BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ******* HỒ THỊ NHUNG NGHIÊN CỨU CHẾ ĐỘ ÁNH SÁNG, NHIỆT ĐỘ, ĐỘ ẨM KHÔNG KHÍ TẠI THẢO CẦM VIÊN SÀI GÒN LUẬN VĂN TỐT
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
*******
HỒ THỊ NHUNG
NGHIÊN CỨU CHẾ ĐỘ ÁNH SÁNG, NHIỆT ĐỘ, ĐỘ ẨM
KHÔNG KHÍ TẠI THẢO CẦM VIÊN SÀI GÒN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH LÂM NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 6/2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
*******
HỒ THỊ NHUNG
NGHIÊN CỨU CHẾ ĐỘ ÁNH SÁNG, NHIỆT ĐỘ, ĐỘ ẨM
KHÔNG KHÍ TẠI THẢO CẦM VIÊN SÀI GÒN
Ngành: Lâm nghiệp
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: Th.S Trương Mai Hồng
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 6/2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm tạ và biết ơn:
Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm TP.HCM
Ban Chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp – trường Đại học Nông Lâm
Các quý thầy cô trong khoa Lâm nghiệp
Đặc biệt, cô Trương Mai Hồng – giảng viên khoa Lâm nghiệp đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp
Ban lãnh đạo Thảo Cầm Viên Sài Gòn đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp
Các bạn trong lớp DH08LN và bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Vô cùng biết ơn gia đình luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Hồ Thị Nhung
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài: “ Nghiên cứu chế độ ánh sáng, nhiệt độ, ẩm độ không khí trong Thảo Cầm Viên Sài Gòn ” được tiến hành từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2012 tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn
Đề tài với mục tiêu là đánh giá và phân tích các tác động môi trường tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn Xác định ảnh hưởng của ánh sáng, nhiệt độ, ẩm độ không khí đến quá trình sinh trưởng, phát triển của cây tại khu vực nghiên cứu
Với nội dung nghiên cứu sự thay đổi ánh sáng, nhiệt độ, ẩm độ không khí tại các vị trí khác nhau trong Thảo Cầm Viên, vào lúc 7h, 10h, 14h, 16h Các chỉ tiêu ánh sáng, nhiệt độ, ẩm độ không khí được đo trong vòng 10 ngày ( cách nhau 2 ngày / 1 lần ) Các chỉ tiêu được điều tra vào tháng 3 và tháng 4 năm 2012
Qua thời gian điều tra cho thấy, chế độ ánh sáng, nhiệt độ bên trong Thảo Cầm Viên luôn nhỏ hơn bên ngoài Và độ ẩm luôn cao hơn bên ngoài Thảo Cầm Viên Cụ thể cường độ ánh sáng bên trong luôn thấp hơn bên ngoài từ 1491 - 1662 lux, nhiệt độ luôn thấp hơn bên ngoài từ 0,2 – 1,050 C, độ ẩm luôn cao hơn bên ngoài từ 3,53 - 4,46 %
Cần trồng thêm nhiều cây xanh đường ở các vẻ hè và nơi công cộng để giảm bớt lượng nhiệt và bức xạ mặt trời xuống mặt đường và các công trình xây dựng Tạo không khí trong lành mát mẻ cho mọi người
Trang 5With research content changes of light, temperature, air humidity at different locations in the zoo, at 7h, 10h, 14h, 16h The indicators light, temperature, air humidity were measured within 10 days (separated by 2 days / 1 time) The targets surveyed in March and April 2012
Over time the investigation showed that the light regime, the temperature inside the zoo is always smaller than the outside And humidity is always higher than outside the zoo Specifically, the light intensity inside the outside is always lower than from 1491 - 1662 lux, the temperature is always lower than outside from 0.2 to 1.050C, the humidity is always higher than outside from 3.53 to 4.46%
Need to plant more trees in the summer and the public seems to reduce the amount of heat and solar radiation down the road and other construction works Create cool fresh air for everyone
Trang 6MỤC LỤC
TRANG TỰA i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC v
DANH DÁCH CÁC BẢNG viii
DANH SÁCH CÁC HÌNH ix
DANH SÁCH BIỂU ĐỒ ix
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích – ý nghĩa đề tài 3
1.3 Mục tiêu đề tài 3
1.4 Giới hạn đề tài 3
Chương 2 TỔNG QUAN 4
2.1 Điều kiện tự nhiên của Thành phố Hồ Chí Minh 4
2.1.1 Vị trí, địa hình 4
2.1.2 Địa chất, thủy văn 5
2.1.3 Khí hậu, thời tiết 6
2.2 Vai trò của cây xanh trong việc cải thiện môi trường đô thị 8
2.2.1 Cây xanh làm giảm sự nhiễm bẩn môi trường không khí 8
2.2.2 Cây xanh có tác dụng điều hòa nhiệt độ không khí 10
2.2.3 Cây xanh cản bớt tiêng ồn 11
2.3.4 Cây xanh góp phần bảo tồn và làm tăng đa dạng sinh học cho sinh vật 12
2.4 Cây xanh với tác dụng phòng hộ cho đô thị 12
2.4.1 Cây xanh cản bớt tốc độ gió bão 12
