Các mục tiêu của đề tài là: - Liệt kê được danh sách những cây thuốc và cây rau rừng truyền thống mà người dân tộc Cil đã sử dụng trong quá khứ và hiện tại.. - Xác định được danh sách nh
Trang 1‐‐‐‐‐‐
LÊ HOÀI MINH
TÌM HIỂU VIỆC SỬ DỤNG CÂY THUỐC VÀ CÁC LOẠI RAU TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI CIL TẠI XÃ ĐẠ NHIM, HUYỆN
LẠC DƯƠNG,
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH LÂM NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 06/2012
Trang 2‐‐‐‐‐‐
LÊ HOÀI MINH
TÌM HIỂU VIỆC SỬ DỤNG CÂY THUỐC VÀ CÁC LOẠI RAU TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI CIL TẠI XÃ ĐẠ NHIM, HUYỆN
LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
Ngành: Lâm Nghiệp Chuyên ngành: Nông Lâm Kết Hợp
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Giáo viên hướng dẫn: TS. PHAN TRIỀU GIANG
Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 3Xin gửi lời tỏ lòng biết ơn của tôi đến Tiến Sĩ Phan Triều Giang, Thầy là người đã truyền đạt cho tôi những tri thức và trực tiếp hướng dẫn tận tình cho tôi hoàn thành khóa luận này.
Xin cảm ơn Thầy Lương Văn Dũng, khoa Sinh, trường Đại Học Đà Lạt đã quan tâm
và giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện khóa luận.
Xin cảm ơn sự giúp đỡ của cấp chính quyền địa phương và bà con ở xã Đạ Nhim, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc thu thập tài liệu và số liệu để hoàn thành bài khóa luận này.
Xin cảm ơn dự án JICA (Nhật Bản) đã hỗ trợ kinh phí ngoại nghiệp cho tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện khóa luận tại xã Đạ Nhim, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng.
Và cuối cùng, tôi cảm ơn những người bạn của tôi đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt những năm học vừa qua. Xin cảm ơn!
Tp. HCM, tháng 6 năm 2012.
Trang 4Đề tài “Tìm hiểu việc sử dụng cây thuốc và các loại rau truyền thống của người Cil tại xã Đạ Nhim, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng” được thực hiện từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2012.
Các mục tiêu của đề tài là:
- Liệt kê được danh sách những cây thuốc và cây rau rừng truyền thống
mà người dân tộc Cil đã sử dụng trong quá khứ và hiện tại.
- Xác định được địa điểm tìm gặp và hiện trạng của những loài này trong giai đoạn hiện nay.
- Mô tả chức năng (công dụng) của từng loài, cách chăm sóc, thu hái, cách chế biến và bảo quản của từng loài.
- Xác định được danh sách những người có kiến thức và hiểu biết nhiều về các loại rau rừng và cây thuốc trong rừng làm cơ sở cho các nghiên cứu
về sau.
- Tư liệu hóa những câu chuyện và những nét văn hóa truyền thống có liên quan đến cây thuốc và các loại rau rừng truyền thống của người Cil. Kết quả đạt được qua thời gian nghiên cứu là:
- Đã xác được danh sách các cây rau và cây thuốc truyền thống là 50 loài gồm có: tên địa phương, tên phổ thông, tên và họ khoa học.
Trang 5- To list medicinal plants and traditional forest vegetables that the Cil has used in the past and present.
- To identify places where these plants are found and status of these species at present.
- To describe the function (utility) of the plants, their tending, harvesting, processing and storing.
- To identify the list of people who have knowledge and understanding about the forest vegetables and medicinal plants creating resource for further research.
- Documentation of the stories and the cultural traits related to medicinal plants and traditional forest vegetables of the Cil.
Trang 6- Key knowledgeable informants were found.
- Some traditions, stories, and cultural traits were documented.
Trang 7Trang
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
SUMMARY iv
MỤC LỤC vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT xi
DANH SÁCH CÁC BẢNG xii
DANH SÁCH CÁC HÌNH xiii
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu đề tài 4
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6
2.1 Kiến thức bản địa 6
2.1.1 Khái niệm 6
2.1.2 Các dạng của KTBĐ 9
2.1.3 Vai trò của KTBĐ trong quản lý tài nguyên thiên nhiên 10
2.2 Lâm sản ngoài gỗ 12
2.2.1 Khái niệm 12
2.2.2 Phân loại LSNG 12
2.2.3 Vai trò của LSNG 13
2.3 Những nghiên cứu có liên quan 14
Chương 3 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 17
3.1 Nội dung nghiên cứu 17
3.2 Phương pháp nghiên cứu 18
3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 18
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 19
