1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác phẩm văn học như là cấu trúc ngôn từ động

3 178 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 64,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về vấn đề quan hệ tương tác giữa các bình diện văn chương và đời sống xã hội, Tynianov đặt ra câu hỏi: Vậy thì đời sống xã hội đi vào quan hệ tương hỗ với văn học của mối quan hệ tương h

Trang 1

Tác phẩm văn học như là cấu trúc ngôn từ động

15:59 | 27/07/2009

TRƯƠNG ĐĂNG DUNG Tặng Đỗ Lai ThuýChủ nghĩa hiện đại là kết quả của những nỗ lực hiện đại hoá

đời sống và tư duy xẩy ra từ những năm cuối của thế kỷ XIX, ở Châu Âu Những thành tựu nổi bật của khoa

học tự nhiên, của triết học, xã hội học và tâm lí học đã tác động đến cách nghĩ của con người hiện đại trước

các vấn đề về tồn tại, đạo đức, tâm lí Tư tưởng của Nietzsche, Husserl, hay Freud không chỉ ảnh hưởng đến tư

duy hiện đại mà tiếp tục được nhắc đến nhiều ở thời hậu hiện đại.

TS Trương Đăng Dung - Ảnh: vienvanhoc.org.vn

Qua các tác phẩm “Khoa học vui”; “Zarathustra đã nói như thế” (1), Nietzsche đã nghi ngờ bản chất trước đây của đạo đức, cái đạo đức có nguồn gốc từ Thượng đế Ông đã đẩy Thượng đế ra khỏi đời sống của con người, và cho thấy khả năng con người sẽ vượt lên những giới hạn, điều chỉnh chính bản thân nó (2) Còn cuộc cách mạng tinh thần của Sigmund Freud đã đụng chạm đến cá nhân, đến cái tôi, đến khả năng tự nhận biết của con người Freud thừa nhận rằng bên cạnh cái nói ra, “tồn tại cái không thể nói ra được”, bên cạnh cái có thể nói ra, cái có ý thức đều tồn tại cái không thể nói ra, cái vô thức Ông cho rằng có thể và cần phải nói về cái không thể nói ra, và đã xây dựng lý thuyết tâm phân học vì mục đích này Cuộc

Đại chiến thế giới lần thứ nhất cũng là một trong những nguyên nhân cơ bản làm bừng tỉnh nhận thức của người hiện đại, vì nó đã phủ nhận những giá trị khai sáng và buộc tư duy hiện đại phải tìm kiếm những mối liên hệ, những cách lí giải đời sống mới hơn, sâu sắc hơn Hơn nữa, bản thân tư duy hiện đại cũng có một sự vận động tự thân: trong khi tìm kiếm những hình thức mới, tư duy hiện đại ngày càng phải đối diện với nhiều vấn đề phức tạp của đời sống xã hội (3)

Tư duy hiện đại muốn nhìn ra phía sau cái bề mặt của sự vật Nếu tư duy tiền hiện đại đã khám phá những mối liên hệ bề mặt có thể cảm nhận được của thế giới, thì tư duy hiện đại phát hiện ra rằng những mối liên kết bề mặt không phải do những qui tắc bề mặt cụ thể dẫn dắt, mà là do những hình thức ổn định, ẩn kín; những cấu trúc trừu tượng được xác lập một cách bài bản, chi phối Những thành tựu trong vật lí học, trong tâm phân học đã cho thấy điều đó Freud bất ngờ phát hiện ra là có thể chữa bệnh bằng lời nói và ông giả thiết rằng cái bề mặt của đời sống con người, đằng sau ý thức, có cái cấu trúc gì đó sâu lắng, không thể tiếp cận được, nhưng lại luôn luôn hoạt động Cái vô thức không thể cảm nhận được, không thể

đo đếm mà chỉ có thể tự rút ra mà thôi Tư duy hiện đại đã sử dụng một số cặp mâu thuẫn rất đặc trưng, ví dụ: Cái có thể nói ra và cái không thể nói ra, bí mật và công khai, bản chất và hiện tượng, chính thức và không chính thức, cái ngẫu nhiên giây lát và sự tất yếu vĩnh hằng.

Chủ nghĩa hiện đại lấy cá nhân làm cơ sở cho mọi sự hiểu và chiêm nghiệm đời sống Đúng như lời của Baudelaire - một trong những đại diện lớn nhất của chủ nghĩa hiện đại - về nhà thơ hiện đại; đó là người không bao giờ ở nhà nhưng ở đâu vẫn cảm thấy mình ở nhà; anh ta nhìn thấy thế giới, anh ta ở trung tâm thế giới nhưng lại nằm ngoài thế giới một cách bí ẩn Mâu thuẫn giữa cái bên trong và bên ngoài, giữa ấn tượng và lí trí là đặc điểm của con người cá nhân hiện đại Và quan niệm cá nhân về văn học đã

