iiiTÓM TẮT Đề tài nghiên cứu về: “Tìm hiểu những khó khăn và các yếu tố chi phối việc chia sẻ lợi ích từ việc nhận rừng của người dân tại xã Vĩnh Thịnh, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu”,
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯƠNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
Trang 2CỦA NGƯỜI DÂN TẠI XÃ VĨNH THỊNH
HUYỆN HÒA BÌNH TỈNH BẠC LIÊU
Ngành: Lâm nghiệp
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: Ths NGUYỄN QUỐC BÌNH
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 6/2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành gởi đến:
Lời cảm ơn đầu tiên, con xin gởi đến ba mẹ, người đã nhọc nhằng nuôi con khôn lớn, đã hết lòng quan tâm chăm sóc, hỗ trợ và động viên con trong suốt quá trình học tập để con có được ngày thành công như hôm nay
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Quốc Bình, đã hướng đã trực tiếp hướng dẫn tôi một cách tân tình trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, Ban Chủ Nhiệm khoa Lâm Nghiệp đã giảng dạy và tạo điều kiện cho tôi được nghiên cứu học tập trong suốt thời gian 4 năm học đại học
Xin chân thành cảm ơn anh Lê Hoàng, Phó Hạt Kiểm Lâm liên huyện tỉnh Bạc Liêu và anh Viện, bí thư xã Vĩnh Thịnh huyện Hòa Bình thỉnh Bạc Liêu đã tạo điều kiện và nhiệt tình hỗ trợ tôi trong thời gian thu thập các số liệu, tài liệu liên quan đến đề tài
Xin cảm ơn UBND xã vĩnh thịnh huyện Hòa Bình tỉnh bạc liêu đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện khóa luận
Cuối cùng tôi xin cám ơn những người bạn cùng chuyên ngành mà tôi đã quen biết, những người đã cùng tôi chia sẻ niềm vui nỗi buồn, những người đã giúp tôi vượt qua những khó khăn về mặt học tập lẫn tinh thần trong suốt chặng đường 4 năm học đại học
Xin thân thành cảm ơn
TP.HCM, tháng 06 năm 2012 KIM THỊ KHÊL
Trang 4iii
TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu về: “Tìm hiểu những khó khăn và các yếu tố chi phối việc chia sẻ lợi ích từ việc nhận rừng của người dân tại xã Vĩnh Thịnh, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu”, được thực hiện từ ngày 10/03/2012 đến 15/06/2012, nhằm tìm ra các giải pháp khắc phục các bất lợi đến việc chia sẻ lợi ích của người dân nhận khoán rừng và đất rừng tại xã Vĩnh Thịnh
Các nghiên cứu trong đề tài được thực hiện bằng cách: tìm hiểu những hộ gia đình tham gia nhận khoán bảo vệ rừng tại khu vực rừng phòng hộ ven biển xã Vĩnh Thịnh tỉnh Bạc Liêu bằng cách phỏng vấn trực tiếp hộ gia đình theo bảng câu hỏi phỏng vấn và các câu hỏi bán cấu trúc khác; tu thập những thông tinh có sẵn ở địa phương và các cơ quan ban ngành có liên quan; sử dụng phần mềm để xử lý số liệu điều tra được, tổng hợp và phân tích số liệu
Qua nghiên cứu, đề tài đã thu được những kết quả như sau:
Hiểu được đời sống, kinh tế của người dân sau khi tiếp nhận chủ trương khoán bảo vệ rừng của Đảng và Nhà Nước đưa ra
Thấy được những thuận lợi và khó khăn đối với người nhận khoán bảo vệ rừng dựa vào các yếu tố chi phối việc chia sẻ lợi ích từ việc nhận giao khoán rừng và dất lâm nghiệp tại nơi đây
Hiệu quả của chương trình giao khoán bảo vệ rừng được thể hiện khá rõ:
o Về mặt xã hội, nâng cao ý thức cho người dân trong việc quản lý, bảo
vệ rừng
o Về mặt kinh tế, ổn định sản xuất, nâng cao đời sống của người dân Các
vụ vi phạm luật bảo vệ rừng ngày càng giảm đi Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn nhiều vấn đề còn tồn tại song song, cần được giải quyết thực hiện trong giai đoạn sắp tới
Những giải pháp cho những khó khăn của người dân
o Rà soát tình hình giao khoán để kịp thời đánh giá diễn biến của công tác giao khoán
Trang 5iv
o Hỗ trợ vốn sản xuất cho những hộ được nhận khoán còn gặp khó khăn
có áp lức đối với rừng phòng hộ ven biển
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt iii
Mục lục v
Danh sách các từ viết tắt viii
Danh sách các bảng ix
Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 2 TỔNG QUAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 3
2.1.Tổng quan nghiên cứu 3
2.1.1.Tìm hiểu về vấn đề giao khoán quản lý và bảo vệ rừng 3
2.1.2.Mục đích của việc giao khoán quản lý và bảo vệ rừng 3
2.1.3.Cơ sở pháp lý về giao khoán quản lý và bảo vệ 5
2.1.4.Chính sách hưởng lợi trong giao khoán quản lý và bảo vệ rừng 6
2.2.Địa điểm nghiên cứu 7
2.2.1.Điều kiện tự nhiên 7
2.2.1.1.Vị trí địa lý 7
2.2.1.2.Địa hình và đất đai 7
2.2.1.3.Khí hậu, thời tiết, thủy văn 8
2.2.2.Tình hình kinh tế - xã hội 8
2.2.3.Tài nguyên rừng 9
Chương 3 MỤC TIÊU, NỘI DỤNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
3.1.Mục tiêu nghiên cứu 10
3.2.Nội dung nghiên cứu 10
3.3.Phương pháp nghiên cứu 11
3.3.1.Phương pháp nghiên cứu 11
3.3.1.2.Ngoại nghiệp 12
Trang 7vi
3.3.1.3.Nội nghiệp 13
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 14
4.1.Thực trạng giao đất giao rừng tại xã Vĩnh Thịnh 14
4.1.1.Các giai đoạn hình thành và quản lý rừng phòng hộ ven biển 14
4.1.2.Hiện trạng sử dụng rừng và đất lâm nghiệp 16
4.1.3.Tiến trình giao đất giao rừng tại xã Vĩnh Thịnh 17
4.1.3.1.Các giai đoạn thực hiện công tác giao đất giao rừng 17
4.1.3.2.Kết quả giao đất khoán rừng tại địa phương 18
4.1.3.3.Sự hưởng lợi thực tế của người dân 19
4.1.3.4.Tiến trình giao đất giao rừng trong thực tế 20
4.2.Sự tác động của việc giao đất giao rừng tới đời sống của người dân 21
4.2.1.Ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất 21
4.2.2.Ảnh hưởng tới sinh hoạt hàng ngày người dân 22
4.2.3.Ảnh hưởng từ khai thác lâm sản 23