2.4.2 Cây xanh ngăn đõ hạt mưa, bảo vệ mặt đường, chống xói mòi đất và các công trình kiến trúc khác 13
2.5 Cây xanh trong kiến trúc cảnh quan của đô thị 13
Trang 72.6 Giới thiệu về Thảo cầm viên Sài Gòn 14
2.6.1 Vị trí 14
2.6.2 Lịch sử hình thành 15
2.7 Vai trò của ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm không khí đối với thực vật 18
2.7.1 Ánh sáng 18
2.7.2 Nhiệt độ 19
2.7.3 Độ ẩm 20
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 21
3.2 Đối tượng nghiên cứu 21
3.3 Phương tiện nghiên cứu 21
3.3.1 Máy đo ánh sáng: 21
3.3.2 Máy đo độ ẩm và nhiệt độ: 22
3.4 Nội dung nghiên cứu 22
3.5 Phương pháp nghiên cứu 22
3.5.1 Thu thập tài liệu thứ cấp 22
3.5.1 Nội nghiệp 27
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Kết quả về chế độ ánh sáng theo thời gian trong Thảo Cầm Viên và bên ngoài 28 4.1.1 Tháng 3 năm 2012 28
4.1.2 Tháng 4 năm 2012 32
4.2 Kết quả về chế độ nhiệt độ theo thời gian trong Thảo Cầm Viên và bên ngoài 35 4.2.1 Tháng 3 năm 2012 35
4.2.2 Tháng 4 năm 2012 39
4.3 Kết quả về chế độ ẩm độ theo thời gian trong Thảo Cầm Viên và bên ngoài 43
4.3.1 Tháng 3 năm 2012 43
4.3.2 Tháng 4 năm 2012 46
Trang 8Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
5.1 Kết luận 49
5.1.1 Về chế độ ánh sáng trong Thảo Cầm Viên và bên ngoài 49
5.1.1.1 Chế độ ánh sáng tháng 3 năm 2012 49
5.1.1.2 Về chế độ ánh sáng tháng 4 năm 2012 49
5.1.2 Về chế nhiệt độ theo thời gian trong Thảo Cầm Viên và bên ngoài 49
5.1.2.1.Về chế độ nhiệt độ tháng 3 năm 2012 49
5.1.2.2 Về chế độ nhiệt độ tháng 4 năm 2012 50
5.1.3 Về chế ẩm độ theo thời gian trong Thảo Cầm Viên và bên ngoài 50
5.1.3.1 Về chế độ ẩm độ tháng 3 năm 2012 50
5.1.3.2 Về chế độ ẩm độ tháng 4 năm 2012 50
5.2 Kiến nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51 PHỤ LỤC
Trang 10DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1 Đài phun nước 10
Hình 2.2 Cổng vào sân khấu 10
Hình 2.3 Sơ đồ vị trí Thảo Cầm Viên Sài Gòn 14
Hình 2.4 Năm thành lập Thảo Cầm Viên Sài Gòn 15
Hình 2.5 Tượng ông Louis Adolphe Germain 16
Hình: 3.1 Máy đo ánh sáng 21
Hình 3.2 Tuyến điều tra trong Thảo Cầm viên 22
Hình 3.3 Sơ đồ bố trí các ô định vị 23
Hình 3.4 Vị trí 1 25
Hình 3.5 Vị trí 9 25
Hình 3.5 Vị trí 2 25
Hình 3.6 Vị trí 17 25
Hình 3.7 Vị trí 6 26
Hình 3.8 Vị trí 12 26
Hình 3.9 Vị trí 8 26
Hình 3.10 Vị trí 30 26
Hình 3.11 Vị trí 31 27
Hình 3.12 Vị trí 2 27
Trang 11DANH SÁCH BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Trung bình nhiệt độ theo thời gian trong và ngoài Thảo cầm viên 31 Biểu đồ 4.2 Trung bình ánh sáng theo thời gian trong và ngoài Thảo cầm viên 34 Biểu đồ 4.3 Trung bình nhiệt độ theo thời gian trong và ngoài Thảo cầm viên 42 Biểu đồ 4.5 Trung bình độ ẩm theo thời gian trong và ngoài Thảo cầm viên
(tháng3) 45
Biểu đồ 4.6 Trung bình độ ẩm theo thời gian trong và ngoài Thảo cầm viên tháng 48
Trang 12Cây xanh là một yếu tố tạo nên diện mạo và đời sống đô thị Trong nhiều trường hợp, niềm tự hào của công dân về thành phố không phải là tăng trưởng về kinh tế, công trình cao tầng mà lại là cây xanh Càng ngày người ta càng nhận ra các giá trị khác của cây xanh trên tất cả các phương diện sinh học, kỹ thuật, kinh tế và văn hóa xã hội Các nhà nghiên cứu nhận thấy các công viên cây xanh chính là một môi trường mở, tạo điều kiện dân cư khác nhau về dân tộc, tôn giáo đẳng cấp gặp
gỡ nhau, trò chuyện, chia sẻ và thấu hiểu nhau hơn
Trước nhu cầu cấp bách và thiết thực của Thành Phố Hồ Chí Minh, Thảo Cầm Viên Sài Gòn hiện nay cũng đang hòa mình vào mục tiêu, xu hướng chung của thành phố trong lĩnh vực du lịch , học tập, nghiên cứu khoa học,…
Cây xanh trong Thảo Cầm Viên nói riêng và cây xanh nói chung có vai trò như cỗ máy điều hòa tự nhiên làm giảm đi sự oi nồng trong những ngày nắng nóng Hơn thế nữa, cây xanh còn là những cỗ máy vệ sinh cần mẫn góp phần làm cho môi trường trong lành, bớt độc hại bởi chúng có khả năng hấp thụ, lọc, hút bớt lượng các chất khí độc hại; chống ô nhiễm, làm sạch không khí, giảm tiếng ồn giúp tránh được những nguy hại cho sức khỏe con người và tạo được quá trình sinh thái bình thường của sinh vật
Trang 13Theo các kết quả nghiên cứu trong nhiều năm của các nhà khoa học trên thế giới và ở nước ta ( theo nguồn : http://baodaklak.vn/channel/3684/201101/Vai-tro-cua-cay-xanh-va-rung-trong-viec-dieu-hoa-khi-hau-thuy-van-va-bao-ve-moi-