Trang 83.2.3 Phương pháp tổng hợp, phân tích và xử lý thông tin 21
3.3 Địa điểm nghiên cứu 21
3.3.1 Điều kiện tự nhiên 21
3.3.1.1 Vị trí địa lý 21
3.3.1.2 Khí hậu 22
3.3.1.3 Địa hình 23
3.3.2 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên 24
3.3.2.1 Thuận lợi 24
3.3.2.2 Hạn chế 24
3.3.3 Tình hình dân sinh, kinh tế, văn hóa và xã hội 26
3.3.3.1 Dân sinh – kinh tế 26
3.3.3.2 Số liệu tôn giáo 28
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Bối cảnh lịch sử 30
4.1.1 Dòng lịch sử dụng thuốc của người Cil tại xã Đạ Nhim 30
4.1.2 Cộng đồng sử dụng cây rau và cây thuốc 32
4.2 Các cây rau 33
4.2.1 Họ khoa học của các loài cây ra 33
4.2.2 Hình thái các loài cây rau 34
4.2.3 Phân bố các loài cây rau 34
4.2.4 Hiện trạng các loài cây rau 35
4.2.5 Bộ phận sử dụng các loài cây rau 35
4.2.6 Cách sử dụng sử dụng các loài cây rau 37
4.3 Kết quả về cây thuốc 37
4.3.1 Họ khoa học các loài cây thuốc 38
4.3.2 Hình thái các loài cây thuốc 39
4.3.3 Phân bố các loài cây thuốc 39
4.3.4 Hiện trạng các loài cây thuốc 39
Trang 94.3.6 Cách sử dụng các loài cây thuốc 41
4.4 Các cây vừa là rau vừa là thuốc 41
4.4.1 Họ khoa học của các loài cây vừa là rau vừa là thuốc 42
4.4.2 Hình thái của các loài cây vừa là rau vừa là thuốc 42
4.4.3 Phân bố của các loài cây vừa là rau vừa là thuốc 43
4.4.4 Hiện trạng các loài cây vừa là rau vừa là thuốc 43
4.4.5 Bộ phận sử dụng các loài cây vừa là rau vừa là thuốc 44
4.4.6 Cách sử dụng các loài cây vừa là rau vừa là thuốc 44
4.5 Những câu chuyện và những nét văn hóa có liên quan 46
4.6 Tình trạng hiện nay 48
4.6.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến KTBĐ 48
4.6.2 Khả năng bảo tồn và phát triển 50
4.7 Tư liệu hóa 51
4.7.1 Tư liệu hóa cây rau truyền thống 51
4.7.1.1 Bầu đất 51
4.7.1.2 Bo rừng 52
4.7.1.3 Cà dại hoa trắng, cà nai 52
4.7.1.4 Cà đắng, cà ấn 53
4.7.1.5 Cần dại 53
4.7.1.6 Cau rừng, cau chuột 55
4.7.1.7 Cây bột ngọt 55
4.7.1.8 Chua lòe 55
4.7.1.9 Chuối rừng 56
4.7.1.10 Dây cai 57
4.7.1.11 Đơn buốt 57
4.7.1.12 Dưa núi 57
4.7.1.13 Hải đường lá xẻ 58
4.7.1.14 Lá bép 59
4.7.1.15 Lu lu đực 59
Trang 104.7.1.16 Mây 60
4.7.1.17 Me rừng 60
4.7.1.18 Rau dớn 61
4.7.1.19 Rau tàu bay 61
4.7.1.20 Sơn địch 62
4.7.1.21 Tai voi 62
4.7.1.22 Xuân tiết 63
4.7.2 Tư liệu hóa cây thuốc truyền thống 64
4.7.2.1 Chè dây 64
4.7.2.2 Chẹo tía 64
4.7.2.3 Chỉ thiên 65
4.7.2.4 Cộng sản 65
4.7.2.5 Dây công chúa 66
4.7.2.6 Dây gắm 66
4.7.2.7 Đùm đũm xẻ 67
4.7.2.8 Hoàng liên ô rô 68
4.7.2.9 Hương bài 68
4.7.2.10 Keo leo 69
4.7.2.11 Lá ngón 69
4.7.2.12 Mài rừng 70
4.7.2.13 Ngải cứu 70
4.7.2.14 Sâm cau 71
4.7.2.15 Thạch xương bồ 71
4.7.2.16 Thổ phục linh 72
4.7.2.17 Trà rừng 72
4.7.3 Tư liệu hóa cây vừa là rau vừa là thuốc truyền thống 74
4.7.3.1 Cà đinh 74
4.7.3.2 Chân Chim 74
Trang 114.7.3.4 Đảng sâm 75
4.7.3.5 Mã đề 76
4.7.3.6 Mác Mát 77
4.7.3.7 Nghệ rừng 77
4.7.3.8 Rau má 78
4.7.3.9 Viễn chí chùm 79
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
5.1 Kết luận 80
5.2 Kiến nghị 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 PHỤ LỤC A
Trang 12
Từ viết tắt Giải nghĩa
FAO Food Agriculture Organization: Tổ chức Lương Nông Thế Giới GDP Gross Domestic Product: Tổng sản phẩm nội địa
GPS Global Positioning System: Hệ thống định vị toàn cầu
IIRR International Institute for Rural Recontruction: Viện Quốc Tế về
tái thiết Nông Thôn JICA The Japan International Cooperation Agency: Tổ chức hợp tác
quốc tế Nhật Bản KHKT Khoa học kỹ thuật
KTBĐ Kiến thức bản địa
LSNG Lâm sản ngoài gỗ
PRA Participatory Rural Appraisal: Đánh giá nông thôn có sự tham gia TNTN Tài nguyên thiên nhiên
TTBĐ Tri thức bản địa
UBND Ủy ban nhân dân
UNESCO United Nations Educational Scientific and Cultural Organization:
Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên Hợp Quốc WIPO World Intellectual Property Organization: Tổ chức sở hữu trí tuệ
Thế Giới
Trang 13WWF World Wide Fund for Nature: Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Bảng địa hình xã Đạ Nhim 23
Bảng 3.2 Bảng số liệu dân tộc xã Đạ Nhim 26
Bảng 3.3 Bảng số liệu tôn giáo xã Đạ Nhim 28
Bảng 4.1 Bảng phân loại công dụng 33
Bảng 4.2 Bảng phân họ khoa học các loài cây rau 33
Bảng 4.3 Bảng hình thái các loài cây rau 34
Bảng 4.4 Bảng phân bố các loài cây rau 35
Bảng 4.5 Bảng hiện trạng các loài cây rau 35
Bảng 4.6 Bảng bộ phận sử dụng các loài cây rau 37
Bảng 4.7 Bảng cách sử dụng các loài cây rau 37
Bảng 4.8 Bảng phân họ khoa học các loài cây thuốc 38
Bảng 4.9 Bảng hình thái các loài cây thuốc 39