4.3.Các yếu tố chi phối việc chia sẻ lợi ích từ việc nhận rừng và đất lâm nghiệp trong thời điểm hiện tại 24
4.3.1.Yếu tố bên ngoài cộng đồng nhận giao khoán rừng và đất rừng 24
4.3.2.Yếu tố bên trong cộng đồngnhận giao khoán rừng và đất rừng 26
4.3.2.1.Những yếu tố có lợi 26
4.3.2.2.Những yếu tố bất lợi 28
4.3.2.3.Hướng khắc phục 33
4.4.Những thuận lợi và khó khăn đối với người nhận giao khoán rừng và đất lâm nghiệp 33
4.4.1.Những thuận lợi đối với người nhận giao khoán 33
4.4.2.Những khó khăn đối với người nhận giao khoán 34
4.5.Các giải pháp chia sẻ lợi ích từ việc nhận khoán rừng và đất rừng 36
4.5.1.Các giải pháp từ người dân 37
4.5.2.Các giải pháp thích hợp theo đề xuất của người dân để quản lý và bảo vệ rừng 39
Trang 8vii
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 40
5.1.Kết luận 40
5.2.Kiến nghị 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
Trang 9viii
Trang 10ix
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1: Hiện trạng sử dụng rừng tại thời điểm hiện tại 16
Bảng 4.2: Phân chia số hộ theo năm nhận khoán 18
Bảng 4.3: Chia nhóm hộ theo diện tích nhận khoán 18
Bảng 4.4: Chu kỳ của hoạt động nuôi thủy sản 27
Bảng 4.5: Tổng thu nhập từ NTS theo diện tích nhận khoán 27
Bảng 4.6: Mức đầu tư theo diện tích nhận khoán 28
Bảng 4.7: Các loại mức chi theo diện tích nhận khoán 29
Bảng 4.8: Nguồn vốn đầu tư của các hộ nhận khoán 30
Bảng 4.9: Tổng thu, chi theo diện tích nhận khoán 31
Bảng 4.10: Số hộ có con em đang đến trường 32
Bảng 4.11: Những thuận lợi từ rừng đối với người dân 34
Bảng 4.12: Số hộ có ý kiến trong việc tỉa thưa rừng 34
Bảng 4.13: Đánh giá phương án sản xuất 36
Bảng 4.14:Đánh giá tình hình ăn chia trong việc giao khoáncủa các hộ gia đình 37
Bảng 4.15: Số hộ có ý kiến về việc tăng thêm diện tích nuôi tôm 37
Bảng 4.16: Nhóm hộ có ý kiến trong việc tỉa thưa 38
Bảng 4.17: Số hộ có ý kiến trong việc chi trả tiền thuê đất 38
Bảng 4.18: Số hộ có ý kiến xem xét việc cấp đất 39
Trang 11xã hội bền vững và kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh Do đó, nhiều hộ dân đến đây cư trú dù bất hợp pháp trong lâm phần phòng hộ ven biển Đông, lại không
có công ăn việc làm ổn định nên tiềm ẩn nguy cơ phá rừng còn rất cao Trong khi
đó, việc thực hiện một số chủ trương, chính sách về rừng và đất rừng còn nhiều bất cập, các biện pháp quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh có hiệu quả, sẽ gây ra những hậu quả xấu về môi trường sinh thái và làm suy giảm nhanh chóng các nguồn tài nguyên rừng cũng như tài nguyên thiên nhiên trên địa bàn toàn tỉnh Bạc Liêu
Dựa vào các chính sách liên quan đến trồng rừng và giao khoán để người dân quản lý và bảo vệ rừng của nhà nước RPH ven biển Bạc Liêu đã được giao khoán quản lý và bảo vệ với các hình thức giao khoán theo hợp đồng, quy mô, đối tượng cũng khác nhau Quá trình thực hiện công tác giao khoán đất rừng còn nhiều vấn đề
Trang 12phức tạp Sự thống nhất về cách triển khai thực hiện các chính sách về quản lý và bảo vệ rừng ở các địa phương chưa đồng bộ Sự phân chia lợi ích từ rừng luôn là vấn đề được tranh luận giữa chủ rừng và những người dân khoán Từ đó, việc quản
lý rừng để phục vụ các mục tiêu phòng hộ môi trường và cùng lúc phát triển kinh tế -xã hội, nâng cao đời sống của người dân là một thử thách lớn cho BQL rừng Quan trọng nhất là nâng cao đời sống của người dân địa phương nói chung và các hộ nhận khoán nói riêng mà rừng ngày càng phát triển Trong điều kiện đó, các chủ trương, chính sách giao khoán rừng và đất rừng có thành công hay không là phụ thuộc rất nhiều vào việc ổn định đời sống của người dân địa phương tại nơi đây
Từ những ý nghĩa thực tiễn đó, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu những khó khăn và các yếu tố chi phối việc chia sẻ lợi ích từ việc nhận rừng của người dân tại xã Vĩnh Thịnh, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu” để làm đề tài tốt nghiệp.Với chuyên đề này, tôi hy vọng trong quá trình làm nghiên cứu có thể giúp ích được phần nào công việc của tôi sau này, tại nơi tôi đang thực hiện nghiên cứu.Và qua những kết quả tổng kết được rút ra được những bài học, tìm ra những vấn đề còn vướng mắc và đưa ra được đề xuất thực thi chủ trương giao khoán rừng
và đất rừng
Trang 13Chương 2
TỔNG QUAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan nghiên cứu
2.1.1 Tìm hiểu về vấn đề giao khoán quản lý và bảo vệ rừng
Khoán quản lý bảo vệ rừng: là một hoạt động quan trọng của lâm nghiệp xã hội; là phương thức tiếp cận có sự tham gia trong hoạt động quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng nhằm tăng năng suất rừng, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường Đồng thời, ổn định về kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của người dân nhận giao khoán quản lý bảo vệ rừng và đất rừng tại địa phương và phát triển cộng đồng xã hội
Mặc khác, khoán quản lý bảo vệ rừng cũng là một hình thức xác định quyền làm chủ khu rừng được nhận, quyền được sử dụng rừng đối với người được nhận khoán quản lý Đó là người được nhận giao khoán quản lý bảo vệ được khai thác thông dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ rừng; được cho thuê quyền sử dụng rừng thông qua hợp đồng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng và pháp luật dân sự đây là một chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà Nước ta trong quá trình đổi mới
2.1.2 Mục đích của việc giao khoán quản lý và bảo vệ rừng
Mục đích của việc giao khoán quản lý và bải vệ rừng nhằm đảm bảo các khía cạnh sau:
- Bảo vệ tài nguyên rừng
Trang 14Trong bối cảnh thị trường, nhu cầu cuộc sống ngày càng cao dẫn đến tình trạng người dân tiếp cận rừng một cách tự do làm cho tài nguyên rừng bị suy giảm nhanh chóng Việc giao khoán quản lý và bảo vệ rừng của nhà nước ta đưa ra là một chủ trương phát triển tài nguyên rừng một cách phù hợp với nhu cầu xã hội trong qua trình đổi mới
- Bảo tồn đa dạng sinh học
Trong tự nhiên, các hệ sinh thái luôn tồn tại theo quy luật cân bằng của tự nhiên Nếu ngườ dân tiếp cận rừng một cách tự do sẽ dẫn đến một hệ sinh thái nào
đó bị phá vỡ Điều đó kéo theo chiều hướng bất lợi cho các hệ sinh thái khác Do
đó, viêc bảo vệ tài nguyên rừng của các chủ rừng được nhận giao khoán góp phần nào vào việc bảo vệ đa dạng sinh học trong tự nhiên và góp phần giữ cho hệ sinh thái trong tự nhiên tụ điều chỉnh sự cân bằng vốn có hoặc thay đổi sự cân bằng cho phù hợp với những cái dang diễn ra theo chiều hướng tích cực, bảo tồn được nguồn gen động – thực vật rừng
Tóm lại, việc giao khoán quản lý và bảo vệ sẽ góp phần giảm bớt đi nhiều những hiện tượng khai thác rừng trái phép, phá rừng trái phép, săn bắt động vật rừng duy trì và phát triển vốn rừng, nâng cao chức năng rừng phòng hộ nhằm phát triển tài nguyên rừng, bảo vệ rừng trồng và môi trừơng sinh thái
Chủ trương giao khoán quản lý và bảo vệ rừng là một chủ trương lớn có tính chiến lược trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững dựa vào người dân của rất nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, do điều kiện của mỗi quốc gia và khu vực khác nhau nên việc thực hiện chính sách này cũng có nhiều điểm khác biệt với nhau Nhưng mục đích của chung của việc giao khoán quản lý và bảo vệ rừng là: tăng độ che phủ của rừng, đảm bảo an nninh môi trường, giảm nhẹ thiên tai, bảo tồn và phát triển nguồn gen và tính đa dạng sinh học của động – thực vật rừng, góp phần tạo công ăn việc làm cho người lao động, từng bước xóa đói giảm nghèo, định canh định cư tăng thu nhập cho người dân sống trong và gần rừng
Qua đó, cho thấy rằng vấn đề giao khoán quản lý và bảo vệ rừng là một vấn
đề phức tạp, gắn liền với việc phát triển kinh tế - xã hội của mỗi đất nước Do đó,
Trang 15thu hút được sự quan tâm của rất nhiều các ban ngành có liên quan, không chỉ ở trong nước mà còn rất nhiều tổ chức của nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm Luôn có những chương trình, dự án nghiên cứu để tìm ra phương án, tiến trình quản
lý hiệu quả, cơ chế hưởng lợi tối ưu, phù hợp nhất đối với từng khu vực nhất định Mặc khác, giao khoán quản lý và bảo vệ rừng cho các cộng đồng và các hộ gia đình quản lý cũng giúp cho người dân sống trong và gần rừng có được cuộc sống ổn định nó được coi là giải pháp nhằm cải thiện đời sống của người dân, góp phần lưu trữ và phát triển kho tàng kiến thức bản địa phong phú của mỗi cộng đồng, thúc đẩy việc triển khai chủ trương, chính sách và các biện pháp kỹ thuật nông lâm nghiệp để
sử dụng bền vững nguồn tài nguyên rừng
2.1.3 Cơ sở pháp lý về giao khoán quản lý và bảo vệ
Theo đề án giao rừng và đất lâm nghiệp tỉnh Bạc Liêu được xây dựng trên cơ sở căn
Quyết định 178/QĐ – TTg ngày 12/11/2001 của thủ tướng chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp
Luật Đất đai năm 2003; Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004
Quyết định 1174/QĐ – TTg ngày 07/11/2005 của thủ tướng chính phủ về phê duyệt đề án thí điểm giao rừng, khoán quản lý và bảo vệ rừng cho hộ gia đình, cộng đồng
Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng
Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ
về việc ban hành Quy chế quản lý rừng
Trang 16Thông tư số 38/2007/TT – BNN, ngày 25/04/2007 của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, hướng dẫn trình tự thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng cho tổ chức, cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng dân cư thôn
Quyết định số 2740/QĐ-BNN-KL ngày 20/9/2007 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt Đề án giao rừng, cho thuê rừng giai đoạn
2007 - 2010
Quyết định số 464/QĐ-UBND ngày 23/7/2007 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh về việc phê duyệt Báo cáo rà soát quy hoạch lại 03 loại rừng tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 2006 - 2010
Quyết định số 102/QĐ-UBND ngày 12/01/2006 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt phương án quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng phòng hộ ven biển Đông tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 2006 - 2010
2.1.4 Chính sách hưởng lợi trong giao khoán quản lý và bảo vệ rừng
Theo QĐ 178, về quyền hưởng lợi của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp:
- Được Nhà nước cấp kinh phí để thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và khoanh nuôi tái sinh rừng theo quy định hiện hành
- Được khai thác cây gỗ chết khô, cây đổ gẫy, cây sâu bệnh theo thiết kế khai thác do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt và cấp giấy phép Lâm sản nói trên được tự do lưu thông khi có đủ thủ tục theo quy định
Việc hưởng lợi từ diện tích rừng được nhận giao khoán là một vấn đề quan trọng đối với người nhận giao khoán, thúc đẩy kích thích sự tham gia quản lý rừng của người quản lý rừng Đối với RPH ven biển tỉnh Bạc Liêu, rừng non chưa có trữ lượng, việc tận thu sản phẩm từ rừng rất ít nên người dân chỉ nhận được sự hưởng lợi từ thủy sản tự nhiên dưới tán rừng và nuôi thủy sản dưới tán rừng Ngoài thủy sản, người dân còn nhận được tiền công khoán bảo vệ rừng ổn định lâu dài cho chủ rừng Từ năm 2011 trở về trước, cứ mỗi hecta người nhận khoán nhận được 100 nghìn đồng/ha/năm Đến năm 2012, số tiền mà người nhận khoán nhận được là 200 nghìn đồng/ha/năm Đây là nguồn thu nhập ổn định của người nhận khoán, về thực chất số tiền mà người dân nhận được là tiền chi trả cho việc bảo vệ môi trường
