1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI THÚ MÓNG GUỐC TẠI VƯỜN QUỐC GIA YOK ĐÔN, TỈNH ĐẮK LẮK

61 207 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những kết quả đạt được trong quá trình điều tra: Qua việc điều tra bằng phương pháp phỏng vấn, phân tích mẫu vật và quan sát thực địa theo tuyến điều tra ở VQG Yok Đôn, đã ghi nhận được

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

******************

ĐỖ THỊ PHƯƠNG LIÊN

ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI THÚ MÓNG GUỐC TẠI

VƯỜN QUỐC GIA YOK ĐÔN, TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH LÂM NGHIỆP

Thành phố Hồ Chí Minh

Tháng 6 /2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

******************

ĐỖ THỊ PHƯƠNG LIÊN

ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI THÚ MÓNG GUỐC TẠI

VƯỜN QUỐC GIA YOK ĐÔN, TỈNH ĐẮK LẮK

Ngành: Lâm nghiệp

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Giáo viên hướng dẫn: TS Vũ Thị Nga

Thành phố Hồ Chí Minh

Tháng 6 /2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết con xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc đến gia đình, đặc biệt là

bố, mẹ đã tạo điều kiện thuận lợi cho con về mặt vật chất và tinh thần để hoàn thành khóa học

Xin cảm ơn Ban Giám Hiệu trường đại học Nông Lâm TP.HCM cùng toàn thể các thầy cô đã truyền đạt kiến thức cho em trong thời gian học tại trường

Xin cảm ơn Ban Chủ Nhiệm Khoa Lâm Nghiệp cùng toàn thể quý thầy cô đã dạy dỗ và giúp đỡ để em hoàn thành khóa học này

Đặc biệt em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành cảm ơn cô Vũ Thị Nga

đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn Ban Quản Lý Vườn Quốc Gia Yok Đôn cùng các cô, chú , anh, chị công tác tại Vườn và các đơn vị trạm kiểm lâm Vườn Quốc Gia Yok Đôn đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ cho tôi trong quá trình thực tập tại Vườn Quốc Gia

Sau cùng, tôi xin cảm ơn các bạn bè trong khoa Lâm Nghiệp và tập thể lớp DH08QR đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tại trường

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 6 năm 2012

Sinh viên thực hiện

Đỗ Thị Phương Liên

Trang 4

TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Đề tài nghiên cứu: Điều tra thành phần loài thú Móng guốc tại Vườn Quốc Gia (VQG) Yok Đôn, Đắk Lắk Đề tài được tiến hành tại VQG Yok Đôn, tỉnh Đắk Lắk Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 3 năm 2012 đến tháng 6 năm 2012

Các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phỏng vấn kiểm lâm và người dân địa phương; phân tích mẫu vật; phương pháp quan sát theo tuyến điều tra Xử lý số liệu bằng phần mềm Excel

Những kết quả đạt được trong quá trình điều tra: Qua việc điều tra bằng phương pháp phỏng vấn, phân tích mẫu vật và quan sát thực địa theo tuyến điều tra ở VQG Yok Đôn, đã ghi nhận được 10 loài thú Móng guốc thuộc 5 họ của 2 bộ

Qua phỏng vấn ghi nhận được 10 loài

Qua phân tích mẫu vật, ghi nhận được 6 loài thuộc 4 họ của 2 bộ Trong đó các loài Heo rừng, Nai, Hoẵng Nam bộ, Mang lớn, Bò rừng thì người ta lấy sừng và sọ đầu

để trưng trong nhà và bán Ngà Voi, lông đuôi Voi cũng được rao bán khá nhiều

Trên tuyến điều tra ghi nhận được 6 loài thuộc 5 họ của 2 bộ Trong số 6 loài có

3 loài xuất hiện nhiều là Hoẵng Nam bộ, Heo rừng, Nai Loài xuất hiện trung bình là Cheo cheo Nam dương 1 loài ít xuất hiện là Bò rừng và 1 loài hiếm xuất hiện là Voi

Trong số 10 loài đã điều tra được thì có 7 loài nằm trong danh sách động vật Móng guốc quý hiếm, được ghi vào sách đỏ, cần được bảo tồn là: Voi, Cheo cheo Nam dương, Nai cà tông, Mang lớn, Bò tót, Bò rừng, Trâu rừng

Trong một số tài liệu của VQG, có viết về các loài: Bò xám (Bos sauveli); Sơn dương (Capricornis sumatraensis); Hươu vàng (Cervus porcinus) nhưng trong suốt

quá trình điều tra thực địa, cũng như phỏng vấn người dân địa phương và kiểm lâm, phân tích mẫu vật, không thấy sự xuất hiện của các loài này cũng như dấu vết của chúng, có thể các loài này đã không còn tồn tại ở VQG Yok Đôn

Hiện trạng bảo tồn động vật Móng guốc ở VQG Yok Đôn đã được quan tâm nhưng vẫn chưa triệt để Tình hình phá rừng, săn bắn trái phép các loài thú quý hiếm (Voi, Bò tót, Bò rừng….) vẫn xảy ra thường xuyên

Trang 5

ABSTRACT

Research topic: Investigation of species of hoofed animals in the Yok Don National Park, Dak Lak The topic was conducted in the Yok Don National Park, Dak Lak Province Implementation period of this topic was from March 2012 to June 2012

Research methods: method of interviewing the forester and people living at the local area; analysis of specimen; method of observing investigation lines Data processing in Microsoft Excel

Results achieved: we have recorded ten species of hoofed animals belonging to five families of two oders By interview we have recorded ten species We have

recorded six species belonging to four families of two oders Of which there were Sus crofa, Cervus unicolor, Muntiacus muntjak annamensis, Megamuntiacus vuquangensis, Bos javanicus which were taken with horn and skull to display in the

house and for sell Elephant’s tusk and tail hairs were offered for sell

On investigation lines, we have recorded 6 species belonging to 5 families of 2

oders Of which there were 3 species which appear many times were M muntjak annamensis, S crofa, C unicolor The species which appear regularly was Tragulus javanicus The species appears to be little was B javanicus and rarely appear is Elephas maximus

There are 7 species in the list of valuable and rare hoof Animals, were written

in the red book and need to be preserved, including: E maximus, T javanicus, Cervus eldi, M vuquangensis, Bos gaurus, B javanicus, Bos bubalis

Some documents of the Yok Don National Park mentioned about: Bos sauveli, Capricornis sumatraensis, Cervus porcinus However, during our reality investigation

as well as interview of the forester and the local people, analysis of specimen, there was no appearance of these species as well as it’s signs These species may be disappeared in Yok Don National Park