Bảng 4.10 Bảng phân bố các loài cây thuốc 39
Bảng 4.11 Bảng hiện trạng các loài cây thuốc 40
Bảng 4.12 Bảng bộ phận sử dụng các loài cây thuốc 40
Bảng 4.13 Bảng cách sử dụng các loài cây thuốc 41
Bảng 4.14 Bảng phân họ khoa học các loài cây vừa là rau vừa là thuốc 42
Bảng 4.15 Bảng hình thái các loài cây vừa là rau vừa là thuốc 43
Bảng 4.16 Bảng phân bố các loài cây vừa là rau vừa là thuốc 43
Bảng 4.17 Bảng hiện trạng các loài cây vừa là rau vừa là thuốc 44
Bảng 4.18 Bảng bộ phận sử dụng các loài cây vừa là rau vừa là thuốc 44
Bảng 4.19 Bảng cách sử dụng các loài cây vừa là rau vừa là thuốc 46
Trang 15
Hình 22 Cây xuân tiết V Hình 23 Cây chè dây V Hình 24 Cây chẹo tía W Hình 25 Cây chỉ thiên W Hình 27 Dây công chúa X Hình 28 Dây gắm Y Hình 29 Cây đùm đũm xẻ Y Hình 30 Cây hoàng liên ô rô Y Hình 31 Cây hương bài Z Hình 32 Cây keo leo Z Hình 33 Cây lá ngón Z Hình 34 Cây mài rừng AA Hình 35 Cây ngải cứu AA Hình 36 Sâm cau AA Hình 37 Cây thạch xương bồ BB Hình 38 Cây thổ phục linh BB Hình 39 Cây trà rừng BB Hình 40 Cây cà đinh CC Hình 41 Cây chân chim CC Hình 42 Cây cúc áo CC Hình 43 Đảng sâm DD Hình 44 Cây mã đề DD Hình 45 Cây Mác mát DD Hình 46 Cây nghệ rừng EE Hình 47 Cây rau má EE Hình 48 Cây viễn chí chùm EE
Trang 16MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam là nước rất đa dạng về các thành phần dân tộc, với 54 dân tộc anh em cùng sinh sống với nhau, phần lớn các dân tộc có cuộc sống gắn liền với các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong nhiều đời nay. Mỗi dân tộc có một nền văn hóa riêng, một phong tục tập quán riêng đã tạo nên hệ thống kiến thức bản địa (KTBĐ) vô cùng phong phú. Những kiến thức này là kết quả của quá trình tích lũy lâu dài qua nhiều thế hệ, nó thể hiện nét văn hóa truyền thống và sự thích ứng của con người trước những biến đổi của thiên nhiên và xã hội. Những kiến thức này được chắt lọc và thử thách qua nhiều thế kỷ để phù hợp với điều kiện sống của con người, đặc biệt nó mang tính đặc thù riêng không giống nhau giữa các nhóm cộng đồng và dân tộc. KTBĐ là một phần quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của các cộng đồng truyền thống, KTBĐ đã mang lại hiệu quả cao, phù hợp với điều kiện của người dân địa phương trong việc khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ (LSNG). Vì vậy, KTBĐ là một kho tàng tri thức vô cùng quí báu mà chúng ta cần phải nghiên cứu để bảo lưu nó.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật (KHKT) và sự phát triển kinh tế đất nước thì tài nguyên rừng đã bị mất đi hay đang bị suy thoái dần đi dưới những tác động của con người. Rất nhiều nguồn tài nguyên trong rừng như các loài cây thuốc, các loài cây thực
Trang 17chỉ tồn tại trong một nhóm cộng đồng nhỏ sống trong và gần rừng, rất nhiều người vẫn chưa hề biết về vấn đề này. Và KTBĐ của những cộng đồng dân tộc
Trang 18để phát triển cuộc sống của người dân là rất cần thiết. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp các kiến thức được chuyển giao không phù hợp với điều kiện địa phương nên ít được người dân chấp nhận hay không mang lại hiệu quả. Do đó, chúng ta phải tìm hiểu phong tục tập quán và KTBĐ của địa phương trước khi đưa tiến bộ KHKT vào, để kết hợp những kỹ thuật mới với những kinh nghiệm truyền thống, dung hòa chúng lại dựa trên những nguồn lực có sẵn của cộng đồng, như vậy mới giúp họ phát triển bền vững được.
Ở vùng đất Tây Nguyên nơi tập trung nhiều dân tộc thiểu số, KTBĐ được
sử dụng thường xuyên và thường gặp trong kỹ thuật bảo vệ tài nguyên thiên nhiên (TNTN), đặc biệt là các đồng bào sống ở các khu vực gần rừng và các
vùng miền núi (Võ Văn Thoan, Nguyễn Bá Ngãi, 2002). Trải qua quá trình sống,
họ đã có nhiều kinh nghiệm quản lý TNTN như: việc canh tác bỏ hóa để phục hồi đất, cách khai thác, sử dụng và duy trì các loại lâm sản hay các phong tục, tập quán, tín ngưỡng trong bảo vệ rừng, sử dụng đất rừng… Ngày nay dưới sức
ép của sự gia tăng dân số, sự phát triển KHKT, cùng với các chính sách của nhà nước đã và đang ảnh hưởng rất lớn đến việc tiếp cận và sử dụng các nguồn tài nguyên làm cho những KTBĐ ngày càng bị mai một đi.
Không nằm ngoài vấn đề trên, xã Đạ Nhim, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng hiện đang là xã nông thôn mới nên được hưởng rất nhiều các dự án và chính sách phát triển của nhà nước. Đã làm cho kho tàng kiến thức về sử dụng các sản phẩm từ rừng bị mai một hoặc biến đổi dần để thích ứng với điều kiện sống hiện nay.
