Sau khi điều tra, thu thập và tổng kết số liệu, kết quả thu được là: - Thu thập được hình ảnh, mô tả đặc điểm, hình thái, cách thức khai thác, công dụng, cách chế biến các loại thực vật
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH LÂM NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 06/2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: ThS NGUYỄN QUỐC BÌNH
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 06/2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến:
ngày hôm nay
- Thầy Nguyễn Quốc Bình, người đã tận tình chỉ dạy và hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
- Các thầy cô trong trường và đặc biệt là những thầy cô trong khoa Lâm Nghiệp đã tạo điều kiện và chỉ dạy tận tình cho tôi trong suốt 4 năm qua
- Tất cả bạn bè, đặc biệt là các bạn lớp DH08QR đã động viên và giúp đỡ tôi trong những năm học qua
- Ban lãnh đạo KBT Núi Ông đã tạo điều kiện cho tôi về thực tập và thu thập số liệu
- Các anh trong trạm kiểm lâm La Ngâu đã tạo điều kiện và tận tình giúp
đỡ tôi trong việc thu thập số liệu
- UBND xã La Ngâu, người dân trong xã, đặc biệt là người dân thôn Tà Bạch đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong việc thu thu thập
số liệu
- Xin chân thành cảm ơn!
Tp.HCM, tháng 06 năm 2012 Sinh viên thực hiện
Đặng Văn An
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “Tìm hiểu các loại lâm sản ngoài gỗ có giá trị làm dược liệu được người dân sử dụng tại xã La Ngâu, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận” được tiến hành tại xã La Ngâu huyện Tánh Linh tỉnh Bình Thuận, thời gian từ ngày 10/02/2012 đến ngày 10/06/2012 Thông tin được tổng hợp trong suốt quá trình điều tra nghiên cứu được chọn lọc, xử lý và thể hiện qua các bảng biểu, được phân tích, tổng hợp làm sáng tỏ các vấn đề đặt ra
Các loại thực vật được sử dụng làm dược liệu rất phong phú và đa dạng, từ bao đời nay, nhân dân ta đã biết sử dụng những loại thực vật xung quanh mình làm dược liệu đặc biệt là những cộng đồng dân tộc ít người trong đó có cộng đồng người K’ho, họ có cuộc sống phụ thuộc khá nhiều vào rừng Khu BTTN Núi Ông là nơi có nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú và đa dạng, cộng với vốn kiến thức bản địa của người dân nơi đây đã được tích lũy từ bao đời, thì việc tìm hiểu, nghiên cứu các loại thực vật làm dược liệu nơi đây là một việc làm cần thiết Trong khi xã hội ngày càng phát triển, cuộc sống ngày càng nâng cao, việc khai thác tài nguyên một cách tràn lan quá mức làm cho nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng ít đi, vốn kiến thức bản địa ngày càng bị mai một nếu không có những biện pháp lưu truyền và gìn giữ Do vậy việc nghiên cứu, tìm hiểu các loại LSNG có giá trị làm dược liệu tại xã La Ngâu được tiến hành trong thời gian cho phép
Sau khi điều tra, thu thập và tổng kết số liệu, kết quả thu được là:
- Thu thập được hình ảnh, mô tả đặc điểm, hình thái, cách thức khai thác, công dụng, cách chế biến các loại thực vật được sử dụng làm dược liệu
- Những khó khăn và thuận lợi của người dân trong việc thu hái và sử dụng các loại LSNG dùng làm dược liệu
- Hiện trạng khai thác, sử dụng và mức độ quan tâm đến những loại LSNG dùng làm dược liệu của người dân
- Dòng thị trường cho những sản phẩm mang tính chất thương mại
- Các giải pháp quản lý và những định hướng phát triển nguồn LSNG dùng làm dược liệu
Trang 5ABSTRACT
Research topic: "Understanding the non-timber forest products with medicinal value are social people use in La Ngâu, Tanh Linh district, Binh Thuan province" This research is carried out at La Ngau, Tanh Linh district, Binh Thuan province from 10/02/2012 to 10/06/2012 The information is gathered, analysed and clarified during selected research period of time through analysis tables