The conservation of hoofed animals at Yok Don National Park has been concerned but it is not strict Deforestation situation, illegally hunting of rare animals

species (E maximus, B gaurus, B javanicus, B bubalis, C eldi…) usually occur

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

TRANG TỰA i

LỜI CẢM ƠN ii 

TÓM TẮT ĐỀ TÀI iii 

ABSTRACT iv 

MỤC LỤC v 

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii 

DANH SÁCH CÁC BẢNG ix 

DANH SÁCH CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ x 

Chương 1 MỞ ĐẦU 1 

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3 

2.1 Thành phần loài thú Móng guốc thế giới và Việt Nam 3 

2.1.1 Thành phần thú Móng guốc trên thế giới 3 

2.1.1.1 Bộ Guốc lẻ (PERISSODACTYLA): 3 

2.1.1.2 Bộ Voi hay còn gọi bộ có vòi: PROBOSCIDEA 3 

2.1.1.3 Bộ Guốc chẵn ARTIODACTYLA: 3 

2.1.2 Thành phần thú Móng guốc ở Việt Nam 4 

2.2 Đặc điểm điều kiện tự nhiên VQG Yok Đôn: 7 

2.2.1 Vị trí địa lý 7 

2.2.2 Địa hình và đất đai 9 

2.2.2.1 Địa hình 9 

2.2.2.2 Đất đai 9 

2.2.3 Khí hậu và thủy văn 10 

2.2.3.1 Khí hậu 10 

2.2.3.2 Thủy văn 11 

2.2.3.3 Khái quát về đa dạng hệ sinh thái rừng ở VQG Yok Đôn 11 

2.3 Điều kiện kinh tế và xã hội 14 

2.3.1 Dân số, dân tộc và nguồn lao động 14 

Trang 7

2.3.1.1 Khu vực vùng lõi 14 

2.3.1.2 Vùng đệm 15 

2.3.2 Hiện trạng xã hội và cơ sở hạ tầng tại các xã vùng đệm 16 

2.3.3 Đánh giá chung về kinh tế - xã hội 16 

Chương 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18 

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 18 

3.2 Nội dung nghiên cứu 18 

3.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 18 

3.4 Phương tiện và phương pháp nghiên cứu 18 

3.4.1 Phương tiện nghiên cứu 18 

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu 18 

3.4.2.1 Phương pháp phỏng vấn kiểm lâm và người dân địa phương 18 

3.4.2.2 Phương pháp phân tích mẫu vật 19 

3.4.2.3 Phương pháp điều tra theo tuyến 19 

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21 

4.1 Thành phần loài thú Móng guốc tại VQG Yok Đôn 21 

4.2 Thành phần loài và mức độ xuất hiện các loài thú Móng guốc qua điều tra phỏng vấn 22 

4.3 Kết quả phân tích mẫu vật 24 

4.4 Thành phần loài và mức độ xuất hiện các loài thú Móng guốc qua điều tra thực địa tại VQG Yok Đôn 26 

4.5 Đặc điểm sinh cảnh và tập tính của các loài thú Móng guốc ghi nhận được qua các phương pháp điều tra 27 

4.5.1 Heo rừng (Sus crofa) 27 

4.5.2 Nai (Cervus unicolor) 29 

4.5.3 Nai cà tông (Cervus eldi) 29 

4.5.4 Hoẵng Nam bộ (Muntiacus muntjak annamensis) 29 

4.5.5 Mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis) 30 

4.5.6 Cheo cheo Nam dương (Tragulus javanicus) 30 

4.5.7 Bò rừng (Bos javanicus) 30 

4.5.8 Bò tót (Bos gaurus) 32 

Trang 8

4.5.9 Trâu rừng (Bos bubalis ) 32 

4.5.10 Voi (Elephas maximus) 32 

4.6 Nguồn thức ăn và hướng di chuyển của các loài thú Móng guốc 32 

4.7 Danh sách các loài thú Móng guốc quý hiếm ở VQG Yok Đôn 33 

4.8 Mối đe dọa, hiện trạng bảo tồn thú Móng guốc và đề xuất một số giải pháp bảo tồn thú Móng guốc ở VQG Yok Đôn 34 

4.8.1 Mối đe dọa 34 

4.8.2 Hiện trạng bảo tồn 35 

4.8.3 Đề xuất giải pháp bảo tồn thú Móng guốc ở VQG Yok Đôn 36 

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 38 

5.1 Kết luận 38 

5.2 Kiến nghị 39 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 40 

Trang 9

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BTTN: Bảo tồn thiên nhiên

CR: Rất nguy cấp (Critically endangered)

DD: Thiếu dữ liệu (Data dificient)

ĐDSH: Đa dạng sinh học

ĐVHD: Động vật hoang dã

ĐVMG: Động vật móng guốc

EN: Nguy cấp (Endangered)

EX: Tuyệt chủng (Extinct)

EW: Tuyệt chủng ngoài tự nhiên (Extinct in the wild)

IUCN: Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới

LR: Ít nguy cấp (Lower risk)

VQG: Vườn Quốc Gia

VU: Sẽ nguy cấp (Vulnerable)

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang Bảng 4.1: Thành phần loài và mức độ xuất hiện các loài thú qua phỏng vấn 22 

Bảng 4.2: Thành phần loài và mức độ xuất hiện của các loài thú Móng guốc trên tuyến điều tra 26 

Bảng 4.3: Danh sách các loài thú Móng guốc quý hiếm ở VQG Yk Đôn 33 

Trang 11

DANH SÁCH CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu đồ 4.1: Tần suất bắt gặp các loài qua phương pháp phỏng vấn 23 

Biểu đồ 4.2: Tần suất bắt gặp (%) của các loài qua tuyến điều tra 27 

Hình 3.1: Một góc sinh cảnh vườn quốc gia Yok Đôn 20 

Hình 4.1: Đầu Hoẵng Nam bộ (M muntja annamensis) 24 

Hình 4.2: Sọ đầu Nai (C unicolor) 24 

Hình 4.3: Sọ Heo Rừng (S scrofa) 24 

Hình 4.4: Sừng Nai (C unicolor) 24 

Hình 4.5: Mẫu vật Voi (E maximus) tại phòng trưng bày VQG Yok Đôn 25 

Hình 4.6: Đầu Mang lớn (M vuquangensis) 25 

Hình 4.7: Nơi heo rừng thường xuất hiện (tuyến 2) 38 

Hình 4.8: Dấu heo rừng ủi đất (điều tra tại tuyến 1) 28 

Hình 4.9: Điều tra vết chân thú tại tuyến 1 29 

Hình 4.10: Dấu chân Hoẵng Nam bộ (trên tuyến điều tra 3) 30 

Hình 4.11: Dấu chân Hoẵng Nam bộ và Bò rừng (trên tuyến điều tra 3) 31 

Hình 4.12: Nơi bò rừng nghỉ chân uống nước (trên tuyến điều tra 4) 31 

Trang 12

Chương 1

MỞ ĐẦU

Ngay từ thuở sơ khai, phần lớn bề mặt trái đất được che phủ bởi rừng tự nhiên

và con người đã có những khái niệm cơ bản nhất về rừng Rừng là nơi cung cấp mọi thứ phục vụ cho cuộc sống của con người, chính vì thế con người đã không ngừng tác động vào rừng, khiến diện tích rừng tự nhiên bị giảm đi đáng kế, làm giảm nơi trú ngụ

và sinh sống của nhiều loài thú rừng Bên cạnh đó, tình trạng săn bắt thú rừng trái phép diễn ra thường xuyên, khiến một số loài động vật quý hiếm đã và đang có nguy cơ bị tuyệt chủng Hiểu được điều đó, nhiều vườn quốc gia ở Việt Nam đã được thành lập nhằm mục đích bảo vệ, bảo tồn các loài thú rừng nói riêng và tài nguyên rừng cũng như đa dạng sinh học nói chung

Vườn quốc gia (VQG) Yok Đôn là một trong những VQG lớn nhất ở Việt Nam, với trên 90% diện tích là rừng nguyên sinh, là môi trường sống lý tưởng cho các loài động, thực vật Theo khảo sát của các nhà khoa học, Yok Đôn hiện có 67 loài thú, 196 loài chim, 46 loài bò sát, 13 loài lưỡng cư và khoảng 100 loài côn trùng sinh sống Nguồn động vật hoang dã không những phong phú và đa dạng mà còn rất đặc trưng cho hệ động vật vùng Đông Nam Á Trong số 56 loài động vật quý hiếm của khu vực Đông Dương thì Yok Đôn có đến 36 loài và 17 loài được ghi trong sách đỏ thế giới (VQG Yok Đôn, 2003)