ẩn chứa một nguyên lí chung nào đó có khả năng mang lại ý nghĩa cho đời sống của chính nó Cái nguyên lí chung này là

sự nhận biết đời sống cụ thể, tự trị

Quan niệm văn học tiền hiện đại đã gán cho cá nhân tác giả vai trò trung tâm Cá nhân nhà văn được xác lập là con người có thực chi phối mọi sự mô tả nghệ thuật Nhà văn là cá nhân cụ thể của truyền thống, là một bến bờ quan trọng của quan hệ nhân-quả: Văn cảnh tác động lên tác giả, còn quá khứ là cơ sở để anh ta tạo ra một văn bản, ngôn ngữ hoá nó, làm cho truyền thống trở nên dễ chia sẻ và dễ chiếm lĩnh hơn Tác giả có quyền uy cá nhân trên cả tác phẩm, cái văn cảnh thể hiện qua tinh thần của tác giả là sự bảo đảm cho khả năng giải mã văn bản văn học Như vậy tác giả luôn luôn là người cắt nghĩa tác phẩm của mình như là quá khứ của anh ta, nhà văn và tác phẩm “quan hệ với nhau như cha-con”, nói theo lời của

R.Barthes

Quan niệm văn học hiện đại đã xoá bỏ khái niệm tác giả truyền thống này, “tác giả trở thành xác chết và sự viết bắt đầu” (R.Barthes) Thay cho quan niệm về quan hệ nhân-quả là quan niệm mới về chủ thể và kết cấu ý nghĩa mới được tạo ra bên trong khung khổ của ngôn ngữ Không phải các nhà nghiên cứu, phê bình tạo ra điều đó mà chính các nhà văn, nhà thơ, những Kafka, Joyce, Woolf, Mallarmé, Proust, Ady đã “thực hiện” việc thay thế ngôn ngữ vào vị trí của tác giả, đưa văn bàn vào trung tâm của sự chú ý Cái tôi cá nhân của văn học ra đời tại đây: chủ thể là sự tập trung phản ứng của ngôn ngữ văn bản văn học Chủ thể là

từng văn bản và người đọc nhất định Nhà văn hiện đại ra đời cùng một thời gian với văn bản, và không hề trang bị một đời sống vượt lên hoặc bỏ qua văn bản: anh ta không phải là một chủ thể lấy tác phẩm làm sự phát ngôn R,Barthes đã nói như vậy Nhưng văn học rõ ràng vẫn nhiều hơn cái hình thức ngôn ngữ thuần tuý, vì vậy sự tập trung chủ quan xẩy ra trong người đọc Người đọc này là một cá nhân trừu tượng, người đọc mọi thời đại, người đọc tuyệt đối, cái cấu trúc sống luôn tạo nên những biến thể chức năng của ngôn ngữ văn bản(5)

Với sự xuất hiện của F.Saussure, một thời kỳ mới mở ra đối với ngôn ngữ học hiện đại Với nhận thức mới về ngôn ngữ, người hiện đại vừa biết mở ra cái ý nghĩa của từng thông điệp, lại vừa nắm bắt cái bản chất của thông điệp như là thông điệp Từ đây, đối với khoa học văn học hiện đại, văn bản văn học trở thành

học như là hiện tượng ngôn ngữ Giống như ngành lịch sử và ngành ngữ văn thời tiền hiện đại, ngôn ngữ học và triết học ngôn ngữ

duy, như là thủ pháp cơ bản nữa.

I

Bắt đầu từ thập niên đầu thế kỷ XX, đồng thời với sự hình thành lí thuyết Phê bình mới ở Anh và Mỹ là các trường phái khác nhau của chủ nghĩa hình thức và chủ nghĩa cấu trúc xuất hiện ở Trung - Đông Âu Chúng ta có thể gọi trường phái hình thức Nga, chủ nghĩa cấu trúc Séc và trường phái Hội nhập Balan là

Sự ra đời của Chủ nghĩa hình thức Nga hoàn toàn tương ứng với tinh thần của chủ nghĩa hiện đại trong tư duy lí luận văn học Những đại diện của Trường phái hình thức Nga, mà chủ yếu là các nhà nghiên cứu văn học trẻ thời đó đã đối diện với các loại mĩ học và chuyên khảo lịch sử văn học không còn phù hợp với xu thế phát triển mới Với cái nhìn khác về đối tượng của khoa học văn học, các thành viên của OPOJaZ (6) đã tập trung nghiên cứu những dữ liệu văn học một cách nghiêm túc thay cho việc tiếp cận xã hội, lịch sử văn hoá, tâm lí hay mĩ học truyền thống Ngôn ngữ là đối tượng quan tâm của họ mà trước hết là sự khác biệt giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ thông thường Những công trình nghiên cứu của Jakubinxky

và Shkloveski đã cho thấy rằng có tồn tại một sự thực hiện ngôn ngữ mà chức năng thông báo trực tiếp lùi ra phía sau, nói cách khác, trong thơ việc sử dụng các từ mang nghĩa không có vai trò quyết định Ví dụ thơ vị lai thời đó với những thể nghiệm của các nhà thơ về cái ngôn ngữ vượt quá ý nghĩa Thơ không “tư duy bằng hình ảnh” Sự sắp xếp các âm thanh tự nó cũng có nội dung và giá trị Trên cơ sở đó, mối quan hệ giữa hình thức và nội dung được đặt ra như là một vấn đề cơ bản của trường phái hình thức Nga Đối với họ, hình thức không phải là cái nồi để đổ nước (nội dung) vào Đặc trưng nghệ thuật