The plants used for medicinal very rich and varied, from the life today, our people would use the plants around you as pharmaceuticals especially the ethnic minority community in K'ho community that they have life pretty much dependent on forests The various natural resources of The Nui Ong nature conservation area and resident’s knowledge about plants are reasons why that is necessary for us to find and learn about plants that are useful for medical production While growing social life increasingly advanced, the exploitation of natural resources in a pervasive make excessive natural resources dwindling, indigenous knowledge is increasingly eroded if no measures handed down and preserved.Thus the research, find out all kinds of non-timber forest products have medicinal value in social La Ngâu is carried out in the time allowed
After investigation, collect and summarize data and results obtained are:
- Collected images, characterization, morphology, method of mining, utility, how to prepare plants for medicinal use
- Advandtages and disavandtages of resident in gathering, and using wood forest products to product medicine
non The exploitation and use, level of interest in nonnon timber forest productsmedicinal use of people
- Current market for products of commercial nature
- Management solution and oriented development of non-wood forest products used for medicinal
Trang 6MỤC LỤC
Trang tựa i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
ABSTRACT iv
MỤC LỤC v
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH SÁCH CÁC HÌNH ix
DANH SÁCH CÁC BẢNG x
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ xi
DANH SÁCH CÁC PHỤ LỤC xii
Chương 1ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 2TỔNG QUAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 3
2.1 Tổng quan nghiên cứu 3
2.1.1 Khái niệm LSNG dùng làm dược liệu 3
2.1.2 Tình hình LSNG dùng làm dược liệu ở Việt Nam 3
2.1.3 Tình hình quản lý LSNG dùng làm dược liệu ở Việt Nam 4
2.2 Địa điểm nghiên cứu 5
2.2.1 Điều kiện tự nhiên khu BTTN Núi Ông 5
2.2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 5
2.2.1.2 Tài nguyên động thực vật 7
2.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 8
2.2.2.1 Cơ cấu tổ chức của BQL Khu BTTN Núi Ông 8
2.2.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 10
Chương 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12 3.1 Mục tiêu nghiên cứu 12
Trang 73.1.1 Mục tiêu 12
3.1.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
3.2 Nội dung nghiên cứu 12
3.3 Phương pháp nghiên cứu 13
3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin 13
3.3.2 Phương pháp phân tích và xử lý thông tin 14
Chương 4KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 16
4.1 Mô tả các loài thực vật được sử dụng làm dược liệu, công dụng và cách chế biến của người dân 16
4.1.1 Các loại LSNG thường được người dân sử dụng làm dược liệu 16
4.1.2 Công dụng, cách thu hái, chế biến và bảo quản các loại cây được sử dụng làm dược liệu 19
4.1.2.1: Thiên niên kiện 19
4.1.2.2 Ngũ trảo 20
4.1.2.3 Đỗ trọng 21
4.1.2.4 Thầu dầu tía 21
4.1.2.5 Trung quân 22
4.1.2.6 Cốt toái bổ 22
4.1.2.7 Sa nhân xanh 23
4.1.2.8 Thạch hộc 23
4.1.2.9 Nấm Linh chi 24
4.1.2.10 Dây Guồi 24
4.1.2.11 Củ Mài 25
4.1.2.12 Sâm cau 25
4.1.2.13 Muồng trâu 26
4.1.2.14 Hà thủ ô đỏ 26
4.1.2.15 Dây Đau xương 27
4.1.2.16 Bí kỳ nam 27
4.1.2.17 Bách bệnh 28
4.1.2.18 Dây Gắm 28
Trang 84.1.2.19 Ngũ gia bì 29
4.1.2.20 Hoàng bá 29
4.1.2.21 Mã tiền 30
4.2 Những khó khăn và thuận lợi trong việc khai thác và sử dụng các loại LSNG được dùng làm dược liệu 30
4.2.1 Khó khăn 30
4.2.2 Thuận lợi 31
4.3 Hiện trạng khai thác, sử dụng và mức độ quan tâm đến những loại LSNG dùng làm dược liệu của người dân 32
4.3.1 Hiện trạng khai thác, sử dụng 32
4.3.2 Mức độ quan tâm 34
4.4 Dòng thị trường cho những sản phẩm mang tính thương mại 37
4.4.1 Các kênh thị trường 37
4.4.2 Giá của một số loại dược liêu người dân thường mua bán 38
4.5 Các giải pháp quản lý và định hướng phát triển nguồn LSNG làm dược liệu 39
4.5.1 Các giải pháp quản lý các loại LSNG dùng làm dược liệu 39
4.5.2 Định hướng phát triển nguồn LSNG dùng làm dược liệu 41
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44
5.1 Kết luận 44
5.2 Kiến nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46 PHỤ LỤC
Trang 9FAO Food and Agriculture Organization
(Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc)
Trang 10DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình Trang
Hình 4.1: Thiên niên kiện ở KBT Núi Ông 19