Trong số các loài thú thì phần lớn động vật ở đây thuộc bộ Móng guốc, có rất nhiều loài quý hiếm so với cả nước Thú Móng guốc cho chúng ta nhiều giá trị như: cung cấp nguồn dược liệu quý (nhung Hươu, Nai…), cung cấp nguyên liệu làm đồ mỹ nghệ (ngà Voi, sừng Tê giác, sừng Nai, sừng Hươu…), phục vụ du lịch (Voi)… Tuy nhiên, với tình trạng phá rừng, săn bắt, mua bán trái phép các loài động vật hoang dã diễn ra nhiều như hiện nay đã khiến cho nhiều loại động vật rừng có nguy cơ bị tuyệt

Trang 13

chủng, trong đó có nhiều loài thuộc bộ Móng guốc, vì thế cần thiết phải có kế hoạch để bảo tồn chúng

Với những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “ Điều tra thành phần loài thú Móng guốc tại Vườn Quốc Gia Yok Đôn”

Trang 14

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Thành phần loài thú Móng guốc thế giới và Việt Nam

2.1.1 Thành phần thú Móng guốc trên thế giới

Thú Móng guốc trên thế giới: Được phân loại thành 3 bộ:

2.1.1.1 Bộ Guốc lẻ (PERISSODACTYLA):

Số ngón lẻ, có 1 ngón chân giữa phát triển hơn cả, ăn thực vật, không nhai lại

Có sừng, sống đơn độc (Tê giác); không có sừng, sống đàn (Ngựa)

Có 2 phân bộ:

Phân bộ Hippomorpha: là các động vật Móng guốc ngón lẻ có khả năng chạy

nhanh với các chân dài và chỉ có một ngón chân; phân bộ này có một họ duy nhất

là họ Ngựa (Equidae) (chỉ có một chi là Equus), bao gồm các loài Ngựa (Equus caballus), Ngựa vằn (Equus grevyi), Lừa hoang Tây Tạng (Equus kiang), Lừa rừng Trung Á (Equus hemionus) và các loài cùng họ khác

Phân bộ Ceratmorpha: là các động vật Móng guốc ngón lẻ có vài ngón chân

hoạt động, chúng nặng nề và di chuyển chậm hơn các loài trong nhóm Hippomorpha Phân bộ này bao gồm hai họ là: Tapiridae (Lợn vòi) và Rhinocerotidae (Tê giác)

2.1.1.2 Bộ Voi hay còn gọi bộ có vòi: PROBOSCIDEA

Có 5 ngón lẻ, guốc nhỏ, vòi dài, sống đàn, không nhai lại Hiện nay chỉ còn 1

họ tồn tại là họ Voi (Elephantidae), với 3 loài: Voi bụi rậm Châu Phi (Loxodonta africana), Voi rừng Châu Phi (Loxodonta cyclotis), và Voi Châu Á (Elephas maximus)

2.1.1.3 Bộ Guốc chẵn ARTIODACTYLA:

Số ngón chẵn, có 2 ngón chân giữa phát triển bằng nhau, đa số có sừng, nhai lại

và sống thành đàn

Có 3 phân bộ sau:

Trang 15

Phân bộ lợn (Suina): Là nhóm động vật guốc chẵn sớm nhất và cổ nhất của bộ

Guốc chẵn (Artiodactyla) Phân bộ Suina bao gồm các họ còn sinh tồn như Suidae (họ Lợn) và họ Tayassuidae (Lợn cỏ pêcari) Phần lớn các dạng động vật guốc chẵn có dạ

dày 4 ngăn (túi) Ngược lại, phân bộ Suina chỉ có dạ dày đơn giản gồm 1 ngăn, cho

phép chúng ăn tạp Trong khi phần lớn các dạng động vật guốc chẵn khác có chân thanh mảnh thì đa số các loài của phân bộ Suina nói chung lại có chân ngắn và mập

Phân bộ Lạc đà (Tylopoda): Là một phân bộ động vật có vú của bộ Guốc

chẵn (Artiodactyla), hiện chỉ còn một họ có loài sinh tồn là họ Lạc đà (Camelidae)

Phân bộ nhai lại (Ruminantia): Bao gồm nhiều loài động vật có vú lớn ăn cỏ

hay gặm lá được nhiều người biết đến như là: Trâu, Bò, Hươu, Nai, Linh dương…tất

cả động vật thuộc phân bộ này đều nhai lại

2.1.2 Thành phần thú Móng guốc ở Việt Nam

Ở Việt Nam, đã biết 20 loài và phân loài thuộc 8 họ, trong số đó có 3 loài đã bị

tuyệt chủng là Heo vòi (Tapirus indica), Tê giác hai sừng (Dicerorhinus sumatrensis),

Tê giác 1 sừng (Rhinoceros sondaicus) Trong số các loài động vật Móng guốc

(ĐVMG) có các đại diện đã được thuần hóa thành vật nuôi như Trâu, Bò, Lợn, Bò tót, Hươu, Nai,….là những loài thú có ý nghĩa kinh tế, có giá trị khoa học Nhiều loài ĐVMG có giá trị kinh tế cao và là nguồn gen tự nhiên vô cùng quý cần được bảo tồn:

Bò tót (Bos gaurus), Bò rừng (Bos javanicus), Bò xám (Bos sauveli), Trâu rừng (Bos bubalis), Nai cà tông (Cervus eldi), Hươu vàng (Cervus porcinus), Hươu xạ (Moschus berezovxki), Sao la (Pseudoryx nghetinhensis), Mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis) Hầu hết các loài kể trên được ghi trong Nghị định 18/HĐBT năm

1992, Nghị định 48/4/2002, và Nghị định 32/2006 của Chính phủ cấm săn bắn, vận chuyển, buôn bán Trong Sách Đỏ Việt Nam, các loài này được xếp vào bậc nguy cấp Dựa vào 8 cấp tiêu chuẩn đánh giá mức độ nguy hiểm của các loài động thực vật của

Tổ chức Bảo vệ Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) thông qua

ngày 30/4 năm 1994:

Cấp EX: Tuyệt chủng (Extinct)

Cấp EW: Tuyệt chủng ngoài tự nhiên (Extinct in the wild)

Cấp CR: Rất nguy cấp (Critically endangered)

Cấp EN: Nguy cấp (Endangered)

Trang 16

Cấp VU: Sẽ nguy cấp (Vulnerable)

Cấp LR: Ít nguy cấp (Lower risk)

Cấp DD: Thiếu dữ liệu (Data dificient)

Cấp NE: Không đánh giá (Not evaluated)

Thành phần loài thú Móng guốc hiện có ở một số VQG, Khu Bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam:

- Tại khu vực Đông Bắc Việt Nam: có 5 loài: Heo rừng, Hươu xạ, Hoẵng Nam

bộ, Nai, Sơn dương (Nguyễn Trường Sơn và cộng tác viên, 2011)

- Tại khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn: có 5 loài: Heo rừng, Hoẵng Nam bộ, Nai, Sơn dương, Hươu xạ (Trần Thị Việt Thanh, Đỗ Văn Trưởng, Hoàng Anh Tuấn, Cao Quốc Trị, 2011)

- Tại khu vực huyện Lệ Thủy và Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình: có 7 loài thuộc

bộ Guốc chẵn: Heo rừng, Hoẵng Nam bộ, Mang lớn, Nai, Bò tót, Sao la, Sơn dương (Đặng Ngọc Cần, Nguyễn Trường Sơn, Motokawa Masaharu, 2011)

