
and orchid garden, tropical forest vegetation area and nursery garden at the Saigon zoo and botanical garden in Ho Chi Minh city" was carried out at the Saigon
zoo and botanical garden from February to June 2012
- The overview of trees at semi-arid vegetation zone and orchid garden, tropical forest vegetation area and nursery garden at the Saigon zoo and botanical garden The tree system in 3 areas investigated a total of 938 trees of 229 species and
55 families Most of the exotic species dominated in quantity (over 1% of trees surveyed)
- To investigate the distribution of tree according to the height levels at the tops of trees (Hvn)
Semi-arid vegetation zone and orchid garden: the total of tree in this area is
35 trees Among this the H1 height level has 4 tree of 3 species, 3 families; H2
height level has 15 trees of 12 species, 9 families; H3 height level appears 16 plants
of 14 species and 10 families
Tropical forest vegetation area: there are 811 trees H1 height level has 53 trees belonging to 29 species, 20 families; H2 height level has 244 trees of 117 species, 44 families; H3 height level accounts for 514 trees belonging to 146 species, 45 families
Nursery garden: had 92 trees H1 height level has 26 trees of 16 species, 14 families; H2 height level has 40 trees belonging to 23 species, 17 families; H3 height level appears 26 trees belonging to 15 species and 9 families
Trang 7Semi-arid vegetation zone and orchid garden: at diameter level D1 has 13 plants, belonging to 12 species, 9 families; at diameter level D2 has 15 plants, belonging to 12 species, 7 families; at diameter level D3 appears 7 trees of 7 species,
- The quality of trees
- The table of tree information
- Lists of plant species at three studied areas in the Vietnam Red List 2007 and Red List of threatened species by IUCN (1994): include 11 species of 7 families
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
SUMMARY v
DANH SÁCH CÁC BẢNG x
DANH SÁCH CÁC HÌNH xi
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT xi
Chương 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích của đề tài 2
1.3 Mục tiêu và giới hạn đề tài 2
1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3.2 Giới hạn của đề tài 3
Chương 2 : TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 4
2.1 Điều kiện tự nhiên thành phố Hồ Chí Minh 4
2.1.1 Vị trí, địa hình 4
2.1.2 Địa chất, thủy văn 5
2.1.3 Khí hậu, thời tiết 6
2.2 Sơ lược về Thảo Cầm Viên Sài Gòn 8
2.2.1 Lịch sử hình thành 8
2.2.2 Chức năng và nhiệm vụ của Thảo Cầm Viên 10
2.3 Một số kiểu phân loại cây xanh 11
2.3.1 Phân loại cây theo nhóm cây 11
2.3.2 Phân loại theo vị trí và chức năng của mảng xanh 14
2.4 Tổng quan về sách đỏ 15
2.4.1 Các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng của các loài đưa vào sách đỏ Việt Nam 15
2.4.2 Các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài đưa vào sách đỏ IUCN (The IUCN Red List of Threatened Animals) 16
Chương 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Nội dung 19
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 19
Trang 93.3 Đối tượng và thiết bị nghiên cứu 19
3.4.1Thu nhập thông tin thứ cấp từ ban quản lý thảo cầm viên 20
3.4.2.Ngoại nghiệp 20
3.4.3.Nội nghiệp 22
3.4.4 Phương pháp phân cấp các chỉ tiêu điều tra H vn , D 1,3 23
Chương 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 24
4.1 Bản đồ khu vực điều tra 24
4.2 Kết quả điều tra cây xanh tại khu vực điều tra 26
4.3 Kết quả điều tra khu thực vật bán khô hạn và nhà phong lan 33
4.3.1 Kết quả phân bố số cây theo cấp chiều cao vút ngọn (H vn ) 33
4.3.2 Kết quả phân bố số cây theo cấp đường kính tại vị trí 1,3 m (D 1,3 ) 35
4.3.3 Kết quả về tình trạng sinh trưởng 37
4.4 Kết quả điều tra khu khu thực vật rừng nhiệt đới 38
4.4.1 Kết quả phân bố số cây theo cấp chiều cao vút ngọn (H vn ) 38
4.4.2 Kết quả phân bố số cây theo cấp đường kính tại vị trí 1,3 m (D 1,3 ) 41
4.4.3 Kết quả về tình trạng sinh trưởng 43
4.5 Kết quả điều tra khu vườn ươm 44
4.5.1 Kết quả phân bố số cây theo cấp chiều cao vút ngọn (Hvn) 44
4.5.2 Kết quả phân bố số cây theo cấp đường kính tại vị trí 1,3 m (D 1,3 ) 47
4.5.3 Kết quả về tình trạng sinh trưởng 49
4.6 Kết quả độ tàn che của 3 khu điều tra 49
4.7 Một số loài cây được ghi trong Danh lục đỏ Việt Nam (2007) và Danh lục đỏ các loài bị đe dọa của IUCN (1994) 50
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52
5.1 Kết luận 52
5.2 Kiến nghị 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Phụ lục 1 1
Phụ lục 2 1
Bảng 2 1
Bảng 3 1
PHỤ LỤC
Trang 11DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Các loài xuất hiện ở từng khu vực điều tra 27
Bảng 4.2: Phân loại cây theo cấp chiều cao Hvn của tổng số cây điều tra khu thực vật bán khô hạn và nhà phong lan 33
Bảng 4.3: Các loài cây điều tra được ở cấp chiều cao H1 34
Bảng 4.4: Các loài cây điều tra được ở cấp chiều cao H2 34
Bảng 4.5: Các loài cây điều tra được ở cấp chiều cao H3 35
Bảng 4.6: Phân loại cây theo cấp chiều cao D1,3 của tổng số cây điều tra khu thực vật bán khô hạn và nhà phong lan 35
Bảng 4.7: Các loài cây điều tra được ở cấp đường kính D1 36
Bảng 4.8: Các loài cây điều tra được ở cấp đường kính D2 36
Bảng 4.9: Các loài cây cây điều tra được ở cấp đường kính D3 37
Bảng 4.10: Phân loại cây theo tình hình sinh trưởng 37
Bảng 4.11: Phân loại cây theo cấp chiều cao Hvn của tổng số cây điều tra khu thực vật rừng nhiệt đới 38
Bảng 4.12: Các loài cây chiếm số lượng trên 2% số lượng cây điều tra được ở cấp chiều cao H 1 38
