1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌM HIỂU VIỆC SỬ DỤNG CÂY THUỐC VÀ CÁC LOẠI RAU TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI CIL TẠI XÃ ĐẠ NHIM, HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

132 151 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 2,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các mục tiêu của đề tài là: - Liệt kê được danh sách những cây thuốc và cây rau rừng truyền thống mà người dân tộc Cil đã sử dụng trong quá khứ và hiện tại.. - Xác định được danh sách nh

Trang 1

‐‐‐‐‐‐ 

     

LÊ HOÀI MINH 

   

TÌM HIỂU VIỆC SỬ DỤNG CÂY THUỐC VÀ CÁC LOẠI RAU  TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI CIL TẠI XàĐẠ NHIM, HUYỆN 

LẠC DƯƠNG,  

   

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  NGÀNH LÂM NGHIỆP 

     

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 06/2012 

Trang 2

‐‐‐‐‐‐ 

 

LÊ HOÀI MINH 

   

TÌM HIỂU VIỆC SỬ DỤNG CÂY THUỐC VÀ CÁC LOẠI RAU  TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI CIL TẠI XàĐẠ NHIM, HUYỆN 

LẠC DƯƠNG,   TỈNH LÂM ĐỒNG 

  Ngành: Lâm Nghiệp  Chuyên ngành: Nông Lâm Kết Hợp 

 

 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  

 

Giáo viên hướng dẫn: TS. PHAN TRIỀU GIANG 

   

Thành phố Hồ Chí Minh 

Trang 3

Xin gửi lời tỏ lòng biết ơn của tôi đến Tiến Sĩ Phan Triều Giang, Thầy là người đã  truyền đạt cho tôi những tri thức và trực tiếp hướng dẫn tận tình cho tôi hoàn thành khóa  luận này. 

Xin cảm ơn Thầy Lương Văn Dũng, khoa Sinh, trường Đại Học Đà Lạt đã quan tâm 

và giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện khóa luận. 

Xin cảm ơn sự giúp đỡ của cấp chính quyền địa phương và bà con ở xã Đạ Nhim,  huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc thu thập tài  liệu và số liệu để hoàn thành bài khóa luận này. 

Xin cảm ơn dự án JICA (Nhật Bản) đã hỗ trợ kinh phí ngoại nghiệp cho tôi trong  suốt thời gian tôi thực hiện khóa luận tại xã Đạ Nhim, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng. 

Và cuối cùng, tôi cảm ơn những người bạn của tôi đã động viên, giúp đỡ tôi trong  suốt những năm học vừa qua. Xin cảm ơn! 

 

             Tp. HCM, tháng 6 năm 2012. 

Trang 4

Đề tài “Tìm hiểu việc sử dụng cây thuốc và các loại rau truyền thống của người Cil tại xã Đạ Nhim, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng” được thực hiện từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2012. 

Các mục tiêu của đề tài là: 

- Liệt  kê  được  danh sách  những  cây  thuốc  và  cây  rau  rừng  truyền  thống  

mà người dân tộc Cil đã sử dụng trong quá khứ và hiện tại. 

- Xác định được địa điểm tìm gặp và hiện trạng của những loài này trong giai đoạn hiện nay. 

- Mô tả chức năng (công dụng) của từng loài, cách chăm sóc, thu hái, cách chế biến và bảo quản của từng loài. 

- Xác định được danh sách những người có kiến thức và hiểu biết nhiều về các loại rau rừng và cây thuốc trong rừng làm cơ sở cho các nghiên cứu 

về sau. 

- Tư liệu hóa những câu chuyện và những nét văn hóa truyền thống có liên quan đến cây thuốc và các loại rau rừng truyền thống của người Cil. Kết quả đạt được qua thời gian nghiên cứu là: 

- Đã xác được danh sách các cây rau và cây thuốc truyền thống là 50 loài gồm có: tên địa phương, tên phổ thông, tên và họ khoa học. 

Trang 5

- To list medicinal plants and traditional forest vegetables that the Cil has used in the past and present. 

- To  identify  places  where  these  plants  are  found  and  status  of  these species at present. 

- To describe the function (utility) of the plants, their tending, harvesting, processing and storing. 

- To  identify  the  list  of  people  who  have  knowledge  and  understanding about  the  forest  vegetables  and  medicinal  plants  creating  resource  for further research. 

- Documentation of the stories and the cultural traits related to medicinal plants and  traditional forest vegetables of the Cil. 

Trang 6

- Key knowledgeable informants were found. 

- Some traditions, stories, and cultural traits were documented.  

Trang 7

Trang 

LỜI CẢM ƠN   ii 

TÓM TẮT   iii 

SUMMARY   iv 

MỤC LỤC   vi 

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT   xi 

DANH SÁCH CÁC BẢNG   xii 

DANH SÁCH CÁC HÌNH   xiii 

Chương 1 MỞ ĐẦU   1 

1.1  Đặt vấn đề   1 

1.2  Mục tiêu đề tài   4 

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU   6 

2.1  Kiến thức bản địa   6 

2.1.1  Khái niệm   6 

2.1.2  Các dạng của KTBĐ   9 

2.1.3  Vai trò của KTBĐ trong quản lý tài nguyên thiên nhiên   10 

2.2  Lâm sản ngoài gỗ   12 

2.2.1  Khái niệm   12 

2.2.2  Phân loại LSNG   12 

2.2.3  Vai trò của LSNG   13 

2.3  Những nghiên cứu có liên quan  14 

Chương 3 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA ĐIỂM  NGHIÊN CỨU   17 

