1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

THỰC TRẠNG VỀ THỊ TRƯỜNG OTC TẠI VIỆT NAM

28 447 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 55,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THỰC TRẠNG VỀ THỊ TRƯỜNG OTC TẠI VIỆT NAM.2.1. Thị trường OTC Việt Nam giai đoạn đầu Cũng như các nước đang phát triển trên thế giới, khi thị trường chứng khoán trên sàn giao dịch chính thức phát triển mạnh mẽ thì thị trường OTC cũng dần khẳng định vị thế của mình. Tuy nhiên, thật không dễ để có thể có được một thị trường OTC vận hành một cách hiệu quả và tích cực, mang lại môi trường đầu tư ổn định như NASDAQ (Mỹ). Trong thời gian đầu hình thành và hoạt động, thị trường OTC tại Việt Nam cũng bộc lộ những đặc điểm nổi bật. Cụ thể: 2.1.1. Tồn tại nhưng chưa chính thức Tính đến tháng 6 năm 2005, cả nước có gần 2000 doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá và trên 3000 công ty cổ phần. Tổng vốn điều lệ của các công ty này hơn hơn rất nhiều lần khối lượng vốn hoá trên thị trường chính thức. Không phải cổ phiếu của tất cả các công ty cổ phần đều được mua bán, trao đổi thường xuyên mà chỉ có một ít trong số đó được giao dịch. Có những loại cổ phiếu gần như không bao giờ được giao dịch, nhưng có những loại cổ phiếu tuy chưa được niêm yết trên thị trường chính thức trên sàn, nhưng chúng được giao dịch rất sôi động như cổ phiếu của các ngân hàng cổ thương mại cổ phần Á Châu, Sài Gòn Thương Tín, Bánh kẹo Kinh đô, Vinamilk. Đây chính là những cổ phiếu mà các nhà đầu tư có tổ chức, nhất là các quỹ đầu tư rất quan tâm. Tại thời điểm này, thị trường phi tập trung ở Việt Nam tồn tại là một thực thể khách quan. Tuy nhiên hoạt động của thị trường này còn rời rạc, tổ chức của thị trường này chưa được chặt chẽ, chưa có người tạo lập và dẫn dắt thị trường. Đồng thời chưa có tổ chức nào đứng ra quản lý và đưa vào khuôn khổ nhằm phát huy được tiềm năng và giảm thiểu các nguy cơ tiềm ẩn đến từ thị trường OTC. 2.1.2. Dễ lũng đoạn thị trường Với đặc điểm giá của chứng khoán được quyết định bởi các nhà tạo lập thị trường, thế nên sẽ không khó khi có một nhà định giá âm thầm liên hệ cùng người mua thoả thuận mức giá trần của cổ phiếu. Và ngay lập tức giá tham chiếu

Trang 1

PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHI TẬP TRUNG OTC

 TTCK OTC đã trải qua 3 giai đoạn phát triển:

Giai đoạn phát triển sơ khai

- Thị trường chứng khoán phi tập trung OTC là loại TTCK xuất hiện sớmnhất trong lịch sử hình thành và phát triển của TTCK Ngay từ giữa thế kỷ XV,tại thành phố trung tâm buôn bán của phương Tây, các thương gia thường tụ tậptại một số khu như quán cà phê để trao đổi mua bán các loại hàng hóa như nôngsản, khoáng sản, tiền tệ và các chứng từ có giá

- Điểm đặc biệt ở đây là các thương gia chỉ giao dịch với nhau bằng lời nói,không có hàng hóa thật Những cuộc trao đổi này ban đầu chỉ là một nhómngười và sau đó đông dần cho đến khi nó thành một khu chợ riêng Thời gianhọp chợ lúc đầu là hàng tháng, sau đó hàng tuần rồi rút ngắn còn hàng ngày.Trong các phiên chợ tại đây các thương gia thống nhất với nhau các quy ướcviệc thương lượng và sau này trở thành những quy tắc có giá trị bắt buộc đối vớinhững ai muốn tham gia thị trường, và thị trường chứng khoán hình thành từ đó

- Người mua và người bán giao dịch trực tiếp với nhau tại các “quầy” của

tổ chức phát hành, các tổ chức tài chính hoặc ngoài trời, do đó phát sinh thuậtngữ OTC “Over the counter”

- Người mua và người bán cũng có thể đạt được thỏa thuận thông qua công

ty môi giới nhưng tính chất của giao dịch vẫn mang tính chất song phương

Trang 2

Giai đoạn phát triển cận đại:

- Sau khi Alexander Graham Bell phát minh ra điện thoại năm 1876, cácngành thông tin liên lạc và bưu chính viễn thông bắt đầu phát triển, các bên muabán và tổ chức trung gian sử dụng điện thoại để chia sẻ thông tin thị trường

- Các tổ chức trung gian đã hình thành mạng lưới giao dịch qua điện thoại

để phát huy tối đa vai trò môi giới Các tổ chức tự doanh bắt đầu hoạt động vàđóng vai trò của một nhà tạo lập thị trường Tính chất giao dịch song phươngvẫn được duy trì

- Dưới góc độ quản lý, do cách thức giao dịch song phương (không phải đaphương như SGDCK) nên thị trường OTC được xem là không “sàn” Tuy nhiên,vẫn có tính chất đa phương nhất định vì người mua và người bán đều có sự thamkhảo thông tin giá cả từ nhiều bên trước khi quyết định

Giai đoạn phát triển hiện đại:

Sau cuộc cách mạng khoa học công nghệ thông tin bùng nổ, người ta đãứng dụng internet và công nghệ thông tin vào giao dịch OTC, phát triển sàn giaodịch OTC trên mạng Giao dịch được thỏa thuận trên phạm vi toàn cầu, 24/24.Thị trường OTC được tổ chức thành 2 mô hình:

- Sàn môi giới điện tử (electronic brokering platform)

Tính chất giao dịch song phương truyền thông được biến đổi qua mô hìnhgiao dịch đa phương, khớp lệnh tự động và báo giá mua bán cho tất cả các bên,

họ tự do yết giá và quyết định giao dịch

Các công ty vận hành thị trường chỉ đóng vai trò môi giới, không tham giagiao dịch Các tổ chức trung gian lo việc thanh toán bù trừ

- Sàn tự doanh điện tử (electronic dealing platform)

Đơn vị tổ chức sàn không đóng vai trò trung gian mà trực tiếp mua bánchứng khoán

Các yết giá mua và bán chứng khoán chỉ do đơn vị tổ chức (đơn vị tựdoanh) thông báo

Trang 3

Các thành viên tham gia thị trường quan sát các yết giá và kết quả thựchiện Các nhà tổ chức thiết lập thị trường OTC cho riêng họ và họ phải chịu mọirủi ro về thanh toán.

1.2 Khái niệm

Thị trường chứng khoán phi tập trung được mang tên OTC (Over TheCounter) có nghĩa là “Thị trường qua quầy” Điều này xuất phát từ đặc thù củathị trường là các giao dịch mua bán trên thị trường được thực hiện trực tiếp tạicác quầy của của các ngân hàng hoặc các công ty chứng khoán mà không phảithông qua các trung gian môi giới để đưa vào đấu giá tập trung

Như vậy, có thể hiểu, thị trường OTC là thị trường không có trung tâm giao dịch tập trung, đó là một mạng lưới các nhà môi giới và tự doanh chứng khoán mua bán với nhau và với các nhà đầu tư, các hoạt động giao dịch của thị trường OTC được diễn ra tại các quầy (sàn giao dịch) của các ngân hàng và công ty chứng khoán.

1.3 Những đặc điểm cơ bản của thị trường OTC

Thị trường OTC ở mỗi nước có những đặc điểm riêng biệt, phù hợp vớiđiều kiện và đặc thù mỗi nước Tuy nhiên, hệ thống thị trường OTC trên thế giớihiện nay chủ yếu được xây dựng theo mô hình thị trường NASDAQ của Mỹ

Vì vậy, có thể khái quát một số đặc điểm chung của thị trường OTC ở cácnước như sau:

- Về hình thức tổ chức thị trường:

Thị trường OTC được tổ chức theo hình thức phi tập trung, không có địa

điểm giao dịnh mang tính tập trung giữa bên mua và bên bán Thị trường sẽ diễn

ra tại các địa điểm giao dịch của các ngân hàng, công ty chứng khoán và các địađiểm thuận tiện cho người mua và bán

- Chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC bao gồm 2 loại:

Thứ nhất, chiếm phần lớn là các chứng khoán chưa đủ điều kiện niêm yết

trên Sở giao dịch song đáp ứng được các điều kiện về tính thanh khoản và yêucầu tài chính tối thiểu của thị trường OTC, trong đó chủ yếu là các chứng khoáncủa các công ty vừa và nhỏ, công ty công nghệ cao và có tiềm năng phát triển

Trang 4

Thứ hai, là các loại chứng khoán đã niêm yết trên Sở giao dịch chứng

khoán

Như vậy, các loại chứng khoán niêm yết và giao dịch trên thị trường OTCrất đa dạng và có độ rủi ro cao hơn so với các chứng khoán niêm yết trên Sởgiao dịch chứng khoán

- Cơ chế các lập giá trên thị trường OTC chủ yếu được thực hiện thông qua phương thức thương lượng và thỏa thuận song phương giữa bên mua và bên bán, khác với cơ chế đấu giá tập trung trên Sở giao dịch chứng khoán.