Trang 17Trước đây, có rất nhiều chuyên đề nghiên cứu về việc giao khoán rừng và đất rừng phòng hộ ở rất nhiều nơi khác nhau Do nghiên cứu ở những địa điểm khác nhau, điều kiện tự nhiên – xã hội khác nhau nên ít nhiều cũng có sự khác nhau về quá trình giao khoán, về đời sống sản xuất của người dân Mỗi đề tài nghiên cứu đều tìm ra được những mặt thiếu sót trong quá trình giao khoán tại nơi nghiên cứu,
đề xuất những giải pháp cải thiện, góp phần khắc phục những thiếu sót còn tồn tại
đó Nay, chúng tôi làm đề tài này cũng tìm hiểu về giao khoán rừng và đất rừng , về
sự hưởng lợi của người dân khi được nhận giao khoán tại xã Vĩnh Thịnh, huyện Hòa Bình Chúng tôi mong muốn, nếu chuyên đề này thành công sẽ tìm ra một số vấn đề còn tồn tại, có những giải pháp chung để góp phần khắc phục những khuyết điểm của công tác giao khoán rừng và đất rừng tại tỉnh Bạc Liêu nói chung và ở huyện Hòa Bình nói riêng
2.2 Địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện tự nhiên
2.2.1.1 Vị trí địa lý
Vĩnh Thịnh là xã ven biển, nằm phía Nam quốc lộ 1A, thuộc địa bàn huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu Vị trí địa lý của xã được xác định như sau:
- Phía Đông giáp xã Vĩnh Hậu, huyện Hòa Bình;
- Phía Tây giáp kênh xáng Cái Cùng và xã Long Điền Đông, huyện Đông Hải;
- Phía Nam giáp biển Đông;
- Phía Bắc giáp xã Vĩnh Mỹ A, huyện Hòa Bình
Toàn địa bàn xã có tổng diện tích tự nhiên là 11.908,26 ha Xã được phân thành 6 ấp: Vĩnh Mới, Vĩnh Lập, Vĩnh Lạc, Vĩnh Tiến, Vĩnh Hòa, Vĩnh Bình
Trang 18đất bãi bồi ven biển Phù hợp cho nuôi trồng thủy sản, làm muối và phát triển rừng ngập mặn
2.2.1.3 Khí hậu, thời tiết, thủy văn
- Khí hậu, thời tiết
Khí hậu xã Vĩnh Mỹ mang những đặc trưng điển hình của khí hậu nhiệt đới gió mùa, cận xích đạo, đồng thời chịu ảnh hưởng rõ rệt của biển, một năm phân 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 – 11, mùa khô từ tháng 12 – 4 dương lịch, với lượng mưa trung bình 1.800 mm/năm, mùa mưa chiếm trên 90 % lượng mưa cả năm, mùa khô thời tiết hầu như không mưa Các yếu tố thời tiết khác như chế độ
ẩm, chế độ nhiệt và chế độ gió không có biến động lớn trong chu kỳ 1 năm: với nền nhiệt độ cao trung bình năm 26,50C; độ ẩm không khí trung bình 85 %
- Nguồn nước, thủy văn
Nguồn nước mặt: Vĩnh Thịnh là một xã nằm ở phía nằm ở ven biển nên nguồn nước mặt phụ thuộc hoàn toàn vào triều cường của thủy triều biển Đông thông qua kênh xáng Cái Cùng Kinh tế của xã phát triển thuận lợi về Ngư Nghiệp
và Diêm Nghiệp
Thủy văn: Bị chi phối bởi chế độ bán nhật triều biển đông với dòng chảy mạnh, biên độ triều khá lớn, bình quân là 2,85m, tạo thuận lợi cho việc tiêu nước tự chảy và rửa mặn, phèn; lấy nước mặn từ biển để sản xuất nuôi trồng thủy sản, làm muối, phát triển rừng ngập mặn
2.2.2 Tình hình kinh tế - xã hội
Toàn xã có tổng số 2.982 hộ với 12.954 số khẩu Nhìn chung tỷ lệ nam nữ tương đối đồng đều, nam chiếm 6642 khẩu, nữ chiếm 6312 khẩu trong đó, người Kinh chiếm 87%, người Khmer chiếm 10%, 3% là người Hoa
Nhìn chung, thành phần dân cư nơi đây phần lớn là nhân dân lao động Mức sống của nhân dân nơi đây thể hiện qua nhà cửa, trang trí nội thất cho thấy cuộc sống của người dân đang ổn định, an cư lạc nghiệp
Đầu năm 2011 số hộ nghèo trong toàn xã là 992 hộ (theo tiêu chí mới), chiếm 32,14% so số hộ (có 22 hộ chính sách, chiếm 0,71%), hộ cận nghèo 281 hộ, chiếm 9,1% so với số hộ Tuy nhiên vào tháng 11 năm 2011 đã đưa ra thoát nghèo
Trang 19112 hộ và phát sinh mới 82 hộ Hiện tại tổng số hộ nghèo trên địa bàn xã là 962 hộ, chiếm tỷ lệ 31,17% so với số hộ (có 15 hộ chính sách, chiếm 0,48%), thoát nghèo diện cận nghèo 56 hộ, hộ cận nghèo phát sinh 21 hộ, hộ cận nghèo còn lại 248 hộ,
chiếm 8,03% so với số hộ
2.2.3 Tài nguyên rừng
Rừng phòng hộ ven biển có giá trị lớn về phòng hộ, là “Lá chắn” quan
trọng trong ngăn chặn triều cường, sóng biển, thiên tai từ biển Đông tràn vào, bảo
vệ cho hàng ngàn hecta đất canh tác và hộ dân sinh sống sau đê; Có vị trí quan trọng trong hệ sinh thái, duy trì tính đa dạng sinh học.Trên toàn bộ diện tích rừng phòng
hộ thì chủ yếu là rừng non chưa có trữ lượng Đặc trưng của rừng phòng hộ tỉnh Bạc liêu là hệ sinh thái rừng ngập mặn, có khoảng 32 loài cây ngập mặn chính thức
và 32 loài tham gia sinh sống
Thực vật rừng gồm có: Đước đôi (Rhizophora apiculata), Mấm trắng
(Avencia appa), Dà (Ceriop tagal), Cóc trắng (Lumnizera racemora), Mấm đen (Avicennia offcinalis), Giá (Ecoecaria agallocha), Dừa nước (Nipa fructicars), Tra (Thespesia populnea), Phi lao (Casuarina equisetifolia) …Loài cây thích nghi, phát
triển tốt, chức năng phòng hộ cao là Đước, Phi lao, Cóc; loài cây phát triển chậm là Tra, Dà; riêng diện tích rừng mấm tự nhiên trong khu vực phòng hộ kết hợp sản xuất bị chết cục bộ, do không thích nghi với môi trường nuôi trồng thủy sản kết hợp
Các loài động vật dưới tán rừng khá phong phú và đa dạng như: Chim, Ong, Chồn, Rắn, Vọp, Sò, Ba khía, Còng, Nghêu, Chem chép, các loại Ốc, Tôm, Cá …
Đặc trưng của rừng phòng hộ là rừng ngập mặn nên tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản rất mạnh
Trang 2010
Chương 3