3.1  Nội dung nghiên cứu   17 

3.2  Phương pháp nghiên cứu   18 

3.2.1  Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp   18 

3.2.2  Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp   19 

Trang 8

3.2.3  Phương pháp tổng hợp, phân tích và xử lý thông tin   21 

3.3  Địa điểm nghiên cứu   21 

3.3.1  Điều kiện tự nhiên   21 

3.3.1.1  Vị trí địa lý   21 

3.3.1.2  Khí hậu   22 

3.3.1.3  Địa hình   23 

3.3.2  Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên   24 

3.3.2.1  Thuận lợi   24 

3.3.2.2  Hạn chế   24 

3.3.3  Tình hình dân sinh, kinh tế, văn hóa và xã hội   26 

3.3.3.1  Dân sinh – kinh tế   26 

3.3.3.2  Số liệu tôn giáo   28 

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN   30 

4.1  Bối cảnh lịch sử   30 

4.1.1  Dòng lịch sử dụng thuốc của người Cil tại xã Đạ Nhim   30 

4.1.2  Cộng đồng sử dụng cây rau và cây thuốc   32 

4.2  Các cây rau   33 

4.2.1  Họ khoa học của các loài cây ra   33 

4.2.2  Hình thái các loài cây rau   34 

4.2.3  Phân bố các loài cây rau   34 

4.2.4  Hiện trạng các loài cây rau   35 

4.2.5  Bộ phận sử dụng các loài cây rau   35 

4.2.6  Cách sử dụng sử dụng các loài cây rau   37 

4.3  Kết quả về cây thuốc   37 

4.3.1  Họ khoa học các loài cây thuốc   38 

4.3.2  Hình thái các loài cây thuốc   39 

4.3.3  Phân bố các loài cây thuốc   39 

4.3.4  Hiện trạng các loài cây thuốc   39 

Trang 9

4.3.6  Cách sử dụng các loài cây thuốc   41 

4.4  Các cây vừa là rau vừa là thuốc   41 

4.4.1  Họ khoa học của các loài cây vừa là rau vừa là thuốc   42 

4.4.2  Hình thái của các loài cây vừa là rau vừa là thuốc   42 

4.4.3  Phân bố của các loài cây vừa là rau vừa là thuốc   43 

4.4.4  Hiện trạng các loài cây vừa là rau vừa là thuốc   43 

4.4.5  Bộ phận sử dụng các loài cây vừa là rau vừa là thuốc   44 

4.4.6  Cách sử dụng các loài cây vừa là rau vừa là thuốc   44 

4.5  Những câu chuyện và những nét văn hóa có liên quan   46 

4.6  Tình trạng hiện nay   48 

4.6.1  Các yếu tố ảnh hưởng đến KTBĐ   48 

4.6.2  Khả năng bảo tồn và phát triển   50 

4.7     Tư liệu hóa   51 

4.7.1  Tư liệu hóa cây rau truyền thống   51 

4.7.1.1  Bầu đất   51 

4.7.1.2  Bo rừng   52 

4.7.1.3  Cà dại hoa trắng, cà nai   52 

4.7.1.4  Cà đắng, cà ấn   53 

4.7.1.5  Cần dại   53 

4.7.1.6  Cau rừng, cau chuột   55 

4.7.1.7  Cây bột ngọt   55 

4.7.1.8  Chua lòe   55 

4.7.1.9  Chuối rừng   56 

4.7.1.10  Dây cai   57 

4.7.1.11  Đơn buốt   57 

4.7.1.12  Dưa núi   57 

4.7.1.13  Hải đường lá xẻ   58 

4.7.1.14  Lá bép   59 

4.7.1.15  Lu lu đực   59 

Trang 10

4.7.1.16  Mây   60 

4.7.1.17  Me rừng   60 

4.7.1.18  Rau dớn   61 

4.7.1.19  Rau tàu bay   61 

4.7.1.20  Sơn địch   62 

4.7.1.21  Tai voi   62 

4.7.1.22  Xuân tiết   63 

4.7.2  Tư liệu hóa cây thuốc truyền thống   64 

4.7.2.1  Chè dây   64 

4.7.2.2  Chẹo tía   64 

4.7.2.3  Chỉ thiên   65 

4.7.2.4  Cộng sản   65 

4.7.2.5  Dây công chúa   66 

4.7.2.6  Dây gắm   66 

4.7.2.7  Đùm đũm xẻ   67 

4.7.2.8  Hoàng liên ô rô   68 

4.7.2.9  Hương bài   68 

4.7.2.10  Keo leo   69 

4.7.2.11  Lá ngón   69 

4.7.2.12  Mài rừng   70 

4.7.2.13  Ngải cứu   70 

4.7.2.14  Sâm cau   71 

4.7.2.15  Thạch xương bồ   71 

4.7.2.16  Thổ phục linh   72 

4.7.2.17  Trà rừng   72 

4.7.3  Tư liệu hóa cây vừa là rau vừa là thuốc truyền thống   74 

4.7.3.1  Cà đinh   74 

4.7.3.2  Chân Chim   74 

Trang 11

4.7.3.4  Đảng sâm   75 

4.7.3.5  Mã đề   76 

4.7.3.6  Mác Mát   77 

4.7.3.7  Nghệ rừng   77 

4.7.3.8  Rau má   78 

4.7.3.9  Viễn chí chùm   79 

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ   80 

5.1  Kết luận   80 

5.2  Kiến nghị   82 

TÀI LIỆU THAM KHẢO   83  PHỤ LỤC   A 

 

Trang 12

Từ viết tắt  Giải nghĩa 

FAO  Food Agriculture Organization: Tổ chức Lương Nông Thế Giới GDP  Gross Domestic Product: Tổng sản phẩm nội địa 

GPS  Global Positioning System: Hệ thống định vị toàn cầu 

IIRR   International Institute for Rural Recontruction: Viện Quốc Tế về 

tái thiết Nông Thôn JICA  The Japan International Cooperation Agency: Tổ chức hợp tác 

quốc tế Nhật Bản KHKT  Khoa học kỹ thuật 

KTBĐ  Kiến thức bản địa 

LSNG  Lâm sản ngoài gỗ 

PRA  Participatory Rural Appraisal: Đánh giá nông thôn có sự tham gia TNTN  Tài nguyên thiên nhiên 

TTBĐ  Tri thức bản địa 

UBND  Ủy ban nhân dân 

UNESCO  United Nations Educational Scientific and Cultural Organization: 

Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên Hợp Quốc WIPO  World Intellectual Property Organization: Tổ chức sở hữu trí tuệ 

Thế Giới 

Trang 13

WWF  World Wide Fund for Nature: Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên 