Trang 19Các nghiên cứu trước đây (Hoàng Hữu Cải, Phan Triều Giang và nhóm
nghiên cứu, 2011; Phan Triều Giang, Hoàng Hữu Cải và nhóm nghiên cứu, 2010)
đã cho thấy việc sử dụng và những KTBĐ về cây thuốc và cây rau truyền thống của người Cil ở Đạ Nhim mặc dù là rất đa dạng nhưng đang bị mất dần đi. Vì vậy, chúng tôi đã thực hiện đề tài nghiên cứu: “Tìm hiểu việc sử dụng cây thuốc
và các loại rau truyền thống của người Cil tại xã Đạ Nhim, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng”. Việc thực hiện đề tài này không những góp phần tư liệu hóa lại những KTBĐ về cây thuốc và cây rau truyền thống mà còn góp phần lưu giữ những những nét văn hóa truyền thống của người K’ho, góp phần làm phong phú hơn cho kho tàng kiến thức bản địa của người dân Việt Nam.
- Mô tả chức năng (công dụng) của từng loài, cách chăm sóc, thu hái, cách chế biến và bảo quản của từng loài.
- Xác định được danh sách những người có kiến thức và hiểu biết nhiều về các loại rau rừng và cây thuốc trong rừng làm cơ sở cho các nghiên cứu
về sau.
- Tư liệu hóa những câu chuyện và những nét văn hóa truyền thống có liên quan đến cây thuốc và các loại rau rừng truyền thống của người Cil.
Trang 20Trang 21
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Kiến thức bản địa
2.1.1 Khái niệm
Khái niệm KTBĐ hiện đã không còn xa lạ đối với rất nhiều người, đặc biệt là những nhà nghiên cứu nhân học, văn hoá, dân tộc học và đặc các chuyên gia phát triển.
KTBĐ được để cập dưới nhiều tên gọi như: tri thức bản địa (TTBĐ), tri thức kỹ thuật bản địa, tri thức sinh thái dân tộc học, tri thức địa phương, tri thức dân gian, tri thức truyền thống, khoa học của dân hay tri thức của người nông thôn. Đối tượng mà người ta muốn nhắc đến là một hệ thống các tri thức đặc trưng của các cộng đồng người địa phương liên quan đến cách cộng đồng này quan hệ với môi trường tự nhiên xung quanh. Với một số định nghĩa sau:
- WIPO, IIRR và Nguyễn Duy Thiệu cho rằng KTBĐ là một phức hệ những kĩnh nghiệm được hình thành trong quá trình sống và lưu truyền qua nhiều thế hệ. Theo WIPO: KTBĐ là những kinh nghiệm và được lưu truyền qua truyền khẩu, dưới dạng những bài hát, những câu chuyện hay
Trang 22người với môi trường tự nhiên để kiếm sống (Nguyễn Văn Thường,
2002).Nhiều định nghĩa lại cho
Trang 23rằng KTBĐ thì được hình thành trong một nhóm cộng đồng, một địa phương hay là một khu vực cụ thể. Và đa phần các KTBĐ đều gắn liền với những nét văn hóa truyền thống có từ lâu đời của từng làng, xã hay địa phương nhất định. UNESCO cho rằng: KTBĐ là những kiến thức, sáng kiến hay kỹ năng và các hoạt động của người dân bản địa và các cộng
cư địa phương. World Bank (1998) cho rằng: KTBĐ là nền tảng cơ bản cho việc thiết lập các quyết định liên quan đến địa phương trên mọi lĩnh vực của cuộc sống đương đại bao gồm quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, dinh dưỡng, thức ăn, y tế và giáo dục trong các hoạt động xã
hội và cộng đồng (dẫn qua Nguyễn Thị Thu Hà, 2008). UNESCO thì cho
rằng: KTBĐ là cơ sở để cộng đồng có những quyết định đảm bảo an toàn lương thực, đảm bảo sức khỏe cho chính mình cũng như vật nuôi, để giáo
dục và quản lý thiên nhiên (dẫn qua Nguyễn Thị Ngọc Huệ, 2009).
Tóm lại, KTBĐ là một phức hệ những kinh nghiệm và thường gắn liền với những nét văn hóa truyền thống của một cộng đồng hay một địa phương nhất định nào đó. KTBĐ thường được lưu truyền qua nhiều thế hệ chủ yếu bằng truyền khẩu dưới dạng những bài hát, câu chuyện hay các luật tục. Ngoài ra, KTBĐ là cơ sở cho các quyết định của cộng đồng trong các hoạt động xã hội và
ổn định cuộc sống của họ.
Trang 24- Các thao tác kỹ thuật. Ví dụ: cách bảo quản hạt giống, cách tẽ hạt giản đơn, kỹ thuật xây kè đá chống xói mòn đất đồi, kỹ thuật ghép cây, cách ủ phân xanh và các kỹ thuật khác.
- Đức tin tôn giáo. Đức tin có thể đóng vai trò trọng yếu trong phương cách sống của dân và trong duy trì môi trường. Ví dụ: những khu rừng
có thần trú ngụ, được bảo vệ bằng luật tục và đức tin, trong thực tế nó duy trì nguồn nước cho cuộc sống của dân làng. Các nghi lễ giúp điều phối tài nguyên theo một kiểu nào đó…
- Công cụ. Ví dụ: những công cụ dùng cho làm đất, gieo trồng, thu hoạch, dụng cụ vận chuyển sản phẩm thức ăn cho người và gia súc, …
- Sự thử nghiệm. Ví dụ: cách thức nông dân đưa các loài cây trồng mới vào các hệ canh tác có sẵn và họ rút ra được điều gì, hoặc là cách mà họ thử nghiệm một kỹ thuật mới du nhập ra sao để đi tới một quyết định cải tiến kỹ thuật bản địa?