- Tại rừng phòng hộ và đặc dụng Hòn Đất - Kiên Hà, tỉnh Kiên Giang: có 1 loài

là Cheo cheo Nam dương (Vũ Long, Trần Văn Bằng, Hoàng Minh Đức, 2011)

- Tại VQG Yok Đôn, tỉnh Đắk Lắk có 13 loài: Heo rừng, Cheo cheo Nam dương, Nai, Hoẵng Nam bộ, Mang lớn, Nai cà tông, Bò rừng, Bò tót, Trâu rừng, Hươu vàng, Bò xám, Voi, Sơn dương (VQG Yok Đôn, 2000)

Đặc điểm nhận biết, sinh thái và tập tính của một số loài thú Móng guốc quý hiếm lớn có tên trong sách đỏ Việt Nam:

Bò tót (Bos gaurus): Là loài thú lớn trong bộ Móng guốc ngón chẵn Thân dài

2,5 - 3 m, trọng lượng khoảng 1 tấn Sừng to, khỏe, uốn hình cong bán nguyệt, bộ lông

ở lưng màu đen xám, hơi phớt xanh Nơi sống của Bò tót là rừng già thường xanh, rừng khộp, rừng hỗn giao, rừng thứ sinh với địa hình tương đối bằng phẳng ở độ cao

500 - 1.500 m so với mặt biển Sống thành từng đàn 5 - 10 con (có đàn tới 20 - 30 con), đôi khi cũng gặp những cá thể sống đơn lẻ lẫn với đàn Bò rừng Theo sách đỏ Việt Nam, Bò tót thuộc phân hạng mức độ đe dọa: E (Đang nguy cấp) Bò tót là nguồn gen quý dự trữ trong thiên nhiên, để có thể lai tạo với các giống bò khác Giá trị kinh tế: mỗi con có thể cung cấp 500 - 600 kg thịt, 400 kg xương, da và cặp sừng đẹp Tại Việt Nam số lượng Bò tót đã giảm nhiều, hiện nay còn khoảng 30 - 50 con ở Sơn La,

Trang 17

Lai Châu; vùng Tây Nguyên còn khoảng 3000 con, được phát hiện nhiều ở khu bảo tồn thiên nhiên Vĩnh Cửu (tỉnh Đồng Nai), VQG Yok Đôn (tỉnh Đắk Lắk), VQG Cát Tiên (thuộc 3 tỉnh: Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phước) (Sách đỏ Việt Nam, trang 90)

Bò rừng (Bos javanicus): Là loài thú lớn, dài thân đến 2,25 m, trọng lượng cơ

thể khi trưởng thành là 600 - 800 kg Đầu nhỏ, trán không lõm, đỉnh trán giữa 2 sừng không tạo thành gờ cao Phần mông có đám lông màu trắng rất rõ, 4 chân từ kheo trở

xuống có màu trắng, đuôi dài Thường sống ở những sinh cảnh thưa thoáng mát, nhất

là rừng khộp (cây họ Dầu Dipterocarpaceae) Những vùng núi cao, núi đá thường không thấy Bò rừng Bò rừng sống thành đàn từ 10 - 30 con, tập tính sống đàn, ban đêm nghỉ ngơi, ngủ quây thành vòng tròn, con non, con già ở giữa, con tơ khoẻ ở vòng ngoài bảo vệ đàn Hoạt động kiếm ăn ban ngày vào sáng và chiều tối, buổi trưa nghỉ ngơi và nhai lại Bò rừng là loài quý hiếm của rừng nhiệt đới, có giá trị khoa học và thực tiễn, thịt cho thực phẩm; da, lông cho công nghệ hàng da; xương, sừng dùng làm hàng mỹ nghệ Hiện bị săn bắn nhiều nơi, vùng sống bị thu hẹp nên số lượng bị giảm

sút nghiêm trọng Sách đỏ Việt Nam năm 2007 xếp Bò rừng (Bos javanicus) thuộc

phân hạng mức độ đe dọa: E (Đang nguy cấp) Tại Việt Nam, trước đây Bò rừng thường có ở giữa Biên Hòa, Bà Rịa đến Phan Rí, Đắk Rinh, Phan Thiết, Lâm Đồng, sông La Ngà Hiện nay có từ Kontum , Đắk Lắk (Yok Đôn, Đắc Min, Easúp) đến Đồng Nai (Nam Cát Tiên), Sông Bé (Bù Gia Mập) (Sách đỏ Việt Nam, trang 91)

Trâu rừng (Bos bubalis): Hình dạng giống trâu nhà nhưng to và khoẻ hơn Dài

thân 2,8 - 3 m, trọng lượng 800 - 1200 kg Trán, má, cổ có lông dài rậm, màu xám đen, phía dưới lông cổ có đám lông trắng hình chữ V Sừng dài, uốn cong hình lưỡi liềm, thân sừng có nhiều vết nhăn nheo, mút sừng nhọn Lưng màu xám hoặc nâu xám, đuôi màu xám có túm lông đen ở mút đuôi Trâu rừng thường sống ở những cánh rừng già, rừng thưa ven sông suối hoặc trong thung lũng sâu có sình lầy ẩm ướt Sống thành từng đàn 20 - 30 con Kiếm ăn ban ngày trong rừng thưa, ven rừng, trảng cỏ cây bụi Tuy nhiên, số lượng Trâu rừng còn tồn tại trong thiên nhiên không còn nhiều, do bị săn bắn và lai tạo với trâu nhà Ở Việt Nam còn lại rất ít, phân bố chủ yếu dọc dãy Trường Sơn, trong đó có khu vực miền Tây Thanh Hóa giáp với Lào Ở Yok Đôn năm

1991 cũng bắn được 1 Trâu rừng, song từ đó tới nay cũng không ai gặp lại Trâu rừng được xếp vào mức đe dọa bậc E (Sách đỏ Việt Nam, trang 93)

Trang 18

Voi Châu Á (Elephas maximus): Là loài thú có kích thước cỡ lớn nhất trên

cạn Dài thân 4 - 6 m, dài đuôi 1 - 1,5 m, trọng lượng 3500 - 5000 kg Môi trên và mũi phát triển thành vòi dài chấm đất Hai răng lớn phát triển thành ngà Voi đực có 2 ngà dài tới 1,5 m, nặng 15 - 20 kg Có 12 răng hàm, mỗi bên 3 cái mọc sát nhau gần như một cái Da rất dày, lông thưa, dài, cứng, màu nâu xám (đôi khi trắng) Chúng thường sống ở rừng thưa, thứ sinh pha tre nứa xen nhiều trảng cỏ trong thung lũng hay vùng đồi núi thấp, độ cao phân bố của voi lên tới 1.500 - 1.600 m so với mặt biển Sống đàn

5 - 20 con Voi đã được thuần hoá phục vụ cho đời sống như kéo gỗ, thồ hàng, du lịch, nuôi trong các vườn thú, rạp xiếc Ngà voi có giá trị xuất khẩu cao Số lượng voi ở nước ta còn khoảng 1000 - 1500 con Phân bố ở: Lai Châu, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ

An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam - Đà Nẵng, Đắk Lắk, Gia Lai, Kom Tum, Lân Đồng, Sông Bé, Đồng Nai Những năm gần đây ở một số vùng như Lai Châu, Thanh Hóa, Tây Nguyên Voi vẫn bị săn bắn để lấy ngà Mặt khác do phá rừng khai hoang nên vùng sống của Voi ngày càng bị thu hẹp Ở Yok Đôn, ước tính còn ít

nhất khoảng 24 - 27 con Mức độ đe dọa: bậc E (Sách đỏ Việt Nam, trang 79)