DANH SÁCH CÁC BẢNG 

Bảng 3.1 Bảng địa hình xã Đạ Nhim   23 

Bảng 3.2 Bảng số liệu dân tộc xã Đạ Nhim   26 

Bảng 3.3 Bảng số liệu tôn giáo xã Đạ Nhim   28 

Bảng 4.1 Bảng phân loại công dụng   33 

Bảng 4.2 Bảng phân họ khoa học các loài cây rau   33 

Bảng 4.3 Bảng hình thái các loài cây rau   34 

Bảng 4.4 Bảng phân bố các loài cây rau   35 

Bảng 4.5 Bảng hiện trạng các loài cây rau   35 

Bảng 4.6 Bảng bộ phận sử dụng các loài cây rau   37 

Bảng 4.7 Bảng cách sử dụng các loài cây rau   37 

Bảng 4.8 Bảng phân họ khoa học các loài cây thuốc   38 

Bảng 4.9 Bảng hình thái các loài cây thuốc   39 

Bảng 4.10 Bảng phân bố các loài cây thuốc   39 

Bảng 4.11 Bảng hiện trạng các loài cây thuốc   40 

Bảng 4.12 Bảng bộ phận sử dụng các loài cây thuốc   40 

Bảng 4.13 Bảng cách sử dụng các loài cây thuốc   41 

Bảng 4.14 Bảng phân họ khoa học các loài cây vừa là rau vừa là thuốc   42 

Bảng 4.15 Bảng hình thái các loài cây vừa là rau vừa là thuốc   43 

Bảng 4.16 Bảng phân bố các loài cây vừa là rau vừa là thuốc   43 

Bảng 4.17 Bảng hiện trạng các loài cây vừa là rau vừa là thuốc   44 

Bảng 4.18 Bảng bộ phận sử dụng các loài cây vừa là rau vừa là thuốc   44 

Bảng 4.19 Bảng cách sử dụng các loài cây vừa là rau vừa là thuốc   46 

 

Trang 15

Hình 22 Cây xuân tiết   V  Hình 23 Cây chè dây   V  Hình 24 Cây chẹo tía   W  Hình 25 Cây chỉ thiên   W  Hình 27 Dây công chúa   X  Hình 28 Dây gắm   Y  Hình 29 Cây đùm đũm xẻ   Y  Hình 30 Cây hoàng liên ô rô   Y  Hình 31 Cây hương bài   Z  Hình 32 Cây keo leo   Z  Hình 33 Cây lá ngón   Z  Hình 34 Cây mài rừng   AA  Hình 35 Cây ngải cứu   AA  Hình 36 Sâm cau   AA  Hình 37 Cây thạch xương bồ   BB  Hình 38 Cây thổ phục linh   BB  Hình 39 Cây trà rừng   BB  Hình 40 Cây cà đinh   CC  Hình 41 Cây chân chim   CC  Hình 42 Cây cúc áo   CC  Hình 43 Đảng sâm   DD  Hình 44 Cây mã đề   DD  Hình 45 Cây Mác mát   DD  Hình 46 Cây nghệ rừng   EE  Hình 47 Cây rau má   EE  Hình 48 Cây viễn chí chùm   EE 

Trang 16

MỞ ĐẦU   

1.1 Đặt vấn đề 

Việt Nam là nước rất đa dạng về các thành phần dân tộc, với 54 dân tộc anh em cùng sinh sống với nhau, phần lớn các dân tộc có cuộc sống gắn liền với các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong nhiều đời nay. Mỗi dân tộc có một nền văn hóa riêng, một phong tục tập quán riêng đã tạo nên hệ thống kiến thức bản địa (KTBĐ) vô cùng phong phú. Những kiến thức này là kết quả của quá trình tích lũy lâu dài qua nhiều thế hệ, nó thể hiện nét văn hóa truyền thống và sự thích ứng của con người trước những biến đổi của thiên nhiên và xã hội. Những kiến thức này được chắt lọc và thử thách qua nhiều thế kỷ để phù hợp với điều kiện sống của con người, đặc biệt nó mang tính đặc thù riêng không giống nhau giữa các nhóm cộng đồng và dân tộc. KTBĐ là một phần quan trọng trong cuộc sống  hàng  ngày  của  các  cộng  đồng  truyền  thống,  KTBĐ  đã  mang  lại  hiệu  quả cao, phù hợp với điều kiện của người dân địa phương trong việc khai thác sử dụng  tài  nguyên  thiên  nhiên  đặc  biệt  là  nguồn  tài  nguyên  lâm  sản  ngoài  gỗ (LSNG). Vì vậy, KTBĐ là một kho tàng tri thức vô cùng quí báu mà chúng ta cần phải nghiên cứu để bảo lưu nó. 

Tuy  nhiên,  trong  những  năm  gần  đây  cùng  với  sự  phát  triển  của  khoa học kỹ thuật (KHKT) và sự phát triển kinh tế đất nước thì tài nguyên rừng đã bị mất  đi  hay  đang  bị  suy  thoái  dần  đi  dưới  những  tác  động  của  con  người.  Rất nhiều  nguồn  tài  nguyên  trong  rừng  như  các  loài  cây  thuốc,  các  loài  cây  thực 

Trang 17

chỉ  tồn  tại  trong  một  nhóm cộng  đồng  nhỏ  sống  trong  và  gần  rừng,  rất  nhiều người vẫn chưa hề biết về vấn đề này. Và KTBĐ của những cộng đồng dân tộc 

Trang 18

để phát triển cuộc sống của người dân là rất cần thiết. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp các kiến thức được chuyển giao không phù hợp với điều kiện địa phương nên ít được người dân chấp nhận hay không mang lại hiệu quả. Do đó, chúng ta phải tìm hiểu phong tục tập quán và KTBĐ của địa phương trước khi đưa tiến bộ KHKT vào, để kết hợp những kỹ thuật mới với những kinh nghiệm truyền  thống,  dung  hòa  chúng  lại  dựa  trên  những  nguồn  lực  có  sẵn  của  cộng đồng, như vậy mới giúp họ phát triển bền vững được. 

Ở vùng đất Tây Nguyên nơi tập trung nhiều dân tộc thiểu số, KTBĐ được 

sử dụng thường xuyên và thường gặp trong kỹ thuật bảo vệ tài nguyên thiên nhiên  (TNTN),  đặc  biệt  là  các  đồng  bào  sống  ở  các  khu  vực  gần  rừng  và  các 

vùng miền núi (Võ Văn Thoan, Nguyễn Bá Ngãi, 2002). Trải qua quá trình sống, 

họ đã có nhiều kinh nghiệm quản lý TNTN như: việc canh tác bỏ hóa để phục hồi đất, cách khai thác, sử dụng và duy trì các loại lâm sản hay các phong tục, tập quán, tín ngưỡng trong bảo vệ rừng, sử dụng đất rừng… Ngày nay dưới sức 

ép của sự gia tăng dân số, sự phát triển KHKT, cùng với các chính sách của nhà nước đã và đang ảnh hưởng rất lớn đến việc tiếp cận và sử dụng các nguồn tài nguyên làm cho những KTBĐ ngày càng bị mai một đi. 

Không nằm ngoài vấn đề trên, xã Đạ Nhim, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng hiện đang là xã nông thôn mới nên được hưởng rất nhiều các dự án và chính sách phát triển của nhà nước. Đã làm cho kho tàng kiến thức về sử dụng các sản phẩm từ rừng bị mai một hoặc biến đổi dần để thích ứng với điều kiện sống hiện nay. 