truong-1976137/ , cây xanh có khả năng hấp thụ 50% bụi phóng xạ; quét dọn hơi, bụi độc cùng những cặn bã công nghiệp Chúng có khả năng hút một số chất độc hại như cacbonic, anhidric sunfua, fuo, clo, amoniac và trả lại cho khí quyển nhiều dưỡng khí Cây xanh cũng có tác dụng làm giảm tiếng tiếng ồn Hiệu quả đó biểu hiện rất rõ rệt ở các loại cây lá bản Khi các đường phố trồng nhiều cây xanh thì có thể làm giảm trên 50% tiếng ồn so với đường phố không trồng cây
Đối với độ ẩm,cây xanh là nguồn cung cấp lượng ẩm cho khí quyển thông qua quá trình thoát hơi từ mặt lá và thân cây Ở rừng cây lá rộng, trung bình 100kg
lá cây mỗi năm bốc hơi từ 78.900 đến 82.520kg nước ( theo nguồn : http://baodaklak.vn/channel/3684/201101/Vai-tro-cua-cay-xanh-va-rung-trong-viec-dieu-hoa-khi-hau-thuy-van-va-bao-ve-moi-truong-1976137/)
Thực vật làm tăng lượng hơi nước chứa trong không khí, làm cho độ ẩm không khí nơi có cây xanh và xung cao hơn hẳn so với các khu vực không có cây xanh cạnh đó Độ ẩm ở khu vực có rừng cao hơn ở khu vực đất lộ thiên và do khu vực có cây là một chướng ngại vật mà ma sát khá lớn làm cho dòng không khí bị cưỡng bức đi lên, nên trong những điều kiện giống nhau, ở khu vực có cây và xung quanh nó rất dễ có mưa và lượng mưa nhiều hơn những nơi không có rừng gần đó
Do đó, cây xanh có vai trò hết sức to lớn trong môi trường sống Giữa cây xanh và các yếu tố môi trường ảnh hưởng tới sinh trưởng và phát triển của cây, trong đó ánh sáng, nhiệt độ và ẩm độ là những yếu tố tác độ trực tiếp, mạnh mẽ nhất tới thực vật Dưới sự hướng dẫn của cô Trương Mai Hồng, tôi thực hiện đề tài
“Nghiên cứu chế độ ánh sáng, nhiệt độ, ẩm độ không khí tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn”
Trang 141.2 Mục đích – ý nghĩa đề tài
Cung cấp những thông tin về ảnh hưởng của ánh sáng, nhiệt độ, ẩm độ tới sinh trưởng, phát triển của cây xanh Và tác động của cây xanh đối với những yếu tố trên
Góp phần làm tăng nhận thức của con người về tầm quan trọng của cây xanh đối với môi trường sống
Trang 15Chương 2
TỔNG QUAN
2.1 Điều kiện tự nhiên của Thành phố Hồ Chí Minh
Điều kiện tự nhiên thành phố Hồ Chí Minh được tham khảo theo wedsite: http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch
%C3%AD_Minh#V.E1.BB.8B_tr.C3.AD.2C_.C4.91.E1.BB.8Ba_h.C3.ACnh thì
2.1.1 Vị trí, địa hình
Thành phố Hồ Chí Minh có tọa độ 10°10' – 10°38' Bắc và 106°22' – 106°54' Đông, phía phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh , Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang Nằm ở miền Nam Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1.730 km theo đường bộ, trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50
km theo đường chim bay Với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, Thành phố
Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một cửa ngõ quốc tế
Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông Vùng cao nằm ở phía Bắc - Đông Bắc và một phần Tây Bắc, trung bình 10 - 25 m Xen kẽ có một số gò đồi, cao nhất lên tới 32 m như đồi Long Bình ở quận 9 Ngược lại, vùng trũng nằm phía Nam - Tây Nam và Ðông Nam thành phố, có độ cao trung bình trên dưới 1 m, nơi thấp nhất 0,5 m Các khu vực trung tâm, một phần các quận Thủ Đức, quận 2, toàn bộ huyện Hóc Môn và quận 12 có độ cao trung bình, khoảng 5 -
10 m
Trang 16Thành phố Hồ Chí Minh gồm có bốn điểm cực:
Cực Bắc là xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi
Cực Tây là xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi
Cực Nam là xã Long Hòa, huyện Cần Giờ
Cực Đông là xã Thạnh An, huyện Cần Giờ
2.1.2 Địa chất, thủy văn
Địa chất Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm chủ yếu là hai tướng trầm tích Pleistocen và Holocen lộ ra trên bề mặt
Trầm tích Pleistocen chiếm hầu hết phần Bắc, Tây Bắc và Đông Bắc thành phố Dưới tác động của các yếu tố tự nhiên và hoạt động của con người, trầm tích phù sa cổ hình thành nhóm đất đặc trưng riêng: đất xám Với hơn 45 nghìn hecta, tức khoảng 23,4 % diện tích thành phố, đất xám ở Thành phố Hồ Chí Minh có ba loại: đất xám cao, đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng và hiếm hơn là đất xám gley
Trầm tích Holocen ở Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều nguồn gốc: biển, vũng vịnh, sông biển, bãi bồi hình thành nhiều loại đất khác nhau: nhóm đất phù
sa biển với 15.100 ha, nhóm đất phèn với 40.800 ha và đất phèn mặn với 45.500 ha Ngoài ra còn có một diện tích khoảng hơn 400 ha là "giồng" cát gần biển và đất feralite vàng nâu bị xói mòn trơ sỏi đá ở vùng đồi gò