Bảng 4.13: Các loài cây chiếm số lượng trên 2% số lượng cây điều tra được ở cấp chiều cao H 2 39
Bảng 4.14: Các loài cây chiếm số lượng trên 2% số lượng cây điều tra được ở cấp chiều cao H 3 40
Bảng 4.15: Phân loại cây theo cấp chiều cao D1,3 của tổng số cây điều tra khu thực vật rừng nhiệt đới 41
Bảng 4.16: Các loài cây chiếm số lượng trên 2% số lượng cây điều tra được ở cấp đường kính D 1 41
Bảng 4.17: Các loài cây chiếm số lượng trên 2% số lượng cây điều tra được ở cấp đường kính D 2 42
Bảng 4.18: Các loài cây chiếm số lượng trên 2% số lượng cây điều tra được ở cấp đường kính D 3 43
Bảng 4.19: Phân loại cây theo tình hình sinh trưởng 43
Bảng 4.20: Phân loại cây theo cấp chiều cao Hvn của tổng số cây điều tra khu vườn ươm 44 Bảng 4.21: Các loài cây điều tra được ở cấp chiều cao H1 44
Bảng 4.22: Các loài cây điều tra được ở cấp chiều cao H2 45
Bảng 4.23: Các loài cây điều tra được ở cấp chiều cao H3 46
Bảng 4.24: Phân loại cây theo cấp chiều cao D1,3 của tổng số cây điều tra khu vườn ươm 47 Bảng 4.25: Các loài cây điều tra được ở cấp đường kính D1 47
Bảng 4.26: Các loài cây điều tra được ở cấp đường kính D2 48
Bảng 4.27: Các loài cây điều tra được ở cấp đường kính D3 49
Trang 12DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1: Tượng ông Louis Adolphe Germain 9
Hình 3.2 Máy Vitex VI 20
Hình 3.2 thước dây 20
Hình 4.1 Bản đồ thảo cầm viên (Lê Quốc Cường, 2012) 24
Hình 4.2 Bản đồ hiện trạng khu III (Lê Quốc Cường, 2012) 25
Hình 4.3 Bản đồ hiện trạng khu IV (Lê Quốc Cường, 2012) 25
Hình 4.4 Bản đồ hiện trạng khu V (Lê Quốc Cường, 2012) 26
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
EN: Nguy cấp (viết tắt của Endangered)
IUCN: Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (viết tắt của International Union for Conservation of Nature and Natural Resources)
LR: Ít nguy cấp (viết tắt của Lower Risk )
VU: Sắp nguy cấp (viết tắt của Vulnerable)
Trang 13chống xói mòn, lũ lụt và là nguyên vật liệu phục vụ cho con người…
Ngày nay, đi đôi với sự phát triển của kinh tế là sự tăng lên về dân số, cơ sở vật chất, hạ tầng, các khu công nghiệp, đô thị mới Tuy nhiên, sự phát triển hạ tầng
chưa đi đôi với việc phát triển mảng xanh một cách toàn bộ ở các đô thị
Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục quan trọng của Việt Nam và giữ vai trò cực kì quan trọng trong nền kinh tế nước nhà Nhờ vào điều kiện thuận lợi, thành phố trở thành một đầu mối giao thông quan
trọng của Việt Nam và Đông Nam Á
Tuy nhiên, thành phố Hồ Chí Minh đang phải đối mặt với mặt trái của một
đô thị lớn có dân số phát triển quá nhanh trong khi quy hoạch của thành phố không theo kịp hay còn nhiều bất cập so với thực tế.Trong nội thành phố, đường xá trở nên quá tải, thường xuyên xảy ra ùn tắc vào các giờ cao điểm Đặc biệt, môi trường thành phố đang bị ô nhiễm nghiêm trọng do phương tiện giao thông, các công
trường xây dựng, công nghiệp sản xuất, rác thải, tiếng ồn
Chính vì lẽ đó nên phát triển hệ thống cây xanh đô thị là một trong những nhiệm vụ luôn được lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh quan tâm hàng đầu trong quá trình phát triển đô thị, đặc biệt là trong quá trình biến đổi khí hậu trên toàn cầu hiện
nay
Trang 14Thảo cầm viên Sài Gòn được xây dựng vào tháng 3 năm 1894 và hoàn thành vào đúng một năm sau đó với tổng diện tích khoảng 17 ha (Saigon Zoo Botanical
Gardens Guide Book,2003)
Thảo cầm viên Sài Gòn không chỉ là nơi vui chơi, giải trí và tham quan của
công chúng mà còn có vai trò trong các chức năng giáo dục, bảo tồn và nghiên cứu
Qua nhiều năm phát triển, thảo cầm viên không ngừng hoàn thiện mình bằng cách gia tăng số lượng các loài động thực vật quý hiếm thông qua việc trao đổi với các vườn động thực vật khác Quan hệ hợp tác quốc tế với các vườn động thực vật
và các tổ chức khoa học ngày một phát triển Chương trình trao đổi động vật với các vườn thú đã làm cho bộ sưu tập động vật của Thảo Cầm Viên Sài Gòn thêm phong
phú
Từ thực tiễn đó, dưới sự hướng dẫn của cô Trương Mai Hồng, em tiến hành thực hiện đề tài “ Điều tra hệ thống cây thân gỗ khu thực vật bán khô hạn và nhà phong lan, khu thực vật rừng nhiệt đới và khu vườn ươm tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn thành phố Hồ Chí Minh”
1.2 Mục đích của đề tài
Điều tra hệ thống cây thân gỗ nhằm cung cấp thông tin cho công tác quản lý
dữ liệu của Thảo Cầm Viên Sài Gòn, đồng thời tạo cơ sở để phát triển một Thảo Cầm Viên ngày càng đẹp hơn và đáp ứng tốt các nhu cầu tham quan, giải trí, giáo
dục, bảo tồn và nghiên cứu…
1.3 Mục tiêu và giới hạn đề tài
1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng cây thân gỗ ở Thảo Cầm Viên Sài Gòn theo chỉ tiêu
Hvn, Hdc, D1,3 , Dtán và tình hình sinh trưởng
-Lập danh sách số loài cây được ghi trong Danh lục đỏ Việt Nam (2007) và
Danh lục đỏ các loài bị đe dọa của IUCN (1994) đang có tại khu vực điều tra
Trang 151.3.2 Giới hạn của đề tài
Do hạn chế về thời gian và năng lực không cho phép nên đề tài tập trung điều tra và đánh giá hệ thống cây thân gỗ dựa vào các chỉ tiêu Hvn , Hdc, D1,3 , Dt, tình hình sinh trưởng
Địa điểm nghiên cứu : Đề tài chỉ thực hiện điều tra cây ở 3 khu vực: Khu thực vật bán khô hạn và nhà phong lan, khu thực vật rừng nhiệt đới và khu vườn ươm tại Thảo cầm viên thành phố Hồ Chí Minh
Trang 16Chương 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
2.1 Điều kiện tự nhiên thành phố Hồ Chí Minh
Thông tin ở phần này được trích dẫn từ website:
http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch
%C3%AD_Minh
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam
Bộ và Tây Nam Bộ Ngày nay, thành phố bao gồm 19 quận và 5 huyện với tổng diện tích 2.095,01km2 Theo kết quả điều tra dân số chính thức vào thời điểm 0 giờ ngày 1 tháng 4 năm 2009 thì dân số thành phố là 7.162.864 người (chiếm 8,34% dân số Việt Nam), mật độ trung bình 3.419 người/km2 Tuy nhiên nếu tính những người cư trú không đăng ký thì dân số thực tế thành phố vượt trên 8 triệu người Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 20,2% tổng sản phẩm và 27,9% giá trị sản xuất công nghiệp cuả cả nước Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam và Đông Nam Á, bao gồm cả đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường không Vào năm 2007, thành phố đón khoảng 3 triệu khách du lịch quốc tế, tức 70% lượng khách vào Việt Nam Các lĩnh vực giáo dục, truyền thông,
thể thao, giải trí Thành phố Hồ Chí Minh đều giữ vai trò quan trọng bậc nhất 2.1.1 Vị trí, địa hình
Thành phố Hồ Chí Minh có tọa độ 10010’-10038’ Bắc và 106022’-106054’Đông, phía bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang Nằm ở miền Nam Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1.730km theo đường chim bay Với vị trí tâm điểm của khu vực
Trang 17Đông Nam Á, Thành phố Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một
cửa ngõ quốc tế
Nằm trong cùng chuyển tiếp Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, địa hình thành phố thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây Vùng cao nằm ở phía Bắc –Đông Bắc và một phần Tây Bắc, trung bình từ 10 đến 25m Xen
kẽ có một số gò đồi, cao nhất lên đến 32m như đồi Long Bình ở quận 9 Ngược lại, vùng trũng nằm ở phía Tây-Tây Nam và Đông Nam thành phố, có độ cao trung bình trên dưới 1m, nơi thấp nhất 0,5m Các khu vực trung tâm, một phần các quận Thủ Đức, quận 2, toàn bộ huyện Hóc Môn và quận 12 có độ cao trung bình khoảng 5
đến 10m
2.1.2 Địa chất, thủy văn
Địa chất Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm chủ yếu là hai tướng trầm tích Pleistosen và Holocen lộ ra bề mặt Trầm tích Pleistosen chiếm hầu hết phần Bắc, Tây Bắc và Đông Bắc thành phố Dưới tác động của yếu tố tự nhiên và hoạt động của con người, trầm tích phù sa cổ hình thành nhóm đất đặc trưng riêng: đất xám Với hơn 5 nghìn ha, tức khoảng 23,4% diện tích thành phố, đất xám ở Thành phố
Hồ Chí Minh có ba loại: đất xám cao, đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng và hiếm hơn là đất xám gley Trầm tích Holocen ở Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều nguồn gốc: biển, vũng vịnh, sông biển, bãi bồi… hình thành nhiều loại đất khác nhau: nhóm đất phù sa biển với 15.100 ha, nhóm đất phèn với 40.800 ha và đất phèn mặn với 45.500 ha Ngoài ra còn có một diện tích khoảng hơn 400 ha là “giồng” cát gần
biển và đất feralite vàng nâu bị xói mòn trơ sỏi đá ở vùng đồi gò
Về thủy văn, nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai-Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh có hệ thống sông ngòi, kênh rạch rất đa dạng Sông Đồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên, hợp lưu bởi nhiều sông khác, có lưu vực lớn, khoảng 45.000km2 Với lưu lượng bình quân 20-500m3/s, hàng năm cung cấp 15 tỷ
m3 nước, sông Đồng Nai trở thành nguồn nước ngọt chính của thành phố Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Hớn Quản, chảy qua Thủ Dầu Một đến Thành phố Hồ Chí
Trang 18Minh, với chiều dài 200km và chảy dọc trên địa phận thành phố dài 80 km Sông Sài Gòn có lưu lượng trung bình vào khoảng 54 m3/s, bề rộng tại thành phố khoảng 225m đến 370m, độ sâu tới 20m Nhờ hệ thống kênh Rạch Chiếc, hai con sông Đồng Nai và Sài Gòn nối thông ở phần nội thành mở rộng Một con sông nữa của Thành phố Hồ Chí Minh là sông Nhà Bè, hình thành ở nơi hợp lưu hai sông Đồng Nai và Sài Gòn, chảy ra biển Đông bởi hai ngả chính là Soài Rạp và Gành Rái Trong đó ngả Gành Rái là đường thủy chính cho tàu ra vào bến cảng Sài Gòn Ngoài các con sông chính, Thành phố Hồ Chí Minh còn có hệ thống kênh rạch chằng chịt: Láng The, Bàu Nông,Rạch Tra, Bến Cát, An Hạ, Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Bến Nghé, Lò Gốm, Kênh Tẻ, Tàu Hủ, Kênh Đôi… Hệ thống sông, kênh rạch giúp Thành phố Hồ Chí Minh trong việc tưới tiêu, nhưng do chịu ảnh hưởng dao động triều bán nhật của biển Đông, thủy triều thâm nhập sâu đã gây nên những tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp và hạn chế tiêu thoát nước ở
khu vực nội thành
Nhờ trầm tích Pleistocen, khu vực phía bắc Thành phố Hồ Chí Minh có được lượng nước ngầm khá phong phú Nhưng về phía Nam, trên trầm tích Holocen, nước ngầm thường bị nhiễm phèn, nhiễm mặn Khu vực nội thành cũ có lượng nước ngầm đáng kể, tuy chất lượng không thực sự tốt, vẫn được khai thác chủ yếu ở 3 tầng:0-20m, 60-90m và 170-200m(tầng trầm tích Miocen) Tại quận 12, các huyện Hóc Môn và Củ Chi, chất lượng nước tốt trữ lượng dồi dào, thường được khai thác
ở tầng 60-90m, trở thành nguồn nước bổ sung quan trọng
2.1.3 Khí hậu, thời tiết
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo Có nhiệt độ cao đều trong năm và có hai mùa mưa-khô rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 05 đến tháng 11 và từ tháng 12 đến 04 năm sau là mùa khô Trung bình thành phố có tới 160 đến 270 giờ nắng trong một tháng, nhiệt độ trung bình là 270C, cao nhất là 400C, thấp nhất là 13,80C Lượng mưa trung bình đạt 1.949mm/năm, trong