Hình 4.2: Cây Ngũ trảo ở KBT Núi Ông 19
Hình 4.3: Đỗ trọng ở KBT Núi Ông 20
Hình 4.4: Thầu dầu tía ở KBT Núi Ông 20
Hình 4.5: Trung quân ở KBT Núi Ông 21
Hình 4.6: Cốt toái bổ ở KBT Núi Ông 21
Hình 4.7: Sa nhân xanh ở KBT Núi Ông 22
Hình 4.8: Thạch hộc ở KBT Núi Ông 22
Hình 4.9: Nấm Linh chi ở KBT Núi Ông 23
Hình 4.10: Dây Guồiở KBT Núi Ông 23
Hình 4.11: Củ màiở KBT Núi Ông 24
Hình 4.12: Sâm cau 24
Hình 4.13: Muồng trâu ở KBT Núi Ông 25
Hình 4.14: Hà thủ ô đỏ 25
Hình 4.15: Dây đau xương ở KBT Núi Ông 26
Hình 4.16: Bí kì nam 26
Hình 4.17: Cây Bách bệnh 27
Hình 4.18: Dây gắm 27
Hình 4.19: Ngũ gia bì 28
Hình 4.20: Hoàng bá 28
Hình 4.21: Mã tiền 29
Trang 11DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng Trang
Bảng 4.1: Các loại cây dược liệu được người dân khai thác và sử dụng 16
Bảng 4.2: Số lần tên cây thuốc được nhắc đến theo thứ tự giảm dần 17
Bảng 4.3: Số lượng thu mua dược liệu mỗi năm 32
Trang 12DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ Trang Biểu đồ 1: Bản đồ hành chính huyện Tánh Linh 5
Biểu đồ 2: Mức độ quan tâm của người dân đến các nhóm
loài dược liệu 34
Trang 13DANH SÁCH CÁC PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Số lượng thu hái dược liệu mỗi năm
Phụ lục 2: Bảng giá của một số loại cây thuốc
Phụ lục 3: Số hộ điều tra
Phụ lục 4: Mức độ quan tâm
Phụ lục 5: Bảng câu hỏi phỏng vấn hộ
Trang 14Chương 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêt Nam là một đất nước có điều kiện địa hình và khí hậu đặc biệt-diện tích tự nhiên đa phần là đồi núi, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Điều này đã góp phần tạo nênmột hệ thực vật rừng phong phú và đa dạng, có nhiều loại gỗ và LSNG có giá trị cao, trong đó có những loại cây được dùng làm
mà còn đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học của rừng Đã từ lâu, lâm sản ngoài gỗ được sử dụng đa mục đích trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như làm dược liệu, đồ trang sức, đồ gia dụng, hàng thủ công
mỹ nghệ, thực phẩm Do vậy, chúng đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của nhân dân
Trong những năm gần đây, dưới áp lực của phát triển kinh tế và sự bùng
nổ dân số nên nguồn tài nguyên rừng nói chung, cây dược liệu nói riêng đang bị suy thoái nghiêm trọng Những cây thuốc có giá trị được thương mại hóa, cung cấp cho những ông thầy thuốc, những công ty dược phẩm với giá thành ngày càng cao Do vậy chúng đang bị khai thác một cách cạn kiệt Những cây thuốc ít
có giá trị cũng bị khai phá nhường chỗ cho việc sản xuất nông nghiệp Bên cạnh
đó, việc nghiên cứu, gây trồng cây thuốc còn hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu
sử dụng của thị trường cũng là nguy cơ rất lớn đối với sự tồn tại và phát triển của cây thuốc
Trong bối cảnh nền kinh tế phát triển, đời sống và sức khỏe của người dân được nâng cao, thì nguồn LSNG làm dược liệu có nguồn gốc từ thiên nhiên được quan tâm nhiều hơn.Nhu cầu với những mặt hàng này nâng cao đã tạo nên mặt thị trường hoàn thiện Từ đó người dân có thể sống dựa vào việc thu hái các loại LSNG làm dược liệu này để tăng thêm thu nhập và cải thiện cuộc sống
Trang 15Cộng đồng người K’ho ở xã La Ngâu,huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận,
có kho tàng kiến thức bản địa vô cùng quý giá, nhất là nguồn kiến thức về các loài thực vật được sử dụng làm dược liệu Kho kiến thức của họ về dược liệu được đúc kết qua nhiều thế hệ và lưu truyền từ đời này qua đời khác.Mặc dù vậy, việc duy trì và phát triển kiến thức bản địa của cộng đồng người K’ho về dược liệu đang gặp nhiều thách thức bởi rừng tự nhiên đang được bảo vệ và ngăn chặn việc khai thác một cách chặt chẽ hơn Vì vậy, việc chú trọng đến nguồn kiến thức này và sử dụng chúng một cách có hiệu quả đang là một vấn đề được quan tâm
Với những câu hỏi được đặt ra: Có còn nhiều hay ít việc sử dụng cây thuốc trong cộng đồng người dân tại xã La Ngâu, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận Ta nên làm gì để giúp cho nhân dân, thầy thuốc đôngy dễ dàng nhận biết