Hình thức khớp lệnh trên thị trường OTC ít phổ biến và chỉ được áp dụngđối với các lệnh nhỏ Giá chứng khoán được hình thành qua thương lượng vàthỏa thuận riêng biệt nên sẽ phụ thuộc vào từng nhà kinh doanh đối tác tronggiao dịch và như vậy sẽ có nhiều mức giá khác nhau đối với một chứng khoántại một thời điểm Tuy nhiên, với sự tham gia của các nhà tạo lập thị trường và

cơ chế báo giá tập trung qua mạng máy tính điện tử như ngày này dẫn đến sựcạnh tranh giá mạnh mẽ giữa các nhà kinh doanh chứng khoán Vì vậy, khoảngcách chênh lệch giữa các mức giá sẽ thu hẹp do diễn ra sự “đấu giá” giữa cácnhà tạo lập thị trường với nhau, nhà đầu tư chỉ việc lựa chọn giá tốt nhất trongcác báo giá của các nhà tạo lập thị trường

- Thị trường có sự tham gia và vận hành của các nhà tạo lập thị trường, đó

là các công ty giao dịch – môi giới.

Các công ty này có thể hoạt động giao dịch dưới hai hình thức:

Thứ nhất là mua bán chứng khoán cho chính mình, bằng nguồn vốn của

công ty – đó là hoạt động giao dịch

Thứ hai là làm môi giới đại lý chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa

hồng – đó là hoạt động mua giới

- Là thị trường sử dụng hệ thống mạng máy tính điện tử diện rộng liên kết tất cả các đối tượng tham gia thị trường Vì vậy, thị trường OTC còn được gọi

là thị trường mạng hay thị trường báo giá điện tử Hệ thống mạng của thị trườngđược các đối tượng tham gia thị trường sử dụng để đặt lệnh giao dịch, đàm phánthương lượng giá, truy cập và thông báo các thông tin liên quan đến giao dịch

Trang 5

chứng khoán… Chức năng của mạng được sử dụng rộng rãi trong giao dịch muabán và quản lý trên thị trường OTC.

- Quản lý thị trường OTC: Cấp quản lý thị trường OTC tương tự như quản

lý hoạt động của thị trường chứng khoán tập trung và được chia thành 2 cấp:

Cấp quản lý nhà nước: do cơ quan quản lý thị trường chứng khoán

trực tiếp quản lý theo pháp luật về chứng khoán và các luật có liên quan, cơquan này thường là Ủy ban chứng khoán nhà nước

Cấp tự quản: có thể do Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán

quản lý như ở Mỹ, Hàn Quốc, Thái Lan, Nhật Bản… hoặc do trực tiếp Sởgiao dịch đồng thời quản lý như Anh, Pháp, Canada… Nhìn chung, nội dung vàmức độ quản lý ở mỗi nước có khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện và đặc thùcủa từng nước nhưng đều có chung mục tiêu là đảm bảo sự ổn định và phát triểnliên tục của thị trường

- Cơ chế thanh toán trên thị trường OTC là linh hoạt và đa dạng.

Do phần lớn các giao dịch mua bán trên thị trường OTC được thực hiệntrên cơ sở thương lượng và thỏa thuận nên phương thức thanh toán trên thịtrường OTC rất linh hoạt giữa người mua và bán Thời hạn thanh toán cũng rất

đa dạng trên cùng một thị trường, tùy theo thương vụ và sự phát triển của thịtrường

1.4 Phân biệt thị trường OTC với các thị trường chứng khoán khác

Thị trường OTC và thị trường chứng khoán tập trung

KHOÁN TẬP TRUNG Điểm giống nhau

- Đều là các thị trường có tổ chức, chịu sự quản lý, giám sát của Nhànước

- Hoạt động của thị trường chịu sự chi phối của hệ thống Luật chứngkhoán và các văn bản pháp luật khác có liên quan

Điểm khác nhau

- Địa điểm giao dịch là phi tập - Địa điểm giao dịch tập trung,

Trang 6

trung có trung tâm giao dịch cụ thể.