- Nguồn nhân lực. Các chuyên gia như thầy lang, thợ rèn. Các tổ chức bản địa như nhóm cùng sở thích, hội đồng già làng, tổ đổi công…
- Kiến thức về sinh học. Ví dụ: cách thức lai tạo và chọn giống vật nuôi, cách thuần hóa giống và duy trì giống cây trồng bản địa
- Kiến thức về nguyên vật liệu. Ví dụ: loại đá dùng xây tường, bờ đập, kè chống xói mòn, các vật liệu cấu trúc nhà và làm vật dụng trong nhà…
Trang 252.1.3 Vai trò của KTBĐ trong quản lý tài nguyên thiên nhiên
Theo Atteh (1992), KTBĐ là chìa khóa cho sự phát triển ở cấp địa phương (Hoàng Xuân Tý, 1998a). Hiện nay, trên thế giới có khoảng 124 nước hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu KTBĐ nhằm tăng tính hiệu quả trong phát triển nông thôn và quản lý bền vững TNTN. Ở các nước đang phát triển, KTBĐ
được sử dụng thường xuyên và thường gặp trong kỹ thuật bảo vệ TNTN (dẫn
qua Võ Văn Thoan, Nguyễn Bá Ngãi, 2002).
Hơn nữa, KTBĐ đã đóng góp cho khoa học trong nhiều lĩnh vực liên quan đến việc quản lý TNTN qua các nghiên cứu về thực vật dân tộc học hiện đại. Cụ thể là nó đã giúp các nhà khoa học nắm được những vấn đề về đa dạng sinh học
và quản lý rừng tự nhiên. KTBĐ cũng đóng góp vào khoa học những hiểu biết sâu sắc về thuần hoá cây trồng, gây giống, quản lý và giúp các nhà khoa học nhận thức đúng đắn về nguyên tắc, thói quen đốt nương làm rẫy, nông nghiệp sinh thái, nông lâm kết hợp, luân canh cây trồng, quản lý sâu hại, đất đai và nhiều kiến thức khác về khoa học nông nghiệp. Thêm nữa, các nhà khoa học cũng thường quen với KTBĐ, ứng dụng vào trong các dự án về hợp tác phát triển và trong nhiều bối cảnh hiện tại khác.
Tuy nhiên, cần nhớ rằng trong các bối cảnh này, các KTBĐ xuất phát hoàn toàn độc lập (không cạnh tranh) với khoa học và nhìn chung là hoàn toàn độc lập với nền văn hóa phương Tây. Trên thực tế, KTBĐ và khoa học hiện đại cần được hiểu là hai hệ thống kiến thức bổ trợ chứ không cạnh tranh với nhau
(Nguyễn Hương Giang, 2006).
Vì vậy, nên phát triển nghiên cứu KTBĐ nhằm thu thập, lưu trữ, nâng cao
sự hiểu biết về tiến trình phát triển, ứng dụng và điều chỉnh kỹ thuật của các cộng đồng dân cư. Tuy nhiên, theo Wongsamun (1992) không phải tất cả KTBĐ cũng có giá trị thực tiễn, có thể tiếp cận sàn lọc qua 4 bước (hình 2.1) để
khuyến cáo áp dụng (dẫn qua Võ Văn Thoan, Nguyễn Bá Ngãi, 2002).
Trang 26Nhận định vấn đề
Bước 1
KTBD có liên quan đến
vấn đề đang tồn tại không?
Không Kiếm tra tính thích
hợp của kiến thức ngoại lai
Hình 2.1 Các bước sàn lọc, cải thiện kiến thức bản địa để khuyến khích áp dụng
(nguồn: IIRR, 1999)
Trang 27Hầu hết các định nghĩa đều cho rằng LSNG là những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật ngoại trừ gỗ được khai thác từ rừng và phục vụ cho mục đích con người. FAO (1999) LSNG là những sản phẩm có nguồn gôc sinh vật, khác gỗ
được khai thác từ rừng, đất có cây rừng và cây ở ngoài rừng (dẫn qua cẩm nang
ngành lâm nghiệp, 2006). Theo W.W.F (1989) thì LSNG là tất cả các vật liệu sinh
học khác gỗ, được khai thác từ rừng tự nhiên phục vụ cho mục đích của con
người (dẫn qua Nguyễn Quốc Bình, 2009). Và theo Nguyễn Quốc Bình (2009),
LSNG là những sản phẩm từ sinh vật hoặc có nguồn gốc từ sinh vật, không phải
gỗ và các dịch vụ từ sinh vật có được từ hệ sinh thái rừng và đất rừng phục vụ cho mục đích sử dụng của con người. Mục đích sử dụng của con người tùy thuộc vào đặc tính riêng của từng cộng đồng, từng quốc gia hay từng khu vực.
2.2.2 Phân loại LSNG
Khung phân loại LNSG được đề xuất (cẩm nang ngành lâm nghiệp, 2006):
để phù hợp với điều kiện thực tế, khung phân loại LSNG của Việt Nam được đề xuất như sau :
Trang 282.2.3 Vai trò của LSNG
Trang 29từ lâu, LSNG được sử dụng đa mục đích trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như làm dược liệu, đồ trang sức, đồ gia dụng, hàng thủ công mỹ nghệ, thực phẩm,…Do vậy, chúng đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của nhân
dân (Lê Ngọc Anh, 2010).
LSNG đóng một vai trò quan trọng trong sinh kế của người nghèo ở nông thôn, là nguồn lương thực, thuốc men, vật liệu xây dựng, và thu nhập. Thống kê cho thấy rằng hơn 60 triệu người dân sống hoàn toàn dựa vào rừng ở các khu vực châu Mỹ Latinh, Tây Phi và Đông Nam Á, cộng với khoảng 400‐500 triệu dân sống phụ thuộc trực tiếp vào sản phẩm từ thiên nhiên. Tiếp cận với tài nguyên rừng giúp các hộ nông thôn đa dạng hóa sinh kế của học và giảm khả năng hứng chịu rủi ro. Thu nhập từ lâm sản thường rất quan trọng vì nó bổ sung vào thu nhập khác. Rất nhiều hộ gia đình có thêm thu nhập từ việc bán lâm sản, thường khi việc sản xuất nông nghiệp không đủ trang trải cho cuộc sống. thu nhập từ lâm sản thường được dùng để mua hạt giống, thuê lao động làm việc canh tác, hoặc tạo nguồn vốn cho các hoạt động buôn bán khác. Đối với các hộ nghèo nhất, LSNG có thể đóng vai trò vô cùng quan trọng vừa là nguồn
lương thực thực phẩm, vừa là nguồn thu nhập (Nguyễn Bích Huệ, 2007).