Trang 19

Các  nghiên  cứu  trước  đây  (Hoàng  Hữu  Cải,  Phan  Triều  Giang  và  nhóm 

nghiên cứu, 2011; Phan Triều Giang, Hoàng Hữu Cải và nhóm nghiên cứu, 2010) 

đã cho thấy việc sử dụng và những KTBĐ về cây thuốc và cây rau truyền thống của người Cil ở Đạ Nhim mặc dù là rất đa dạng nhưng đang bị mất dần đi. Vì vậy, chúng tôi đã thực hiện đề tài nghiên cứu: “Tìm hiểu việc sử dụng cây thuốc 

và  các  loại  rau  truyền  thống  của  người  Cil  tại  xã  Đạ  Nhim,  huyện  Lạc  Dương, tỉnh Lâm Đồng”. Việc thực hiện đề tài này không những góp phần tư liệu hóa lại những  KTBĐ  về  cây  thuốc  và  cây  rau  truyền  thống  mà  còn  góp  phần  lưu  giữ những  những nét  văn  hóa  truyền  thống  của  người  K’ho,  góp  phần  làm  phong phú hơn cho kho tàng kiến thức bản địa của người dân Việt Nam. 

- Mô tả chức năng (công dụng) của từng loài, cách chăm sóc, thu hái, cách chế biến và bảo quản của từng loài. 

- Xác định được danh sách những người có kiến thức và hiểu biết nhiều về các loại rau rừng và cây thuốc trong rừng làm cơ sở cho các nghiên cứu 

về sau. 

- Tư liệu hóa những câu chuyện và những nét văn hóa truyền thống có liên quan đến cây thuốc và các loại rau rừng truyền thống của người Cil. 

Trang 20

   

Trang 21

Chương 2  TỔNG QUAN TÀI LIỆU 

2.1 Kiến thức bản địa 

2.1.1 Khái niệm 

Khái  niệm  KTBĐ  hiện  đã  không  còn  xa  lạ  đối  với  rất  nhiều  người,  đặc biệt là những nhà nghiên cứu nhân học, văn hoá, dân tộc học và đặc các chuyên gia phát triển. 

KTBĐ được để cập dưới nhiều tên gọi như: tri thức bản địa (TTBĐ), tri thức  kỹ  thuật  bản  địa,  tri  thức  sinh  thái  dân  tộc  học,  tri  thức  địa  phương,  tri thức dân gian, tri thức truyền thống, khoa học của dân hay tri thức của người nông thôn. Đối tượng mà người ta muốn nhắc đến là một hệ thống các tri thức đặc trưng của các cộng đồng người địa phương liên quan đến cách cộng đồng này quan hệ với môi trường tự nhiên xung quanh. Với một số định nghĩa sau: 

- WIPO, IIRR và Nguyễn Duy Thiệu cho rằng KTBĐ là một phức hệ những kĩnh  nghiệm  được  hình  thành  trong  quá  trình  sống  và  lưu  truyền  qua nhiều  thế  hệ.  Theo  WIPO:  KTBĐ  là  những  kinh  nghiệm  và  được  lưu truyền qua truyền khẩu, dưới dạng những bài hát, những câu chuyện hay 

Trang 22

người  với  môi  trường  tự  nhiên  để  kiếm  sống  (Nguyễn  Văn  Thường, 

2002).Nhiều  định  nghĩa  lại  cho

Trang 23

 rằng  KTBĐ  thì  được  hình  thành  trong  một  nhóm  cộng  đồng,  một  địa phương hay là một khu vực cụ thể. Và đa phần các KTBĐ đều gắn liền với những nét văn hóa truyền thống có từ lâu đời của từng làng, xã hay địa phương  nhất  định.  UNESCO  cho  rằng:  KTBĐ  là  những  kiến  thức,  sáng kiến  hay  kỹ  năng  và  các  hoạt  động  của  người  dân  bản  địa  và  các  cộng 

cư địa phương. World Bank (1998) cho rằng: KTBĐ là nền tảng cơ  bản cho việc thiết lập các quyết định liên quan đến địa phương trên mọi lĩnh vực  của  cuộc  sống  đương  đại  bao  gồm  quản  lý  các  nguồn  tài  nguyên thiên nhiên, dinh dưỡng, thức ăn, y tế và giáo dục trong các hoạt động xã 

hội  và  cộng  đồng  (dẫn  qua  Nguyễn  Thị  Thu  Hà,  2008).  UNESCO  thì  cho 

rằng: KTBĐ là cơ sở để cộng đồng có những quyết định đảm bảo an toàn lương thực, đảm bảo sức khỏe cho chính mình cũng như vật nuôi, để giáo 

dục và quản lý thiên nhiên (dẫn qua Nguyễn Thị Ngọc Huệ, 2009). 

Tóm lại, KTBĐ là một phức hệ những kinh nghiệm và thường gắn liền với những nét văn hóa truyền thống của một cộng đồng hay một địa phương nhất định  nào  đó.  KTBĐ  thường  được  lưu  truyền  qua  nhiều  thế  hệ  chủ  yếu  bằng truyền  khẩu  dưới  dạng  những  bài  hát,  câu  chuyện  hay  các  luật  tục.  Ngoài  ra,  KTBĐ là cơ sở cho các quyết định của cộng đồng trong các hoạt động xã hội và 

ổn định cuộc sống của họ. 

Trang 24

- Các thao  tác kỹ  thuật.  Ví  dụ:  cách  bảo quản hạt  giống,  cách  tẽ  hạt  giản đơn, kỹ thuật xây kè đá chống xói mòn đất đồi, kỹ thuật ghép cây, cách ủ phân xanh và các kỹ thuật khác. 

- Đức  tin  tôn  giáo.    Đức  tin  có  thể  đóng  vai  trò  trọng  yếu  trong  phương cách sống của dân và trong duy trì môi trường. Ví dụ: những khu rừng 

có thần trú ngụ, được bảo vệ bằng luật tục và đức tin, trong thực tế nó duy  trì  nguồn  nước  cho  cuộc  sống  của  dân  làng.  Các  nghi  lễ  giúp  điều phối tài nguyên theo một kiểu nào đó… 

- Công cụ. Ví dụ: những công cụ dùng cho làm đất, gieo trồng, thu hoạch, dụng cụ vận chuyển sản phẩm thức ăn cho người và gia súc, … 

- Sự  thử  nghiệm.  Ví  dụ:  cách  thức  nông  dân  đưa  các  loài  cây  trồng  mới vào các hệ canh tác có sẵn và họ rút ra được điều gì, hoặc là cách mà họ thử nghiệm một kỹ thuật mới du nhập ra sao để đi tới một quyết định cải tiến kỹ thuật bản địa? 