MỤC TIÊU, NỘI DỤNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Để làm sáng tỏ mục đích của nghiên cứu, các mục tiêu cần thực hiện như sau:
- Mô tả được thực trạng giao đất giao rừng tại xã Vĩnh Thịnh, huyện Hòa
Bình, tỉnh Bạc Liêu
- Phân tích được những thuận lợi và khó khăn đối với người nhận giao khoán
dựa vào các yếu tố chi phối việc chia sẻ lợi ích từ việc nhận rừng tại thời điểm hiện tại
- Đề xuất được các giải pháp chia sẻ lợi ích từ việc nhận khoán rừng và đất
rừng dựa trên đề xuất của người dân và sự đồng thuận của người dân với cơ quan quản lý tài nguyên rừng
3.2 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu trên, những nội dung nghiên cứu đã được thực hiện như sau:
- Thực trạng giao đất giao rừng tại xã Vĩnh Thịnh, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc
Liêu được mô tả theo những góc độ
+ Các giai đoạn hình thành rừng phòng hộ ven biển và quá trình hoạt động Lâm Nghiệp của tỉnh Bạc Liêu
+ Hiện trạng sử dụng rừng và đất lâm nghiệp
+ Tiến trình giao đất giao rừng tại xã Vĩnh Thịnh, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu
Sự tác động của việc giao đất giao rừng tới đời sống của người dân
Trang 2111
Ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất
Ảnh hưởng tới sinh hoạt hàng ngày của người dân
Ảnh hưởng tới khai thác lâm sản
Các yếu tố chi phối việc chia sẻ lợi ích từ việc nhận giao khoán rừng và đất rừng phòng hộ trong thời điểm hiện tại
Yếu tố bên ngoài cộng đồng nhận giao khoán rừng và đất rừng
Yếu tố bên trong cộng đồng nhận giao khoán rừng và đất rừng
Những thuận lợi và khó khăn đối với người được nhận giao khoán rừng và đất rừng phòng hộ ven biển
- Các giải pháp chia sẻ lợi ích từ việc nhận khoán rừng và đất rừng dựa trên đề
xuất của người dân với cơ quan quản lý tài nguyên rừng Các giải pháp được phân tích dựa trên nhóm giải pháp đó là:
Giải pháp từ người dân
Những giải pháp thích hợp theo đề xuất của người dân được nhận giao khoán rừng và đất rừng và quy định của nhà nước
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1.1 Dung lượng mẫu cần thiết cho nghiên cứu
Địa bàn xã Vĩnh Thịnh có 102 hộ nhận giao khoán rừng và đất rừng Dung lượng mẫu cần cho thu thập số liệu được tính theo công thức:
Trang 2212
mặt ở nhà thì xin phỏng vấn Việc điều tra kết thúc khi đã điề tra đủ 55 hộ, đây là những hộ có tham gia nhận giao khoán rừng và đất rừng
3.3.1.2 Ngoại nghiệp
(i) Thu thập các thông tin thứ cấp
Thu thập tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội , các chủ chương, chính sách, quyết định liên quan đến việc giao đất giao rừng tại địa bàn nghiên cứu
từ các đơn vị, phòng ban có liên được thu thập bằng cách:
- Tiếp cận với BQL rừng phòng hộ để thu thập những số liệu liên quan đến tình hình sử dụng rừng và đất rừng, tình hình vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng của người dân địa phương
- Tiếp cận các cán bộ ở ấp, Ủy Ban Nhân Dân xã Điền Hải để thu thập những thông tin số liệu liên quan đến tình hình đời sống sản xuất, kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng ở tại địa phương thực hiện nghiên cứu
(ii) Thu thập các tài liệu sơ cấp
- Sử dụng câu hỏi phỏng vấn các hộ (xem phụ lục 2) để thu thập những thông tin liên quan đến hoạt động sản xuất cả người dân, mức thu nhập từ các hoạt động sản xuất hiện có của các hộ được phỏng vấn
Sử dụng một số công cụ PRA để thu thập thông tin cụ thể:
- Phân tích thời gian
+ Dòng lịch sử: nắm các diễn biến về lịch sử, xã hội và xu hướng phát triển của địa phương
Trang 2313
+ Lịch thời vụ: xác định thời vụ của các công việc, giai đoạn sản xuất của người địa phương
+ Hiện trạng tài nguyên rừng: Nắm được hiện trạng sử dụng rừng tại thời điểm hiện tại
- Phân tích SWOT: xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, ngụy cơ trong việc giao đất giao rừng cho người dân
- Phân tích thông tin thu thập được từ phía người dân, Chủ yếu là các thông tin
về tình hình đời sống, sản xuất của người được nhận giao khoán rừng và đất rừng
Trang 2414
Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thực trạng giao đất giao rừng tại xã Vĩnh Thịnh
4.1.1 Các giai đoạn hình thành và quản lý rừng phòng hộ ven biển
Trước năm 1990: Rừng phòng hộ ven biển chưa có ban quản lý, mà do PNN
& PTNT huyện, thị quản lý, do đó việc quản lý bảo vệ rừng chưa được quan tâm đúng mức nên việc quản lý , sử dụng rừng và đất Lâm nghiệp chưa đúng theo quy định
Năm 1991: Tỉnh Minh Hải thành lập Ban quản lý rừng phòng hộ theo từng huyện, thị nhưng công tác quản lý, bảo vệ chưa được hiệu quả, rừng vẫn bị chặt phá, lấn chiếm, công tác quản lý rừng chưa được quan tâm đúng mức
Năm 1992: Các BQL rừng phòng hộ Biển Đông và đai RPH biển Đông được xác lập theo Quyết định số 413/QĐ –NN năm 1992 của Bộ Lâm nghiệp
Năm 1995 – 1996: Thực hiện chủ trương của Chính phủ về giao khoán đất Lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân nhận Hợp đồng giao khoán vào mục đích lâm nghiệp theo Nghị định số 01/NĐ-CP ngày 01/01/1995 của Chính phủ ban hành bản quy định về việc giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản UBND tỉnh Minh Hải, nay là UBND tỉnh Bạc Liêu đã quyết định giao chức năng quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp cho Ủy ban nhân dân thị xã Bạc Liêu, huyện Hòa Bình (huyện Vĩnh Lợi cũ), huyện Đông Hải (huyện Giá Rai cũ) tiến hành hợp đồng giao khoán cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình và kể cả hợp thức hóa đối với các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình
tự bao chiếm trước đây trên địa bàn huyện Giá Rai (nay là huyện Đông Hải)
Năm1997: RPH ven biển Đông được giao cho Chi cục Kiểm lâm quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Tổ chức bộ máy lực lượng Kiểm lâm gồm 48 người, 03
Trang 2515
phòng chức năng tại Chi cục, 01 Trạm Phúc kiểm Lâm sản, 01 Đội Kiểm lâm cơ
độngvà, trong đó có 08 Trạm Kiểm lâm và 01 Tổ Kiểm lâm cơ động Từ năm 1997
đến nay, tỉnh triển khai thực hiện dự án 661, WB2 đã thực hiện trồng mới 1.174 ha tại khu vực rừng phòng hộ; loài cây rừng được trồng chủ yếu như: Đước, Tra, Cóc, Phi lao, Dà, Me, Mấm
Năm: 2002 Hạt kiểm lâm liên huyện rừng phòng hộ biển Đông được thành lập và giao lại cho Hạt kiểm lâm quản lý bảo vệ
Từ sau khi rừng phòng hộ ven biển được giao cho Chi Cục Kiểm Lâm tỉnh Bạc Liêu quản lý thì Chi Cục Kiểm Lâm đã phối hợp với các chính quyền địa phương và các ngành chức năng tiến hành rà soát các hợp đồng giao khoán đất lâm nghiệp của tổ chức và hộ cá thể trước đây Sau đó, Chi Cục Kiểm Lâm đã tiến hành cấp lại sổ xanh mới là hợp đồng giao khoán đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân Đến năm 2002 Hạt Kiểm Lâm liên huyện thành lập Từ đó, công tác quản lý và bảo vệ RPH được thực hiện tôt hơn Tuy nhiên, tình hình vi phạm pháp luật bảo vệ rừng vẫn xảy ra khá phức tạp
Trang 2616
4.1.2.Hiện trạng sử dụng rừng và đất lâm nghiệp
Xã có tổng diện tích rừng là 981,52 ha Trong đó, diện tích đất rừng được
giao khoán quản lý cho người dân là 925.96 ha Diện tích cụ thể theo từng loại rừng
theo bảng 4.1
Bảng 4.1 : Hiện trạng sử dụng rừng tại thời điểm hiện tại
Stt Loại
Diện tích RPH xung yếu (ha)
Diện tíchrừng KHSX (ha)
Hành lang đê Tổng
(ha)
Có R (ha)
(Nguồn từ Hạt Kiểm Lâm liên huyện)
Chủ trương giao khoán được thực hiện đồng bộ vào năm 1997 đến nay,
nhưng quá trình thực hiện giao khoán cho chủ rừng chưa làm được bản đồ chính
quy giải thửa, hồ sơ giao khoán rừng và đất rừng chưa thể hiện loại rừng, hiện trạng
và trữ lượng rừng; công tác thống kê, quản lý hồ sơ theo dõi biến động của rừng
phòng hộ lấn biển, diện tích sẽ tăng hàng năm chưa đầy đủ và chưa đúng quy định
của nhà nước Quá trình thực hiện giải pháp quản lý nhà nước về rừng và đất đất
lâm nghiệp tại địa phương trong từng thời kỳ có nhiều bất cập, chưa phân định rõ
trách nhiệm giữa các cơ quan, chồng chéo chức năng, sự thống nhất về triển khai
thực hiện các chính sách về quản lý bảo vệ rừng ở các địa phương còn khác nhau,
thiếu sự đồng bộ về giải pháp quản lý phải đi cùng đầu tư và các chính sách kinh tế,
xã hội khác nhau ở khu vực rừng phòng hộ
Trang 2717
4.1.3 Tiến trình giao đất giao rừng tại xã Vĩnh Thịnh
4.1.3.1 Các giai đoạn thực hiện công tác giao đất giao rừng
Trước khi chưa thực hiện chủ trương giao đất giao rừng, người dân nhập cư nơi đây tự khoanh lấy diện tích đất để đào đầm đắp đập nuôi thủy sản, có cây có đất sẵn nên họ xây dựng nhà cửa, ổn định cuộc sống Điều này làm cho diện tích rừng giảm sút nhanh chóng, nhưng lúc này người dân không ý thức được tầm quan trọng của rừng Nguyên nhân là do người dân thiếu kiến thức trầm trọng về tầm quan trọng của rừng; chưa có cơ quan, tổ chức nào phổ biến rộng rãi kiến thức đến người dân về tầm quan trọng của rừng, cách chăm sóc bảo vệ rừng, nâng cao chức năng của rừng
Chủ trương giao đất giao rừng được bắt đầu phổ biến đồng bộ trên toàn bộ diện tích rừng phòng hộ ven biển tỉnh Bạc Liêu vào năm 1997 Chủ trương này được thực hiện theo Nghị định 01/CP và 02/CP và nghị định 163/1999 ngày 16/11/1999 Mục tiêu của chương trình này là nhằm đảm bảo sự hài hòa lợi ích giữa người dân nhận khoán và nhà nước
Đến ngày 14/07/2008 UBND tỉnh Bạc Liêu đã đưa ra “Đề án Giao rừng và đất lâm nghiệp rừng phòng hộ ven biển tỉnh Bạc Liêu” nhằm rà soát, thống kê, phân loại và xác định diện tích rừng đã giao khoán quản lý, bảo vệ để căn cứ lập hồ sơ giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu đủ điều kiện; cân đối quỹ diện tích rừng và đất lâm nghiệp với nhu cầu các đối tượng nhận rừng, những diện tích rừng đã giao cho các chủ quản lý sử dụng nhưng sử dụng sai mục đích hoặc chưa sử dụng phải tiến hành thu hồi Đến nay, toàn bộ diện tích rừng ven biển của Tỉnh đã được giao cho người dân quản lý và bảo vệ
Trên địa bàn nghiên cứu, việc giao khoán rừng và đất rừng ven biển cũng đã được giao cho người dân Tuy nhiên những diện tích rừng và đất rừng này không giao cùng lúc mà theo những giai đoạn khác nhau Cụ thể theo bảng sau:
Trang 2818
Bảng 4.2: Phân chia số hộ theo năm nhận khoán
Stt Giai đoạn Số hộ Phần trăm
(Nguồn: điều tra năm 2012)
Kết quả bảng 4.2 cho thấy các hộ gia đình và cá nhân được giao khoán rừng phổ biến từ những năm 1995 – 1996, và đến năm 1997 thì được tiến hành thực hiện toàn diện trên cả lâm phần Những người dân được nhận giao khoán vào những năm khác nhau là do chủ của phần đất được nhận giao khoán rừng và đất lâm nghiệp không thực hiện theo đúng hợp đồng giao khoán mà dùng phần đất đó cho người khác thuê mướn để thu tiền hằng năm hoặc sang nhượng lại khi không có nhu cầu hoạt động sản xuất trên phần đất đó nữa Đây là một trong những nguyên nhân làm cho người dân di cư tự do nhập cư vào vùng ven RPH ven biển ngày càng đông, áp lực gây ra cho rừng ngày càng lớn Đồng thời cũng làm cho việc quản lý rừng của HKL liên huyện gặp nhiều khó khăn hơn
4.1.3.2 Kết quả giao đất khoán rừng tại địa phương
Kết quả điều tra tại địa điểm nghiên cứu thì 100% các hộ là đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây và một số hộ người Kinh được nhận khoán quản lý và bảo vệ rừng Diện tích của các hộ nhận khoán quản lý và bảo vệ không đồng đều nhau (bảng 4.3)