Về thủy văn, nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai - Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh có mạng lưới sông ngòi kênh rạch rất đa dạng
Sông Ðồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên, hợp lưu bởi nhiều sông khác, có lưu vực lớn, khoảng 45.000 km² Với lưu lượng bình quân 20–500 m³/s, hàng năm cung cấp 15 tỷ m³ nước, sông Đồng Nai trở thành nguồn nước ngọt chính của thành phố
Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Hớn Quản, chảy qua Thủ Dầu Một đến Thành phố Hồ Chí Minh, với chiều dài 200 km và chảy dọc trên địa phận thành phố dài 80 km Sông Sài Gòn có lưu lượng trung bình vào khoảng 54 m³/s, bề rộng tại thành phố khoảng 225 m đến 370 m, độ sâu tới 20 m
Trang 17Nhờ hệ thống kênh Rạch Chiếc, hai con sông Đồng Nai và Sài Gòn nối thông ở phần nội thành mở rộng Một con sông nữa của Thành phố Hồ Chí Minh
là sông Nhà Bè, hình thành ở nơi hợp lưu hai sông Đồng Nai và Sài Gòn, chảy
ra biển Đông bởi hai ngả chính Soài Rạp và Gành Rái Trong đó, ngả Gành Rái chính là đường thủy chính cho tàu ra vào bến cảng Sài Gòn
Ngoài các con sông chính, Thành phố Hồ Chí Minh còn có một hệ thống kênh rạch chằng chịt: Láng The, Bàu Nông, rạch Tra, Bến Cát, An Hạ, Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Bến Nghé, Lò Gốm, Kênh Tẻ, Tàu Hũ, Kênh Ðôi Hệ thống sông, kênh rạch giúp Thành phố Hồ Chí Minh trong việc tưới tiêu, nhưng do chịu ảnh hưởng dao động triều bán nhật của biển Ðông, thủy triều thâm nhập sâu đã gây nên những tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp và hạn chế việc tiêu thoát nước ở khu vực nội thành
Nhờ trầm tích Pleistocen, khu vực phía Bắc Thành phố Hồ Chí Minh có được lượng nước ngầm khá phong phú Nhưng về phía Nam, trên trầm tích Holocen, nước ngầm thường bị nhiễm phèn, nhiễm mặn Khu vực nội thành cũ
có lượng nước ngầm đáng kể, tuy chất lượng không thực sự tốt, vẫn được khai thác chủ yếu ở ba tầng: 0–20 m, 60–90 m và 170–200 m (tầng trầm tích Miocen) TạiQuận 12, các huyện Hóc Môn và Củ Chi, chất lượng nước tốt, trữ lượng dồi dào, thường được khai thác ở tầng 60–90 m, trở thành nguồn nước bổ sung quan trọng
2.1.3 Khí hậu, thời tiết
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, Thành phố Hồ Chí Mình có nhiệt độ cao đều trong năm và hai mùa mưa – khô rõ rệt Mùa mưa được bắt đầu
từ tháng 5 tới tháng 11, còn mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau
Theo số liệu đo đếm gần 100 năm của trạm Tân Sơn Nhất thì:
Lượng mưa bình quân năm: 1949mm
Lượng mưa cao nhất : 2718mm (1908)
Lượng mưa thấp nhất: 1329mm (1958)
Số ngày mua bình quân năm: 159 ngày
Trang 18 Về nhiệt độ:
Cũng theo trạm khí tượng Tân Sơn Nhất thì toàn bộ thành phố có nhiệt
độ cao, ít thay đổi giữa các tháng trong năm
Nhiệt độ bình quân năm: 27oC
Nhiệt độ cao tuyệt đối: 40oC (1912)
Nhiệt độ thấp tuyệt đối: 13,8oC (1937)
Về gió:
Địa bàn chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính :
Gió Tây – Tây Nam (gió mùa Tây Nam) thổi vào mùa mưa từ tháng 5 - 10, thường thổi mạnh nhất vào tháng 7 - 8 và gây ra mưa
Gió Bắc – Đông Bắc thổi vào mùa từ tháng 11 - 4, thổi mạnh nhất vào tháng 2-3, làm tăng lượng bốc hơi
Về ánh sáng:
Số giờ nắng bình quân năm vào khoảng 2286 giờ, như vậy mỗi ngày có 63 giờ nắng tùy thuộc vào lượng mây mưa, do đó trong tháng mùa mưa số giờ nắng giảm đi và tăng dần vào mùa khô
Lượng bốc hơi tương đối lớn: 1399mm/năm Bình quân trong tháng mùa mưa là 2-3mm/ngày, và vào tháng mùa nắng 5-6mm/ngày
Về thực vật:
Do điều kiện tự nhiên dặc biệt đã hình thành trước kia, các hệ sinh thái rừng khá đa dạng Nhìn khái quát thành phố có 3 hệ sinh thái rừng
- Hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm mưa mùa Đông Nam Bộ, trước đây có ở
Củ Chi, Thủ Đức, ngày nay bị tàn phá gần hết
- Hệ sinh thái đất phèn còn dấu vết của rừng tràm nhỏ ở Củ Chi, Bình Chánh, Hóc Môn, Nhà Bè với các chồi dạng cây bụi hoặc rừng tràm ở Tân Tạo
- Hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ, khá phong phú và rộng lớn, điển hình cho hệ thực vật ngập nước mặn của miền Nam Việt Nam
Trang 19
2.2 Vai trò của cây xanh trong việc cải thiện môi trường đô thị
Theo Trương Mai Hồng (2007) thì cây xanh có những vai trò như sau:
2.2.1 Cây xanh làm giảm sự nhiễm bẩn môi trường không khí
Không khí giữ vai trò cực kì quan trọng trong sự tồn tại của mọi hình thức sống trên hành tinh chúng ta Khí quyển bao quanh quả đất và được chia thành nhiều lớp, nhưng 95% khối lượng không khí nằm ở lớp đối lưu (Troposphere) từ độ cao 0 – 10 km trên bề mặt trái đất Còn lại các lớp bình lưu (Statosphere) từ độ cao