2.2 Đặc điểm điều kiện tự nhiên VQG Yok Đôn:

Vườn quốc gia Yok Đôn được thành lập vào ngày 24 tháng 6 năm 1992 theo Quyết định số: 301/TCCB của Bộ Lâm nghiệp, nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, có diện tích là 58.200 ha

Ngày 18 tháng 3 năm 2002, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số: 301/2002/QĐ-TTg về việc mở rộng Vườn quốc gia Yok Đôn, sau khi sát nhập Lâm trường Bản Đôn và Lâm trường Buôn Đrăng Phôk nâng diện tích của vườn lên 115.545 ha Được chia thành 115 tiểu khu với ba phân khu chức năng:

- Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt có diện tích: 80.947 ha

- Phân khu phục hồi sinh thái có diện tích: 30.426 ha

Trang 19

- Phân khu hành chính dịch vụ: 4.172 ha

Phía Bắc giáp huyện Ea súp, tỉnh Đắk Lắk

Phía Nam giáp huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông

Phía Đông giáp huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk

Phía Tây là biên giới Việt Nam - Cam Pu Chia dài 102 km

Vị trí địa lý của VQG Yok Đôn có ý nghĩa quốc tế rất quan trọng: ranh giới phía Tây chính là biên giới quốc tế với Campuchia, đặc biệt là tiếp giáp với 2 khu vực

đã được chính phủ Campuchia đề xuất thành lập khu bảo tồn thiên nhiên Ratanakiri và Phnom Nam Lyr, là điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các khu bảo tồn liên biên giới, nhằm xác lập hành lang an toàn cho sự di chuyển của động vật hoang dã Điều này cũng tạo điều kiện lợi để phát huy công tác bảo tồn liên quốc gia, đáp ứng nhu cầu bảo tồn cho nhiều loài động thực vật quý hiếm, đặc biệt là các loài Móng guốc và thú

ăn thịt lớn

Hình 2.1 Bản đồ vị trí của VQG Yok Đôn trong tỉnh Đắk Lắk và Đăk Nông

(VQG Yok Đôn, năm 2009)

Trang 20

2.2.2 Địa hình và đất đai

2.2.2.1 Địa hình

Toàn bộ Vườn quốc gia Yok Đôn nằm phía Tây dãy Trường Sơn, địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình là 200 m so với mặt nước biển, chia thành 2 dạng chính như sau:

- Địa hình đồi và núi thấp: Phân bố rải rác dọc theo bờ phải sông Srêpôk là dãy núi Cư M’lan chạy từ biên giới Việt Nam - Campuchia tới gần trung tâm huyện Buôn Đôn với đỉnh cao nhất là Cư M’lan (502 m) và các đỉnh có độ cao 498 m, cuối cùng là đỉnh Cư Minh (384 m) Bờ trái Sông Srêpôk có ngọn núi thấp là Yok Đa (466 m) Gần ranh giới phía nam của Vườn là dãy núi thấp Yok Đôn (482 m)

- Địa hình tích tụ: Phân bố dọc sông Srêpôk và các suối lớn trong vùng Sự thay đổi của địa hình đã tạo ra những cảnh quan phong phú, vừa đa dạng vừa đặc thù và hình thành nên nhiều dạng thảm thực vật khác nhau, làm nơi trú ngụ của nhiều loài động vật có giá trị

Chính điều kiện địa hình tương đối bằng phẳng cũng đã góp phần tạo điều kiện

thuận lợi cho sự tồn tại của các loài thú lớn như Voi (Elephas maximus), Bò rừng (Bos javanicus), Bò tót (Bos gaurus), Trâu rừng (Bos bubalis)… Do vậy, việc bảo vệ và

phát triển bền vững nguồn tài nguyên Đa dạng sinh học cũng cần phải phù hợp với các dạng địa hình, cảnh quan khác nhau nhằm bảo đảm tính bền vững và có hiệu quả

2.2.2.2 Đất đai

Trong khu vực VQG Yok Đôn có một số nhóm đất chính sau:

Nhóm đất Feralit đỏ vàng trên đá phiến: Phân bố ở những vùng có địa hình

đồi núi thấp Đất nghèo dinh dưỡng và tầng mỏng, từ thịt nặng đến cát pha, khả năng thấm và giữ nước kém, về mùa khô bị chai rắn, chiếm 2,5% diện tích

Nhóm đất vàng nhạt trên đá cát kết: Phân bố ở vùng đồi thấp hai bên bờ sông

Srêpôk ở độ cao từ 300 m trở xuống Tầng đất dày 30 - 50 cm, nhiều thành phần cát, ít mùn, thường có cát von Loại đất này chiếm tỷ lệ diện tích lớn nhất: 64,7%

Nhóm đất xám: Phân bố ở độ cao từ 200 - 250 m hai bên bờ sông Srêpôk và

chân đồi thấp hữu ngạn sông, chiếm 26,4% diện tích Loại đất này có thành phần cơ giới nhẹ, đất chua, nghèo mùn, dễ bị xói mòn, rửa trôi, có kết von đá ong

Trang 21

Đất dốc tụ thuộc nhóm đất nâu vàng trên đá Basalt: Đây là đất phù sa bồi

tụ, tầng đất mặt khá tơi xốp, màu xám đen Thành phần cơ giới thịt pha cát Đất tốt hơn các loại đất trên, có khả năng canh tác nông nghiệp loại đất này phân bố ven sông

và các suối lớn, chiếm 6,4% diện tích VQG Yok Đôn Đây là nguyên nhân trực tiếp gây nên sự xâm lấn canh tác đất nông nghiệp trong phạm vi quản lý của VQG Yok Đôn mà đến nay vẫn chưa có giải pháp khắc phục hữu hiệu

2.2.3 Khí hậu và thủy văn

- Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, lượng mưa không đáng kể và thường bị khô hạn vào cuối mùa khô, thiếu nước cho ăn uống, sinh hoạt và sản xuất, gây nhiều khó khăn cho đời sống nhân dân trong vùng Sự thay đổi khí hậu rõ rệt ảnh hưởng đến sự di chuyển của động vật hoang dã giữa VQG Yok Đôn và các khu vực xung quanh

- Nhiệt độ bình quân năm: 24,5oC Nhiệt độ cao nhất: 37,5oC Nhiệt độ thấp nhất: 11oC

- Tháng có nhiệt độ bình quân cao nhất là tháng 4 Tháng có nhiệt độ bình quân thấp nhất là tháng 1

- Lượng mưa bình quân năm: 1.588 mm

- Lượng mưa cao nhất: 1.750 mm

- Độ ẩm bình quân năm: 81%

Hướng gió chính trong mùa mưa là gió Tây Nam, ngoài ra còn có gió Đông Bắc

và Đông Nam trong mùa khô Đặc điểm khí hậu đã chi phối các hoạt động kinh tế xã hội, và môi trường sinh học trong vùng Điểm nổi bật là mùa khô kéo dài, độ ẩm giảm, lượng bốc hơi lớn, gây nên tình trạng khô hạn nghiêm trọng trong vùng, là nguyên nhân chính gây nên các vụ cháy thảm thực bì hàng năm vào mùa khô

Trang 22

2.2.3.2 Thủy văn

VQG Yok Đôn nằm trong lưu vực sông Mê Kông, Bằng nhánh sông Srêpôk (Đăkrông) Con sông này bắt nguồn từ các dãy núi cao Chư Jang Sin, chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc qua Campuchia rồi đổ vào sông Mê Kông, phần chảy qua VQG Yok Đôn khoảng 60 km, mùa khô lòng sông khoảng 2 - 3 m, mùa lũ có thể sâu từ 5 -