Bảng 4.3: Chia nhóm hộ theo diện tích nhận khoán
Stt Diện tích (ha) Số hộ Phần trăm \ số hộ (%)
Trang 2919
Như vậy, tính theo trung bình thì mỗi hộ gia đình được nhận 7 ha/hộ diện tích đất được giao khoán Nhưng trên thực tế mức chênh lệch về diện tích của các
hộ khá cao, hộ được nhận đất giao khoán thấp nhất là 2 ha, cao nhất là 14 ha đối với các hộ được điều tra thực tế Diện tích trung bình của các hộ nhiều nên việc ăn chia được thực hiện giao khoán có tỷ lệ 70% diện tích là rừng và 30% diện tích là NTTS được hưởng lợi Hầu như tất cả các hộ dân ở đây cũng biết chính xác diện tích nhận giao khoán và tỷ lệ thực hiện giao khoán
Mặt khác, mức chênh lệch diện đất tích giao khoán khá cao ở các hộ gia đình nhận khoán có nhiều nguyên nhân Nguyên nhân chính là do việc thực hiện giao khoán ở đây chủ yếu theo thực trạng sản xuất và sử dụng đất rừng và rừng trước khi giao khoán của các hộ dân Nghĩa là, việc thực hiện chỉ là hợp thức hoá diện tích đã được các hộ dân bao chiếm trước đó
Tuy nhiên, rừng phòng hộ ở đây chủ yếu là rừng non chưa có trữ lượng nên việc giao khoán lúc ban đầu có sự bắt buộc lớn trong việc nuôi dưỡng,chăm sóc và bảo vệ rừng Những hộ nhận khoán không được có bất kỳ hoạt động nào tác động lên rừng và phải tự quản lý và có trách nhiệm đối với diện tích mình được nhận Mọi hoạt động có liên quan đến cây rừng điều phải được thông qua HKL Những chỗ có diện tích rừng thưa hoặc có cây chết thì hộ gia đình được KLcấp cho cây con
để trồng lại
Kết quả hiện tại cho thấy, diện tích rừng đước chiếm khoảng ½ diện tích rừng và chủ yếu là nằm ở 2 bên đê bảo vệ, rộng khoảng 100m từ đê bảo vệ hướng ra biển và 50m hướng vào đất liền, chủ yếu là rừng trồng Còn lại những diện tích của các loài cây khác như: Mắm Cóc trắng, Dà,… Thì mọc trải dài ven bãi bồi, có thể phân biệt được vì những loài này hay mọc tập trung, chỉ có một số nhỏ diện tích là mọc lẫn với nhau
4.1.3.3 Sự hưởng lợi thực tế của người dân
Sự hưởng lợi của người dân nhận khoán rừng và đất rừng trên thực tế rất khác so với sự hưởng lợi ghi trong hợp đồng nhận khoán bảo vệ rừng Trong hợp đồng quy định quyền lợi của người dân sau khi nhận giao khoán rừng và đất lâm
Trang 3020
nghiệp được sử dụng 30% diện tích đất nhận giao khoán để hoạt động sản xuất nuôi thủy sản dưới tán rừng, cải thiện đời sống; được đánh bắt thủy sản tự nhiên dưới tán rừng; được trả tiền công khoán bảo vệ rừng; được tận thu sản phẩm sau khi tỉa thưa Tiền công nhận khoán trước đây là là 100.000 đồng/ha/năm, đến năm 2012 là 200.000 đồng/ha/năm Trong khi đó, trên thực tế sau khi nhận khoán bảo vệ rừng, nhiều hộ nhận khoán thực hiện theo mô hình lâm - ngư kết hợp bước đầu đã tạo được thu nhập ổn định Nhưng mô hình đó chỉ thực hiện được lúc rừng còn nhỏ Theo thời gian, rừng càng ngày càng lớn, tán rừng dày, lá rừng rụng càng nhiều ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động nuôi thủy sản của người dân Làm cho hoạt động nuôi thủy sản gặp nhiều khó khăn hơn Những hộ nhận khoán bảo vệ rừng chỉ được trả tiền công khoán trong khoảng 8 – 9 năm sau khi nhận khoán Hiện tại, số tiền công đó đã không được trả như quy định đã hiện hành Theo người dân cho biết thì
đã rất lâu rồi số tiền đó không được trả Do vậy, sự hưởng lợi của người dân đang là một vấn đề làm cho người dân nhận khoán rất búc xúc
Thêm vào đó, diện tích rừng đã khoảng 10 năm chưa được tỉa thưa nên người dân không có tận thu được những sản phẩm từ rừng Đồng thời, rừng phòng hộ ven biển chủ yếu là rừng non, không có trữ lượng nên việc tận thu sản phẩm sau khi tỉa thưa cũng không bù lại được kinh phí tỉa thưa của người dân đã chi Từ đây thấy được rằng từ khi người dân nhận giao khoán quản lý và bảo vê rừng và đất lâm nghiệp thì đời sống của người dân được cải thiện nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn do nguồn thu nhập thiếu ổn định
Qua đó cho thấy, trong thực tế người dân chỉ được hưởng từ thủy sản tự nhiên và thủy sản được nuôi dưới tán rừng, ngoài ra người dân không có được sự hưởng lợi nào khác đã từ nhiều năm nay
4.1.3.4 Tiến trình giao đất giao rừng trong thực tế
Kết quả điều tra cho thấy tiến trình giao đất giao rừng được thực hiện vào năm
1997, là gia đoạn giao khoán đại trà với đơn vị chủ quản lúc này BQLRPH là Chi cục kiểm lâm tỉnh Bạc Liêu, thực hiện trên thực tế mà người dân hiểu biết thì gồm các bước sau:
Trang 3121
- Bước 1: tiến hành họp dân tại UBND xã để phổ biến và triển khai chủ trương giao đất giao rừng
- Bước 2: người dân bắt đầu làm đơn nộp cho UBND xã Sau đó, đơn của người dân được chuyển lên chi cục kiểm lâm tỉnh Bạc Liêu xem xét việc giao khoán rừng quản lý và bảo vệ rừng
- Bước 3: họp dân đại diện chủ hộ gia đình nhận giao khoán để phổ biến những quy định chung Sau đó, giao sổ xanh là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng đồng thời cũng là hợp đồng giao khoán giữa người dân với BQL rừng cho người chủ rừng được nhận diện tích đất giao khoán Người dân phải cắm mốc phần diện tích mình được nhận sau đó tự bao khoanh diện tích đó để hoạt động sản xuất
Tiến trình thực tế so với quy định không chỉ không đủ các bước mà còn có rất nhiều thiếu sót và chưa rõ ràng Trong hồ sơ giao khoán rừng chưa thể hiện được loại rừng, hiện trạng rừng và trữ lượng rừng do trong tiến trình thực hiện giao khoán thiếu bước kiểm tra xác định tại thực địa về vấn đề đánh giá chất lượng rừng Mặt khác, do có sự khác biệt về thời gian thực hiện chủ trương giao khoán với thời gian đưa ra những quyết định cụ thể về tiến trình giao khoán nên dẫn đến có nhiều sai sót