và phổ biến, làm quen với cách dùng cây thuốc chữa một số bệnh nhằm chăm sóc sức khỏe ban đầuvới điều kiện đơn giản, rẻ tiền, dễ kiếm mà vẫn đảm bảo cơ sở khoa học cần thiết Phải nâng cao hiểu biết về cây thuốc để quản lý, khai thác, sử dụng, chế biến, tiêu thụ và phát triển bền vững nguồn tài nguyên quý giá này.Vì vậy đề tài: “Tìm hiểu các loại lâm sản ngoài gỗ có giá trị làm dược liệu được người dân sử dụng tại xã La Ngâu, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận” được chọn
Trang 16Chương 2
TỔNG QUAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan nghiên cứu
2.1.1 Khái niệm LSNG dùng làm dược liệu
Lâm sản ngoài gỗ là các sản phẩm nguồn gốc sinh vật, loại trừ gỗ lớn, có
ở rừng, ở đất rừng và ở các cây bên ngoài rừng (FAO, 1999)
LSNG bao gồm tất cả các sản phẩm sinh vật (trừ gỗ tròn công nghiệp, gỗ làm dăm, gỗ làm bột giấy ) có thể lấy ra từ hệ sinh thái tự nhiên, rừng trồng, được dùng trong gia đình, mua bán, hoặc có ý nghĩa tôn giáo, văn hóa xã hội hoặc xã hội Việc sử dụng hệ sinh thái cho mục đích giải trí, bảo tồn thiên nhiên, quản lý vùng đệm thuộc về lĩnh vực dịch vụ của rừng (Wickens, 1991)
LSNG là những sản phẩm từ sinh vật hoặc có nguồn gốc từ sinh vật, không phải gỗ, và các dịch vụ từ sinh vật có được từ hệ sinh thái rừng và đất rừng phục vụ cho mục đích sử dụng của con người Mục đích sử dụng của con người tùy thuộc vào đặc tính riêng của từng cộng đồng, từng quốc gia hay từng khu vực
LSNG dùng làm dược liệu là những loại cây thuốc bổ, có thể chữa bệnh, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc độc có được từ hệ sinh thái rừng và đất rừng phục
vụ cho mục đích sử dụng của con người Mục đích sử dụng của con người tùy thuộc vào đặc tính riêng của từng cộng đồng, từng quốc gia hay từng khu vực
2.1.2 Tình hình LSNG dùng làm dược liệu ở Việt Nam
Nhiều loại lâm sản ngoài gỗ đã trở thành nguyên liệu quan trọng cho các ngành công nghiệp, được chế biến và sản xuất ra hàng loạt các sản phẩm như các loài song mây, tre nứa, các loài hoa, các loại dược liệu
Trang 17Cây thuốc Nam là yếu tố quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng, góp phần làm giảm chi phí trong phòng chữa bệnh.Chúng đóng vai trò rất quan trọng với nhân dân vùng cao, vùng xa, điều kiện còn nhiều khó khăn cả về chăm sóc y tế, nguồn thuốc và phương tiện đi lại Ngoài ra, một số vị thuốc quí của Việt Nam như: Hòe, sâm Ngọc linh, Quế, Ba kích, Hà thủ ô, Hoằng đằng được xuất khẩu đem lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước Theo kết quả điều tra của viện Dược Liệu – Bộ Y Tế ( kết quả điều tra từ năm 1961 đến năm 2004) đã ghi nhận ở nước ta có 3.948 loài cây thuốc thuộc 307 họ của 9 ngành thực vật bậc cao cũng như bậc thấp ( kể cả nấm), cũng theo kết quả điều tra này, trong số 3.948 loài cây thuốc đã biết ở trên, phần lớn các loài là được ghi nhận từ kinh nghiệm sử dụng của cộng đồng các dân tộc ở khắp các địa phương
“Trồng và sơ chế cây làm thuốc” NXB văn hóa dân tộc Cuốn sách được tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu phong phú, cuốn sách này giới thiệu kỹ thuật trồng, chăm sóc và sơ chế những cây thuốc nam thường gặp Ngoài ra, cuốn sách còn đưa đến cho người đọc rất nhiều bài thuốc có công hiệu tốt trong việc điều trị các căn bênh thường gặp phải như: bệnh cảm cúm, bệnh táo bón, chứng khó ngủ, trị ho, tiêu chảy và nhiều bài thuốc cho phụ nữ sau khi sinh, và trẻ em
Một nghiên cứu trước đây về LSNG tại tỉnh Hà Tây (cũ) cho thấy trong công trình nghiên cứu của mình, gần 200 tấn dược liệu được khai thác ở VQG Ba
Vì vào năm 1997 – 1998 (Gilman, Nguyễn Văn Sản, 1999) Ước tính gần 60% người dân tộc Dao ở Ba Vì khai thác nguồn tài nguyên này, và nguồn thu nhập của họ từ dược liệu đứng thứ hai sau lúa và sắn
Tuy nước ta có một nguồn lớn dược liệu nhưng lại không biết cách tận dụng, hoặc có thì chỉ có một số nơi, một số ít người biết cách sử dụng
2.1.3 Tình hình quản lý LSNG dùng làm dược liệu ở Việt Nam
Nhận thấy rõ tầm quan trọng của LSNG, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chương trình, chính sách cho việc phát triển và bảo tồn rừng trong đó có đề cập đến nội dung quản lý LSNG Hiện nay, lâm sản ngoài gỗ được quản lý dưới nhiều hình thức khác nhau: quản lý nhà nước, quản lý cộng đồng và quản lý ở cấp hộ gia đình, cá nhân với nhiều mục đích khác nhau (kinh doanh, sử dụng cho