10 m sông có nhiều thác ghềnh, khó đi lại bằng thuyền nhưng lại là một trong những tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái Ngoài ra, còn có các suối lớn như: Đăk Na, Đăk Nor, Đăk Ken, Đăk Lau và nhiều suối cạn có nước theo mùa Đặc điểm này có ảnh hưởng lớn đến việc di cư của các loài thú lớn, đặc biệt là các loài thú Móng guốc

2.2.3.3 Khái quát về đa dạng hệ sinh thái rừng ở VQG Yok Đôn

Do điều kiện khí hậu, địa hình đất đai của VQG Yok Đôn và những tác động của con người trong nhiều năm qua nên thảm thực vật rừng có nhiều đặc trưng riêng biệt và khá phong phú, biểu hiện qua các hệ sinh thái rừng và các trạng thái rừng

Hệ sinh thái rừng thưa rụng lá cây họ Dầu:

Kiểu rừng này còn gọi là rừng Khộp, gồm phần lớn cây rụng lá họ Dầu (Dipterocarpaceae), chiếm diện tích rất lớn, tới 96% diện tích tự nhiên của Vườn

Trong rừng Khộp có các loài cây ưu thế như Dầu đồng (Dipterocarpus tuberculatus), Dầu trà beng (Dipterocarpus obtusifolius), Dầu trai (Dipterocarpus intricatus), Cẩm liên (Shorea siamensis), Chiêu liêu (Terminalia tomentosa) và một số

loài cây khác Loài ưu thế nhất là Dầu đồng và Dầu trà beng Ở những diện tích rừng Khộp đã bị tác động mạnh, hai loài này tái sinh rất tốt, tạo nên những quần thể hầu như thuần loài cây non Dầu đồng hay Dầu trà beng

Rừng Khộp có đặc trưng là chỉ có một tầng cây gỗ chính gồm một số loài cây

họ Dầu và một số loài cây thuộc các họ như: họ Xoan (Meliaceae), họ Đậu (Fabaceae),

Trang 23

Kiểu rừng thường xanh có diện tích nhỏ và phân bố ở những núi thấp như Yok Đôn, Yok Đa, Chư Minh Những loài ưu thế của kiểu rừng này thuộc các họ Giẻ (Fagaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Thị (Ebenaceae), họ Re (Lauraceae), họ Xoan (Meliceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Cà phê (Rubiaceae) Ở tầng cây bụi thảm tươi

là những loài cây thuộc họ Hòa thảo (Poaceae) và quyết thực vật

Trong rừng thường xanh có nhiều loài gỗ quý như Gõ Cà te (Afzelia xylocarpa), Trắc mật (Dalberga cochinchinensis), Giáng hương (Ptero carpus macrocarpus) Đây

là sinh cảnh thích hợp cho nhiều loài động vật hoang dã, nhất là các loài thú lớn như Voi, Bò rừng, Bò tót, Trâu rừng

Hệ sinh thái rừng kín cây lá rộng nửa rụng lá mưa ẩm nhiệt đới:

Trong kiểu rừng này xuất hiện rải rác cây họ Dầu đại diện là Dầu rái

(Dipterocarpus alatus), các loài cây ưu thế họ Bàng (Combretaceae), họ Tử vi (Lythraceae) Ở khu vực ven sông suối có thuần loại cây Bằng lăng (Lagerstroemia calyculota)

Trong rừng kín nửa rụng lá, loài cây thường xanh ưu thế thuộc các họ Đậu (Fabaceae), họ Xoan (Meliaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Cà phê (Rubiaceae)

Tầng cây bụi thảm tươi gồm Cỏ quyết và Le vòng (Oxytenanthera sp.) mọc dày và cao

dưới 5 m Loài Le vòng phát triển mạnh trong mùa mưa, đặc biệt dọc theo các suối và hai bên bờ sông Srêpôk

Hệ sinh thái rừng tre nứa, hỗn giao gỗ nứa:

Kiểu này phân bố dọc theo các sông, suối, hình thành sau nương rẫy và sau khai thác rừng, dọc phía tả ngạn Sông Srêpôk, Đăk Na, quanh hồ Đăk Minh, Đăk Ken, Đăk Lau Những cây gỗ tiên phong tái sinh thuộc họ Bàng (Combretaceae), họ Sau sau (Hamamelidaceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae) Họ phụ tre nứa (Bambusea) có nhiều loài (tre, trúc, và lồ ô) phát triển mạnh Trong kiểu rừng này còn có mặt của loài Tuế lá

xẻ, Địa liền và một số loài thuộc họ Gừng (Zingiberaceae)

Hệ sinh thái trảng cây bụi và đồng cỏ:

Trong VQG có những trảng cây bụi, trảng cỏ hình thành sau quá trình làm nương rẫy của đồng bào Để ổn định cuộc sống cho người dân sống ở Buôn Đrăng Phôk đang dần hình thành các diện tích trồng sắn, ngô, khoai và đặc biệt là gần 100 ha ruộng lúa nước

Trang 24

Trảng cây bụi thấp và trảng cỏ có diện tích nhỏ, phân bố rải rác trên một số tiểu khu trong rừng khộp và sát với vùng dân cư, nơi có địa hình bằng phẳng, thấp và một

số khu vực đọng nước vào mùa khô Trảng cây bụi thấp và trảng cỏ thường là nguồn nhiên liệu dễ bị cháy vào mùa khô

Hệ sinh thái rừng trồng ruộng và khu dân cư:

Hệ sinh thái này không nhiều trong VQG Khu vực trồng cây công nghiệp ven VQG là các huyện Buôn Đôn, Cư Jút: trồng các loại cây ăn quả, chè, tiêu, các loại cây ngắn ngày như: sắn, ngô, khoai, đậu, đỗ trên nương rẫy Hệ sinh thái nông nghiệp đồng ruộng có ven thung lũng Bản Đôn , Đrăng phôk

Các khu dân cư quanh VQG luôn xâm hại đến địa danh của Vườn, nhất là các buôn làng vùng đệm Hàng ngày dân ở vùng xung quanh vẫn lén lút vào Vườn để khai thác củi, lâm sản ngoài gỗ và săn bắt trái phép chim, thú rừng

Ngoài 6 hệ sinh thái trên, còn có một số hệ sinh thái rừng khác như: hệ sinh thái thủy vực, hệ sinh thái rừng lá kim, hệ sinh thái đầm lầy, hệ sinh thái đô thị là những khu vực nhỏ, mức độ nghiên cứu còn ít (Trần Ngọc Ninh, 2001)

2.2.3.4 Tài nguyên động vật hoang dã qua các thời kỳ nghiên cứu VQG Yok Đôn

Dựa vào sách đỏ Việt Nam năm 2002, thì VQG Yok Đôn có 38 loài Động vật hoang dã (ĐVHD) thuộc diện quý hiếm, có giá trị kinh tế cao đang đứng trước nguy

cơ đe dọa tuyệt chủng Đáng chú ý là các loài trong bộ Móng guốc như: Voi (Elephas maximus), Bò tót (Bos gaurus), Bò rừng (Bos javanicus), Nai cà tông (Cervus eldi), Trâu rừng (Bos bubalis) Nguồn tài nguyên ĐVHD trong VQG Yok Đôn đa dạng và

phong phú, đặc trưng cho hệ động vật của vùng Đông Nam Á

Nếu so sánh về thành phần loài thì ở VQG Yok Đôn không cao bằng một số VQG, Khu Bảo tồn thiên nhiên khác như: VQG Cát Tiên (có hơn 50 loài quý hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam và thế giới), VQG Chư Momray (có 114 loài có tên trong sách đỏ Việt Nam và thế giới) Nhưng xét đến tính trội của các loài đặc hữu , các loài quý hiếm, loài có giá trị kinh tế cao thì VQG Yok Đôn cao hơn hẳn Phần lớn các loài thú mang tính địa phương lâu đời đã từng thích nghi với điều kiện sinh thái cây họ Dầu, các loài tồn tại sinh trưởng và phát triển tốt Biểu hiện rõ nhất là 10 loài thú Móng guốc chẵn (Atiodactyla) đều gặp ở đây (Đặng Huy Huỳnh, Hoàng Minh Khiên, Đặng Huy Phương, 1990)