đó năm 1908 đạt cao nhất 2.718mm, thấp nhất là năm 1958 với 1.392mm Một năm
ở thành phố có trung bình 159 ngày mưa tập trung nhiều nhất vào các tháng từ 5
Trang 19đến 11, chiếm khoảng 90%, đặc biệt hai tháng 6 và 9 Trên phạm vi không gian thành phố, lượng mưa phân bố không đều, khuynh hướng tăng theo truc Tây Nam-Đông Bắc Các quận nội thành và các huyện phía Bắc có lượng mưa cao hơn khu
vực còn lại
Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng của hai hương gió chính là gió mùa Tây-Tây Nam từ Ấn Độ Dương, tốc độ trung bình 3,6m/s, vào mùa mưa và gió mùa Bắc-Đông Bắc từ Biển Đông, tốc độ trung bình 2,4m/s, vào mùa khô Ngoài ra còn
có thêm gió tín phong theo hướng Nam-Đông Nam vào khoảng tháng 3 đến tháng 5, trung bình 3,7m/s Có thể nói Thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng không có gió bão Ðộ ẩm tương đối của không khí bình quân/năm 79,5%; bình quân mùa mưa
80% và trị số cao tuyệt đối tới 100%; bình quân mùa khô 74,5%
2.1.4 Môi trường
Với tốc độ gia tăng dân số nhanh, cơ sở hạ tầng chưa kịp quy hoạch nâng cấp tổng thể, ý thức của người dân lại quá kém trong nhận thức về bảo vệ môi trường chung… Vì vậy, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường quá lớn Hiện trạng nước thải không được xử lý đổ thẳng vào hệ thống sông ngòi còn rất phổ biến Nhiều cơ sở sản xuất, bệnh viện và cơ sở y tế chưa có hệ thống xử lý nước thải là một thực trạng đáng báo động Tại cụm công nghiệp Tham Lương, nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi chất thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000m2/ngày Sông Sài Gòn mức độ ô nhiễm vi sinh chủ yếu do hoạt động nuôi trồng thủy sản gây ra vượt tiêu chuẩn cho phép đến 220 lần Cho tới 2008 vẫn chưa có giải pháp cụ thể nào để chấm dứt tình trạng ô nhiễm
này
Lượng rác thải ở Thành phố Hồ Chí Minh lên tới 6.000 tấn/ngày, trong đó một phần lượng rác thải rắn không được thu gom hết Kết quả quan trắc năm 2007 cho thấy, so với năm 2006 sự ô nhiễm hữu cơ tăng gấp 2 đến 4 lần Các phương tiện giao thông, hoạt động xây dựng, sản xuất… còn góp phần gây ô nhiễm không khí Khu vực ngoại thành, đất cũng bị ô nhiễm do tồn đọng thuốc bảo vệ thực vật từ sản
xuất nông nghiệp gây nên
Trang 20Tình trạng ngập lụt trong trung tâm thành phố đang ở mức báo động cao, xảy
ra cả trong mùa khô Diện tích khu vực ngập lụt khoảng 140 km2 với 85% điểm ngập nước nằm ở khu vực trung tâm Thiệt hại do ngập nước gây ra ước tính 8 tỷ đồng mỗi năm Nguyên nhân là do hệ thống cống thoát nước được xây dựng cách đây 50 năm đã xuống cấp Ngoài ra, việc xây dựng các khu công nghiệp và đô thị ở khu vực phía Nam- khu vực thoát nước cuả thành phố này đã làm cho tình hình
ngập càng nghiêm trọng hơn
Theo thống kê mới nhất của Phòng Quản lý công viên- cây xanh, Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh, đến nay toàn bộ diện tích công viên, vườn hoa và cây xanh dải phân cách trên địa bàn thành phố chỉ còn khoảng 535 ha, giảm
gần 50% so với năm 1998
Trước đây, thành phố đề ra mục tiêu phát triển diện tích công viên cây xanh đến năm 2010 đạt bình quân khoảng 4-5m2/người, tuy nhiên con số thống kê sơ bộ mới nhất cho thấy chỉ tiêu này hiện chỉ đạt khoảng 0,7 m2/người
Trước những bức xúc về thực trạng môi trường, Thành phố Hồ Chí Minh đang khẩn trương tìm mọi cách nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân trên địa bàn Việc trích ra một nguồn vốn lớn nhiều tỷ đồng đầu tư xây dựng hồ sinh học
cải tạo nước kênh Ba Bò là một ví dụ
2.2 Sơ lược về Thảo Cầm Viên Sài Gòn
Nguồn: http://www.saigonzoo.net/news/detail/1/Gioi-thieu-Thao-Cam-Vien.htm
2.2.1 Lịch sử hình thành
Vốn là vùng đất hoang ở phía Đông Bắc kênh L’avanche(cầu Thị Nghè bây giờ) Ông Louis Adolphe Germain, một thú y sỹ của quân đội Pháp được giao nhiệm vụ mở mang khu vực Ông đã lập hàng loạt thiết kế quy họach cần thiết cho
một vườn thú tương lai
Trang 21
Hình 2.1: Tượng ông Louis Adolphe Germain
Công trình hoàn thành vào tháng 3 năm 1865 Nhận thấy tầm quan trọng của một vườn thú lớn ở Viễn Đông, toàn quyền Đông Dương đã mời ông JB.Louis Pierre, người phụ trách chăm sóc thực vật của vườn bách thảo Calcutta(Ấn Độ) sang làm giám đốc Ông Pierre được giao nhiệm vụ sưu tập các loài thực vật, động vật của Nam Kỳ và 3 nước Đông Dương để chuyển về Viện Bảo Tàng Lịch Sử
thiên nhiên Pari
Cuối năm 1865, vườn Bách Thảo được mở rộng thành 20 ha Là một nhà khoa học, ông đã giữ lại nhiều cây rừng tự nhiên, đồng thời du nhập một số cây đại mộc từ các lục địa khác và trồng thành công một số cây ăn trái thuộc khu vực Đông Nam Á, để từ đây cho ra những vườn cây ăn trái sung túc khắp miền Nam Ông làm giám đốc trong 12 năm và để lại cho chúng ta một di sản quý giá: bộ sưu tập hơn 100.000 tiêu bản hiện được lưu giữ tại bảo tàng thực vật thuộc Viện Sinh học Nhiệt đới thành phố Hồ Chí Minh và hàng ngàn cây cổ thụ trên các đường phố khu trung
tâm, vườn cây trong công viên Tao Đàn
Từ ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng(30/04/1975), Thảo Cầm Viên Sài Gòn tiếp đón hàng triệu du khách đến tham quan hàng năm, đã làm cho cơ sở hạ
Trang 22tầng dần dần bị xuống cấp Trước tình hình đó, từ năm 1984 Ủy Ban Nhân Dân Thành phố chủ trương cải tạo, nâng cấp Thảo Cầm Viên Sài Gòn với nhiều hạng mục công trình đã được xây dựng mới như: kè đá dọc kênh Thị Nghè, cải tạo hệ thống thoát nước và hệ thống dây điện trần, trải nhựa và bêtông đường nội bộ, xây dựng tường rào dọc đường Nguyễn Bỉnh Khiêm… Đặc biệt là từ năm 1990, nhiều chuồng thú được cải tạo và mở rộng cho phù hợp với đời sống của từng loài thú, đã nâng tổng diện tích của chuồng thú sau năm 1975 từ 8.500m2 đến năm 2000 là 25.000m2 Quan hệ hợp tác quốc tế với các vườn động thực vật và các tổ chức khoa học ngày một phát triển Chương trình trao đổi động vật với các vườn thú đã làm cho bộ sưu tập động vật của Thảo Cầm Viên Sài Gòn thêm phong phú Nhiều loại