Trang 18mục đích tự cung cấp, nghiên cứu) Trong đó, việc lập kế hoạch quản lý bền vững LSNG dựa vào cộng đồng là một trong những vấn đề được quan tâm và nó đang ngày càng thể hiện rõ vai trò tích cực trong phát triển nguồn tài nguyên LSNG
Mặc dù vậy, cho đến nay vẫn chưa có các chính sách và chương trình riêng cho LSNG mà vẫn lồng ghép những nội dung này vào các chính sách, chương trình, luật lệ liên quan đến quản lý tài nguyên rừng Điều này rất bất cập trong công tác quản lý vì mỗi loại LSNG có những đặc thù riêng về môi trường sinh thái, phương thức khai thác và công nghệ chế biến, làm hạn chế nhiều đến việc sử dụng hiệu quả và phát triển nguồn tài nguyên quý giá này
Bên cạnh đó, các loại dược liệu chưa được điều tra, xác định, phân định rõ ràng ngoài thực địa, chưa tiến hành lập hồ sơ phục vụ cho công tác quản lý Việc khai thác các nguồn dược liệu còn mang tính tự phát, phân tán, chưa có quy hoạch, còn lãng phí, hiệu quả kinh tế còn thấp
2.2 Địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện tự nhiên khu BTTN Núi Ông
Trang 19Biểu đố 1: Bản đồ hành chính huyện Tánh Linh (Nguồn [11])
- Địa hình
Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông có nhiều đỉnh núi cao 1000 m, đặc biệt
có đỉnh Núi Ông cao 1.302 m
- Khí hậu
Khí hậucủa huyện Tánh Linh mang tính chất chuyển tiếp giữa chế độ mưa của vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ và đồng bằng Nam Bộ Hay nói cách khác khí hậu Tánh Linh là vùng đệm giữa trung tâm mưa lớn của Miền Nam (Cao nguyênDi Linh) và đồng bằng ven biển Tuy nhiên khí hậu ở đây vẫn diễn biến theo 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau
ẩm trung bình thấp nhất là 61,3% Độ ẩm thấp nhất tuyệt đối xuống dưới 15% vào mùa khô
+ Chế độ nhật chiếu
Trang 20Tổng số giờ nắng bình quân năm: 2.124 giờ
Số giờ nắng bình quân ngày: 5.9 giờ
+ Chế độ gió
Có 2 hướng gió chính là Tây Nam và Đông Bắc, gió Tây nam từ tháng 5 đến tháng 10 Gió Đông Bắc (gió mùa Đông) từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Tốc độ gió trung bình 2-3 m/s Bão và sương muối ít xuất hiện
- Thủy văn
Nguồn nước trong Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông khá dồi dào, có nguồn nước quanh năm, bao gồm các sông như: sông La Ngà, sông Các, sông Phan, sông Mong, sông Dịch, sông Kapet Mực nước ngầm trong khu vực thấp, được phân bố ở độ sâu từ 3 – 5 m Đây là yếu tố thuận lợi
để thực vật rừng sinh trưởng và phát triển
149 họ và 560 chi Trong đó có 6 loài thuộc ngành thông đất, 67 loài thuộc ngành dương xỉ, 10 loài thuộc ngành hạt trần và 989 loài thuộc ngành hạt kín “Trong số 1.070 loài đã ghi nhận có 135 loài gỗ lớn, 207 loài gỗ nhỏ, 235 loài tiểu mộc, 480 loài dây leo, 188 loài cỏ, 75 loài khuyết thực vật và 50 loài thực vật phụ sinh Trong đó có nhiều loại gỗ nằm trong danh mục gỗ quý hiếm của Việt Nam như:
Lim xanh (Erythorophleum fordii), Cẩm lai (Dalbergia bariensis Pierre), Căm xe (Xylia xylocarpa), Trầm hương (Aguilaria crassna)
Đặc điểm nổi bật quan trọng là Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông mang các yếu tố Đông Dương và Malaixia thuộc hệ thực vật Ấn Độ - Mã Lai, cũng chứa đựng phần nào yếu tố châu Phi, châu Úc Ngoài ra, hệ thực vật trong KBT
Trang 21còn hiện diện một số loài thực vật cổ xưa thuộc hai khu hệ thực vật cổ xưa á nhiệt đới và nhiệt đới
Từ những yếu tố trên cho thấy Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông có hệ thực vật đa dạng và phong phú, là kho tàng tài nguyên vô cùng quý giá của Quốc gia, không những có giá trị to lớn về phòng hộ bảo vệ môi trường mà còn có giá trị cao về nghiên cứu khoa học, về tính đa dạng sinh học
- Động vật
Cũng như thực vật, hệ động vật ở Núi Ông được biết đến vô cùng phong phú đa dạng Từ năm 1995 đã có nhiều cuộc khảo sát của Bộ Lâm Nghiệp về bảo tồn các giống loài ở đây Theo số liệu nghiên cứu của VĐTQHR, Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông có khoảng 247 loài động vật đã được ghi nhận với 68 loài chim, 131 loài thú, 33 loài bò sát và 15 loài lưỡng thê Trong đó có 25 loài thú vừa có giá trị khoa học, vừa mang giá trị quý hiếm Tình hình động vật Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông được đánh giá là hệ động vật rừng rất đa dạng và phong phú vào diện bực nhất ở các tỉnh duyên hải miền Trung Cu li, Khỉ, Cầy hương, Nai, Hoẵng, Bò tót, Sơn dương, là những loài quý hiếm đáng kể đến ở Núi Ông, mật độ và trữ lượng cá thể loài thuộc loại trung bình nghèo