khái niệm hình thức có được ý nghĩa mới mà không cần đến khái niệm nội dung bên cạnh Việc các nhà hình thức Nga khẳng định tính chất đặc biệt của ngôn ngữ văn học và quan điểm của họ về nội dung hoà tan trong hình thức đã nghi vấn về cái gọi là nội dung tách rời hình thức Hình thức trong ý nghĩa này là hình thức được quan niệm như là nội dung, nó xuất hiện như là yếu tố nội dung năng động, kết quả của sự vận dụng các thủ pháp nghệ thuật khác nhau Việc giải phóng lời nói và âm thanh cũng làm cho lĩnh vực nghiên cứu được mở rộng ra, và vấn đề hình thức được xếp hàng đầu Người đọc, nhà nghiên cứu đối diện với cái hình thức “có nội dung”, trong ý nghĩa đó, nó luôn luôn là cái gì khác Do đó, nhiệm vụ của khoa

học văn học là phải đặt lại vấn đề tính lịch sử của văn học Nhân dịp kỉ niệm mười năm ra đời trường phải hình thức Nga, B, Eikhenbaum có công trình “

hình thức cũ đã đánh mất tính thẩm mĩ của nó Eikhenbaum cũng cho rằng khoa học văn học cũ không chú trọng đến chất liệu, trong khi lại coi trọng nội dung, và gán tất cả cái còn lại cho hình thức bên ngoài

quan tâm đến vấn đề sự phát triển của văn học hay sự vận động của các hình thức văn học Hướng nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng vì nó mở ra hai triển vọng nghiên cứu: Nghiên cứu vấn đề lí luận văn học nào đó trên những chất liệu văn học khác nhau và nghiên cứu lịch sử văn học Qua đó, có thể phân biệt sự khác nhau giữa việc tiếp cận cụ thể và tiếp cận lịch sử các thủ pháp nghệ thuật,

cái, mà thực chất, quá trình đó là cuộc chiến giữa nhiều trào lưu khác nhau, thậm chí có khi nó được hình thành trong hình thức nổi loạn nhằm phá vỡ quyền bá chủ của các nguyên tắc và hình thức đã được chấp nhận và qui phạm hoá Lịch sử văn học được đặc trưng bởi “sự năng động của các hình thức văn học”, tức là sự thay thế biện chứng của các hình thức

Trang 2

Sự tiếp cận tính lịch sử của văn học theo quan điểm mới này, cùng với việc nêu lên mối quan hệ mới của lí luận văn học và lịch sử văn học là những cố gắng của Jurij Tynianov trong các công trình nghiên cứu của ông Trong bài viết “

trên một phạm vi rộng (nhất là ở phương Tây) bởi một chủ nghĩa tâm lí cá nhân với việc nghiên cứu những vấn đề liên quan đến tâm lí tác giả thay cho những vấn đề thực sự của văn học Mặt khác, việc cảm nhận theo kiểu nhân quả được sơ đồ hoá, tách bình diện văn học ra khỏi điểm mà người quan sát đặt mình vào; điểm này có thể nằm cả trong các hệ thống xã hội chủ yếu lẫn trong các hệ thống xã hội thứ yếu (9) Và ông lưu ý: “

bản thân văn chương cũng tạo nên một hệ thống(10) Như vậy, giữa các yếu tố của tác phẩm như là hệ thống, tức là giữa các yếu tố và cái toàn thể của hệ thống cũng có mối quan hệ tương hỗ gọi là chức năng kết cấu của các yếu tố Các yếu tố đồng thời cũng có quan hệ với các tác phẩm khác như là các hệ thống Do đó, theo Tynianov, sẽ là sai lầm nếu khi tiếp cận tác phẩm văn học mà lại cắt bỏ một số yếu tố ra khỏi cái hệ thống đã được xác định nhiều lần, cũng như nghiên cứu các yếu tố đó mà tách biệt khỏi chức năng kết cấu Không chỉ trong mối quan hệ của từng yếu tố với tác phẩm văn học, chúng ta mới thấy mối quan hệ tương tác Sự cắt bỏ tác phẩm hay thể loại như là hệ thống cũng là việc không thể, giống như tách

tác phẩm ra khỏi cái hệ thống văn học hoặc hệ thống thể loại mà nó liên quan Về vấn đề quan hệ tương tác giữa các bình diện văn chương và đời sống xã hội, Tynianov đặt ra câu hỏi: Vậy thì đời sống xã hội đi vào quan hệ tương hỗ với văn học

của mối quan hệ tương hỗ văn chương và đời sống xã hội thì việc phân tích các hiện tượng văn học không đơn giản chỉ dựa vào các sự kiện văn học, mà còn phải dựa vào đặc điểm hoạt động của các hệ thống chức năng khác nhau của hình thức Rốt cuộc, đặc điểm của hoạt động ngôn ngữ và chức năng ngôn từ là những yếu tố phải tính đến trước khi xem xét chức năng mới của các yếu tố hình thức văn học Trong lịch sử văn học, có nhiều hiện tượng hoàn toàn khác nhau mà về chức năng lại có thể tương đồng và ngược lại Tynianov lấy ví dụ về Puskin, theo đó “Ở Puskin các chức năng của văn xuôi của ông gần gũi với các chức năng của văn xuôi Tolstoi, trong khi các chức năng của thơ ông không được như vậy đối với chức năng thơ ca của những người kế nghiệp ông những năm 30 (thế kỷ XIX) và của Maikov (12)”