- Nguồn nhân lực. Các chuyên gia như thầy lang, thợ rèn. Các tổ chức bản địa như nhóm cùng sở thích, hội đồng già làng, tổ đổi công… 

- Kiến  thức  về  sinh  học.  Ví  dụ:  cách  thức  lai  tạo  và  chọn  giống  vật  nuôi, cách thuần hóa giống và duy trì giống cây trồng bản địa 

- Kiến thức về nguyên vật liệu. Ví dụ: loại đá dùng xây tường, bờ đập, kè chống xói mòn, các vật liệu cấu trúc nhà và làm vật dụng trong nhà… 

Trang 25

2.1.3 Vai trò của KTBĐ trong quản lý tài nguyên thiên nhiên 

Theo  Atteh  (1992),  KTBĐ  là  chìa  khóa  cho  sự  phát  triển  ở  cấp  địa phương (Hoàng Xuân Tý, 1998a). Hiện nay, trên thế giới có khoảng 124 nước hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu KTBĐ nhằm tăng tính hiệu quả trong phát triển nông thôn và quản lý bền vững TNTN. Ở các nước đang phát triển, KTBĐ 

được sử dụng thường xuyên và thường gặp trong kỹ thuật bảo vệ TNTN (dẫn 

qua Võ Văn Thoan, Nguyễn Bá Ngãi, 2002). 

Hơn nữa, KTBĐ đã đóng góp cho khoa học trong nhiều lĩnh vực liên quan đến việc quản lý TNTN qua các nghiên cứu về thực vật dân tộc học hiện đại. Cụ thể là nó đã giúp các nhà khoa học nắm được những vấn đề về đa dạng sinh học 

và quản lý rừng tự nhiên. KTBĐ cũng đóng góp vào khoa học những hiểu biết sâu  sắc  về  thuần  hoá  cây  trồng,  gây  giống,  quản  lý  và  giúp  các  nhà  khoa  học nhận thức đúng đắn về nguyên tắc, thói quen đốt nương làm rẫy, nông nghiệp sinh  thái,  nông  lâm  kết  hợp,  luân  canh  cây  trồng,  quản  lý  sâu  hại,  đất  đai  và nhiều  kiến  thức  khác  về  khoa  học  nông  nghiệp.  Thêm  nữa,  các  nhà  khoa  học cũng  thường  quen  với  KTBĐ,  ứng  dụng  vào  trong  các  dự  án  về  hợp  tác  phát triển và trong nhiều bối cảnh hiện tại khác. 

Tuy  nhiên,  cần  nhớ  rằng  trong  các  bối  cảnh  này,  các  KTBĐ  xuất  phát hoàn toàn độc lập (không cạnh tranh) với khoa học và nhìn chung là hoàn toàn độc lập với nền văn hóa phương Tây. Trên thực tế, KTBĐ và khoa học hiện đại cần được hiểu là hai hệ thống kiến thức bổ trợ chứ không cạnh tranh với nhau 

(Nguyễn Hương Giang, 2006). 

Vì vậy, nên phát triển nghiên cứu KTBĐ nhằm thu thập, lưu trữ, nâng cao 

sự hiểu biết về tiến trình phát triển, ứng dụng và điều chỉnh kỹ thuật của các cộng đồng dân cư. Tuy nhiên, theo Wongsamun (1992) không phải tất cả KTBĐ cũng  có  giá  trị  thực  tiễn,  có  thể  tiếp  cận  sàn  lọc  qua  4  bước  (hình  2.1)  để 

khuyến cáo áp dụng (dẫn qua Võ Văn Thoan, Nguyễn Bá Ngãi, 2002). 

Trang 26

  Nhận định vấn đề 

   

 

Bước 1 

  KTBD có liên quan đến 

vấn đề đang tồn tại không? 

Không  Kiếm tra tính thích 

hợp của kiến thức ngoại lai 

Hình 2.1 Các bước sàn lọc, cải thiện kiến thức bản địa để khuyến khích áp dụng 

(nguồn: IIRR, 1999) 

Trang 27

Hầu hết các định nghĩa đều cho rằng LSNG là những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật ngoại trừ gỗ được khai thác từ rừng và phục vụ cho mục đích con người.  FAO  (1999)  LSNG  là  những  sản  phẩm  có  nguồn  gôc  sinh  vật,  khác  gỗ 

được khai thác từ rừng, đất có cây rừng và cây ở ngoài rừng (dẫn qua cẩm nang 

ngành lâm nghiệp, 2006). Theo W.W.F (1989) thì LSNG là tất cả các vật liệu sinh 

học  khác  gỗ,  được  khai  thác  từ  rừng  tự  nhiên  phục  vụ  cho  mục  đích  của  con 

người  (dẫn  qua  Nguyễn  Quốc  Bình,  2009).  Và  theo  Nguyễn  Quốc  Bình  (2009), 

LSNG là những sản phẩm từ sinh vật hoặc có nguồn gốc từ sinh vật, không phải 

gỗ và các dịch vụ từ sinh vật có được từ hệ sinh thái rừng và đất rừng phục vụ cho  mục  đích  sử  dụng  của  con  người.  Mục  đích  sử  dụng  của  con  người  tùy thuộc vào đặc tính riêng của từng cộng đồng, từng quốc gia hay từng khu vực. 

2.2.2  Phân loại LSNG 

Khung phân loại LNSG được đề xuất (cẩm nang ngành lâm nghiệp, 2006): 

để phù hợp với điều kiện thực tế, khung phân loại LSNG của Việt Nam được đề xuất như sau : 

Trang 28

2.2.3 Vai trò của LSNG 

Trang 29

từ lâu, LSNG được sử dụng đa mục đích trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như làm dược liệu, đồ trang sức, đồ gia dụng, hàng thủ công mỹ nghệ, thực phẩm,…Do vậy, chúng đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của nhân 

dân (Lê Ngọc Anh, 2010). 