2.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.2.2.1 Cơ cấu tổ chức của BQL Khu BTTN Núi Ông
Địa bàn quản lý hành chính huyện Tánh Linh bố trí 7 trạm:
+ Trạm kiểm lâm La Ngâu
+ Trạm kiểm lâm Đức Bình
+ Trạm kiểm lâm Dốc Dài
+ Trạm kiểm lâm Thác Bà
Trang 22+ Trạm kiểm lâm Quang Hà
+ Trạm kiểm lâm 309
+ Trạm kiểm lâm Sông Phan
Địa bàn hành chính huyện Hàm Thuận Nam bố trí 1 trạm: + Trạm kiểm lâm Hàm Cần
Trang 232.2.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
hộ tại xã La Ngâu sống trong KBTTN Núi Ông với diện tích 5 ha
+ Đặc điểm tự nhiên và xã hội khu vực xã La Ngâu
La Ngâu là xã vùng cao của huyện Tánh Linh với tổng diện tích tự nhiên 9.428ha, dân số 1.990 người gồm 367hộ La Ngâu thuộc diện xã thuần đồng bào dân tộc thiểu số, được chọn là một trong năm xã điểm của tỉnh Bình Thuận nhưng thực ra trên địa bàn xã vẫn có trên 100 hộ người Kinh sống “xen ghép” với đồng bào dân tộc K’ho
Xã La Ngâu gồm có 3 bản và 1 thôn Đa Mi, tuy đường xá đã thông, nhưng nay cũng xuống cấp nhiều nên việc đi lại, giao lưu với các xã trong huyện vẫn còn nhiều khó khăn Cách đây vài năm, có lúc tỷ lệ hộ nghèo lên đến gần 50% dân số mà trongđó có đến 90% là đồng bào dân tộc thiểu số, cuộc sống sinh hoạt, tập quán sản xuất của nhân dân còn nhiều lạc hậu Phần lớn bà con làm nông nghiệp và chăn nuôi nhỏ lẻ
Qua chương trình khuyến nông, nhân dân địa phương đã vận dụng trong công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, phần lớn đồng bào đã có chuyển biến trong việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chăn nuôi, chuyển dần sang hình thức sản xuất hàng hóa, xóa bỏ tập tục sản xuất đơn lẻ theo tập quán lạc hậu trước đây Nhờ sự giúp sức của các ngành chuyên môn trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, sau quá trình nghiên cứu, tham khảo nhiều nơi lãnh đạo đã xác định chọn cây bắp lai làm cây lương thực chính và vận động nhân dân thực hiện.Thực tế ba năm qua cho thấy đây là hướng đi đúng khi cây bắp lai đã
Trang 24trở thành cây lương thực hàng hóa, cây xóa đói giảm nghèo của toàn xã Sản lượng lương thực năm 2001 La Ngâu chỉ đạt 1.107 tấn, đến nay đã đạt 3.953 tấn, tăng 2.846 tấn; bình quân lương thực đầu người là 1.933kg/người/năm đạt mức
kỷ lục cao nhất huyện Ngoài thu nhập trong nông nghiệp người dân cũng thường vào rừng để khai thác lâm sản phụ như: măng, mây, tre, các loại cây làm dược liệu và săn bắn các loại động vật làm ảnh hưởng không nhỏ đến TN của khu bảo tồn
Trên lĩnh vực giáo dục, xã cũng được quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất ổn định, hiện nay trường có 9 phòng học, 2 phòng chức năng, 1 phòng thư viện và 1 phòng hội đồng; toàn trường có 437 học sinh với 18 lớp, trong đó bậc tiểu học 14 lớp và THCS 4 lớp Về y tế, tuy ở vùng cao hầu hết là đồng bào dân tộc thiểu số, nhưng La Ngâu đã tổ chức thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia, hàng năm đều đạt và vượt các chỉ tiêu kế hoạch đề ra Cùng với cơ sở vật chất, trang thiết bị đã và đang được đầu tư đúng mức và đội ngũ y, bác sĩ lành nghề, hiện nay La Ngâu đã được công nhận là xã đạt chuẩn quốc gia về y tế
Trang 25loại, thu hái, sử dụng và tồn trữ các loại sản phẩm đó
Phân tích được những thuận lợi và khó khăn của người dân trong việc sử dụng các loại LSNG dùng làm dược liệu
Sơ bộ hiện trạng khai thác và dòng thị trường cho những sản phẩm mang tính thương mại
Đề xuất các giải pháp quản lý và định hướng phát triển nguồn LSNG dùng làm dược liệu
3.1.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là người dân đang sinh sống và cư trú tại
xã La Ngâu, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận
Phạm vi nghiên cứu là các hoạt động khai thác LSNG dùng làm dược liệu trong KBTTN Núi Ông, đặc biệt là đồng bào K’ho ở thôn Tà Bạch xã La Ngâu