- Giao dịch bằng cơ chế

thương lượng và thỏa thuận giá là

chủ yếu, hình thức khớp lệnh

thường sử dụng đối với các lệnh

nhỏ tại các thị trường OTC mới

hình thành

- Giao dịch thông qua đấu giátập trung

- Trên thị trường có thể có

nhiều mức giá đối với một chứng

khoán trong cùng một thời điểm

- Chỉ có một mức giá đối vớimột chứng khoán trong cùng mộtthời điểm

- Giao dịch các loại chứng

khoán có độ rủi ro cao

- Giao dịch các loại chứngkhoán có độ rủi ro thấp hơn

- Sử dụng hệ thống mạng máy

tính diện rộng để giao dịch, thông

tin và quản lý

- Có thể sử dụng mạng diệnrộng để giao dịch hoặc không

- Có các nhà tạo lập thị trường

cho một loại chứng khoán

- Chỉ có một nhà tạo lập thịtrường cho một loại chứng khoán,

đó là chuyên gia chứng khoán củaSở

- Tổ chức quản lý trực tiếp là

Sở giao dịch hoặc Hiệp hội các nhà

kinh doanh chứng khoán

Thị trường OTC và thị trường chứng khoán tự do

KHOÁN TỰ DO Điểm giống nhau

- Địa điểm giao dịch là phi tập trung

Trang 7

- Chủ yếu áp dụng cơ chế xác lập giá qua thương lượng và thỏa thuận

- Các chứng khoán giao dịch phần lớn là các chứng khoán có tỷ lệsinh lợi cao, độ rủi ro lớn

Điểm khác nhau

- Là thị trường có tổ chức chặt

chẽ

- Là thị trường không có tổchức

- Giao dịch thông qua thỏa

thuận qua mạng - Giao dịch thỏa thuận trực tiếp

- Các chứng khoán mua bán là

các chứng khoán được phát hành ra

công chúng

- Các chứng khoán mua và bántất cả các chứng khoán phát hành

- Cơ chế quản lý, giám sát của

Nhà nước và tổ chức tự quản

- Không có sự quản lý của Nhànước

1.5 Vị trí và vai trò của thị trường OTC

a) Vị trí của thị trường OTC

Thị trường OTC là một bộ phận cấu thành thị trường chứng khoán, luôn tồntại và phát triển song song với thị trường chứng khoán tập trung Tuy nhiên, dođặc điểm khác biệt với thị trường tập trung ở cơ chế xác lập giá thương lương vàthỏa thuận là chủ yếu, hàng hóa trên thị trường đa dạng Vì vậy, thị trường OTC

có vị trí quan trọng trong cấu trúc thị trường chứng khoán, là thị trường bộ phận

hỗ trợ cho thị trường tập trung

b) Vai trò của thị trường OTC

- Hỗ trợ và thúc đẩy thị trường chứng khoán tập trung phát triển

- Hạn chế, thu hẹp thị trường tự do, góp phần đảm bảo sự ổn định và lành

mạnh của thị trường chứng khoán

- Tạo thị trường cho các chứng khoán của các công ty vừa và nhỏ, các

chứng khoán chưa đủ điều kiện niêm yết

- Tạo môi trường đầu tư linh hoạt, thuận lợi cho các nhà đầu tư

Trang 8

PHẦN 2: THỰC TRẠNG VỀ THỊ TRƯỜNG OTC TẠI VIỆT NAM 2.1 Thị trường OTC Việt Nam giai đoạn đầu

Cũng như các nước đang phát triển trên thế giới, khi thị trường chứngkhoán trên sàn giao dịch chính thức phát triển mạnh mẽ thì thị trường OTC cũngdần khẳng định vị thế của mình Tuy nhiên, thật không dễ để có thể có được mộtthị trường OTC vận hành một cách hiệu quả và tích cực, mang lại môi trườngđầu tư ổn định như NASDAQ (Mỹ) Trong thời gian đầu hình thành và hoạtđộng, thị trường OTC tại Việt Nam cũng bộc lộ những đặc điểm nổi bật Cụ thể:

2.1.1 Tồn tại nhưng chưa chính thức

Tính đến tháng 6 năm 2005, cả nước có gần 2000 doanh nghiệp nhà nước

cổ phần hoá và trên 3000 công ty cổ phần Tổng vốn điều lệ của các công ty nàyhơn hơn rất nhiều lần khối lượng vốn hoá trên thị trường chính thức Không phải