LSNG đóng một vai trò quan trọng trong sinh kế của người nghèo ở nông thôn, là nguồn lương thực, thuốc men, vật liệu xây dựng, và thu nhập. Thống kê cho thấy rằng hơn 60 triệu người dân sống hoàn toàn dựa vào rừng ở các khu vực  châu  Mỹ  Latinh,  Tây  Phi  và  Đông  Nam  Á,  cộng  với  khoảng  400‐500  triệu dân  sống  phụ  thuộc  trực  tiếp  vào  sản  phẩm  từ  thiên  nhiên.  Tiếp  cận  với  tài nguyên rừng giúp các hộ nông thôn đa dạng hóa sinh kế của học và giảm khả năng  hứng  chịu  rủi  ro.  Thu  nhập  từ  lâm  sản  thường  rất  quan  trọng  vì  nó  bổ sung  vào  thu  nhập  khác.  Rất  nhiều  hộ  gia  đình  có  thêm  thu  nhập  từ  việc  bán lâm  sản,  thường  khi  việc  sản  xuất  nông  nghiệp  không  đủ  trang  trải  cho  cuộc sống. thu nhập từ lâm sản thường được dùng để mua hạt giống, thuê lao động làm việc canh tác, hoặc tạo nguồn vốn cho các hoạt động buôn bán khác. Đối với các hộ nghèo nhất, LSNG có thể đóng vai trò vô cùng quan trọng vừa là nguồn 

lương thực thực phẩm, vừa là nguồn thu nhập (Nguyễn Bích Huệ, 2007). 

LSNG là một lĩnh vực có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội nước ta, nhưng đến nay vẫn chưa được quy hoạch phát triển tổng thể, các loại LSNG  nước  ta  chưa  thực  sự  được  quan  tâm  khai  thác,  bảo  tồn  và  phát  triển. Trước thực trạng đó, một dự án mang tên “hỗ trợ chuyên ngành lâm sản ngoài gỗ” do Viện Khoa học Lâm nghiệp (Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn) phối hợp với IUCN  thực hiện đã được triển khai nhằm tìm lại giá trị của LSNG, 

giúp người dân có cách khai thác và phát triển hợp lý (website ĐCSVN, 2005). 

2.3 Những nghiên cứu có liên quan 

Trang 30

là  vấn  đề  rất  quan  trọng,  rất  cần  thiết,  mang  tính  thực  tiễn,  tính  khoa  học  và tính  cấp  bách.  Chúng  ta   hơn  lúc  nào  hết,  phải  bảo  tồn  và  phát  triển  những KTBĐ giá trị, tư liệu hoá những tri thức đó để xác định việc  tái sử dụng như thế nào cho có hiệu quả. Những thông tin thu thập từ nông dân, kết hợp với công tác điều tra tại chỗ được phân tích đánh giá để định hướng chiến lược cho việc bảo tồn và sử dụng hiệu quả tài nguyên di truyền thực vật cho hôm nay và cho 

mai sau (Nguyễn Thị Ngọc Huệ, 2009). 

Nghiên cứu về KTBĐ, hay cụ thể hơn, KTBĐ về môi trường là một ngành nghiên cứu còn rất mới ở Việt Nam. Tuy nhiên, cần thiết phải có sự quan tâm đặc biệt đến ngành này tại nước ta, thứ nhất là do Việt Nam vẫn đang được coi 

là một nước đang phát triển với phần lớn đại bộ phận dân cư sống tại các vùng nông thôn, miền núi cần được nâng cao chất lượng cuộc sống; thứ hai, Việt Nam 

là nước có đến hơn năm chục dân tộc thiểu số đồng nghĩa với việc có hơn năm chục hệ KTBĐ cần được nghiên cứu; thứ ba, một loạt các chính sách phát triển của chính phủ Việt Nam và sự hỗ trợ, đầu tư của các quốc gia trên thế giới vẫn đang bất lực trong việc đạt tới mục tiêu phát triển ổn định và cân bằng tiến tới 

bền vững cần được tìm hiểu (Nguyễn Thị Thu Hà, 2008). 

Hầu  hết các nghiên cứu hiện nay đều rút ra kết luận KTBĐ của các dân tộc nước ta vô cùng đa dạng và phong phú, nhưng với thực trạng hiện nay thì 

KTBĐ  đang  bị  mất  mác  dần  đi  với  một  tốc  độ  nhanh  chóng  (Hàn  Tuyết  Mai, 

2012; Nguyễn Cao Long, 2009; Lê Anh Tuấn, 2002). Hàn Tuyết Mai (2012) đã có 

nghiên cứu về “Kiến thức bản địa trong quản lý và sử dụng thực vât LSNG của 

cộng  đồng  người  Vân  Kiều  ở  thôn  Là  Tó,  xã  Húc  Nghì,  huyện  Đa  Krông,  tỉnh 

Trang 31

phú và đa dạng. Tuy nhiên, cùng với sự mất đi của tài nguyên rừng, kho kiến thức  của  họ  cũng  đang  bị  mai  một  dần,  thậm  chí  một  số  kiến  thức  hoàn  toàn 

không  còn.  Nguyễn  Cao  Long  (2009)  nghiên  cứu  về  “cây  dược  liệu  bản  địa: 

thách  thức  và  khả  năng  phát  triển  trên  đất  canh  tác  của  người  Bana  tại  xã  Konpne, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai” cho thấy rằng người dân nơi đây sống khá 

Tuy  nhiên,  chưa  có  nghiên  cứu  nào  về  KTBĐ  của  người  Cil,  một  nhánh người  của  người  đồng  bào  K’ho,  tại  xã  Đạ  Nhim,  huyện  Lạc  Dương,  tỉnh  Lâm Đồng về việc sử dụng sử dụng cây rau và cây thuốc truyền thống của họ. Vì vậy, việc tư liệu hóa nguồn KTBĐ này sẽ giúp lưu giữ được những tri thức đang bị mai một dần của cộng đồng tại đây và sẽ góp phần làm tăng thêm sự phong phú của kho tàng TTBĐ của dân tộc Việt Nam.  

Trang 32

Chương 3  NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA ĐIỂM  

NGHIÊN CỨU 

3.1 Nội dung nghiên cứu 

Để tài nghiên cứu được thực hiện chủ yếu tại ba thôn Đạ Blah, Đạ Tro và 

Đạ Ra Hoa thuộc xã Đạ Nhim, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng. Tuy vậy, địa bàn nghiên cứu không chỉ giới hạn ở thôn mà mở rộng đến những nơi mà bà con thu hái như: Iar Giêng, Yang ly. Nơi mà kiến thức bản địa của người Cil tại đây đang dần bị mất đi, nên cần rất nhiều nghiên cứu để lưu giữ những nét văn hóa này. Các nội dung của đề tài là: 

a Liệt kê được danh sách những cây thuốc và cây rau rừng truyền thống  mà người dân tộc Cil đã sử dụng trong quá khứ và hiện tại: 

- Vì hiện nay số người còn hiểu biết về cây rau và cây thuốc truyền thống 

là  rất  ít.  Vì  vậy,  việc  tìm  được  danh  sách  những  người  hiểu  biết  về  các loại  cây  thuốc  và  cây  rau  rừng  truyền  thống  tại  địa  phương  là  vô  cùng cần thiết. Với kết quả mong đợi là bảng danh sách những người hiểu biết (Tên, địa chỉ, số điện thoại ( nếu có)  của từng người). 