Trang 25

Giá trị của nguồn tài nguyên ĐVHD ở VQG Yok Đôn:

- ĐVHD là một dạng tài nguyên thiên nhiên rất độc đáo, một yếu tố cấu thành tính Đa dạng sinh học vô cùng to lớn trong việc giữ cân bằng hệ sinh thái ở VQG và các vùng lân cận

- Là một nguồn gen tự nhiên mang nhiều yếu tố địa phương rất điển hình của hệ sinh thái rừng lá rộng rụng lá, là nền móng sinh học cho việc lựa chọn, cung cấp các vật liệu di truyền góp phần làm tăng năng suất sinh học thứ cấp trong VQG và vùng đệm

- Là nguồn dược liệu quý trong y học phương Đông miễn là con người biết sử dụng một cách khôn ngoan và bền vững

- Là các đối tượng cơ bản phục vụ trong lĩnh vực nghiên cứu Sinh - Y học

- Là một bộ phận tài nguyên quan trọng góp phần phục vụ cho ngành Kinh tế - Du lịch

ở địa phương nói riêng và của Quốc gia nói chung, đặc biệt là đối với du lịch sinh thái

2.3 Điều kiện kinh tế và xã hội

2.3.1 Dân số, dân tộc và nguồn lao động

2.3.1.1 Khu vực vùng lõi

Trong vùng lõi của VQG Yok Đôn có buôn Đrăng Phôk thuộc xã Krông Na của huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk Buôn Đrăng Phôk nằm ở phía Tây khu trung tâm VQG Yok Đôn và cách khoảng 20 km Tổng diện tích toàn buôn là 190,2 ha; trong đó đất nông nghiệp là 93,6 ha; diện tích canh tác lúa nước một vụ trước đây có 60,2 ha Sau khi hồ Đrăng Phôk hoàn thành và hệ thống mương dẫn nước từ hồ về tưới cho cánh đồng của người dân trong buôn, người dân trong buôn đã có thể canh tác lúa 2 vụ trên diện tích 52 ha

Buôn nằm về phía Bắc của sông Srêpôk, sông chảy qua buôn với chiều dài 1

km, đây là nguồn cung cấp nước sinh hoạt chính cho buôn Đrăng Phôk là buôn vùng

3, kinh tế - xã hội chưa phát triển, đời sống của người dân trong buôn gặp nhiều khó khăn, đường giao thông từ huyện vào buôn đã được nâng cấp để đi lại trong mùa mưa

Toàn buôn có 79 hộ với 403 người, trong đó:

- Người M’Nông: 35 hộ, 140 nhân khẩu;

- Người Kinh: 10 hộ, 44 nhân khẩu;

Trang 26

- Người Êđê: 37 hộ, 140 nhân khẩu;

- Người J’Rai: 16 hộ, 62 nhân khẩu;

- Người Lào: 2 hộ, 8 nhân khẩu;

- Người Nùng: có 2 hộ, 9 nhân khẩu

Tổng số lao động là 130 người, 85% dân số sản xuất nông nghiệp, nhưng cuộc sống vẫn dựa vào các sản phẩm từ rừng là chính, trong buôn có một số hộ buôn bán nhỏ

2.3.1.2 Vùng đệm

Vùng đệm của Vườn quốc gia Yok Đôn gồm 7 xã thuộc 3 huyện của 2 tỉnh Đắk Lắk và Đăk Nông:

- Huyện Buôn Đôn (tỉnh Đắk Lắk) có 3 xã: Kông Na, Ea Wer và Ea Huar;

- Huyện Ea Soup (tỉnh Đắk Lắk) có 2 xã: Ea Bung, Cư M’lan;

- Huyện Cư Jút (tỉnh Đăk Nông) có 2 xã: Đăk Wil, Ea Pô

Theo số liệu tổng điều tra dân số tháng 4 năm 2009, tổng số dân sống ở vùng đệm của VQG Yok Đôn có 9.494 hộ với dân số là 42.907 người Trong đó, số người trong độ tuổi lao động có 22.972 người

Về thành phần dân tộc của 7 xã vùng đệm:

Sau năm giải phóng 1975, dân số và dân tộc tại các xã có sự thay đổi dần về cơ cấu thành phần dân tộc Dân số bắt đầu gia tăng và thành phần phần dân tộc thay đổi theo Dân tộc tại chỗ ở đây gồm M’Nông, Gia Rai, Ê đê, Lào; hiện nay có thêm nhiều dân tộc khác như người Kinh, Mường, Thái,… hầu hết di cư từ phía Bắc theo các chương trình của Nhà nước và di dân tự do

Theo thống kê chưa đầy đủ của các địa phương, có trên 17 dân tộc hiện đang sinh sống ở 7 xã vùng đệm của VQG Yok Đôn, trong đó:

- Đồng bào dân tộc như M’Nông, Êđê, Lào, J’Rai, Mường, Thái, Nùng và một

số dân tốc ít người khác với tổng nhân khẩu khoảng 28.832 người Dân tộc Kinh có 14.075 người

Các dân tộc sinh sống hài hòa, mỗi dân tộc đều có những nét đặc trưng riêng về phong tục, tập quán và văn hóa độc đáo Điều này tạo nên sự phong phú, đa dạng về sinh thái nhân văn Mặc dù vậy, các dân tộc tại chỗ của Tây nguyên có nét văn hóa truyền thống chung là Lễ hội Cồng Chiêng Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây

Trang 27

Nguyên đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp quốc (UNESCO) công nhận là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào ngày 15 tháng 11 năm 2005

2.3.2 Hiện trạng xã hội và cơ sở hạ tầng tại các xã vùng đệm

Công tác giáo dục: Ở tất các các xã đều đã có trường mẫu giáo, tiểu học, trung

học cơ sở Hầu hết các em đến tuổi đều đã được đi học Khó khăn lớn nhất hiện nay ở các xã trong khu vực là chưa có nhà ở kiên cố cho giáo viên Cần xây dựng nhà ở cho giáo viên để tạo sự yên tâm về tư tưởng Bên cạnh đó, chất lượng giáo dục chưa thật tốt Năm 2007, các xã trong vùng dự án có tỷ lệ học sinh trung học được xét tốt nghiệp đạt từ 94 - 98% Tuy vậy, số học sinh giỏi cấp huyện còn thấp so với mức bình quân chung của huyện

Công tác y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng: Trong khu vực, mỗi xã có 1

trạm y tế Toàn vùng có 103 cán bộ y tế và 87 giường bệnh Các cơ sở y tế trong vùng làm nhiệm vụ phòng chống dịch bệnh, khám bệnh, sơ cứu và chữa các bệnh thông thường Tuy nhiên, cơ sở vật chất của các trạm y tế xã còn thiếu, trình độ của bộ y tế còn hạn chế, chủ yếu ở cấp y sĩ, chưa có bác sĩ