động vật mới lạ xuất hiện tại Việt Nam như: hà mã (Hippopotamus amphibius), hà
mã lùn (Choeropsis liberiensis), báo Nam Mỹ (Panthera onca), đà điểu châu Phi (Struthio camelus), hồng hạc (Phoenicopterus ruper ruper), đười ươi (Pongo
pygmaeue), hươu cao cổ (Giraffa camelopardalis),…
Đến nay, ngoài những khu vực nuôi thú, trồng cây cảnh và sưu tập phong lan, Thảo Cầm Viên Sài Gòn còn có khu vui chơi, giải trí dành cho trẻ em và cho
người lớn…
Bên cạnh đó, Thảo Cầm Viên Sài Gòn có hai công trình kiến trúc đặc sắc mang dấu ấn lịch sử đó là: Đền thờ vua Hùng được xây dựng từ năm 1926 và Bảo tàng
Lịch sử Việt Nam - Thành phố Hồ Chí Minh mở cửa từ năm 1929
2.2.2 Chức năng và nhiệm vụ của Thảo Cầm Viên
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Thảo Cầm Viên là giáo dục công dân về việc bảo tồn sinh vật và môi trường Việc nuôi các loài động vật đặc hữu các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng tại Thảo Cầm Viên rất cần thiết cho việc bảo tồn cũng như mục tiêu giải trí và giáo dục Việc giới thiệu cho công chúng, sinh viên, học sinh các loài động vật đặc hữu hay các loài động vật đang bị đe dọa tuyệt chủng
có một ý nghĩa rất lớn qua đó Thảo Cầm Viên có thể thực hiện được chức năng giáo
dục, phổ biến các kiến thức về bảo tồn đối với mọi người
Trang 232.3 Một số kiểu phân loại cây xanh
Theo Trương Mai Hồng(2007) thì có nhiều cách phân lọai cây đô thị như sau:
2.3.1 Phân loại cây theo nhóm cây
2.3.1.1 Phân lọai nhóm cây theo giá trị sử dụng
Cây bóng mát
Cây bóng mát là nhũng cây có thân gỗ lớn, lá thường xanh hay rụng Chúng
có chiều cao từ 5- 50m, sống lâu 30-40 năm Có loài sống hàng nghìn năm Cây bóng mát có nhiều loại, thường được trồng ở đường phố, khu nhà ở, công sở trường học, vườn hoa… Trong cây bóng mát có thể chia ra các loại: cây bóng mát thường,
cây bóng mát có hoa đẹp, ăn quả, hay có hoa thơm
Cây bóng mát thường: gồm những cây thân gỗ lớn thuộc loài lá kim, hoặc lá rộng thường xanh hay rụng lá trơ cành Nhiều loài cho bóng râm tốt lại có dáng đẹp, chúng thường được trồng đơn, trồng thành khóm hay từng mảng phối hợp rất đẹp với các công trình kiến trúc đường phố, nhà ở… như thông, lát hoa, đài loan
tương tư, bàng, tếch
Cây bóng mát có hoa đẹp: Gồm những cây thân gỗ lớn hay nhỡ, cho bóng mát nhưng lại có hoa đẹp Hoa có tác dụng trang trí ở tầng cao Chúng thường được trồng làm điểm cảnh, phối hợp đẹp với các công trình kiến trúc Các cây như
móng bò tím, vàng anh, phượng, lim xẹt…
Cây bóng mát ăn quả: Gồm những cây thân gỗ lớn hay nhỡ cho bóng mát, đồng thời cho quả Có những loài quả khi chín tạo khối trên tán lá có màu sắc hay những hình dạng độc đáo và tồn tại trong thời gian dài rất đẹp như cuỗm, dừa,
hồng xiêm, khế, nhãn, vải…
Cây bóng mát có hoa thơm: Là những cây có hoa thơm gây cảm giác
dễ chịu Thường được trồng bên những công trình kiến trúc như nhà ở, công sở, trường học, bệnh viện, khu triển lãm, đình chùa… như bưởi, sữa, hòe, ngọc lan,
hoàng lan…
Cây trang trí
Trang 24Cây trang trí là những cây thân gỗ nhỏ mọc bụi, hay riêng lẽ, cây leo giàn và cây thân thảo Chúng thường được trồng làm cảnh để trang trí tầng thấp, trồng trong
chậu trưng bày trong nhà, trồng giàn leo Nhóm cây này thường gồm các loại:
Tre trúc: Là những cây chỉ có một thân chính, mọc đơn lẽ hay thành bụi Cây cao từ 1-2m, đến 15-20m Loài tre trúc có thân đẹp, ngọn uốn cong mềm mại đặc biệt tre trúc mang đậm sắc thái đân tộc Được trồng nhiều ở các biệt thự,
nhà hàng, vườn hoa
Cau dừa: Gồm những cây thường có độ cao từ 5-10m và 15-20m Thân cột đứng thẳng và hài hòa với công trình kiến trúc, tán lá thoáng mềm mại như cau dừa, cọ Là những loài mang sắc thái khí hậu nhiệt đới Có nhiều loài còn cho
quả dùng làm thực phẩm, thuốc, chế biến dầu
Cây cảnh dáng đẹp: Gồm những cây thân gỗ nhỏ mọc đơn hay mọc bụi Có dáng cây, lá, hoa với màu sắc đẹp Thường trồng trang trí ở tầng thấp, có ưu điểm trồng được lâu không phải thay thường xuyên như các cây hoa
Cây cảnh hoa đẹp: Gồm những cây thân gỗ nhỏ mọc đơn hay mọc bụi
có hoa Hoa nhiều màu sắc có thể trồng đơn lẻ hay trồng thành khóm, mảng hay
trong chậu
Cây leo giàn: Gồm những cây leo có thân lá, hoa đẹp có tác dụng trang trí và tạo bóng râm Tùy thuộc công trình kiến trúc mà chọn loài thích hợp: tạo
bóng râm, che tường, trang trí cổng, cột…
Cây cảnh có quả đẹp: những cây này quả có hình dáng hay màu sắc
đẹp
Cây hàng rào: Gồm những cây thân gỗ, bụi, nhiều cành nhánh Cây có mật độ lá dày, xanh quanh năm, sống lâu, đặc biệt nhiều thân, cành hay lá có gai
Trồng thay thế cho các bức tường xây bao vừa tiện lợi, rẻ, mát
Cây viền bồn, bãi: Gồm những cây thân gỗ nhỏ hoặc thân thảo, sống một năm hoặc nhiều năm, cây có nhiều cành nhánh, chịu cắt xén, hoặc có màu lá,
hoa đẹp làm đường viền cho các bồn hoa
Trang 25 Cây hoa: Gồm những cây thân thảo hoặc thân gỗ có độ cao dưới 1m, sống theo mùa trong năm hoặc 2-3 năm Thường được trồng trong các bồn hoa, bãi,
trong chậu
Nhóm cỏ
Cỏ là mảng màu trang trí tầng thấp Cỏ có chức năng làm nền cho đất xanh,
có tác dụng tạo nên một không gian rộng lớn hơn thực tế, tạo nên cảm giác yên tĩnh Mặt khác cỏ còn có tác dụng rõ rệt để chống xói mòn đất, giữ ẩm, lắng lọc bụi bặm