- Để có được nhưng thông tin ban đầu thì cần xác định các loại cây thuốc 

và cây rau rừng truyền thống đã và đang được người dân sử dụng tại địa phương. Với kết quả mong đợi là bảng danh sách những cây rau và cây thuốc  truyền  thống  mà  người  dân  sủ  dụng  (Tên  địa  phương,  tên  tiếng 

Trang 33

b Xác định được địa điểm tìm gặp và hiện trạng của những loài này trong giai đoạn hiện nay: 

- Để biết được tình hình thực tế của từng loài ta cần xác định hiện trạng của chúng. Với kết quả mong đợi là bảng mô tả tình trạng loài nào còn, loài nào hết và số lượng của chúng là như thế nào. 

- Để xác định địa điểm cụ thể của từng loài ta cần xác định khu vực phân 

bố và địa điểm tìm gặp của từng loài. Với kết quả mong đợi là có được tọa độ của các loài mọc trong tự nhiên. Kèm theo là bảng hình ảnh có tỉ lệ 

và USB file mềm. 

c Với  nhiều  loài  có  nhiều  chức  năng,  với  nhiều  các  sử  dụng  và  mùa  thu  hái cũng  rất  đa  dạng,  vì  vậy  cần  phải  mô  tả  chức  năng  (công  dụng)  của  từng loài, cách chăm sóc, thu hái (mùa vụ), cách chế biến và bảo quản của từng loài.  Với  kết  quả  mong  đợi là  bảng  công  dụng,  thời  vụ, cách sử  dụng  (chế biến) và bảo quản của người dân cho từng loại cây. 

d Xác định được danh sách những người có kiến thức và hiểu biết nhiều về các loại rau rừng và cây thuốc trong rừng làm cơ sở cho những nghiên cứu 

về sau. Với kết quả mong đợi là danh sách tổng hợp những người có hiểu biết về các loại cây (Tên, số điện thoại, địa chỉ, chức vụ). 

e Những  câu  chuyện  và  những  nét  văn  hóa  có  liên  quan  sẽ  làm  khóa  luận thêm  sinh  động,  thu  hút  được  người  đọc.  Vì  vậy,  tư  liệu  hóa  những  câu chuyện và những nét văn hóa truyền thống có liên quan đến cây thuốc và các  loại  rau  rừng  truyền  thống  của  người  Cil  là  việc  rất  cần  thiết.  Với  kết quả mong đợi là tìm được những câu chuyện truyền miệng của người Cil có liên quan đến 1 vài cây thuốc và cây rau truyền thống của họ. 

3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 

Các thông tin thứ cấp liên quan đến đề tài nghiên cứu được thu thập và phân tích trước khi tiến hành điều tra trên thực địa. Các thông tin này được lưu 

Trang 34

an của Ủy Ban Nhân Dân xã Đạ Nhim, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng. Đồng thời các thông tin này còn được thu thập qua các nguồn khác như: sách, báo, tạp chí lâm nghiệp,  

3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 

Sử dụng một số công cụ trong bộ PRA, tiến hành đánh nhanh nông thôn 

có sự tham gia để tìm hiểu chung về tình hình khu vực nghiên cứu. Đề tài được điểu tra chủ yếu ở 3 thôn: Đạ Blah, Đạ Tro và Đạ Ra Hoa, là 3 thôn được dự án JICA – Nhật Bản đầu tư. 

Do  đây  là  những  KTBĐ  về  các  loại  rau  và  cây  thuốc  truyền  thống  của người Cil, nên việc thu thập thông tin chủ yếu sử dụng công cụ phỏng vấn bán cấu trúc, với đa số là sử các câu hỏi mở. Tiến hành phỏng vấn bán cấu trúc với những  người  đưa  tin  then  chốt:  phỏng  vấn  già  làng  và  những  người  đại  diện trong  thôn  đây  là  những  người  có  hiểu  biết  sâu  rộng  về  những  nét  văn  hóa truyền  thống  của  thôn,  những  nghi  lễ  và  phong  tục  tập  quán  của  người  dân trước kia và hiện nay. 

Phỏng  vấn  trực  tiếp  các  kiểm  lâm  viên  và  các  bên  có  liên  quan  để  thu thập các thông tin và các ý kiến của họ về các kiến thức bản địa việc sử dụng các loại rau rừng và cây thuốc của người dân tại địa phương. 

Tiến hành phỏng vấn hộ dân để biết cách sử dụng, công dụng, cách thu hái và thời vụ của từng loại cây. 

Sử  dụng  nguyên  lý  “hòn  tuyết  lăn”  để  ngày  càng  mở  rộng  danh  sách những người hiểu về các loại cây rau và cây thuốc, từ những người đưa tin ban đầu. 

Trang 35

Kết hợp với điều tra ngoài thực địa để thu thập hình ảnh, và tọa độ của các loại cây mọc trong rừng. Với các dụng cụ: máy chụp hình, máy định vị GPS, thước tỷ lệ. 

Trang 36

3.2.3 Phương pháp tổng hợp, phân tích và xử lý thông tin 

Đối với thông tin thứ cấp: sắp xếp, chọn lọc, kiểm tra lại những thông tin thu thập được, và lấy những thông tin cần thiết và xác đáng. 

Đối với các thông tin sơ cấp sẽ được tổng hợp, kiểm tra, so sánh chéo các thông tin. Các thông tin sẽ được xác định theo từng cây với từng nội dung cụ thể. 

Các thông tin thu thập trong ngày sẽ được tổng hợp hợp vào buổi tối của ngày hôm đó. Và sau một tuần thực hiện thì sẽ có báo cáo sơ bộ về kết quả thực hiện được, kết quả sẽ được trao đổi với giáo viên hướng dẫn để chỉnh sửa và lên kế hoạch thực hiện trong giai đoạn tiếp theo với từng nội dung cụ thể. Và cuối cùng là viết lách, sử dụng thêm internet để bổ sung các thông tin chi tiết, hoàn thành việc tư liệu hóa kiến thức bản địa của người Cil về cây rau và cây thuốc truyền thống của họ tại khu vực xã Đạ Nhim. 