cổ phiếu của tất cả các công ty cổ phần đều được mua bán, trao đổi thườngxuyên mà chỉ có một ít trong số đó được giao dịch Có những loại cổ phiếu gầnnhư không bao giờ được giao dịch, nhưng có những loại cổ phiếu tuy chưa đượcniêm yết trên thị trường chính thức trên sàn, nhưng chúng được giao dịch rất sôiđộng như cổ phiếu của các ngân hàng cổ thương mại cổ phần Á Châu, Sài GònThương Tín, Bánh kẹo Kinh đô, Vinamilk Đây chính là những cổ phiếu mà cácnhà đầu tư có tổ chức, nhất là các quỹ đầu tư rất quan tâm Tại thời điểm này, thịtrường phi tập trung ở Việt Nam tồn tại là một thực thể khách quan Tuy nhiênhoạt động của thị trường này còn rời rạc, tổ chức của thị trường này chưa đượcchặt chẽ, chưa có người tạo lập và dẫn dắt thị trường Đồng thời chưa có tổ chứcnào đứng ra quản lý và đưa vào khuôn khổ nhằm phát huy được tiềm năng vàgiảm thiểu các nguy cơ tiềm ẩn đến từ thị trường OTC

2.1.2 Dễ lũng đoạn thị trường

Với đặc điểm giá của chứng khoán được quyết định bởi các nhà tạo lập thịtrường, thế nên sẽ không khó khi có một nhà định giá âm thầm liên hệ cùngngười mua thoả thuận mức giá trần của cổ phiếu Và ngay lập tức giá tham chiếucủa cổ phiếu đó sẽ tăng lên trong ngày hôm sau Chính vì thế, các nhà đầu tư rấtkhó có thể biết được giá trị thực của cổ phiếu Giá cổ phiếu sau khi bị tác động

Trang 9

không hoàn toàn phản ánh đúng ý của nhà đầu tư trên thị trường Chính giá thamchiếu cũng không đủ khách quan để làm cơ sở đánh giá thị trường Điều này gâybất lợi không nhỏ cho nền kinh tế.

2.1.3 Mất thời gian của nhà đầu tư

Một lý do nữa khiến nhà đầu tư và công ty chứng khoán không hào hứngvới thị trường OTC bởi họ quá mất thời gian trong việc đàm phán lệnh và nhậnlệnh khi giao dịch

Nếu như trên thị trường sơ cấp, giao dịch báo giá gần như khớp lệnh liêntục và người mua bán có thể nhận các thông số là quyết ngay việc mua bán cổphiếu thì với cách thức thoả thuận, người muốn mua phải tự tìm ra ai muốn bán.Khi các nhà đầu tư muốn bán chứng khoán, họ phải nhờ công ty chứng khoánviết lệnh lên sàn, sau đó phải chờ môi giới tìm đối tác Môi giới phải hỏi ra công

ty chứng khoán nào có nhà đầu tư đang muốn mua (hoặc đợi người đến hỏi mua)rồi sau đó cũng phải đàm phán với người bán giá người mua muốn Người mua

sẽ đồng ý với giá thoả thuận không Sự việc cứ diễn ra như thế cho đến lúc nàohai bên cùng thoả mãn với giá mua bán So với sự biến động của thị trường vốn,thời gian đàm phán để hoàn tất một giao dịch thoả thuận có thể khiến giá cả trênthị trường đó thay đổi

2.2 Hoạt động của thị trường OTC Việt Nam giai đoạn 2005 – 2006

Ngay từ những ngày đầu năm 2005, Công ty Chứng khoán Vietcombank được giới chứng khoán khen ngợi khi bảo lãnh phát hành thành công 200 tỷđồng cổ phiếu ngân hàng Eximbank với mức giá trung bình 1,13 triệu đồng Vàothời điểm đó, Eximbank vẫn còn là một ngân hàng nổi danh với khoản nợ xấulên đến hơn 500 tỷ đồng, 5 năm không trả một đồng cổ tức và đang xoay xở đểtăng vốn từ 300 tỷ đồng lên 500 tỷ đồng

2.2.1 Cổ phiếu ngân hàng luôn đóng vai trò chủ đạo

Thành tích nối tiếp thành tích, Eximbank tiếp tục mở đợt phát hành vàotháng 10 năm 2005, tăng vốn lên 700 tỷ đồng, với giá bán cho các cổ đông chiếnlược lên đến 1,8 tỷ đồng Vào lúc này Eximbank chỉ cần chưa đến 100 tỷ đồng

nợ xấu và có khả năng trả cổ tức trong năm 2005

Trang 10

SacomBank và ACB có một khởi điểm và danh tiếng hơn nhiều so với cácngân hàng thương mại cổ phần khác Vào năm 2003, SacomBank lần đầu tiênvượt qua ACB, ngân hàng thương mại cổ phần có vốn điều lệ lớn nhất là 505 tỷđồng Vào cuối năm 2005, SacomBank đạt mức vốn 1.250 tỷ đồng và có kếhoạch tăng lên 2.000 tỷ đồng trong quý I/2006 Quy mô vốn điều lệ của ACBsau 2 năm cũng tăng xấp xỉ 2,5 lần trong khi thị giá cổ phiếu tăng gấp hai lần.