Ở nước ta hiện nay trồng phổ biến các loại cỏ gà, cỏ lá tre, cỏ gừng, một số loại được nhập về trồng tại các sân thể thao Mặt khác, trồng cỏ cũng tham gia vào việc giữ nhiệt độ tới 30C giữa nơi có trồng cỏ và đất trống
2.3.1.2 Phân loại nhóm cây theo độ cao cây
Độ cao cây có ảnh hưởng đến sự tổ chức phối cảnh Phân loại theo chiều cao cây từ các tài liệu thực vật học (chiều cao tự nhiên trong điều kiện bình thường) kết hợp chiều cao tại nơi nghiên cứu chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác có thể gây ức chế như độ sâu tầng đất, mực nước ngầm, ánh sáng, tác động nhiệt do bêtông hóa xung quanh… trên cơ sở đó nhằm xác định chiều cao trung bình của cây để phối
hợp trồng cây tại khu vực đó hay kết hợp hài hòa với kiến trúc tại đó
2.3.1.3 Phân loại nhóm cây theo hình dạng tán cây
Cây sinh trưởng phát triển tự nhiên thường có hình dạng tán cây nhất định như tán hình tròn, hình nấm, hình tháp, rủ, phân tầng, có loài lại phát triển theo kiểu
tự do
Ngoài ra hình dạng tán cây còn thay đổi do điều kiện ánh sáng, cây tán đều
hay lệch do ánh sáng phân phối đều hay không
2.3.1.4 Phân loại nhóm cây theo lá cây
Phân theo cây lá kim (thường tán thưa), lá rộng (thường cho nhiều bóng rợp),
lá xanh quanh năm hay rụng lá Phân theo màu sắc lá xanh sẫm, xanh nhạt, biến đổi
màu sắc lá theo thời gian
Trang 262.3.1.5 Phân loại nhóm cây theo sắc hoa
Nhiều cây có bóng mát và trang trí có lá và hoa với nhiều màu đỏ, vàng, trắng, tím hay hỗn hợp nhiều màu Đây cũng là đặc điểm rất được chú ý trong phối
cảnh
2.3.2 Phân loại theo vị trí và chức năng của mảng xanh
Gồm có 3 nhóm chính (theo quy chuẩn Việt Nam)
+ Nhóm 1: cây xanh sử dụng công cộng gồm: công viên, vườn hoa, vườn dạo
+ Nhóm 2: cây xanh sử dụng hạn chế gồm: cây xanh trong các khu chức năng
đô thị như khu ở, công nghiệp, kho tàng, hành chính, trường học, y tế, văn hóa,
thương mại dịch vụ…
+ Nhóm 3: cây xanh chuyên môn gồm cây xanh cách ly, rừng phòng hộ, khu
cây xanh nghiên cứu thực vật học, vườn ươm…
2.3.2.1 Cây xanh công cộng
Là cây xanh được trồng nhằm mục đích cho nhu cầu chung của xã hội, những khu vực này thuộc phạm vi quản lý của các cơ quan quản lý cây xanh và
công viên bao gồm cây đường phố, cây công viên, lâm viên
Tại thành phố Hồ Chí Minh tính đến năm 2005, theo thống kê của Viện Quy hoạch Xây dựng Công ty Công viên thì thành phần và diện tích cây xanh công cộng
như sau:
+ Cây xanh công viên, vườn hoa, vườn dạo có diện tích 1.780,17 ha
+ Cây xanh đường phố có khoảng 66.000 cây xanh trong đó khu vực nội thành
có các loài gồm lim xẹt, dầu con rái, viết, bằng lăng, me chua, me tây, sao đen,
phượng vĩ, sọ khỉ…
2.3.2.2 Cây xanh sử dụng hạn chế
Cây xanh phục vụ hạn chế cho các khu công nghiệp, kho tàng, trường học, công trình y tế, khu thể dục, thể thao, văn hóa, thông tin, tôn giáo… cây ở các hộ dân cư chủng loài phong phú(cây bóng mát, cây cảnh, cây ăn trái), tuy nhiên số cây xanh này không tham gia trong thống kê quỹ cây xanh công cộng, nhưng chúng
Trang 27đóng góp bảo vệ môi trường tại chỗ Ở thành phố Hồ Chí Minh, số cây này chiếm
khoảng 699,48 ha(không bao gồm phần cây hộ dân cư)
2.3.2.3 Cây xanh chuyên môn
Là cây xanh tổ chức theo nhu cầu riêng như sử dụng cho mục đích nghiên cứu khoa học (thành phố Hồ Chí Minh chưa có hiện đang sử dụng tại Thảo Cầm Viên), vườn thực vật, vườn ươm, khu cây xanh cách ly(nghĩa trang, khu xử lý nước
thải, các dải phân cách khu công nghiệp và khu dân cư)
Rừng đô thị: rừng nghỉ ngơi, rừng phòng hộ, khu du lịch sinh thái
2.3.2.4 Cây xanh khác
Bao gồm các loài cây xanh do người dân trồng ở các biệt thự, sân nhà, chùa,
cơ quan, trường học… cây trồng ven kênh rạch, trồng phân tán, cây ăn trái
động khai thác, sử dụng tài nguyên sinh vật ở mỗi nước
Vì vậy việc công bố Sách đỏ có tác dụng hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo
vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên ở mỗi quốc gia Đây cũng là tài liệu khoa học được sử dụng vào việc soạn thảo và ban hành các qui định, luật pháp của nhà nước
về bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên, tính đa dạng sinh học và môi trường sinh
thái
2.4.1 Các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng của các loài đưa vào sách đỏ Việt Nam
(Các tiêu chuẩn do tổ chức quốc tế về bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên
IUCN đề xuất)
Trang 28Các cấp đánh giá chính:
ENDANGERED (E) Đang nguy cấp(đang bị đe dọa tuyệt chủng): Là những
loài đang bị đe dọa tuyệt chủng và không chắc còn có thể tồn tại nếu các nhân tố đe dọa cứ tiếp diễn Gồm những loài có số lượng giảm đến mức báo động ở trong điều
kiện sống bị suy thoái mạnh mẽ đến mức có thể bị tuyệt chủng
VULNERABLE (V) Sẽ nguy cấp (có thể bị đe dọa tuyệt chủng): Là những
loài sắp bị đe dọa tuyệt chủng (trong tương lai gần) nếu các nhân tố đe dọa cứ tiếp diễn Gồm những loài mà phần lớn hoặc tất cả các quần thể của nó đã bị giảm vì khai thác quá mức, vì nơi sống bị phá hoại mạnh mẽ hoặc do các biến động khác của môi trường sống Cũng gồm những loài tuy số lượng còn khá nhưng vì chúng
có giá trị kinh tế lớn nên việc tìm bắt, khai thác được tiến hành thường xuyên ở mọi
nơi, dễ đưa tới bị đe dọa
RARE (R) Hiếm (có thể có nguy cấp): Gồm những loài có phân bổ hẹp(nhất
là những chi đơn loài) có số lượng ít, tuy hiện tại chưa phải là đối tượng đang hoặc
sẽ bị đe dọa, nhưng sự tồn tại lâu dài của chúng mỏng manh