Năm 1928, Tynianov đã soạn thảo cùng với Roman Jakobson một chương trình mang tính chất tuyên ngôn về khoa học văn học, với một đề cương ngắn, có tựa đề: “

một hệ thống hình thức thẩm mĩ rộng hơn, thậm chí là bộ phận của một hệ thống tồn tại xã hội - lịch sử rộng hơn Theo lịch đại thì văn học là sự thay thế lịch sử của những hệ thống hình thức, bởi vì “lịch sử của các hệ thống cũng là hệ thống” Về mặt lí thuyết thì có thể đồng thời nghiên cứu văn học và tác phẩm văn học theo quan điểm hiện tại và lịch sử Có thể đúc kết thành ba khái niệm mà các đại diện của trường phái hình thức Nga thường vận dụng:

a- Tính văn học: Nó liên quan tới quan niệm về hệ thống với những qui luật tự trị, bên trong của văn học Văn học có phương thức tồn tại độc lập và chức năng riêng: sự phát triển của nó cũng là sự phát triển tự trị do tính văn học quyết định Tác phẩm văn học không phải là tài liệu xã hội, lịch sử, tư tưởng hay văn hoá, mà là sự hiệu lực hoá những qui luật riêng của tính văn học.

b- Nguyên tắc lạ hoá: Điều này có nghĩa là thế giới, chất liệu, ngôn ngữ của văn học cũng tự trị Qua những công cụ đặc biệt của nó, các dữ kiện hiện thực có thể trở thành những dữ kiện văn học Sự thật đời sống và sự thật nghệ thuật không đồng nhất với nhau, không thể suy diễn từ cái này sang cái kia Việc sử dụng ngôn ngữ hàng ngày và ngôn ngữ thơ cũng khác nhau Nghệ thuật tháo bỏ mối quan hệ của chúng ta với hiện thực, cái thường nhật thông qua hình thức nghệ thuật sẽ trở thành nghệ thuật.

c- Chất liệu và thao tác: Nghiên cứu chất liệu văn học là nhiệm vụ quan trọng nhất của khoa học văn học Sự liên kết giữa chất liệu và thao tác, những nguyên lí hoạt động của chúng cũng như những nguyên tắc sáng tạo có hiệu lực trong chúng chứng tỏ rằng ngôn ngữ thơ không phải là phần thêm vào bên ngoài, trang trí cho tác phẩm Có thể tháo rời ngôn ngữ ra thành các yếu tố, và mọi yếu tố đều có chức năng trong tác phẩm văn học Như vậy, thay cho nguyên lí nội dung - hình thức, các nhà hình thức Nga lấy việc nghiên cứu và giới thiệu những nguyên lí hình thức chung có hiệu lực trong tác phẩm, làm mục đích.

Với những nỗ lực mới, chủ nghĩa hình thức Nga cố vượt lên chủ nghĩa thực chứng, tâm lí học di truyền, ngữ văn học lịch sử của lịch sử tinh thần thế kỷ XIX Chủ nghĩa hình thức Nga thừa nhận vai trò quan trọng hàng đầu của hình thức (như chúng tôi đã nhấn mạnh rằng hình thức ở đây cần được hiểu như là phương thức tư duy, như là thủ pháp) trong tương quan với các dữ kiện lịch sử Sự thay đổi của hình thức có thể làm thay đổi cả quan niệm về hiện thực nhất định Chính ảnh hưởng và sự tranh giành vị thế để được nổi lên hoặc lùi ra phía sau của các hình thức, các phương thức thể hiện khác nhau, đã tạo nên quá trình lịch sử Chủ nghĩa hình thức Nga đánh giá cao lí luận vì coi đó là một giả thuyết để làm việc, và nhờ nó

mà người ta chỉ ra và hiểu được những sự kiện văn học Trên thực tế, các nhà lí luận của chủ nghĩa hình thức Nga cũng đã có những đóng góp quan trọng trong việc khám phá những qui luật nội tại trong tác phẩm văn học như là trong

tượng của khoa học văn học không phải là văn học mà là tính văn học, cái làm cho tác phẩm văn học trở thành văn học, như Roman Jakobson tuyên bố Cần nhìn nhận chủ nghĩa hình thức Nga không phải với tư cách là lí luận mĩ học đề xuất những vấn đề phương pháp luận, có như thế chúng ta mới thấy hết những nỗ lực của các nhà hình thức trong việc khám phá “

mô tả sự phát triển của văn học như là cuộc chiến không ngừng giữa cái cũ và cái mới, như là sự thay thế lẫn nhau của các hình thức đã được chuẩn hoá và tự động hoá, có thể làm hạn chế khả năng nhận ra các lựa chọn trong tiếp nhận.Bởi vì những thay đổi của văn học không xẩy ra, nếu vai trò chuyển tiếp của các hình thức cũ và mới hoàn toàn bị triệt tiêu, nếu cái cũ qua đi mà không có vai trò gì trong tầm đón đợi của người tiếp nhận cái mới; nếu cái mới đến mà không làm cho những tác phẩm văn học đã bị quên lãng trở nên có thể tiếp cận được

Cấu trúc ngôn từ động với tất cả sự phức tạp của nó, vì thế, vẫn cần được lí luận văn học hiện đại tiếp tục khám phá và soi sáng