so với quy định Cụ thể là so với mục II, khoản 4 Thông tư số 38/2007/TT-BNN ngày 25/4/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Những thay đổi về mặt tiến trình này chưa được làm sáng tỏ lý do tại sao Đây là những khúc mắt của những người dân am hiểu về luận giao khoán quản lý và bảo vệ rừng Điều này cần làm sáng tỏ để các bên liên quan trong việc nhận khoán có sự hưởng lợi rõ ràng
4.2 Sự tác động của việc giao đất giao rừng tới đời sống của người dân
4.2.1 Ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất
Trước khi các hộ dân nhận giao khoán những người dân ở đây sinh sống chủ yếu bằng cách đi làm thuê, buôn bán nhỏ lẻ, đánh bắt tôm cá, nghêu, sò ven biển một cách tự do, có một số hộ đến tự khoanh lấy diện tích để nuôi thủy sản, cuộc sống rất khó khăn đồng thời áp lực lên rừng rất lớn
Khi bắt đầu thực hiện chủ trương giao khoán quản lý và bảo vệ rừng, người dân sử dụng 30 % diện tích được sử dụng để kết hợp sản xuất nuôi trồng thủy sản,
Trang 3222
bước đầu tạo được thu nhập, tình hình sản xuất được ổn định,cuộc sống của người dân được cải thiện nhiều đối với trước đây Đồng thời cũng phải tự quản và có trách nhiệm đối với diện tích được nhận khoán bảo vệ rừng
Nhưng lúc bắt đầu thực hiện mô hình lâm ngư kết hợp thì diện tích rừng mấm tự nhiên trong khu vực phòng hộ kết hợp sản xuất bị chết cục bộ, do không thích nghi với môi trường nuôi trồng thủy sản kết hợp Sau này dần dần đã khôi phục lại và có những quy định về nhiệm vụ của chủ hộ khi nhận khoán để bảo vệ diện tích những loài dễ chết như mấm Nhưng do áp lực về kinh tế về nuôi trồng thủy sản, một số cá nhân, gia đình được giao khoán đất rừng kết hợp với nuôi tôm
cố ý giữ nước trong khu nuôi trồng thủy sản quá cao, làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây và làm hàng trăm ha rừng mắm bị chết hàng loạt; nhiều người lén lút cơi nới kênh, chặt phá cây rừng, mở rộng diện tích để nuôi tôm, cá, gây tác động tiêu cực đến hệ sinh thái rừng, làm diện tích rừng ngày càng thu hẹp nhanh
RPH ven biển cũng là nơi cung cấp thức ăn cho tôm, cua và nhiều loại thủy sản khác, việc phá rừng đào đất lấy diện tích làm vuông nuôi tôm dẫn đến đa dạng sinh học giảm, tạo nguy cơ xói lở bờ biển, xâm nhập mặn vào đất liền
4.2.2 Ảnh hưởng tới sinh hoạt hàng ngày người dân
Trước đây, rừng chưa có chủ quản lý nên việc chặt phá rừng diễn ra tự nhiên
và thường xuyên Vì nhu cầu củi để sử dụng hàng ngày, gỗ để làm những cái đáy nhỏ đặt ở những cái rạch nhỏ và nhiều việc khác trong cuộc sống mưu sinh hằng ngày nên có rất nhiều người chặt cây rừng tự do để sử dụng dù rừng còn rất nhỏ
Sau khi chủ trương giao khoán quản lý và bảo vệ rừng được thực hiện những hiện tượng chặt phá cây rừng giảm dần Rừng lúc này đã có chủ quản lý, chủ rừng
là người nhận giao khoán rừng và đất rừng quản lý diện tích rừng nhất định đã nhận được Nên việc chặt phá rừng không còn diễn ra một cách tự do như trước Mặc khác, rừng lúc được giao khoán là rừng non cần đươc chăm sóc, nuôi dưỡng Bất cứ một hoạt động nào liên quan đến cây rừng điều phải làm đơn xin phép Chi Cục Kiểm Lâm tỉnh Áp lực lên rừng giảm xuống rõ rệt
Trang 3323
Nhưng một thời gian dài sau, người dân tập trung đến vùng ven rừng ngày càng đông Người dân định cư trên lâm phần càng nhiều thì áp lực lên lâm phần càng tăng Đó là do ảnh hưởng từ nhu cầu sử dụng gỗ, củi trong hoạt động sinh hoạt hằng ngày của một số hộ sống trên lâm phần Nhu cầu củi gỗ ngày càng tăng do người dân nhập cư càng nhiều Người dân khai thác rừng trái phép lấy gỗ để sửa sang lại nhà cửa hoặc những người nhập cư xây cất những căn nhà tạm bợ để ở và một số công việc khác, củi cho việc nấu nướng hằng ngày Hay họ thường lấn chiếm thêm diện tích rừng để lấy diện tích xây cất thêm nhà cửa của họ
Người dân vẫn ý thức được những việc làm này của họ là vi phạm pháp luật bảo vệ rừng nhưng họ vẫn làm Một số là do gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống dẫn đến có những hành vi quy phạm, một số khác là cố ý dù biết đó là vi phạm
4.2.3 Ảnh hưởng từ khai thác lâm sản
Việc khai thác lâm sản lúc trước tại đây diễn ra một cách tự do không ai ngăn cản Người dân có thể bắt lấy bất cứ thứ gì mà có thể đem lại thu nhập Vùng này hết thì họ lai đến những vùng khác để khai thác, đánh bắt
Sau giao khoán, những phần đất rừng đã có chủ quản lý nên việc khai thác lâm sản không còn tự tiện xảy ra như trước nữa đất có chủ thì chủ đất có thể đánh bắt lâm sản trong và dưới tán rừng nhưng không được làm tổn hại đến thành phần cây rừng
HKL liên huyện cho biết, hiện tại trên địa bàn huyện Hòa Bình có hơn 200
hộ di dân tự do sống ven RPH, phần lớn họ đều là hộ nghèo, không có đất sản xuất, không có việc làm ổn định, cuộc sống hàng ngày chỉ dựa vào khai thác con giống thủy sản, nhiều hộ dân còn lén vào rừng, đào bắt sâm đất đem bán Để bắt được một
kg sâm đất, họ dùng dá (xẻng) vào rừng đào xới, làm cho nhiều ha cây rừng bị tàn phá, mặt đất bị xé nát
Mặc dù UBND tỉnh có lệnh cấm khai thác Sâm đất nhưng tình trạng đào sâm đất, làm hư hại tài nguyên rừng vẫn diễn ra Do Sâm đất thường trú ngụ ở dưới gốc cây mắm, cây đước, vì thế những loại cây này bỗng dưng trở thành vật cản bất đắc dĩ, người dân chẳng ngần ngại đào bới, từ đó làm ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng của rừng phòng hộ xung yếu ven Biển Theo HKL và Chính quyền