Và ở tốp sau của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần như Quân Đội, PhươngNam, Đông Á, TechcomBank…

2.2.2 Vẫn phát triển khi nền kinh tế gặp nhiều khó khăn

Năm 2005 là năm khó khăn đối với nhiều DN, nhiều ngành nghề… do ảnhhưởng đồng loạt của lạm phát, giá xăng dầu, dịch cúm gia cầm Thế nhưng, năm

2005 có thể xem là năm thành công nhất đối với các tay môi giới cổ phiếu OTC

kể từ năm 2000, xét về thu nhập cũng như cơ hội khẳng định nghề nghiệp mới

mẻ và đầy thử thách này Có nhiều yếu tố chủ quan và khách quan khiến cho thịtrường cổ phiếu OTC tạo được sức hút lớn trong năm 2005 Trong đó lợi nhuậnthu về rất lớn từ việc thị trường đánh giá lại giá trị của các cổ phiếu chưa niêmyết có thể xem là động lực lớn nhất

Việc ANZ mua lại 10% cổ phiếu của SacomBank và việc ACB bán cổphiếu cho Standard Chartered là hai sự kiện lớn và được quan tâm đặc biệttrong những hoạt động của ngành ngân hàng năm 2005 Có thể nói rằng, đằngsau việc thị giá cổ phiếu Sacombank (tăng hơn 120% trong năm 2005) có ảnhhưởng trực tiếp từ việc ANZ trả cao hơn nhà đầu tư trong nước 1,8 lần để mua

cổ phiếu SacomBank Tương tự cổ phiếu ACB ở mức giá 5,4 triệu đồng/cổphiếu vẫn được nhiều nhà đầu tư xem là rẻ, vì nếu so sánh với mức giá gấp gần

4 lần mệnh giá của TechcomBank thì cổ phiếu ACB có phần nặng ký hơn Cơnsốt cổ phiếu ngân hàng thời điểm này đang ở cao độ và vì thế tất cả các cổ phiếungân hàng đều có người quan tâm, lý do đơn giản vì đó là cổ phiếu ngân hàng Bên cạnh lĩnh vực ngân hàng, thị trường cổ phiếu OTC năm 2005 ghinhận những thành công vượt bậc của các cổ phiếu công ty dược như Dược HậuGiang, Domesco, Dược 2 tháng 9, Dược 3 tháng 2… Và các công ty ngành

Trang 11

hàng tiêu dùng như Vinamilk, Dầu Tường An, Casumina…Trong khi phần lớncác cổ phiếu chưa niêm yết vẫn đóng băng, thành công của hai nhóm hàng hoánói trên lại thể hiện rất tốt là tăng trưởng về giá trị và đảm bảo về tính thanhkhoản.

Trong các ngành ưu tiên về lĩnh vực đầu tư, ngành dược và ngành hàngtiêu dùng được xem là có ưu thế đặc biệt trong năm 2005 đối với các nhà đầu tư

có tổ chức Bên cạnh các đợt tăng giá cổ phiếu Vinamilk, Dầu Tường An,Domesco…những nhà đầu tư tinh ý luôn có thể nhận thấy sức cầu không mới từcác tổ chức như Sacombank, Vietcombank, VinaCapital… đối với các loại hànghoá này

2.2.3 Thanh khoản hơn, thị trường hơn

Ghi nhận từ nhân viên môi giới của các công ty chứng khoán cho thấy tínhđến giữa năm 2004, lượng nhà đầu tư trên TTCK chính thức có sở hữu cổ phiếuOTC ước khoảng dưới 30% các nhà đầu tư thường xuyên đến sàn, đến năm

2005 tỷ lệ này là trên 50% Vốn mang tiếng là loại hàng hoá khó mua khó bán,

cổ phiếu OTC lúc này hầu như có thể mua bán hàng ngày nếu đưa ra giá cạnhtranh, có thể cầm cố tại ngân hàng và có thể nhận được hỗ trợ đến khoảng 70%vốn từ một số công ty tài chính và công ty chứng khoán để mua và nắm giữ.Trong năm 2005, hầu hết các công ty chứng khoán đó kết hợp với ngânhàng để cung cấp dịch vụ cầm cố chứng khoán, còn gọi là Repo cổ phiếu Theo