LSNG là một lĩnh vực có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội nước ta, nhưng đến nay vẫn chưa được quy hoạch phát triển tổng thể, các loại LSNG nước ta chưa thực sự được quan tâm khai thác, bảo tồn và phát triển. Trước thực trạng đó, một dự án mang tên “hỗ trợ chuyên ngành lâm sản ngoài gỗ” do Viện Khoa học Lâm nghiệp (Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn) phối hợp với IUCN thực hiện đã được triển khai nhằm tìm lại giá trị của LSNG,
giúp người dân có cách khai thác và phát triển hợp lý (website ĐCSVN, 2005).
2.3 Những nghiên cứu có liên quan
Trang 30là vấn đề rất quan trọng, rất cần thiết, mang tính thực tiễn, tính khoa học và tính cấp bách. Chúng ta hơn lúc nào hết, phải bảo tồn và phát triển những KTBĐ giá trị, tư liệu hoá những tri thức đó để xác định việc tái sử dụng như thế nào cho có hiệu quả. Những thông tin thu thập từ nông dân, kết hợp với công tác điều tra tại chỗ được phân tích đánh giá để định hướng chiến lược cho việc bảo tồn và sử dụng hiệu quả tài nguyên di truyền thực vật cho hôm nay và cho
mai sau (Nguyễn Thị Ngọc Huệ, 2009).
Nghiên cứu về KTBĐ, hay cụ thể hơn, KTBĐ về môi trường là một ngành nghiên cứu còn rất mới ở Việt Nam. Tuy nhiên, cần thiết phải có sự quan tâm đặc biệt đến ngành này tại nước ta, thứ nhất là do Việt Nam vẫn đang được coi
là một nước đang phát triển với phần lớn đại bộ phận dân cư sống tại các vùng nông thôn, miền núi cần được nâng cao chất lượng cuộc sống; thứ hai, Việt Nam
là nước có đến hơn năm chục dân tộc thiểu số đồng nghĩa với việc có hơn năm chục hệ KTBĐ cần được nghiên cứu; thứ ba, một loạt các chính sách phát triển của chính phủ Việt Nam và sự hỗ trợ, đầu tư của các quốc gia trên thế giới vẫn đang bất lực trong việc đạt tới mục tiêu phát triển ổn định và cân bằng tiến tới
bền vững cần được tìm hiểu (Nguyễn Thị Thu Hà, 2008).
Hầu hết các nghiên cứu hiện nay đều rút ra kết luận KTBĐ của các dân tộc nước ta vô cùng đa dạng và phong phú, nhưng với thực trạng hiện nay thì
KTBĐ đang bị mất mác dần đi với một tốc độ nhanh chóng (Hàn Tuyết Mai,
2012; Nguyễn Cao Long, 2009; Lê Anh Tuấn, 2002). Hàn Tuyết Mai (2012) đã có
nghiên cứu về “Kiến thức bản địa trong quản lý và sử dụng thực vât LSNG của
cộng đồng người Vân Kiều ở thôn Là Tó, xã Húc Nghì, huyện Đa Krông, tỉnh
Trang 31phú và đa dạng. Tuy nhiên, cùng với sự mất đi của tài nguyên rừng, kho kiến thức của họ cũng đang bị mai một dần, thậm chí một số kiến thức hoàn toàn
không còn. Nguyễn Cao Long (2009) nghiên cứu về “cây dược liệu bản địa:
thách thức và khả năng phát triển trên đất canh tác của người Bana tại xã Konpne, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai” cho thấy rằng người dân nơi đây sống khá
Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào về KTBĐ của người Cil, một nhánh người của người đồng bào K’ho, tại xã Đạ Nhim, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng về việc sử dụng sử dụng cây rau và cây thuốc truyền thống của họ. Vì vậy, việc tư liệu hóa nguồn KTBĐ này sẽ giúp lưu giữ được những tri thức đang bị mai một dần của cộng đồng tại đây và sẽ góp phần làm tăng thêm sự phong phú của kho tàng TTBĐ của dân tộc Việt Nam.
Trang 32Chương 3 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA ĐIỂM
NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung nghiên cứu
Để tài nghiên cứu được thực hiện chủ yếu tại ba thôn Đạ Blah, Đạ Tro và
Đạ Ra Hoa thuộc xã Đạ Nhim, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng. Tuy vậy, địa bàn nghiên cứu không chỉ giới hạn ở thôn mà mở rộng đến những nơi mà bà con thu hái như: Iar Giêng, Yang ly. Nơi mà kiến thức bản địa của người Cil tại đây đang dần bị mất đi, nên cần rất nhiều nghiên cứu để lưu giữ những nét văn hóa này. Các nội dung của đề tài là:
a Liệt kê được danh sách những cây thuốc và cây rau rừng truyền thống mà người dân tộc Cil đã sử dụng trong quá khứ và hiện tại:
- Vì hiện nay số người còn hiểu biết về cây rau và cây thuốc truyền thống
là rất ít. Vì vậy, việc tìm được danh sách những người hiểu biết về các loại cây thuốc và cây rau rừng truyền thống tại địa phương là vô cùng cần thiết. Với kết quả mong đợi là bảng danh sách những người hiểu biết (Tên, địa chỉ, số điện thoại ( nếu có) của từng người).