INSUFFCIENTLY KNOWN (K) Biết không chính xác: Là những loài nghi
ngờ và không biết chắc chắn chúng thuộc loại nào trong các cấp trên vì thiếu thông tin Các loài nêu trong cấp này để hy vọng chờ các tác giả xác định mức cụ thể của
Trang 29các loài có nguy cơ tuyệt chủng và các danh mục xếp mục đe dọa của loài Sự xếp bậc này căn cứ vào các dữ liệu về phân loại học (Taxonomy), tình trạng quần thể (Population status), xu hướng quần thể (Population trends), sự phân bố (Distribution), tình trạng sinh cảnh (Habitat availability), xu hướng địa lý (Geographic trends) và các mối đe dọa (Threats) và tham khảo ý kiến của các chuyên gia phân loại học, các chuyên gia về các họ động vật riêng biệt của IUCN và của các nhà khoa học các nước Sự sắp xếp này cũng xem xét tình hình pháp luật
liên quan của các nước có loài trên phân bố
Trong khi điều tra xác định tình trạng loài, IUCN luôn xem xét lại các thông tin cũ, cập nhật 2 năm một lần và phổ biến rộng rãi IUCN còn nghiên cứu để sửa nội dung và nguyên tắc xác định tình trạng các loài để đáp ứng những đòi hỏi mới Năm 1994, IUCN đã sử dụng một số nguyên tắc mới để xác định tình trạng các loài
bị đe dọa Năm 1996, danh mục mới được bổ sung những chi tiết cụ thể về tình
trạng các loài và phân chia theo các cấp độ sau:
EXTINCT (EX) Tuyệt chủng: Một loài hoặc phân loài bị coi là tuyệt chủng khi có những bằng chứng chắc chắn rằng cá thể cuối cùng đã chết
EXTINCT IN THE WILD (EW) Tuyệt chủng trong tự nhiên: Một loài
hoặc phân loài bị coi là tuyệt chủng trong tự nhiên khi các cuộc khảo sát kỹ lưỡng ở sinh cảnh đã biết và hoặc sinh cảnh mong muốn, vào những thời gian thích hợp (theo ngày, mùa, năm) xuyên suốt vùng phân bố lịch sử của chúng đều không ghi nhận được cá thể nào Các khảo sát nên vượt khung thời gian thích hợp cho vòng
sống và dạng sống của đơn vị phân loại đó
CRITICAL ENDANGERED (CE) Cực kỳ nguy cấp: Một loài hoặc phân
loài được gọi là cực kỳ nguy cấp khi nó phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong
tự nhiên rất cao trong một tương lai rất gần
ENDANGERED (EN) Nguy cấp: Một loài hoặc phân loài bị coi là nguy cấp
khi nó phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên rất cao trong một tương
lai rất gần nhưng kém hơn mức Cực kỳ nguy cấp
Trang 30VULNERABLE (V) Sắp nguy cấp: Một loài hoặc phân loài bị đánh giá là
Sắp nguy cấp khi nó không nằm trong 2 bậc CR và EN nhưng phải đối mặt với
nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên cao trong một tương lai không xa
Cả 3 loại CR, EN, VU đều có thể gọi chung là những loài hoặc phân loài bị
đe dọa và có nguy cơ thuyệt chủng trong tự nhiên cao
LOWER RISK (LR) Ít nguy cấp: Một loài hoặc phân loài bị đánh giá là ít
nguy cấp khi tình trạng của nó không thỏa mãn những tiêu chuẩn của bất cứ bậc nào
trong những bậc trên
DATA DEFICIENT (DD) Thiếu dữ liệu: Một đơn vị phân loại là Thiếu dữ
liệu khi không có thông tin thích hợp để đánh giá trực tiếp hoặc gián tiếp nguy cơ tuyệt chủng của nó dựa trên sự phân bố hoặc tình trạng quần thể của chúng Một đơn vị phân loài trong hạn mục này có thể được nghiên cứu kỹ, sinh học của nó được biết rõ nhưng thiếu các dữ liệu về độ phong phú hoặc sự phân bố của chúng
Do đó Thiếu dữ liệu không phải là hạng mục Bị đe dọa hay Ít nguy cấp Việc lập danh sách của các đơn vị phân loài trong hạng mục này chỉ ra rằng cần phải thu nhập thêm thông tin và thừa nhận khả năng là nghiên cứu trong tương lai sẽ cho thấy việc phân cấp đe dọa là thích hợp Điều quan trọng là cần sử dụng tích cực bất
cứ dữ liệu nào có sẵn Trong nhiều trường hợp phải rất cẩn thận khi lựa chọn tình trạng Thiếu dữ liệu (DD) và Bị đe dọa Nếu vùng phân bố của một đơn vị phân loại
bị nghi là tương đối hạn chế, nếu một khoảng thời gian đáng kể đã trôi qua kể từ lần
ghi nhận cuối cùng của đơn vị phân loại này, thì nên xếp vào tình trạng Bị đe dọa NOT EVALUATED (NE) không được đánh giá: Một đơn vị phân loại được coi là không được đánh giá khi nó chưa được đánh giá dựa trên tiêu chuẩn đề ra
Trang 31Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Nội dung
Đề tài đã thực hiện những nội dung sau:
- Khảo sát hiện trạng cây xanh ở khu vực điều tra theo phiếu điều tra
- Tổng hợp, xử lý số liệu thu thập được theo:
+ Phân bố cây theo cấp chiều cao (Hvn), tỉ lệ % của một số loài chiếm ưu thế trong từng cấp chiều cao
+ Phân bố cây theo cấp đường kính (D1,3), tỉ lệ % của một số loài chiếm
ưu thế trong từng cấp đường kính
+ Đánh giá tình hình sinh trưởng của cây tại khu vực điều tra theo Dtán
và bảng ghi chú
- Lập bảng thông tin các chỉ tiêu của cây tại khu vực điều tra
- Xây dựng danh lục các loài cây cần được bảo tồn của thảo cầm viên dựa trên tài liệu Danh lục đỏ Việt Nam (2007) và Danh lục đỏ các loài bị đe dọa của
IUCN (1994)
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Từ tháng 2/2012 đến 5/2012 tại Thảo cầm viên Sài Gòn – thành phố Hồ Chí
Minh
3.3 Đối tượng và thiết bị nghiên cứu
Các cây gỗ có chiều cao vút ngọn (Hvn) > 1,5m đang sinh trưởng trong thảo cầm viên được mã hóa bằng số Vì vậy kết quả đề tài sẽ lấy mã số này để xây dựng bảng thông tin cây xanh trên các chỉ tiêu: (Hvn), (Hdc), (D1,3), (Dtán) tình hình sinh
trưởng
Thiết bị nghiên cứu gồm : Máy đo cao Vitex VI, thước dây, gim, mia, la bàn,
phấn
Trang 32
Hình 3.1 máy Vitex VI Hình 3.2 thước dây
3.4.Phương pháp nghiên cứu
Tên cây Việt Nam, tên Latinh, họ được định danh theo Phạm Hoàng Hộ (2003), Danh lục sách đỏ Việt Nam (2007) và bảng báo cáo kiểm kê cây xanh
(2008) Thảo Cầm Viên Sài Gòn