II

Một trong những bước ngoặt quan trọng trong lịch sử của tư duy lí luận văn học hiện đại là khi lí luận văn học hiện đại nhận thức được rằng tác phẩm văn học không chỉ mang tính hiện thực mà còn có

thẩm mĩ trở thành những đối tượng quan tâm của lí luận văn học hiện đại Chúng ta sẽ thấy những khả năng mới của lí luận văn học hiện đại trong việc khám phá và lí giải phương thức tồn tại của tác phẩm văn học, tính chủ ý và không chủ ý cũng như tính chất mở của văn bản nghệ thuật trong quan hệ với người đọc Như vậy, văn bản văn học như là tập hợp kí hiệu, cái cấu trúc ngôn từ động này có đời sống riêng, với năng lượng ngữ nghĩa riêng, độc lập với người đã sinh thành ra nó Việc nêu lên tính chất kí hiệu của tác phẩm văn học có một ý nghĩa cực kì quan trọng bởi vì qua đó lí luận văn học hiện đại xác định được bản chất của sự chủ thể hoá vẫn được xem là lí tưởng, là tinh thần tuyệt đối, đồng thời soi sáng mối quan hệ

khách thể - chủ thể còn gọi là mối quan hệ kí hiệu.

Trường phái hình thức Nga tan rã sau một thời gian hoạt động, nhưng tinh thần của nó, nhất là những nỗ lực khoa học, vẫn được các nhà khoa học tiếp tục phát huy ở nước ngoài Jan Mukarovski, đại diện lớn nhất của trường phái cấu trúc Praha, đã mở rộng những quan điểm của mình một cách chi tiết vào năm 1936, trong bản tham luận khoa học “

cái được biểu đạt - nghĩa Mukarovski cho rằng mĩ học có cơ sở tâm lí học có thể bị vượt qua và sẽ bị vượt qua vì nó không chú ý đến đặc trưng quan trọng nhất của tác phẩm văn học, đó là

như là kí hiệu tự trị, có từ 3 yếu tố:

a- Từ văn bản văn học, cái đóng vai trò tượng trưng cho cảm xúc

b- Từ đối tượng thẩm mĩ, cái có trong ý thức tập thể và hoạt động như là nghĩa

c- Từ mối quan hệ gắn với sự vật được biểu đạt, mối quan hệ không hướng tới một sự tồn tại riêng biệt, độc lập, bởi vì nó là kí hiệu tự trị, mà hướng tới toàn bộ cái văn cảnh của những hiện tượng xã hội Mukarovski lưu ý rằng không thể đơn giản hoá tác phẩm văn học ở tác phẩm - văn bản, bởi vì nó có thể thay đổi trong không gian - thời gian (ví dụ một bài thơ có thể có nhiều bản dịch) Nghĩa của nó cũng chỉ tồn tại như là nghĩa nẩy sinh trong các thành viên của một cộng đồng nhất định, và nó hướng tới toàn bộ các hiện tượng xã hội; theo mô hình sau:

Nghĩa = Đối tượng thẩm mĩ = Cấu trúc

(trong ý thức tập thể)

/

Văn bản văn học Toàn bộ hiện thực xã hội

Vận dụng quan điểm kí hiệu học, quay lưng lại với cách tiếp cận siêu hình học và tâm lí học một chiều trước đây, Mukarovski đã tiếp tục mở rộng khung khổ nghiên cứu, xác định tính chất xã hội của những vấn đề mĩ học Việc chỉ ra cấu trúc và tính chất kí hiệu tự trị của tác phẩm nghệ thuật đã giúp cho ông khẳng định được rằng tác phẩm văn học như là bộ phận của các mối liên kết và các hệ thống lớn hơn Tác phẩm văn học, nghệ thuật như là những bộ phận của những hệ thống xã hội khác Các hiện tượng nghệ thuật chỉ có thể lí giải được trong mối liên hệ với các hiện tượng thẩm mĩ nằm ngoài nghệ thuật, hay nói cách khác, trong mối liên hệ

xác khái niệm chức năng thẩm mĩ phải là trọng tâm Mĩ học gắn liền với những hiện tượng xã hội, nó liên quan chặt chẽ với những vấn đề

Chức năng thẩm mĩ, theo Mukarovski, là nhân tố quan trọng của những quá trình lịch sử xã hội, nó thể hiện trong mọi hoạt động của con người, từ ăn mặc đến làm vườn, làm thơ, tạc tượng Chức năng thẩm mĩ phụ thuộc vào mối quan hệ luôn thay đổi giữa ý thức tập thể, cộng đồng người và thế giới Đặc điểm chính của chuẩn mực thẩm mĩ, như là yếu tố điều chỉnh chức năng thẩm mĩ và đồng thời là bộ phận của sự phát triển xã hội, là

thuộc vào chuẩn mực (tức là sự thực hiện chuẩn mực mang phẩm chất giá trị), thì giá trị thẩm mĩ thường bác bỏ cái chuẩn mực đã được chấp nhận, do đó, sự đánh giá giá trị thẩm mĩ cũng là một quá trình luôn thay đổi liên quan đến sự phát triển xã hội Tuỳ từng thời đại và giai tầng xã hội mà có sự yêu thích khác nhau trước một giá trị thẩm mĩ Mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống xã hội còn qui định cả sự đánh giá giá trị một lần và giá trị cố định qua nhiều thế kỉ Chính vì tính chất kí hiệu của nó mà tác phẩm văn học liên hệ với hiện thực và chứa đựng cả những giá trị ngoài thẩm mĩ Giá trị thẩm mĩ cũng tổ chức những giá trị ngoài thẩm mĩ này vào một khối thống nhất và tạo điều kiện để các thành viên của cộng đồng đối chứng những quan niệm của họ về hiện thực với chúng Như vậy, tác phẩm nghệ thuật, thông qua giá trị thẩm mĩ, là kẻ đổi mới mối quan hệ giữa nó và hiện thực tự nhiên - xã hội Việc này được thực hiện thông qua đối tượng thẩm mĩ được hình thành trong ý thức cá nhân của người tiếp nhận Khoảng cách giữa các giá trị ngoài thẩm mĩ và các giá trị thực tiễn của một cộng đồng nhất định càng lớn thì giá trị thẩm mĩ độc lập của tác phẩm văn học càng nhiều Vì thế nhiệm vụ cơ bản nhất của nghệ thuật là tác động đến toàn bộ lĩnh vực hoạt động của con người, đến mối quan hệ của con người và hiện thực