- Để có được nhưng thông tin ban đầu thì cần xác định các loại cây thuốc
và cây rau rừng truyền thống đã và đang được người dân sử dụng tại địa phương. Với kết quả mong đợi là bảng danh sách những cây rau và cây thuốc truyền thống mà người dân sủ dụng (Tên địa phương, tên tiếng
Trang 33b Xác định được địa điểm tìm gặp và hiện trạng của những loài này trong giai đoạn hiện nay:
- Để biết được tình hình thực tế của từng loài ta cần xác định hiện trạng của chúng. Với kết quả mong đợi là bảng mô tả tình trạng loài nào còn, loài nào hết và số lượng của chúng là như thế nào.
- Để xác định địa điểm cụ thể của từng loài ta cần xác định khu vực phân
bố và địa điểm tìm gặp của từng loài. Với kết quả mong đợi là có được tọa độ của các loài mọc trong tự nhiên. Kèm theo là bảng hình ảnh có tỉ lệ
và USB file mềm.
c Với nhiều loài có nhiều chức năng, với nhiều các sử dụng và mùa thu hái cũng rất đa dạng, vì vậy cần phải mô tả chức năng (công dụng) của từng loài, cách chăm sóc, thu hái (mùa vụ), cách chế biến và bảo quản của từng loài. Với kết quả mong đợi là bảng công dụng, thời vụ, cách sử dụng (chế biến) và bảo quản của người dân cho từng loại cây.
d Xác định được danh sách những người có kiến thức và hiểu biết nhiều về các loại rau rừng và cây thuốc trong rừng làm cơ sở cho những nghiên cứu
về sau. Với kết quả mong đợi là danh sách tổng hợp những người có hiểu biết về các loại cây (Tên, số điện thoại, địa chỉ, chức vụ).
e Những câu chuyện và những nét văn hóa có liên quan sẽ làm khóa luận thêm sinh động, thu hút được người đọc. Vì vậy, tư liệu hóa những câu chuyện và những nét văn hóa truyền thống có liên quan đến cây thuốc và các loại rau rừng truyền thống của người Cil là việc rất cần thiết. Với kết quả mong đợi là tìm được những câu chuyện truyền miệng của người Cil có liên quan đến 1 vài cây thuốc và cây rau truyền thống của họ.
3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Các thông tin thứ cấp liên quan đến đề tài nghiên cứu được thu thập và phân tích trước khi tiến hành điều tra trên thực địa. Các thông tin này được lưu
Trang 34an của Ủy Ban Nhân Dân xã Đạ Nhim, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng. Đồng thời các thông tin này còn được thu thập qua các nguồn khác như: sách, báo, tạp chí lâm nghiệp,
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
Sử dụng một số công cụ trong bộ PRA, tiến hành đánh nhanh nông thôn
có sự tham gia để tìm hiểu chung về tình hình khu vực nghiên cứu. Đề tài được điểu tra chủ yếu ở 3 thôn: Đạ Blah, Đạ Tro và Đạ Ra Hoa, là 3 thôn được dự án JICA – Nhật Bản đầu tư.
Do đây là những KTBĐ về các loại rau và cây thuốc truyền thống của người Cil, nên việc thu thập thông tin chủ yếu sử dụng công cụ phỏng vấn bán cấu trúc, với đa số là sử các câu hỏi mở. Tiến hành phỏng vấn bán cấu trúc với những người đưa tin then chốt: phỏng vấn già làng và những người đại diện trong thôn đây là những người có hiểu biết sâu rộng về những nét văn hóa truyền thống của thôn, những nghi lễ và phong tục tập quán của người dân trước kia và hiện nay.
Phỏng vấn trực tiếp các kiểm lâm viên và các bên có liên quan để thu thập các thông tin và các ý kiến của họ về các kiến thức bản địa việc sử dụng các loại rau rừng và cây thuốc của người dân tại địa phương.
Tiến hành phỏng vấn hộ dân để biết cách sử dụng, công dụng, cách thu hái và thời vụ của từng loại cây.
Sử dụng nguyên lý “hòn tuyết lăn” để ngày càng mở rộng danh sách những người hiểu về các loại cây rau và cây thuốc, từ những người đưa tin ban đầu.
Trang 35Kết hợp với điều tra ngoài thực địa để thu thập hình ảnh, và tọa độ của các loại cây mọc trong rừng. Với các dụng cụ: máy chụp hình, máy định vị GPS, thước tỷ lệ.
Trang 363.2.3 Phương pháp tổng hợp, phân tích và xử lý thông tin
Đối với thông tin thứ cấp: sắp xếp, chọn lọc, kiểm tra lại những thông tin thu thập được, và lấy những thông tin cần thiết và xác đáng.
Đối với các thông tin sơ cấp sẽ được tổng hợp, kiểm tra, so sánh chéo các thông tin. Các thông tin sẽ được xác định theo từng cây với từng nội dung cụ thể.
Các thông tin thu thập trong ngày sẽ được tổng hợp hợp vào buổi tối của ngày hôm đó. Và sau một tuần thực hiện thì sẽ có báo cáo sơ bộ về kết quả thực hiện được, kết quả sẽ được trao đổi với giáo viên hướng dẫn để chỉnh sửa và lên kế hoạch thực hiện trong giai đoạn tiếp theo với từng nội dung cụ thể. Và cuối cùng là viết lách, sử dụng thêm internet để bổ sung các thông tin chi tiết, hoàn thành việc tư liệu hóa kiến thức bản địa của người Cil về cây rau và cây thuốc truyền thống của họ tại khu vực xã Đạ Nhim.