đó, mỗi công ty chứng khoán chọn ra danh sách 15-30 cổ phiếu, đưa ra giá muavào và bán lại (đã tính lãi suất và phí dịch vụ) cho từng thời hạn Theo đó, nhàđầu tư thay vì bán cổ phiếu thì có thể chạy đến công ty chứng khoán để vay tiềnvới cam kết sẽ mua lại tại thời điểm và giá xác định sẵn trong tương lai

Điều đáng mừng nhất cho thị trường cổ phiếu OTC thời gian này là việcngày càng có nhiều tổ chức đầu tư tham gia với mức độ sâu vào thị trường vốnđược hình thành tự phát này Sau một thời gian không làm hài lòng nhà đầu tư,Quỹ đầu tư VF1 chuyển hướng đầu tư rất lớn vào cổ phiếu OTC Trong các giaodịch trên thị trường, việc tham gia của các tổ chức tài chính như: VinaCapital,Indochine…chẳng còn là chuyện lạ trong khi các công ty quản lý quỹ mới mọc

Trang 12

lên như nấm và có định hướng vào thị trường OTC, từ các công ty quản lý quỹtrực thuộc các tổ chức lớn như: Prudential, Vietcombank, Bảo Việt…đến các DNnhỏ hơn như Thành Việt.

2.3 Ảnh hưởng tích cực và tiêu cực từ thị trường OTC giai đoạn 2008

2.3.1 Tích cực

Cải thiện tính minh bạch trên thị trường

Có một điều ta có thể dễ dàng nhận thấy là việc quản lý OTC tập trung có

áp dụng các chế tài cần thiết sẽ giúp cải thiện tính minh bạch trên thị trường Cụthể, các công ty đại chúng phải thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin định kỳ vàbất thường theo Luật Doanh nghiệp như: báo cáo tài chính năm có kiểm toán,thông tin bất thường Điều đó sẽ giúp cho các nhà đầu tư hiểu rõ hơn về tìnhhình kinh doanh thực tế của doanh nghiệp, điều đó chính là nhân tố quan trọngtrong việc xem xét, định giá chính xác doanh nghiệp nhằm tránh những rủi rotrong quá trình giao dịch và tạo điều kiện bảo vệ quyền lợi cho các nhà đầu tư vàtránh được các rủi ro trong quá trình giao dịch chứng khoán OTC

Tạo điều kiện thực hành cho doanh nghiệp trước khi niêm yết

Khi sàn OTC chính thức hoạt động, các tổ chức đăng ký giao dịch tại sànngoài việc có thể dễ dàng huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu, còn làmột bước đệm tập dượt về công bố, quản trị, điều hành công ty trước khi chínhthức niêm yết cổ phiếu tại sàn HNX hoặc HoSE Bên cạnh đó, đây cũng là mộtbiện pháp PR hiệu quả và kinh tế nhằm nâng cao hình ảnh doanh nghiệp trongmắt các nhà đầu tư, giúp doanh nghiệp sẽ có rất nhiều lợi thế khi tiếp tục pháthành cổ phiếu Thị trường chứng khoán tập trung thật sự là một thử thách lớnđối với các doanh nghiệp, thế nên việc tạo nền tảng từ thị trường OTC càngmang lại cho doanh nghiệp nhiều kinh nghiệm và có được những tiền đề vữngchắc trước khi niêm yết

Cơ hội tiềm năng cho các nhà đầu tư

Thị trường chứng khoán Việt Nam luôn là kênh đầu tư hấp dẫn đối với cácnhà đầu tư và doanh nghiệp nước ngoài kể cả ở những thời điểm nền kinh tế có

Trang 13

dấu hiệu chững lại Dòng tiền tiềm năng đổ vào thị trường ở mức cao thể hiệnqua số dư tiền gửi tại các công ty chứng khoán Khó khăn lớn nhất trên thịtrường OTC chính là khoảng trống thông tin về người có nhu cầu mua và bán.

Và các dịch vụ mà các công ty chứng khoán đưa ra chủ yếu nhằm khỏa lấpkhoảng trống này, trong đó lập sàn giao dịch cổ phiếu OTC là một dịch vụ điểnhình Giảm thiểu rủi ro, tránh bị giá thao túng, và giao dịch bảo đảm là nhữngcái được lớn nhất của nhà đầu tư OTC khi thực hiện giao dịch qua công ty chínhthức