10 – 15 km, trong đó lớp ozon xuất hiện ở độ cao 18 – 30 km Lớp trung lưu (Mesosphere) ở độ cao trên 50 – 90 km và lớp ngoài (Themosphere) (Lê Bá Huy, 1997)
Trong lớp đối lưu thì tới 99% thể tích không khí sạch chứa 2 loại khí N2
(78%), O2 (21%) 1% còn lại là các khí khác như argon (0,93%), CO2 (0,03%), hơi nước…Các thành phần này hầu như không thay đổi
Tuy nhiên trong quá trình phát triển của các hoạt động xã hội loài người, và
do sự phân giải tự nhiên của sinh vật nhất là tại các đô thị, quá trình ô nhiễm không khí đã không ngừng tăng lên Đặc biệt nặng nề ở những khu vực trong tình trạng công nghiệp lạc hậu, phương tiện kiểm soát và giảm sát ô nhiễm không khí thiếu thốn
Sự ô nhiễm không khí đó diễn ra do khói bụi, khí thải từ các nhà máy, giao thông, khí thải của con người ở mật độ cao Biểu hiện nặng nề nhất là các khí SOx, NOx, COx, và những khí thải gây hiệu ứng nhà kính, khí gây thủng tầng ozon: CO2,
Để khống chế ô nhiễm không khí người ta tiến hành nhiều giải pháp, trong
đó vấn đề trồng cây xanh ở khu vực đô thị là một trong những giải pháp hữu hiệu
Trang 20Hiện tượng nóng lên toàn cầu đang được các quốc gia và các nhà khoa học đặc biệt quan tâm và tập trung và nghiên cứu các giải pháp có tính chất toàn cầu Sự nóng lên toàn cầu tiềm ẩn những tác động tiêu cực tới sinh vật và các các hệ sinh thái (UNFCCC, 2005b (United Nations Framework Convetion on Climate change) (dẫn theo Phan Minh Sang và Lưu Cảnh Trung, 2006))
Cây xanh với quá trình quang hợp của mình đã hấp thụ một lượng khí CO2
giúp giảm thiểu đáng kể lượng thán khí, đồng thời không ngừng làm gia tăng lượng khí CO2 cho khí quyển
Công thức tổng quát của quá trình quang hợp:
6CO2 + H2O - C6H12O6 + 6O2
Tuy nhiên tác dụng này có hiệu quả rõ ràng khi cây trồng trên những mảng lớn và ở khắp nơi như các khu công viên, đường phố, khu rừng du lịch, các rừng phòng hộ ngoại thành Theo các tài liệu cho biết 1ha cây xanh có khả năng hấp thu
8 kg CO2 / h = lượng CO2 do 200 người thải ra / h
Như vậy, trồng cây xanh đồng thời với hiệu quả kinh tế về khai thác nguyên liệu gỗ là quá trình cải thiện môi trường đô thị, tham gia cải thiện sự biến đổi khí
CO2 và O2 và quá trình biến đổi khí hậu đang diễn ra trên thế giới
Bên cạnh đó cây xanh còn có khả năng hạn chế các chất độc khác do sự hấp thụ hay ngăn cản bởi hệ lá, bề dày mặt đất trồng cây đối với các chất như SO2, chì, các monoxit carbon, oxit azot…, các hạt bụi mù khói công nghiệp Nó còn ngăn cản
di chuyển đi xa gây mưa acid ở các vùng ven và vùng xa hơn
Ngoài ra cây xanh còn có những khả năng hấp thụ mùi hôi thối hay thay bằng mùi khác do cây thải ra như các loài cây thông, long não, bạch đàn…Các cây này phóng ra các phitonxit (phiton: thảo mộc; xít: tiêu diệt) không chỉ tạo ra mùi thơm mà còn có tác dụng kìm hãm sự phát triển, thậm chí tiêu diệt các vi trùng gây bệnh trong không khí
Trang 212.2.2 Cây xanh có tác dụng điều hòa nhiệt độ không khí
Nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới, mùa hè thường rất nóng, nhiệt độ không khí có khi tới 34 – 350C hay cao hơn (nhất là ở các vung có gió lào phải chịu nhiệt
độ cao, khô khan) Vào mùa hè, dưới tàn lá nhiệt độ có thể giảm từ 20 đến 40C bằng cách tiết hơi nước qua khí khổng của lá, ngăn cản không cho ánh sáng mặt trời chiếu thẳng xuống mặt đất và giảm hấp thu nhiệt trên nhựa
Hình 2.1 Đài phun nước Hình 2.2 Cổng vào sân khấu
Trong khu vực đô thị nhiệt độ còn thường tăng cao do hoạt động của các khu vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Do sự bê tông hóa quá cao, do mật độ dân số cao
Nhiệt độ không khí tốt nhất đối với con người từ 16 – 200C, vì vậy điều hòa nhiệt độ ở khu vực đô thị là rất cần thiết
Các đô thị được xây dựng bằng các vật liệu như gạch, betong, nhựa đường, tole…được xem là những ốc đảo nhiệt (Moll, 1991) nhất là khi thiếu cây xanh Nhiệt độ trong thành phố thường cao hơn nhiệt độ ở những vùng đất quanh thành phố, độ chênh lệch nằm trong khoảng 3 – 50C (Moll, 1991) hoặc 0,5 – 1,50C (Federer, 1970 (dẫn theo Lê Huỳnh, 1999)
Cây xanh mặt nước trong đô thị có thể giảm nhiệt độ không khí từ 3,30C đến 3,90C , khi diện tích đất cây xanh đạt 20% đến 50% diện tích đất đô thị Hiệu quả tổng hợp của bóng mát và bay hơi có thể giảm đi 17% đến 57% năng lượng cần thiết khi tăng 25% diện tích che phủ thảm thực vật Cây xanh đô thị có thể làm giảm