Đạ Nhim là một xã vùng xa của huyện Lạc Dương nằm dọc tuyến đường
723 cách trung tâm huyện 45 km tỷ lệ hộ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 90,01% tổng số hộ toàn xã; là 1 xã thuộc 16 xã nghèo của tỉnh, trình độ dân trí không đồng đều, đời sống của nhân dân còn khó khăn, nhận thức áp dụng khoa
học kỹ thuật vào sản xuất chậm đổi mới. Theo “báo cáo tình hình kinh tế xã hội,
an ninh quốc phòng năm 2011 và một số nhiệm vụ chủ yếu năm 2012” thì toàn xã
có 05 thôn với 691 hộ, 3637 khẩu, nam: 1840 khẩu, nữ: 1797 khẩu, trong đó lao động chính 2393 khẩu, lao động phụ và ăn theo 1244 khẩu. Trong đó hộ dân tộc thiểu số là: 597 hộ, 3274 khẩu chiếm: 90,01%.
3.3.1 Điều kiện tự nhiên
3.3.1.1 Vị trí địa lý
Trang 37723 nối giữa Đà Lạt và Nha Trang cách trung tâm huyện khoảng 45 Km và cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 35 km theo quốc lộ 723 về phía Đông ‐ Bắc. Với các giới cận là:
3.3.1.2 Khí hậu
Xã Đạ Nhim – huyện Lạc Dương nam trong vùng khı́ hậu nhiệt đới núi cao nên có nhiều nét của khí hậu á nhiệt đới, với những đặc trưng chính như sau:
- Mát lạnh quanh năm và khá ôn hòa, nhiệt độ bı̀nh quân trong năm khoảng 18oC, nhiệt độ thap nhat tuyệt đoi trong năm 5oC, nhiệt độ cao nhất tuyệt đối trong năm 30oC.
- Lượng mưa trung bı̀nh hàng năm khoảng 1.800mm, che độ mưa chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ cuoi tháng 4 và kết thúc vào tháng 11, mưa nhieu và mưa to vào khoảng từ tháng 7 đen tháng 9, mùa khô từ cuoi tháng 12 đen tháng 4 năm sau.
- Độ ẩm không khí bình quân trong năm cao 85%,, lượng bốc hơi 898mm. Hướng gió chính Bắc và Đông Bắc, tốc độ gió trung bình 2,1m/s.
Trang 38- Lợi thế: có thể phát triển nhiều loại cây trồng có nguồn gốc ôn đới với chất lượng cao, cường độ bốc hơi trong mùa khô không cao nên sự thiếu hụt nước trong mùa khô không nghiêm trọng.
- Hạn chế: cường độ mưa lớn và tập trung nên dễ gây xói mòn đất, cần phải được đặc biệt chú ý trong quá trình bố trí sử dụng đất, đôi khi có sương lạnh (sương muối), ảnh hưởng không tốt đến sự sinh sưởng và phát triển của nhiều loại cây trồng của bà con.
3.3.1.3 Địa hình
Về đại thể hầu hết diện tích của các xã thuộc dạng địa hình núi cao có độ dốc lớn và có hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ khu vực trung tâm xuống hai phía Đông và phía Tây. Độ cao trung bình từ 1550‐1700 m xen kẽ các dãy núi cao một số khu vực đồi thấp và sườn thoải ít dốc độ cao phổ biến là 1500‐1600 m. Với 3 dạng địa hình chính: núi cao, đồi thấp và đất bằng ven suối.
Trang 39- Dạng địa hình đồi thấp: độ dốc từ 8o – 20o, chiếm khoảng 7 – 8 % diện tích toàn xã, hiện là địa bàn phát triển nông nghiệp của xã.
- Dạng địa hình bằng ven suối: độ dốc từ 0o – 3o, có diện tích nhỏ và phân tán, khá thuận lợi cho bố trí sử dụng đất nông nghiệp và phát triển cơ sở
hạ tầng. Hiện trạng chủ yếu là đất trồng lúa, cây hoa màu, cây công nghiệp hàng năm, cây lâu năm, đất hoang và đất rừng.
3.3.2 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên
3.3.2.1 Thuận lợi
- Tiềm năng tự nhiên của xã khá đa dạng với nhiệt độ mát – lạnh và ôn hòa quanh năm là điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp.
- Là xã có diện tích rừng lớn và trữ lượng gỗ cao là nguồn tài nguyên lớn nhất của xã. Diện tích rừng hiện nay ngoài việc phòng hộ đầu nguồn và rừng đặc dụng còn mang lại lợi ích kinh tế cho nhân dân trong xã.
- Xã có diện tích che phủ lớn và chưa có công trình công nghiệp nên môi trường hiện nay ở xã rất tốt.
- Tỉnh lộ 723 chạy qua địa bàn xã nối liền giữa thành phố Đà Lạt với tỉnh Khánh Hòa, nên khả năng lưu thông hàng hóa trên địa bàn xã rất cao. Đây là động cơ thúc đẩy sự phát triển kinh tế trên địa bàn xã và thu hút đầu tư.
3.3.2.2 Hạn chế
- Vị trí của xã cách xa trung tâm huyện, và các trung tâm kinh tế của tỉnh, nên khó khăn cho việc giao lưu hàng hóa với các xã và các trung tâm kinh
tế lân cận.
- Lượng mưa lớn và tập trung thường gây ra xói mòn, cần có những biện pháp để chống xói mòn và cải thiện độ phì cho đất.
- Độ dốc trên địa bàn xã khá cao là hạn chế lớn cho việc bố trí đất sản xuất nông nghiệp cũng như việc đầu tư cho cơ sở hạ tầng. Nguồn sinh thủy rộng, mật độ suối khá dày nhưng ít thuận lợi cho việc xây dựng các công trình thủy lợi.
Trang 40- Thời tiết có đôi lúc xuất hiện sương lạnh (sương muối) ảnh hưởng không tốt đến sự sinh trưởng và phát triển của các giống vật nuôi và cây trồng.