Trong những năm bốn mươi của thế kỉ XX, Mukarovski bắt đầu quan tâm nghiên cứu về giá trị xuất hiện trong quá trình tiếp nhận Những bài nghiên cứu theo hướng này đều cho rằng tác phẩm văn học có thể là nguồn gốc của những sự hiểu lầm mới do sự khác biệt ý kiến khi tiếp nhận Trong bài viết “

linh sâu lắng nhất của cá nhân Tuy nhiên, ông cũng nhấn mạnh rằng sự phân tích cấu trúc thật sự về tác phẩm văn học chỉ có thể là

Tác phẩm như là kí hiệu tự trị chỉ quan hệ với người tiếp nhận bằng tất cả những gì làm nên nghĩa tổng thể của nó Người nào bằng sự chủ ý mà thâu tóm được các chi tiết của tác phẩm, người đó cho chúng ý nghĩa Anh ta thấy được sự thống nhất, nghĩa tổng thể của tác phẩm Bởi thế, chúng ta không thể tìm thấy sự thống nhất, nghĩa tổng thể của tác phẩm hoàn toàn chỉ qua cá nhân người nghệ sĩ hoặc trong tổng thể các yếu tố của tác phẩm Chỉ trong “năng lượng ngữ nghĩa”, trong sự chủ ý của người tiếp nhận chúng ta mới thực hiện được khả năng đó Sự sắp xếp có chủ ý là đặc điểm cơ bản qui định ảnh hưởng của tác phẩm, xét từ cả hai phía tác giả và người đọc Sự chủ ý như là kết quả gặp gỡ giữa chủ ý của người tiếp nhận và kết cấu của tác phẩm, là bấp bênh Nó giao động trong quá trình tiếp nhận ở cùng một tác phẩm - kể cả ở cùng một người tiếp nhận-, từ sự tiếp nhận này đến sự tiếp nhận khác cũng không cùng một hình thức Điều ai cũng biết là tác phẩm càng tác động mạnh đến người tiếp nhận thì nó càng mở ra nhiều khả năng hơn Bên cạnh sự chủ ý là sự không chủ ý Người tiếp nhận không chỉ tri giác văn bản văn học như là kí hiệu mà như là sự vật, sự việc và hiện thực nữa Người đọc cũng nhận biết cái gì chống lại sự nhất thể hoá, cái gì phá vỡ sự thống nhất nghĩa Người đọc giao động liên tục giữa cảm giác chủ ý và không chủ ý Kể cả những tác phẩm mà tác giả cố gắng thiết lập sự chủ ý một cách có ý thức như các vở kịch

Trang 3

được viết theo những nguyên tắc lạnh lùng của chủ nghĩa cổ điển Pháp, cũng chứa đựng nhiều yếu tố không chủ ý, làm cho người tiếp nhận phải điều chỉnh tình cảm, sự tưởng tượng và ấn tượng của mình để thiết lập mối quan hệ cá nhân với những yếu tố đó Thực chất của sự tác động của tác phẩm không phải xuất phát từ sự chủ ý một cách đơn giản của tác giả, mà còn phụ thuộc vào cách cảm nhận ngữ nghĩa, khả năng tri giác thế giới nghệ thuật của người đọc.

phẩm văn học Bởi lẽ, chỉ có sự gắn kết biện chứng làm một giữa hai yếu tố thích và không thích là mang lại ấn tượng trọn vẹn cho tác phẩm (14) Nói một cách khái quát, Mukarovski cho rằng tác phẩm văn học chỉ có thể tồn tại trong sự tác động tương hỗ luôn thay đổi giữa tác phẩm và người tiếp nhận

Felix Vodiška, một đại diện tiêu biểu khác của trường phái cấu trúc Praha đã tổng kết những quan điểm chính của chủ nghĩa cấu trúc Séc về văn học và lịch sử văn học Trong công trình

a-Cấu trúc văn học: Cần bám sát sự phát triển của các hình thức văn học.

b- Mối quan hệ giữa tác phẩm và hiện thực lịch sử, giữa nhà văn và xã hội: Cần phục chế lại ảnh hưởng của các xu hướng ngoài văn học tác động lên sự phát triển của văn học.

c- Tác phẩm văn học và tính chất hai mặt của phương thức tiếp nhận: Cần nghiên cứu sự thay đổi các thói quen, chuẩn mực và giá trị, ảnh hưởng và sức sống của tác phẩm văn học.