từ 40% đến 50% bức xạ mặt trời và hấp thụ 70% đến 75% năng lượng mặt trời
Trang 22Ở khu vực trường, bệnh viện, cơ quan, bến tàu xe, công viên…những tán cây xanh tạo nên một vòm trời im mát, giúp cho con người nghỉ ngơi, hoạt động tốt hơn Cây xanh cũng góp phần làm mệt nhọc trong sản xuất hay đi đường cho con người, từ đó tăng sức bền bỉ và dẻo dai trong sản xuất và tawng sức khỏe cho con người
Những khoảng không gian xanh đó có tác dụng tích cực đối với vấn đề làm giảm hiệu ứng nhà kính cho môi trường
2.2.3 Cây xanh cản bớt tiêng ồn
Tiếng ồn là tập hợp những âm thanh tạp loạn có tần số và chu kì khác nhau hay nói cách khác tiếng ồn là những âm thanh chói tai phát sinh từ những chấn động không tuần hoàn
Bất kì loại tiếng ồn nào cũng có thể gây hại cho sức khỏe con người các nhà nghiên cứu cho thấy, những người làm việc lâu trong những điều kiện ồn ào thường lười suy nghĩ, dễ nôn nóng, chóng mệt mỏi
Tiếng ồn là đặc điểm của các đô thị, nhất là các đô thị có nhiều nhà máy, lò cao, các phương tiện giao thông, công tác xây cất nhà, dụng cụ sinh hoạt trong gia đình
Cây xanh có khả năng hấp thu và làm khúc xạ tiếng ồn, giảm bớt tác hại của
nó Nhiều nghiên cứu cho thấy vỏ cây, tán cây, thảm cỏ đều có tác dụng như vật liệu xốp, lá cây và thân cây chia cắt nhỏ sóng âm thanh từ đó làm giảm được khoảng 30% tiếng ồn Đường phố có cây sẽ làm giảm tiếng ồn 5 – 6 lần so với đường không có cây Theo nghiên cứu của Bộ Năng lượng Hoa Kỳ, nếu trồng đai rừng rộng 30 m và cây cao 12 m có thể giảm 50% tiếng ồn (Nguyễn Sơn Thụy, 2005)
Tuy nhiên hiệu quả này còn phụ thuộc loài cây trồng, bố trí, mật độ, diện tích trồng cây
Trang 23
2.3.4 Cây xanh góp phần bảo tồn và làm tăng đa dạng sinh học cho sinh vật
Các khu công viên, vườn hoa, thảo cầm viên…không chỉ tạo nên bầu không khí mát mẻ, trong lành cho mọi người nghỉ ngơi mà ở đó còn là nơi để thưởng thức, nghiên cứu các bộ sưu tập nhiều loài cây phong phú từ mọi miền đất nước và của thế giới Những vườn cây cảnh, vườn hoa luôn được các nghệ nhân sưu tầm và lai tạo, sáng tạo thêm sự đa dạng và hấp dẫn của thiên nhiên
Ví dụ riêng cây xanh đường phố thuộc khu vực nội thành TP.HCM đã có tới
49 họ thực vật, cây xanh công viên có tới 73 họ Riêng Thảo cầm viên có thành phần cây của 360 loài thuộc 64 họ Tao Đàn có 32 họ (tài liệu kiểm kê của Công ty Công viên Cây xanh TP.HCM năm 1996)
Những khu vực trồng hoa kiểng, bonsai ở Gò Vấp, khu du lịch Đầm Sen, vào các dịp hội hoa xuân thể hiện rõ nét sự đa dạng của hệ thực vật của thành phố Điều đó làm tăng giá trị khoa học của cả hệ thống cây rừng và cây xanh đô thị
2.4 Cây xanh với tác dụng phòng hộ cho đô thị
2.4.1 Cây xanh cản bớt tốc độ gió bão
Lớp không khí xung quanh ta luôn luôn chuyển động, ngoài chuyển động thẳng đứng, còn chuyển động ngang Chính chuyển động ngang này sinh ra gió Tốc
độ gió mạnh nhưng nếu gặp vật cản, sẽ bị giảm đi một phần đáng kể Hàng cây cũng có tác dụng ngăn cản đó
Những hàng cây, rặng cây, đặc biệt những rừng cây phòng hộ, rừng cây cảnh quan du lịch nằm ở xung quanh các đô thị góp phần quan trọng, cản trở tốc độ gió bão, hạn chế sự thiệt hại do gió bão gây nên
Hiệu lưc phòng hộ này tùy thuộc giống cây, bố trí, số lượng cây trồng Những cây có thân cao, gỗ tốt, sức chịu đựng gió khỏe, có bạnh vè, trồng thành nhiều lớp sẽ có hiệu quả cao, không chỉ ngăn cản bớt tốc độ gió mà còn hạn chế được những luồng gió lạnh như ở phía bắc vào các thời kì có gió mùa đông bắc
Trang 242.4.2 Cây xanh ngăn đỡ hạt mưa, bảo vệ mặt đường, chống xói mòi đất và các công trình kiến trúc khác
Nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới, nắng to, mưa nhiều lại tập trung vào một số tháng trong năm Có những trận mưa lớn làm hư hỏng đường xá, gây xói mòn, xụt lở đường đi, ảnh hưởng xấu tới các công trình xây dựng đặc biệt ở những nơi có địa hình dốc nhiều, việc trồng cây phân tán và tập trung sẽ có tác dụng chế ngự dòng chảy rất lớn
Ở các vùng ngoại ô, rừng phòng hộ không chỉ có tác dụng bảo vệ khỏi gió bão, mưa lũ gây ra cho các vùng ngoại thành, mà ở nơi này diện tích canh tác còn nhiều do vậy cây xanh ở đây còn có tác dụng chống xói mòn đất, bảo vệ mùa màng, bảo vệ các hệ thống thủy lợi, nhà của của người dân
2.5 Cây xanh trong kiến trúc cảnh quan của đô thị
Từ xưa cây xanh đã được đưa vào trồng ở đô thị xen các kiểu kiến trúc nhà
ở, vườn, ở các đình chùa như ở Trung Quốc, Hy Lạp, Tây Á, trong đó phải kể đến công trình nổi tiếng là vườn treo Babylon cách đây 600 năm TCN