3.2 Nội dung nghiên cứu
Để đáp ứng được các mục tiêu nghiên cứu này, các nội dung cần đạt được như sau:
Trang 26- Liệt kê các loại LSNG được dùng làm dược liệu đang được khai thác và sử dụng tại KBTTN Núi Ông
+ Tên loài, hình thái của các loại cây được người dân sử dụng làm dược liệu
+ Công dụng, cách chế biến và cách sử dụng những loại cây đó của người dân
+ Cách thức khai thác các loại LSNG dùng làm dược liệu theo nhóm công dụng và nhóm loài của người dân
trong việc sử dụng, chế biến các loại LSNG dùng làm dược liệu
+ Những khó khăn
+ Những thuận lợi
tâm đến những loại LSNG dùng làm dược liệu của người dân
+ Giá của một số cây dược liệu mà người dân thường mua bán
triển nguồn LSNG được dùng làm dược liệu
+ Các giải pháp quản lý những loại LSNG dùng làm dược liệu
+ Định hướng phát triển nguồn LSNG dùng làm dược liệu
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin
- Thu thập thông tin thứ cấp
Thu thập các thông tin về điều kiện tự nhiên, xã hội của khu vực nghiên cứu, những thông tin liên quan đến những loại cây dược liệu tại địa phương, địa điểm thu hái, loài và đặc điểm loài, bộ phận sử dụng, cách chế biến và sử dụng từ
Trang 27người dân địa phương, ủy ban nhân dân xã, cán bộ kiểm lâm, ban quản lý bảo vệ rừng KBTTT Núi Ông, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận
- Thu thập thông tin sơ cấp
Thu thập bằng phương pháp phỏng vấn nhóm, xây dựng bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp:
+ Phỏng vấn bán cấu trúc: Phỏng vấn những người đưa tin then chốt, có uy tín như già làng, trưởng thôn, thầy lang; những người có nghành nghề liên quan đến dược liệu, hộ gia đình về các vấn đề liên quan đến mục tiêu và phương pháp nghiên cứu
+ Phỏng vấn hộ gia đình: Phỏng vấn trực tiếp ngẫu nhiên 30 hộ ở thôn Tà Bạch xã La Ngâu
+ Điều tra thực địa khu vực sinh sống của các loại lâm sản ngoài gỗ cho mục đích là dược liệu có sự hướng dẫn của người dân địa phương: Điều tra theo bảng câu hỏi các loại cây được sử dụng làm dược liệu, cách thu hái, chế biến và công dụng Đi thực địa chụp ảnh, mô tả hình thái của những loại cây điều tra được
+ Phỏng vấn các hộ gia đình, thầy lang về những thuận lợi, khó khăn trong việc khai thác, chế biến và sử dụng các loại LSNG dùng làm dược liệu + Sử dụng công cụ xác định và phân tích dòng thị trường tiêu thu các loại cây dược liệu: Tìm hiểu giá bán của những loại cây dược liệu ở tại rừng hoặc ở tại nhà người dân, giá thu mua ở đại lý, tại các nhà thầy thuốc đông
y Số lượng khai thác, thu mua để biết được hiện trạng khai thác và sử dụng của người dân
3.3.2 Phương pháp phân tích và xử lý thông tin
Đối với các thông tin thu thập được khi điều tra cần được xử lí, phân tích
để có được kết quả theo yêu cầu nghiên cứu đặt ra Từng loại thông tin có phương pháp xử lí khác nhau, cụ thể như sau:
- Những thông tin từ tài liệu thứ cấp: Sau khi tài liệu được thu thập chọn lọc phần tài liệu có chứa các nội dung hoặc thông tin mà liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Trang 28- Những thông tin từ phỏng vấn/thảo luận nhóm: Từ ý kiến thảo luận của các nhóm lựa chọn ra các thông tin giống nhau và khác nhau từ một nội dung phỏng vấn, sau đó tổng hợp lại làm kết quả chung: Mô tả hình thái, công dụng
và cách chế biến của những loại cây dược liệu điều tra được Những thuận lợi, khó khăn của người dân trong việc thu hái, chế biến và sử dụng các loại cây dược liệu Những giải pháp quản lý và định hướng phát triển của những loại cây sử dụng làm dược liệu nơi đây
- Những thông tin từ phỏng vấn hộ: Thông tin phỏng vấn được từ các hộ được lấy theo % ý kiến hộ hoặc % hộ gia đ́ình Hoặc thông tin sẽ được thể hiện theo bảng biểu sau khi tập hợp lại từ các ý kiến mà hộ gia đình đưa ra
Trữ lượng khai thác dược liệu được xác định sơ bộ thông qua tìm hiểu người dân: % số người thu hái, số ngày thu hái trong năm, số lượng dược liệu mỗi ngày khai thác và các cửa hàng thu mua dược liệu ở địa phương
- Các thông tin thu thập được đưa vào phần mềm Excel, Word để xử lý, từ đó lựa chọn các kết quả cần thiết, phân tích và so sánh kết quả