Qua sự khoanh vùng 3 nhóm nhiệm vụ trên đây, chúng ta có thể thấy rằng Vodiška muốn nghiên cứu tác phẩm văn học như là

Có thể nói chủ nghĩa cấu trúc Séc là trào lưu tinh thần cấu trúc đầu tiên trong lịch sử khoa học văn học Khởi thuỷ của nó là ngôn ngữ học hiện đại và ngôn ngữ học cấu trúc Trong nhóm các nhà ngôn ngữ học Praha (1926), ngoài các tên tuổi như Jan Mukarovski và René Wellek, còn có cả Trubeckoj, Roman Jakobson và Borisz Tomasevski nữa Tuy nhiên, qua nghiên cứu các công trình của họ, xét từ góc độ khoa học văn học thì chỉ có công trình của Jan Mukarovski là thuộc về chủ nghĩa cấu trúc Séc

Xuất phát điểm của Mukarovski khác về cơ bản so với các nhà hình thức Nga, vì ông bác bỏ ý nghĩ về tính tự trị của văn bản văn học, rằng tác phẩm văn học, bản chất của tính văn học ẩn dấu trong sự khác biệt với những sự việc của đời sống Khái niệm “

phương diện cấu trúc hoá thì ý thức tập thể là cấu trúc phổ thông nhất, cái cấu trúc mà chính nó cũng có được từ những cấu trúc khác Một trong những cấu trúc được xây dựng từ những cấu trúc như thế này là văn học mà yếu tố hợp thành của nó là cấu trục phụ của cái cấu trúc bao quát nhất của văn hoá Nguyên lí hệ thống xây dựng từ các hệ thống chúng ta có thể tìm thấy trong các bài viết của Tynianov năm 1928 và cả trong truyên ngôn Jakobson - Tynianov trước đó Nhưng ở Mukarovski, đối với cái tính chất hệ thống này thì cấu trúc và

nghĩa cấu trúc hình thành, đã lí giải việc này bao gồm cả hai cái có thực và cái mang tính kí hiệu Cái có thực đặc trưng cho thế giới thế tục, cái mang kí hiệu bao gồm những hiện tượng nhân văn Các nhà cấu trúc với giả thiết về tính chất kí hiệu đã đưa ra quan niệm về sự chủ thể hoá Người ta gọi mọi hiện tượng vượt ra ngoài bản thân nó, nói lên một cái gì khác đối với người sáng tác hay tiếp nhận là

chủ thể hoá vẫn được xem như là siêu nghiệm Trong bước đi này đã xẩy ra điều mà liên quan đến chủ nghĩa hiện đại, chúng tôi có nói, tức là không phải Mukarovski đề ra bước đi đó, ông chỉ là một trong những người đầu tiên vận dụng nó vào khoa học văn học Nguồn gốc của nó có từ Ferdinand de Saussure mà Mukarovski đã nhắc đến trong bài viết “

Một trong những yếu tố của hệ thống Mukarovski là việc nêu lên rằng tác phẩm văn học là kí hiệu, tức là tác phẩm văn học không đồng nhất với trạng thái tâm hồn của người sáng tác và người tiếp nhận, cũng như không đồng nhất với cái đối tượng ngôn ngữ Kí hiệu tác phẩm văn học là đối tượng thẩm mĩ, một hiện tượng tồn tại theo phương thức tự trị

a- Văn bản là mặt có thể cảm nhận trực tiếp của kí hiệu

b- Nghĩa là cái có thể tìm thấy trong vô thức tập thể

c- Mối quan hệ của các kết cấu ý nghĩa trong các kí hiệu, làm cho kí hiệu song hành được với những hiện tượng xã hội

Ba yếu tố này vượt lên tính kí hiệu của từng tác phẩm, nó chỉ ra những đặc điểm kí hiệu của văn học Thứ nhất, văn bản văn học có một cấu trúc ý nghĩa trong ý thức tập thể, còn

Mukarovski, như tất cả các nhà hình thức khác, đã phủ nhận vai trò phản ánh của nghệ thuật và luôn nhấn mạnh yếu tố tự trị của văn học Như nhiều đại diện của lí thuyết cấu trúc, ông cũng đã nhấn mạnh rằng tác phẩm văn học là loại

liên hệ đến Tác phẩm văn học tồn tại vì nó, nó không phản ánh hiện thực mà chỉ giúp cho chúng ta có được cái ấn tượng và hình thức đời sống để nhờ đó chúng ta có thể biết được về xã hội thế tục Liên quan đến điều này, Mukarovski đã nói về

Cái cuốc bản thân nó chỉ là sự kết hợp của một cán gỗ và một miếng sắt, và nếu như thế thì cái cuốc chẳng có ý nghĩa gì Chính mối quan hệ giữa chức năng của cái cuốc, đối tượng và mục đích sử dụng đã mang lại cho nó ý nghĩa Cái cuốc là cái cuốc vì nó có thể dùng để cuốc đất Chức năng sẽ chủ thể hoá các hiện tượng đến trong phạm vi của nó và với việc đó, nó sắp đặt các sự việc khác loại vào trong khung khổ thống nhất Theo Mukarovski có nhiều loại chức năng hoá Đời sống thường nhật gần như bước qua sự vật gắn với chức năng, nó sử dụng sự vật đó vì mục đích nào đó có thể tìm thấy ngoài cái đối tượng gắn với chức năng