2.3.2 Tiêu cực

2.3.2.1 Thị trường OTC vẫn còn “hỗn loạn” và cần được điều chỉnh

Hiếm có thị trường chứng khoán mới ra ràng nào trên thế giới lại có một thịtrường OTC hoạt động thoải mái và thiếu kiểm soát như ở Việt Nam Năm 2007,các công ty cổ phần thoải mái phát hành cổ phiếu ra công chúng, cho hàng ngànnhà đầu tư cá nhân không có một khái niệm lờ mờ về công ty mà mình mua Độnóng của thị trường cổ phiếu không chính thức ẩn chứa những rủi ro chờ ngàybùng phát khi mà người mua đang lờ đi những phân tích lý trí Đây là thực trạngdiễn ra trên thị trường chứng khoán không chính thức của Việt Nam, khi nguồnvốn trong dân đang tiếp tục ồ ạt đổ vào những cổ phiếu của các công ty chưaniêm yết và chưa biết bao giờ sẽ niêm yết Song song với việc người giữ cổphiếu bán cổ phiếu ra ngoài là việc tung các tin có lợi về công ty qua các kênhtruyền thông chính thức hoặc truyền miệng khiến cho giá cổ phiếu tăng mạnh.Với cách này, nhiều cá nhân, tổ chức thu về mức lời trên vốn hàng chục lần, mộtmức lợi nhuận không tưởng nếu dựa trên hoạt động kinh doanh đơn thuần

Những người bỏ tiền đầu tư đều ý thức được mức rủi ro, và sự thiệt hạikhi những cổ phiếu không thực chất sụt giá hoặc những công ty mà họ mua sậptiệm là chi phí kỳ vọng mà họ sẽ phải trả Hầu hết những người mua bán OTChoạt động mua bán như truyền lửa qua tay nhau, và ai cũng hy vọng rằng mình

sẽ không phải là người cuối cùng cầm lửa trong tay Xung quanh vấn đề thịtrường OTC, thời điểm này, Uỷ ban Chứng khoán chưa phát huy được công cụhành pháp mạnh nhất mà cơ quan này đang có trong tay, Luật Chứng khoán vốn

Trang 14

có hiệu lực từ đầu năm 2007 Sự hấp dẫn của thị trường chứng khoán kéo rấtnhiều nhà đầu tư nhỏ lẻ vào cuộc Với hiểu biết hạn chế về kinh doanh cổ phiếu

và cùng với việc thiếu thông tin đáng tin cậy, nhà đầu tư sẽ là nạn nhân khótránh khỏi của những cổ phiếu dỏm Việc mua bán trao tay trên thị trường OTCkhông có sự bảo trợ của pháp luật càng làm cho khả năng này lớn hơn, và có thểdẫn đến những hậu quả xã hội chưa lường trước được

Sự giám sát, điều chỉnh của các cơ quan có chức năng như Uỷ ban Chứng khoán và Bộ Tài chính trong lúc này là hết sức cấp thiết

2.3.2.2 Thông tin thiếu chính xác làm giảm tính thanh khoản

Thời điểm này, trong lúc đa số các cổ phiếu trên thị trường OTC giảm giá

và tính thanh khoản rất thấp thì một số cổ phiếu bất động sản lại được thổi giátăng mạnh Thông tin của các doanh nghiệp rất mập mờ và thiếu sự trung thựcnên đã ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các cổ phiếu trên thị trường OTC.Thị trường cổ phiếu OTC thời gian này không còn hấp dẫn như trước nữa

2.3.2.3 Sáu dạng rủi ro khi mua bán cổ phiếu trên thị trường OTC

Rủi ro luôn là người bạn đồng hành đối với các nhà đầu tư trên thị trườngOTC, chính điều đó cũng mang lại nét đặt biệt cho thị trường này Có thể phânthành các dạng rủi ro sau:

Một là, tranh chấp hay thiệt hại về quyền mua cổ phiếu mới tăng vốn.

Một trong những kỳ vọng lớn nhất về lợi ích của người mua cổ phiếu làquyền mua cổ phiếu phát hành tăng vốn Đây là một khoản thu nhập, một khoảnlợi lớn của người sở hữu cổ phiếu Tuy nhiên, thông thường trước khi phát hành

cổ phiếu tăng vốn, công ty tiến hành chốt danh sách cổ đông Tại thời điểm đó,những ai sở hữu cổ phiếu nằm trong danh sách cổ đông của Hội đồng quản trị sẽđược mua thêm cổ phiếu mới theo tỷ lệ được ấn định dựa trên số cổ phiếu đang

sở hữu Với những nhà đầu tư mới, người mua cổ phiếu mới trong giai đoạn giaothời, hoặc khi danh sách cổ đông đã được chốt, nếu không biết, tiền đã thanhtoán cho người chuyển nhượng, mặc dù cổ phiếu mình đã nắm giữ, nhưng chưalàm xong thủ tục chuyển nhượng, nên mất quyền mua Quyền mua cổ phiếu mới

Ngày đăng: 03/06/2018, 09:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w