Các phương pháp đo các chỉ tiêu điều tra dựa trên tài liệu Điều tra rừng của
Giang Văn Thắng (2002)
3.4.1Thu nhập thông tin thứ cấp từ ban quản lý thảo cầm viên
Bao gồm các tài liệu:
- Bản đồ thảo cầm viên 2012 được Lê Quốc Cường cung cấp
- Bảng báo cáo kiểm kê cây xanh (2008) Thảo cầm viên sài gòn ,anh Trần
Công Trường cung cấp
- Saigon Zoo Botanical Gardens, nhà xuất bản văn nghệ TP.HCM, 2003, anh
Trần Công Trường cung cấp
3.4.2.Ngoại nghiệp
Điều tra cây thân gỗ theo các chỉ tiêu: chiều cao vút ngọn (Hvn), chiều cao dưới cành (Hdc), đường kính ngang ngực (D1,3), đường kính tán cây theo hướng
đông tây nam bắc, điều tra không thống kê cây bụi và thảm cỏ
Chiều cao vút ngọn (Hvn): dùng máy đo cao độ chính xác 0,05m Vitex VI,
thước dây 25m, viên phấn, gim nhỏ
Cách tiến hành
Trang 33Chọn hướng bắn
Cắm mia cạnh thân cây cần đo chiều cao sao cho phù hợp với hướng ngắm bắn Kéo mia để “hồng tâm” của mia đạt độ cao 1,3m (trên mia có thước đo) Dùng gim cố định đầu móc của thước dây vào thân cây và di chuyển trên hướng ngắm bắn
để chọn vị trí ngắm bắn
Vừa di chuyển vừa tiến hành căng dây và giữ cho dây song song với mặt đất
để đo khoảng cách từ thân cây đến vị trí ngắm bắn Sau khi chọn được vị trí ngắm bắn và đo được khoảng cách từ thân cây đến vị trí ngắm bắn bắt dầu tiến hành thao
tác trên máy để đo
Mở máy và chỉnh khoảng cách từ vị trí ngắm bắn đến thân cây vào máy (để đơn vị đo là “m”) Nhắm vào “hồng tâm” của mia Bấm và giữ nút “stars” cho đến khi nghe tiếng “bíp” và xuất hiện chấm đỏ nhấp nháy rồi thả ra được L1 Đưa máy lên cao sao cho chấm đỏ trùng với đỉnh sinh trưởng, bấm và giữ nút “stars” cho đến
khi nghe tiếng tiếng bíp rồi thả ra được L2
L2
Khi đó Hdc =L2 –L1 +1,3(m)
Đường kính tán (Dtán): Tiến hành xác định đường kính tán bằng thước dây 25m, la bàn, cây gim nhỏ, viên phấn trắng Đo đường kính tán theo 4 hướng: Đông,
Trang 34tây, nam, bắc Dùng la bàn xác định phương hướng để đo Bắt đầu đo từ hướng đông: dùng gim cố định đầu móc của thước dây lên thân cây rồi kéo đến mép tán của hướng đông, giữ cho dây đo song song với mặt đất rồi xác định độ rộng của tán Nếu tán rộng hơn 25m thì dùng phấn đánh dấu vị trí 25m rồi cuộn dây lại tiếp tục
đo tiếp Lặp lại đối với các hướng còn lại
Chu vi thân cây tại vị trí 1,3 (D1,3): Tiến hành xác định chu vi thân bằng thước dây 25m, thước cây 1,3m, viên phấn trắng và cây gim nhỏ Dặt thước cây đứng trên mặt đất và song song với trục dọc của thân cây Xác định vị trí của D1,3 và đánh dấu bằng phấn trắng Dùng gim cố định đầu móc của thước dây tại vị trí D1,3
đã được dánh dấu bằng phấn trắng, sau đó vòng dây quanh thân sao cho tạo thành một vòng tròn có mặt phẳng đi qua vòng tròn này song song với mặt đất Xác định
và ghi chép số liệu đo được vào phiếu điều tra
3.4.3.Nội nghiệp
Nhập số liệu vào máy tính, xử lý và tính toán bằng phần mềm excel
Xây dựng bảng thông tin các chỉ tiêu của cây trong khu vực điều tra nhằm
Trang 35Phần trăm diện tích che phủ = (tổng diện tán/tổng diện tích ô mẫu) * 100%
Diện tích tán: S tán = [[(a+b)/2]2] * 0,7854
Trong đó S tán: Diện tích tán (m2); 0,7854: Π/4
a: Đường kính tán theo hướng Nam – Bắc (m)
b: Đường kính tán theo hướng Đông – Tây (m)
Đánh giá tình hình sinh trưởng của các cây đã điều tra theo phân loại của
Thảo Cầm Viên ra 3 mức A, B, C trong đó:
A: sinh trưởng phát triển bình thường, thân và tán cân đối, không sâu bệnh,
thân không cong
B: sinh trưởng phát triển bình thường, thân và tán không cân đối, không sâu
bệnh, thân không cong
C: sinh trưởng phát triển kém, thân và tán ốm không cân đối, bị sâu bệnh,
đỉnh sinh trưởng phát triển kém hoặc không còn
Định danh cây theo tài liệu Phạm Hoàng Hộ năm (2003), Danh lục sách đỏ
Việt Nam (2007)
Xác định công dụng của các cây căn cứ vào hệ thống phân loại hệ thống cây
xanh trong đô thị của Trương Mai Hồng (2007)
3.4.4 Phương pháp phân cấp các chỉ tiêu điều tra H vn , D 1,3
Dựa theo tài liệu của Trương Mai Hồng, 2007
Đối với Hvn, được chia làm 3 cấp:
Trang 36Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 4.1 Bản đồ khu vực điều tra
Hình 4.1 Bản đồ thảo cầm viên (Lê Quốc Cường, 2012) -Khu III : Khu thực vật bán khô hạn và nhà phong lan
Khu III có diện tích là: 5483,8 m2
-Khu IV : Khu thực vật rừng nhiệt đới
Khu 4 có diện tích là: 73177,8 m2
-Khu V : Khu vườn ươm
Khu V có diện tích là: 4273,9 m2
Trang 38
Hình 4.4 Bản đồ hiện trạng khu V (Lê Quốc Cường, 2012)
4.2 Kết quả điều tra cây xanh tại khu vực điều tra
Trong 3 khu vực điều tra theo cung cấp của thảo cầm viên thì có 964 cây (cây có mã số) , nhưng qua kết quả điều tra có 26 cây đã bị chết Hiện tại trong 3 khu vực điều tra có 938 cây thân gỗ (Hvn>1,5 m) của 229 loài, thu ộc 55 họ. (Bảng 4.1)
Nhận xét: Từ kết quả thu được cho thấy thành phần cây thân gỗ trong 3 khu vực điều tra là rất phong phú với 299 loài Một số loài như dầu con rái, điệp phượng, sọ khỉ,duối nhám, cau bụng, thông ba lá có số lượng cây tương đối nhiều, chiếm trên 2,5% tổng số cây (riêng mỗi loài) nhưng hầu hết không phải là cây bản
địa
Bảng mã số cây, số liệu đo, thuộc từng khu điều tra được thể hiện cụ thể ở
bảng 1 phụ lục 2
Về tình hình sinh trưởng của các cây trong khu điều tra có: 883 cây đạt loại
A, chiếm 94,14% trên tổng số cây điều tra Loại B có 46 cây , chiếm 4,90% trên tổng số cây điều tra Loại C có 9 cây , chiếm 0,96% trên tổng số cây điều tra
Trang 39Bảng 4.1 Các loài xuất hiện ở từng khu vực điều tra
Trang 4038 Chập choại Beilschmiedia roxburghiana Nees Lauraceae 9 0,96 IV