hiện tượng có trong văn học khởi đầu đều có cái chức năng bên ngoài nào đó gắn liền với lĩnh vực nào đó của đời sống con người Trước tác động của chức năng thẩm mĩ thì cái chức năng bên ngoài này biến mất và gần như nó chuyển hoá vào chức năng thẩm mĩ, trở thành kí hiệu Cái nắm đấm đang giơ ra trước mặt tôi rõ ràng là với chức năng khác với chức năng mà hình ảnh nắm đấm đó mang lại trên một tờ áp phích Cái nắm đấm trên tờ áp phích không làm cho tôi phải lùi lại để tránh cú đấm, hoặc thủ thế, mà nó chỉ lưu ý đến khả năng dùng vào những mục đích đó, đến bạo lực v.v Chức năng thẩm mĩ không hướng ngoại, không có nội dung, vì thế nó rất uyển chuyển, nó có thể quan hệ với nhiều loại sự kiện của đời sống một cách tương đồng Nhưng nó cũng không thể triệt tiêu những chức năng khác, chỉ đồng nhất hoá chúng và sử dụng ý nghĩa của những chức năng đó Mukarovski trong khuôn khổ của khái niệm chức năng đã thể nghiệm việc mô tả sự liên hệ giữa đời sống và nghệ thuật và đưa tính chất kí hiệu của nghệ thuật vào các cấu trúc lịch sử, xã hội học và tâm lí học(15) Sự vượt lên chủ nghĩa hình thức này lại là giới hạn đối với hệ thống của nó, bởi vì khái niệm chức năng cũng bao gồm quá nhiều các loại chức năng trong một hệ thống, không có lý thuyết chức năng đồng nhất Rồi đây, các lí thuyết hình thức vẫn tiếp tục phát triển với những đặc điểm của chủ nghĩa cấu trúc Từ trường phái hình thức Nga đến trường phái cấu trúc Praha và trường phái hội nhập (Balan) đều cho thấy sự vận động của tư duy lí luận văn học với những vấn đề đặc trưng về hình thức, kí hiệu và chức năng thẩm mĩ trong quan hệ với sự cụ thể hoá (đọc) văn bản

Hà Nội, 2003

T.Đ.D

(182/04-04)

-(1) Một điều rất đáng mừng là trong thời kỳ đổi mới chúng ta đã tái bản hoặc dịch mới một số tác phẩm triết học và công trình khoa học nổi tiếng, trong số đó có các tác phẩm của V.Soloviev (Phạm Vĩnh Cư dịch và giới thiệu) Hi vọng công việc này sẽ được tiếp tục thực hiện có hệ thống và kế hoạch hơn để chúng ta có thể lấp dần những khoảng trống không đáng có, nhanh chóng hội nhập với thế giới.

(2) Có thể nhận ra ảnh hưởng của Nietzsche trong các tác phẩm “Chân dung thời trai trẻ” của James Joyce và “Những năm đi học của Tortess

(3) Max Weber (Đức) nhà lí luận lớn của xã hội công nghiệp hiện đại ngay từ 1905 đã không giới hạn sự mô tả hoạt động xã hội ở hoạt động sản xuất hàng hoá, ông chú ý đến cái hệ thống của những quan hệ giữa các cá nhân trong xã hội Cuốn sách “

(4) Xin xem Trương Đăng Dung “Thế giới nghệ thuật của Franz Kafka”, in trong bản dịch tiểu thuyết “Lâu đài” của Franz Kafka, Nxb.Văn học,1998.

(5) Đại diện lớn của quan niệm hình thức hiện đại về chủ thể là Edmund Husserl (Đức) Trong cuốn “Triết học như là khoa học nghiêm khắc”

(6) Hội nghiên cứu ngôn ngữ thơ.

(7) Xem “Nghệ thuật như là thủ pháp”, Đỗ Lai Thuý biên soạn, nhiều người dịch Nxb, Hội Nhà văn, H.2001.

(8) Jan Mukarovski cũng đã từng nhấn mạnh qui luật khép kín, tính nội tại của tác phẩm văn học Trong một công trình viết ở thời kì đầu,

(9) Jan Mukarovski lưu ý rằng tác phẩm văn học luôn có một tác động ngược chiều với sự chủ ý, đó là sự vô tình Đặc điểm này làm cho tác phẩm trở thành sự việc, sự vật, thành một cái gì đó chưa hoàn hảo như chính cuộc sống trong mắt người tiếp nhận.

(10) Nghệ thuật như là thủ pháp, Đỗ Lai Thuý biên soạn, Song Hà dịch, nxb.Hội Nhà văn, H2001, tr.102.

(11), (12) Xem J Tynianov: “Về sự tiến triển của văn chương” trong sách Nghệ thuật như là thủ pháp, Đỗ Lai Thuý biên soạn, Nguyễn Văn Quảng dịch, Nxb Hội Nhà văn, H.2001, tr.170, 172, 173.

(13) (14) J Tynianov: Về sự tiến triển của văn chương, Sđd, tr.187, 195.

(15) Trong bài viết “Bản chất của nghệ thuật tạo hình” (1944), Mukarovski cũng nhấn mạnh tính chất kí hiệu của tác phẩm nghệ thuật Ông so sánh sự khác biệt giữa tác phẩm tự nhiên và tác phẩm do con người sáng tạo nên và khẳng định tính chủ ý trong sáng tạo nghệ thuật như là đặc điểm cơ bản qui định sự khác biệt đó.

Ngày đăng: 02/06/2018, 07:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w