Cây xanh trồng 2 bên đường phố, tại các khu nhà tập thể, cơ quan, trường học, công viên…không chỉ góp phần vào cải thiện môi trường sinh thái mà nó đã tạo nên nét đẹp mới, độc đáo riêng cho mỗi thành phố, công trình kiến trúc Việc chọn lựa loài cây, bố trí cây trồng, chăm sóc cây cảnh…là những công trình nghệ thuật thực sự Nó không chỉ mang đến giá trị về tính đa dạng sinh học quí báu, mà còn thể hiện nghệ thuật thẩm mĩ phong phú cho mỗi đô thị, mỗi dân tộc, thậm chí của từng nhà sáng tạo
Những công trình cây xanh thực sự làm tăng nét văn hóa – nghệ thuật của đô thị Con người luôn vươn tới cái hoàn mĩ hơn, vì vây họ luôn cải thiện, sáng tạo từ những nền tảng cũ Mặc dù vấn đề cây trồng đô thị diễn ra ở mọi nơi trên thế giới, nhưng các nhà chuyên môn vẫn luôn mong muốn gìn giữ nét văn hóa nghệ thuật độc đáo riêng của mỗi vùng, mỗi con đường, mỗi vườn hoa, mỗi dân tộc…có sự kết hợp hài hòa và mang được tính hiện đại
Trang 252.6 Giới thiệu về Thảo cầm viên Sài Gòn
Trang 262.6.2 Lịch sử hình thành Theo
http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%A3o_C%E1%BA%A7m_Vi%C3%AAn_S%C3%A0i_G%C3%B2n
Thảo cầm viên Sài Gòn tên ban đầu là vườn bách thảo, người dân quen gọi là
sở thú, là nơi bảo tồn động thực vật có tuổi thọ đứng hàng thứ 8 trên thế giới
Ngày 23 tháng 3 năm 1864, Đề đốc De La Grandiere kí nghị định cho phép xây dựng Vườn Bách Thảo tại Sài Gòn Ngay sau đó, ông Louis Adolphe Germain, một thú y sĩ của quân đội pháp, được giao nhiệm vụ mở mang 12 ha vùng đất hoang
ở phía đông bắc rạch Thị Nghè (Pháp gọi là Arrroyo d'Avalanche, lấy theo tên chiến tàu chiến đã vào rạch Thị Nghè để tấn công thành Gia Định) để làm nơi nuôi thú và ươm cây
Hình 2.4 Năm thành lập Thảo Cầm Viên Sài Gòn
Tháng 3 năm 1865 bước đầu, ông Germain đã xây dựng được một số chuồng trại
Để biến nơi này thành nơi nuôi trồng các loài động vật, thực vật của toàn Đông Dương; vừa để trưng bày, vừa để cung cấp cây giống và trồng dọc theo các trục lộ ở Sài Gòn; viện Toàn quyền Đông Dương nhận thấy cần phải có người giỏi chuyên môn hơn, nên đã cho mời ông J.B Louis Pierre, người phụ trách chăm sóc thực vật của vườn bách thảo Calcutta (Ấn Độ), sang làm giám đốc ngày 28 tháng 3 năm 1865
Trang 27Cuối năm 1865, Vườn bách thảo đã được mở rộng đến 20 ha
Sang năm 1924, khuôn viên sát nhập thêm bờ bắc rạch Thị Nghè 13 ha nữa; một cây cầu đúc được bắc qua rạch để nối liền hai khu vực hoàn thành năm
1927 Năm 1927, chính phủ Nhật đã cung cấp cho Vườn Bách Thảo khoảng 900 giống cây lạ
Ngày 17 tháng 2 năm 1869, chi phí hàng năm của Vườn Bách Thảo đã được nâng lên
Ngày 14 tháng 7 năm 1869, Vườn Bách Thảo mở cửa thường trực cho công chúng vào xem
Năm 1924 – 1927: trải nhựa đường nội bộ trong khuôn viên, xây dựng các chuồng thú có quy mô lớn như chuồng lồng tròn để nuôi khỉ, chuồng cọp v.v…
Năm 1956: lại được tu sửa, tái thiết và đổi tên là Thảo Cầm Viên Sài Gòn Năm 1984: xây dựng nhiều hạng mục công trình như: kè đá dọc kênh Thị Nghè, cải tạo hệ thống thoát nước và hệ thống dây điện trần, trải nhựa và bê tông đường nội bộ, xây dựng tường rào dọc đương Nguyễn Bỉnh Khiêm
Hình 2.5 Tượng ông Louis Adolphe Germain
Trang 28Đặc biệt năm 1990, nhiều chuồng thú được cải tạo và mở rộng cho phù hợp với đời sống của từng loài thú, đã nâng tổng diện tích chuồng thú sau năm 1975 từ 8.500m2 lên đến năm 2000 là 25.000m2
Bộ sưu tập động vật của Thảo cầm viên ngày càng phong phú nhờ mối quan
hệ hợp tác, trao đổi, mua bán với nhiều vườn động thực vật và các tổ chức khoa học quốc tế Cho nên bên cạnh hàng chục loài động vật có vú, hàng chục giống chim, nhiều giống bò sát và một số loài khác như: khỉ, gấu, cọp, beo, sư tử, giả nhân…Nhiều loài động vật mới lạ đã xuất hiện ở Việt Nam như: hà mã, hà mã lùn, báo đốm Mỹ, đà điểu châu Phi, hồng hạc châu Mỹ, đười ươi, hươu cao cổ…
Hiện nay, ở Thảo cầm viên Sài Gòn ngoài những khu vực nuôi trồng cầm thú, cây cảnh và sưu tập phong lan, còn có khu dành cho trẻ em, cho người lớn vui chơi, giải trí
Ngoài ra, trong Thảo cầm viên Sài Gòn còn có hai công trình kiến trúc đặc sắc khác đó là Đền thờ vua Hùng (Thành Phố Hồ Chí Minh) dựng năm 1926 và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Thành Phố Hồ Chí Minh mở cửa từ năm 1929
Sau hơn 130 năm tồn tại, Thảo cầm viên đã trở thành một vườn thú lớn với
590 đầu thú thuộc 125 loài, thực vật có 1800 cây gỗ thuộc 260 loài, 23 loài lan nội địa, 33 loài sương rồng, 34 loài bonsai… và đang được bổ sung thêm