  Đạ Nhim là một xã vùng xa của huyện Lạc Dương nằm dọc tuyến đường 

723  cách  trung  tâm  huyện  45  km  tỷ  lệ  hộ  đồng  bào  dân  tộc  thiểu  số  chiếm 90,01% tổng số hộ toàn xã; là 1 xã thuộc 16 xã nghèo của tỉnh, trình độ dân trí không đồng đều, đời sống của nhân dân còn khó khăn, nhận thức áp dụng khoa 

học kỹ thuật vào sản xuất chậm đổi mới. Theo “báo cáo tình hình kinh tế xã hội, 

an ninh quốc phòng năm 2011 và một số nhiệm vụ chủ yếu năm 2012” thì toàn xã 

có 05 thôn với 691 hộ, 3637 khẩu, nam: 1840 khẩu, nữ: 1797 khẩu, trong đó lao  động  chính  2393  khẩu,  lao  động  phụ  và  ăn  theo  1244  khẩu.  Trong  đó  hộ dân tộc thiểu số là: 597 hộ, 3274 khẩu chiếm: 90,01%. 

3.3.1 Điều kiện tự nhiên 

3.3.1.1 Vị trí địa lý 

Trang 37

723 nối giữa Đà Lạt và Nha Trang cách trung tâm huyện khoảng 45 Km và cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 35 km theo quốc lộ 723 về phía Đông ‐ Bắc. Với các giới cận là: 

3.3.1.2 Khí hậu 

Xã  Đạ  Nhim  –  huyện  Lạc  Dương  nam  trong  vùng  khı́  hậu  nhiệt  đới  núi cao nên có nhiều nét của khí hậu á nhiệt đới, với những đặc trưng chính như sau: 

- Mát  lạnh  quanh  năm  và  khá  ôn  hòa,  nhiệt  độ  bı̀nh  quân  trong  năm khoảng  18oC,  nhiệt  độ  thap  nhat  tuyệt  đoi  trong  năm  5oC,  nhiệt  độ  cao nhất tuyệt đối trong năm 30oC. 

- Lượng  mưa  trung  bı̀nh  hàng  năm  khoảng  1.800mm,  che  độ  mưa  chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ cuoi tháng 4 và kết thúc vào tháng 11, mưa  nhieu  và  mưa  to  vào  khoảng  từ  tháng  7  đen  tháng  9,  mùa  khô  từ cuoi tháng 12 đen tháng 4 năm sau. 

- Độ ẩm không khí bình quân trong năm cao 85%,, lượng bốc hơi 898mm. Hướng gió chính Bắc và Đông Bắc, tốc độ gió trung bình 2,1m/s. 

Trang 38

- Lợi  thế:  có  thể  phát  triển  nhiều  loại  cây  trồng  có  nguồn  gốc  ôn  đới  với chất lượng cao, cường độ bốc hơi trong mùa khô không cao nên sự thiếu hụt nước trong mùa khô không nghiêm trọng. 

- Hạn  chế:  cường  độ  mưa  lớn  và  tập  trung  nên  dễ  gây  xói  mòn  đất,  cần phải  được  đặc biệt  chú  ý  trong  quá  trình  bố  trí sử  dụng  đất,  đôi khi có sương  lạnh  (sương  muối),  ảnh  hưởng  không  tốt  đến  sự  sinh  sưởng  và phát triển của nhiều loại cây trồng của bà con. 

3.3.1.3 Địa hình 

Về  đại thể hầu hết diện tích của các xã thuộc dạng địa hình núi cao có độ dốc  lớn  và  có  hướng  thấp  dần  từ  Bắc  xuống  Nam  và  từ  khu  vực  trung  tâm xuống hai phía Đông và phía Tây. Độ cao trung bình từ 1550‐1700 m xen kẽ các dãy  núi  cao  một  số  khu  vực  đồi  thấp  và  sườn  thoải  ít  dốc  độ  cao  phổ  biến  là 1500‐1600 m. Với 3 dạng địa hình chính: núi cao, đồi thấp và đất bằng ven suối. 

Trang 39

- Dạng địa hình đồi thấp: độ dốc từ 8o – 20o, chiếm khoảng 7 – 8 % diện tích toàn xã, hiện là địa bàn phát triển nông nghiệp của xã. 

- Dạng địa hình bằng ven suối: độ dốc từ 0o – 3o, có diện tích nhỏ và phân tán, khá thuận lợi cho bố trí sử dụng đất nông nghiệp và phát triển cơ sở 

hạ  tầng.  Hiện  trạng  chủ  yếu  là  đất  trồng  lúa,  cây  hoa  màu,  cây  công nghiệp hàng năm, cây lâu năm, đất hoang và đất rừng. 

3.3.2 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên 

3.3.2.1 Thuận lợi 

- Tiềm năng tự nhiên của xã khá đa dạng với nhiệt độ mát – lạnh và ôn hòa quanh năm là điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp. 

- Là xã có diện tích rừng lớn và trữ lượng gỗ cao là nguồn tài nguyên lớn nhất của xã. Diện tích rừng hiện nay ngoài việc phòng hộ đầu nguồn và rừng đặc dụng còn mang lại lợi ích kinh tế cho nhân dân trong xã. 

- Xã có diện tích che phủ lớn và chưa có công trình công nghiệp nên môi trường hiện nay ở xã rất tốt. 

- Tỉnh lộ 723 chạy qua địa bàn xã nối liền giữa thành phố Đà Lạt với tỉnh Khánh  Hòa,  nên  khả  năng  lưu  thông  hàng  hóa  trên  địa  bàn  xã  rất  cao. Đây là động cơ thúc đẩy sự phát triển kinh tế trên địa bàn xã và thu hút đầu tư. 

3.3.2.2 Hạn chế 

- Vị trí của xã cách xa trung tâm huyện, và các trung tâm kinh tế của tỉnh, nên khó khăn cho việc giao lưu hàng hóa với các xã và các trung tâm kinh 

tế lân cận. 

- Lượng mưa lớn và tập trung thường gây ra xói mòn, cần có những biện pháp để chống xói mòn và cải thiện độ phì cho đất. 

- Độ dốc trên địa bàn xã khá cao là hạn chế lớn cho việc bố trí đất sản xuất nông  nghiệp  cũng  như  việc  đầu  tư  cho  cơ  sở  hạ  tầng.  Nguồn  sinh  thủy rộng, mật độ suối khá dày nhưng ít thuận lợi cho việc xây dựng các công trình thủy lợi. 

Trang 40

- Thời tiết có đôi lúc xuất hiện sương lạnh (sương muối) ảnh hưởng không tốt đến sự sinh trưởng và phát triển của các giống vật nuôi và cây trồng. 

Ngày đăng: 03/06/2018, 16:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w