Cơ sở hạ tầng: Cơ sở hạ tầng hiện nay của các xã trong vùng đệm VQG Yok

Đôn khá thuận lợi, các xã đều có đường liên xã được dải nhựa, xe ô tô về đến trung tâm xã Đường từ trung tâm xã đến các thôn là đường đất và đường dải cấp phối Tuy nhiên, một số tuyến đường tỉnh lộ và đường liên xã đã bị xuống cấp cần được đầu tư sửa chữa và nâng cấp

Hệ thống điện: Lưới điện quốc gia đã đến tất cả các xã Tuy nhiên, điện mới

chỉ dùng để thắp sáng, còn điện cho sản xuất được sử dụng ít, chủ yếu cho các hộ xay xát, chế biến gỗ xẻ

Chợ: Hiện nay, một số xã đã có chợ, chủ yếu vẫn là chợ tạm, còn nhiều xã khác

đều chưa có chợ Việc giao lưu, trao đổi hàng hóa của bà con thôn bản chưa được mở rộng Vì vậy, cần đầu tư xây dựng mỗi xã một chợ, theo tiêu chuẩn chợ miền núi

2.3.3 Đánh giá chung về kinh tế - xã hội

Trong khu vực các xã vùng đệm của VQG Yok Đôn có 17 dân tộc đang sinh sống Trong đó, đồng bào các dân tộc như M’Nông, Êđê, Lào, J’Rai, Mường, Thái, Nùng và một số dân tốc ít người khác có khoảng 28.832 người (chiếm 67,2% tổng dân

Trang 28

số các xã); người Kinh có 14.075 người (chiếm 32,8%) Tỷ lệ sinh giữa các xã có sự khác biệt lớn (giao động từ 1,0 - 1,68%) và trung bình là 1,38% Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ở khu vực đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ cao (1,71%) Đây là một khó khăn lớn trong phát triển kinh tế - xã hội cho các xã vùng đệm

Nhìn chung, đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội của người dân ở đây còn gặp nhiều khó khăn Trình độ dân trí còn thấp, trẻ em bỏ học sớm, tập quán canh tác lạc hậu, cuộc sống của người dân chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp (canh tác cây nông nghiệp và chăn thả gia súc), các sản phẩm từ rừng (đặc biệt là các hộ gia đình ở các buôn Đrăng Phôk, buôn Trí và buôn Giang Lanh), thu nhập không ổn định

và thiếu vốn đầu tư cho sản xuất Theo danh sách các xã của Chương trình 135 giai đoạn II (2006 - 2010), vùng đệm của VQG Yok Đôn có 3 xã gồm Ea Bung của huyện

Ea Soup và xã Krông Na của huyện Buôn Đôn (tỉnh Đắk Lắk); xã Đăk Wil của huyện

Cư Jút (tỉnh Đăk Nông)

Do thiếu hệ thống thủy lợi và mương nội đồng nên nhiều diện tích đất nông nghiệp của các xã vùng đệm không được tưới và chỉ canh tác được 1 vụ trong năm

Cơ sở hạ tầng như giao thông, thủy lợi, nhà văn hóa, chợ đều thiếu, các phương tiện truyền thông còn thiếu Đội ngũ cán bộ còn yếu về chuyên môn là những trở lực không nhỏ cho quá trình hội nhập và phát triển

Các chương trình dự án như Chương trình 327/CP, 661/CP, 134/CP, 135/CP của Chính phủ bước đầu đã cải thiện điều kiện cơ sở hạ tầng, phát triển lâm nghiệp xã hội nhưng vẫn không thể hạn chế được tình trạng người dân xâm hại đến rừng để khai thác gỗ và săn bắn động vật rừng trái phép (VQG Yok Đôn, 2009)

Trang 29

Chương 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Điều tra thành phần loài thú Móng guốc tại VQG Yok Đôn, đánh giá hiện trạng bảo tồn các loài quý hiếm, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp bảo tồn thú Móng guốc

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra thành phần loài thú Móng guốc ở VQG Yok Đôn

- Xác định mức độ phổ biến của các loài thú Móng guốc

- Mô tả sinh cảnh, hiện trạng, mức độ đe dọa của loài

- Xác định các loài quý hiếm để từ đó đề xuất những giải pháp bảo vệ cho các loài thú quý hiếm bộ Móng guốc

3.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Đề tài được tiến hành tại VQG Yok Đôn tỉnh Đắk Lắk với thời gian thực hiện

từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2012

3.4 Phương tiện và phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương tiện nghiên cứu

- VQG, nguồn tài liệu về VQG Yok Đôn

- Bản đồ khu vực

- Máy ảnh, ống nhòm, GPS

- Sổ ghi chép, máy tính, tài liệu định danh

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu

3.4.2.1 Phương pháp phỏng vấn kiểm lâm và người dân địa phương

Kiểm lâm là những công chức, cán bộ quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng, họ sống và làm việc tại rừng, thường xuyên đi kiểm tra trong rừng nên có thể bắt gặp được nhiều loài động vật rừng Người dân địa phương là những người sống gần rừng,

Trang 30

thường xuyên tiếp xúc và có tác động vô rừng Thông tin lấy được từ họ sẽ tương đối đầy đủ, chính xác và đáng tin cậy

Chỉ tiêu ghi nhận thành phần loài và mức độ xuất hiện của từng loài Mức độ xuất hiện được đánh giá theo 4 cấp:

+ Hiếm: tần suất bắt gặp ≤ 5%

++ Ít: tần suất bắt gặp từ 5 - 25%

+++ Trung bình: tần suất bắt gặp từ 26 - 50%

++++ Nhiều: tần suất bắt gặp > 50%

Trong đó: Tần suất bắt gặp (%) = số lần bắt gặp * 100 / tổng số lần quan sát

3.4.2.2 Phương pháp phân tích mẫu vật

Tiến hành phân tích mẫu vật về thú có ở nhà người dân gần rừng hay tại phòng trưng bày của VQG Tiến hành ghi chép đầy đủ các chỉ tiêu, mô tả và định danh các loài qua các mẫu vật phân tích

3.4.2.3 Phương pháp điều tra theo tuyến

Dựa vào kết quả phỏng vấn, xác định tuyến điều tra bằng cách chọn sinh cảnh thường xuyên xuất hiện các loài thú Chiều dài tuyến điều tra là 2,5 - 3 km Theo như lời kiểm lâm và người dân địa phương thì được biết, các loài thú thường xuất hiện vào khoảng 3 - 4 giờ sáng Quan sát bằng mắt thường kết hợp ống nhòm, đi bộ nhẹ nhàng, tốc độ đi chậm, vừa đi vừa quan sát hai bên tuyến, tránh làm ảnh hưởng đến thú Quan sát đặc điểm sinh thái nơi chúng thường xuất hiện, đặc điểm nhận dạng, thức ăn…Một

số loài khó tiếp cận nên sẽ khó quan sát, phân tích theo dấu vết chúng để lại: phân, dấu chân, vết ủi, vết đầm mình…

Tiến hành điều tra theo năm tuyến, mỗi tuyến đi 5 lần, tổng cộng chúng tôi đã tiến hành 25 lượt điều tra

5 tuyến điều tra:

+ Tuyến 1: Dài 2 km, có tọa độ là: Điểm đầu: X(395993); Y(1440000) Điểm cuối: X(395970); Y(1434451)

+ Tuyến 2: Dài 2,5 km, có tọa độ là: Điểm đầu: X(398000); Y(1440297) Điểm cuối: X(397993); Y(1434114)

+ Tuyến 3: Dài 2 km, có tọa độ là: Điểm đầu: X(399997); Y(1441721) Điểm cuối: X(400002); Y(1434618)

Ngày đăng: 03/06/2018, 16:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w