Cho nên không khí ở đây khá trong lành với tiếng thú với chim muông cùng
vô vàn cây xanh hoa đẹp…Hơn thế nữa, Thảo cầm viên còn có vai trò giáo duc, bảo
vệ và nghiên cứu
Hiện nay Thảo cầm viên Sài Gòn có quan hệ với nhiều tổ chức quốc tế như: Hiệp hộ các Vườn thú Đông Nam Á (SEAZA), Liên đoàn Thế giới Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên (IUNC), Hiệp hội giáo dục Bảo tồn các Vườn thú trên Thế giới (IZEA)…
Trang 292.7 Vai trò của ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm không khí đối với thực vật
2.7.1 Ánh sáng
Theo: anh-huong-cua-anh-sang-len-sinh-vat.html
Ánh sáng là một yếu tố sinh thái, ánh sáng có vai trò quan trọng đối với cơ thể sống ánh sáng là nguồn cung cấp năng lượng cho thực vật tiến hành quang hợp ánh sáng điều khiển chu kì sống của sinh vật
Tùy theo cường độ và chất lượng của ánh sáng mà nó ảnh hưởng nhiều hay ít đến quá trình trao đổi chất và năng lượng cùng nhiều quá trình sinh lí của các cơ thể sống ngoài ra ánh sáng còn ảnh hưởng nhiều đến các nhân tố sinh thái khác như nhiệt độ, độ ẩm, không khí, đất và địa hình
Độ dài bước sóng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sinh vật nói chung
và đối với thực vật nói riêng
Ánh sáng có ảnh hưởng dến toàn bộ đời sống của thực vật từ khi hạt nảy mầm, sinh trưởng, phát triển cho đến khi ra hoa kết trái rồi chết
Ánh sáng có ảnh hưởng nhất định đến hình thái và cấu tạo của cây, những cây mọc riêng lẽ ngoài rừng hay những cây mọc trong rừng có thân phát triển đều, thẳng, có tán cân đối những cây mọc ở bìa rừng hoặc trên đường phố có tàng nhà cao tầng, do có tác dụng không đồng đều của ánh sáng ở 4 phía nên tán cây lệch về phía có nhiều ánh sáng Đặc tính này gọi là tính hương sáng của cây
Ánh sáng còn ảnh hưởng đến hệ rễ của cây, khi ánh sáng đầy đủ, hệ rễ phát triển tốt hơn Hệ rễ phát triển tốt lại cải thiện điều kiện hút nước, dưỡng chất của cây
Đối với một số loài cây có rễ trong không khí (rễ khí sinh) thì ánh sáng giúp cho quá trình tạo diệp lục trong rễ nên rễ có thể quang hợp như một số loài phong lan trong họ Lan Còn hệ rễ dưới đất thì chịu sự tác động của ánh sáng, rễ của cây
ưa sáng phát triển hơn rễ của cây ưa bóng
Trang 30Lá là cơ quan trực tiếp hấp thụ ánh sáng nên chịu ảnh hưởng nhiều với sự thay đổi cường độ ánh sáng Do sự phân bố ánh sáng không đều trên tán cây nên cách sắp xếp lá không giống nhau
Ánh sáng còn ảnh hưởng đến quá trình sinh lí của thực vật, trong thành phần quang phổ của ánh sáng, diệp lục chỉ hấp thụ một số tia sáng Cường độ quang hợp lớn nhất khi chiếu tia đỏ là tia mà diệp lục hấp thụ nhiều nhất
Tùy thuộc vào cường độ chiếu sáng, thực vật được chia thành các nhóm cây:
Cây ưa sáng: tạo nên sản phẩm quang hợp cao khi điều kiện chiếu sáng tăng lên, nhưng sản phẩm quang hợp đạt cực đại không phải trong điều kiện chiếu sáng cực đại mà ở cường độ vừa phải
Cây ưa bóng : cho sản phẩm quang hợp cao ở cương độ chiếu sáng thấp
Cây chịu bóng: quang hợp tăng khi được sống ở những nơi chiếu sáng đầy
đủ
Ánh sáng có ảnh hưởng rõ rệt đến quá trình sinh sản của thực vật tương quan giữa thời gian chiếu sáng và che tối trong ngày – đêm gọi là quamg chu kì Liên quan đến độ dài chiếu sáng, thực vật được chia thành các nhóm cây dài ngày
và cây ngắn ngày Cây dài ngày là cây ra hoa kết trái cần pha sáng nhiều hơn pha tối, cây ngắn ngày đòi hỏi độ dài chiếu sáng khi ra hoa kết trái ngắn hơn
2.7.2 Nhiệt độ
Theo: anh-huong-cua-nhiet-do-doi-voi-doi-song-dong-vat.html
http://thuviensinhhoc.com/chuyen-de-sinh-hoc/sinh-thai-hoc/2220-Nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của cây Cây có thể sinh trưởng trong một khoảng nhiệt độ khá rộng, vì vây các loại cây trồng khác nhau thì tồn tại những điểm nhiệt độ tối thấp và tối cao cũng khác nhau
Nếu nhiệt độ vượt quá khoảng nhiệt độ tối thấp và tối cao thì cây sẽ ở trạng thái stress, nếu kéo dài cây có thể chết
Khi gặp nhiệt độ cao sẽ gây sự đông kết protein dẫn đến sự tổn hại Nguyên sinh chất Đa số cây không chịu được nhiệt độ trên 500C kéo dài
Trang 31Khi gặp nhiệt độ cao cả quang hợp và hô hấp đều bị ảnh hưởng Khi nhiệt độ tăng mạnh cường độ quang hợp giảm nhanh hơn tốc độ hô hấp Trên ngưỡng nhiệt sinh lí quang hợp không thể bù đủ lượng cơ chất cho hô hấp, do vậy dự trữ gluxit sẽ giảm Do vậy sự mất cân bằng giữa hô hấp và quang hợp là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây hại cho cây ở nhiệt độ cao