Trang 29Chương 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Mô tả các loài thực vật được sử dụng làm dược liệu, công dụng và cách
chế biến của người dân
4.1.1 Các loại LSNG thường được người dân sử dụng làm dược liệu
Kết quả điều tra cho thấy các loại cây dược liệu được người dân sử dụng
thể hiện qua bảng sau:
Bảng 4.1: Các loại cây dược liệu được người dân khai thác và sử dụng
Stt Tên khoa hoc Tên thông
thường
Tên địa phương
và hạt
(Juss) Moldanke Đổ trọng Đỗ trọng dây Vỏ
rễ
Trang 3013 Cassia alata L Muồng trâu Muồng lác Lá, cành,
17 Eurycoma longifolia Jack Bách bệnh Hậu phác Rễ, vỏ thân
Trang 3121 Strychnos nux vomica L Mã tiền Hoàng nàn Hạt
Qua bảng 4.1 cho thấy 21 loại dược liệu thường được người dân ở xã La
ngâu khai thác, sử dụng và mua bán Mỗi loại cây khác nhau có bộ phận sử dụng
khác nhau, có loài chỉ dùng một bộ phận như Thiên niên kiên, Cốt toái bổ, Sâm
cau bộ phận sử dụng là thân rễ Có loài sử dụng rễ củ như củ Mài, Hà thủ ô đỏ,
có loài lại sử dụng vỏ như Đỗ trọng, Ngũ gia bì, Hoàng bá, có loại lại sử dụng
hạt, thể quả như Mã tiền, nấm Linh chi Ngoài ra còn có những cây sử dụng
nhiều bộ phận hay sử dụng toàn bộ cây như Ngũ trảo, Trung quân, Thạch hộc,
Trang 32Củ Mài 5 16.67 (1) (2) (3)
Qua bảng 4.2 ta thấy cây Thiên niên kiện được nhắc đến nhiều nhất với 14
lần được nhắc đến chiếm 46.67 % theo số hộ điều tra, tiếp đến là Cốt toái bổ với
13 lần được nhắc đến chiếm 43.33 %, tiếp theo là Đỗ trọng với 11 lần được nhắc
đến với 36.67 % Cây được nhắc đến ít nhất là Sâm cau và Hà thủ ô đỏ chỉ với 2
lần được nhắc đến chiếm 6.67 % theo tổng số hộ điều tra Số lần nhắc đến của
cây Ngũ trảo, Trung quân, Sa nhân xanh, Nấm Linh chi là gần như ngang nhau
với 9 và 8 lần được nhắc đến chiếm lần lượt là 30 % và 26.67 % Số lần nhắc đến
giữa Thiên niên kiện, Cốt toái bổ, Sâm cau và Hà thủ ô đỏ có sự chênh lệch rõ rệt
chứng tỏ Thiên niên kiên và Cốt toái bổ ở đây được người dân sử dụng phổ biến
hơn cả Theo mức độ sắp xếp giảm dần thì mức độ sử dụng, mua bán cây thuốc
đó cũng theo thứ tự giảm dần
4.1.2 Công dụng, cách thu hái, chế biến và bảo quản các loại cây được sử
dụng làm dược liệu
4.1.2.1: Thiên niên kiện
- Tên địa phương: Trao yêng (K’ho)
- Tên khoa học: Homalomena occulta (Lour) Shott
- Họ ráy: Araceae
Công dụng của Thiên niên kiên chữa tê thấp, bổ gân cốt, đau dạ dày, khớp
xương, giảm đau cho người già và giúp tiêu hóa Tinh dầu Thiên niên kiện còn
được dùng làm hương liệu, điều chế nước hoa
Trang 33Cách thu hái và chế biến: Người ta thu hái thân rễ về, rửa sạch đất cát, để ráo nước, nhặt bỏ các rễ con, chặt thành từng đoạn ngắn, sau đó đem phơi hay sáy khô là được
4.1.2.2 Ngũ trảo
- Tên địa phương: Quan âm
- Tên khoa học: Vitex negundo L
- Họ cỏ roi ngựa: Verbenaceas
Công dụng: Thanh nhiệt, giảm
sốt, làm lưu thông huyết mạch, trừ
phong thấp, kích thích tiêu hóa,
làm ăn ngon, dễ tiêu
Cách thu hái và chế biến: Ngũ
trảo được thu hái quanh năm, lá
được hái tươi, rửa sạch sau đó sắc
uống, vỏ và rễ có thể phơi khô sau
đó sắc hay ngâm rượu uống Hình 4.2: Cây Ngũ trảo ở KBT Núi Ông
Hình 4.1: Thiên niên kiện ở KBT Núi Ông
Trang 34
4.1.2.3 Đỗ trọng
- Tên địa phương:Đỗ trọng dây
- Tên khoa học: Parameria laevigata (Juss) Moldanke
- Họ trúc đào: Apocynaceae
Công dụng: Trị phong thấp, đâu nhức xương khớp, trẻ em tê liệt, dùng ngoài trị gẫy xương kín, hạ huyết áp, bổ thận
Cách thu hái và chế biến: Vỏ được
bóc về đem luộc nước sôi rồi trải ra
chỗ bằng phẳng, bên trên nén chặt
làm cho vỏ phẳng, chung quanh lấy
rơm phủ kín để cho nhựa mủ chảy
ra Sau đó độ 1 tuần, nếu thấy vỏ có
màu tím thì có thể dỡ ra đem
phơi, cạo sạch lớp vỏ bên ngoài
làm cho vỏ nhẵn bóng, cuối cùng cắt thành từng miếng như ý muốn
4.1.2.4 Thầu dầu tía
- Tên địa phương: Đu đủ tía
- Tên khoa học: Ricinus communisL
- Họ thầu dầu: Euphorbiacae
Công dụng: Chữa đau đầu do cảm sốt, chữa các bệnh ngoài da, thông tiện, chữa táo bón ở trẻ em hay phụ nữ có thai,
bệnh nhân mổ và sản phụ Ngoài ra
Thầu dầu còn dùng để chữa phong
thấp, đâu nhức khớp, động kinh, tâm
thần phân liệt
Thầu dầu còn được sử dụng trong kĩ
nghệ dầu thơm và dầu dùng để xoa
bóp làm dịu đau hay thư giãn cơ
Hình 4.3: Đỗ trọng ở KBT Núi Ông
Hình 4.4: Thầu dầu tía ở KBT Núi Ông