LỜI CẢM ƠNTôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của Đảng ủy, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân xá cư Mgar, Ban đại diện CMHS, phụ huynh và nhân dân địa phương, Ban giám hiệu nhà
Trang 1PHÒNG GD&ĐT CƯ MGAR TRƯỜNG TIỂU HỌC TÔ HIỆU
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
“HUY ĐỘNG SỐ LƯỢNG GẮN VỚI CÔNG TÁC PCGD
Ở ĐỊA PHƯƠNG XÃ CƯ MGAR”
Người thực hiện: Nguyễn Văn Tuấn
Chức vụ: Hiệu trưởng
Đơn vị: Trường TH Tô Hiệu, xã Cư Mgar, Cư Mgar, Đắc Lắc.
Trang 2
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của Đảng ủy, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân xá cư Mgar,
Ban đại diện CMHS, phụ huynh và nhân dân địa phương,
Ban giám hiệu nhà trường, sự hợp tác, giúp đỡ nhiệt tình
của tập thể giáo viên, các tổ chức đoàn thể và các em học
sinh trường tiểu học Tô Hiệu đã giúp tôi hoàn thành đề tài
sáng kiến kinh nghiệm này
Nguyễn Văn Tuấn
Trang 3
MỤC LỤC I.Phần mở đầu Trang 4
I.1.Lý do chọn đề tài Trang 4 I.2 Mục tiêu nhiệm vụ của đề tài Trang 5 I.3 Đối tượng nghiên cứu Trang 5 I.4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu Trang 5 I.5 Phương pháp nghiên cứu Trang 5
II Phần nội dung Trang 6
II.1 Cơ sở lý luận của đề tài Trang 6 II.2 Thực trạng Trang 6
a Thuận lợi- khó khăn Trang 6
b Thành công- hạn chế Trang 7 c.Mặt mạnh- mặt yếu Trang 8
d Kết quả điều tra Trang 9
e Nguyên nhân, các yếu tố tác động Trang 10 II.3 Giải pháp, biện pháp Trang 10 a.Mục tiêu của giải pháp, biện pháp Trang 10 b.Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp Trang 10 c.Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp……… Trang 11 d.Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp Trang11 e.Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu……… Trang12 II.4.Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
III Phần kết luận, kiến nghị Trang 14
III.1.Kết luận Trang 14 III.2 Kiến nghị Trang 15
Trang 4I Phần mở đầu:
TI.1 Lý do chọn đề tài:
rường học là cái nôi hình thành và phát triển nhân cách tốt nhất, toàn diện nhất cho trẻ em Ở trường các em được sự dìu dắt dạy bảo của thầy cô và
sự ân tình giúp đỡ của bạn bè, trẻ được hình thành và tập luyện các kỹ năng sống thông qua các hoạt động tập thể, Các em có điều kiện để phát triển trí tuệ và năng khiếu của bản thân Đến trường các em không chỉ học tập các môn học mà các em còn được rèn luyện, được tham gia vào những hoạt động tập thể phù hợp với lứa tuổi, vui và bổ ích Có thể nói trường
học là “Vườn ươm” cho tương lai của nhân loại Vì vậy việc đảm bảo
công tác số lượng và tỷ lệ chuyên cần hàng ngày cao mới nói đến nâng cao chất lượng giáo dục và hoàn thành công tác PCGD tiểu học đúng độ tuổi và xóa mù chữ bền vững Học sinh được xác định là đối tượng đặc biệt quan trọng trong hoạt động dạy - học, và vấn đề duy trì số lượng học sinh là vấn đề quan trọng được đặt ra không chỉ đối với nhà trường, với ngành giáo dục mà là vấn đề cần được sự quan tâm của toàn xã hội, đặc biệt là cha mẹ các em và đội ngũ nhà giáo
Thực hiện chương trình hành động của Đảng Ủy , Ủy Ban nhân dân xã
Cư Mgar và nhiệm vụ kế hoạch năm học 2011-2012, 2012-2013 của nhà trường về công tác duy trì sĩ số học sinh và chống bỏ học Tình trạng học sinh bỏ học đang là một bài toán khó cho các nhà quản lý giáo dục nói riêng và toàn xã hội nói chung đặc biệt là ở địa bàn xã Cư Mgar Nhằm thực hiện có hiệu quả Luật Phổ cập giáo dục Tiểu học, yếu tố vô cùng quan trọng, then chốt là phải đảm bảo duy trì sĩ số học sinh, không để học sinh bỏ học Trong thực tế nếu chỉ quan tâm, tập trung phấn đấu đạt mức chất lượng tối thiểu, kết quả lên lớp thẳng mà quên đi hiệu suất đào tạo
Mà hiệu suất này phải được xem xét cả một bậc học, phải căn cứ số học sinh tuyển vào và số học sinh tốt nghiệp cuối khóa, trừ số học sinh lưu ban, số học sinh bỏ học giữa chừng và số học sinh chuyển đi, chết thì công tác duy trì số lượng gắn với công tác PCGD đóng vai trò hết sức quan trọng Trường Tiểu học Tô Hiệu nơi mà bản thân tôi đang công tác là một trường thuộc xã khó khăn của huyện, số lượng học sinh người dân tộc thiểu số chiếm trên 96 %, (118/227) hộ nghèo chiếm tỷ lệ cao so với các trường khác trong huyện, trường chủ yếu là học sinh đồng bào dân tộc đời sống nhân dân trên địa bàn gặp nhiều khó khăn, kinh tế chủ yếu là trồng lúa nước và hoa màu, thu nhập thấp và không đều Một số ít phụ huynh chưa nhận thấy rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với con em, chỉ muốn các em ở nhà phụ giúp công việc đồng áng, công việc gia đình mà không nghĩ đến tầm quan trọng của việc học tập.Vì thế việc đến trường
Trang 5của các em cũng hay gián đoạn do phải phụ giúp công việc gia đình, thêm vào do điều kiện kinh tế khó khăn không có điều kiện cho con em theo học, thời gian đầu tư cho học tập của các em hạn chế dẫn đến kết quả học tập yếu kém nên dễ bị chán nản,vắng mặt ngày càng nhiều rồi bỏ học giữa chừng
Vì lý do đó tôi chọn đề tài: “HUY ĐỘNG SỐ LƯỢNG GẮN VỚI CÔNG TÁC PCGD Ở ĐỊA PHƯƠNG XÃ CƯ MGAR” nhằm nâng cao
tỷ lệ chuyên cần hàng ngày, duy trì tốt công tác số lượng và làm tốt công tác PCGD địa phương để hiệu suất đào tạo hàng năm được nâng lên, tiến đến duy trì bền vững công tác PCGD và xóa mù chữ, chống tái mù bền vững
I.2 Mục tiêu nhiệm vụ của đề tài:
Mục tiêu của đề tài là duy trì tốt công tác số lượng hàng năm thông qua việc làm tốt công tác PCGD nhằm nâng cao dân trí toàn dân địa bàn xã Cư Mgar
Thông qua việc phân công giáo viên theo nhóm điều tra và có trách nhiệm quản lý lâu dài khu dân cư, tìm hiểu điều kiện, tâm tư của học sinh và phụ huynh để giúp đỡ và động viên các em đến lớp
Để đạt được mục tiêu nêu trên, đề tài đã tự xác định cho mình những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
* Nghiên cứu số lượng hàng năm và giáo viên chủ nhiệm lớp
* Nghiên cứu thực trạng học sinh nhà trường Để rút ra kinh nghiệm và đề
ra phương hướng cho công tác PCGD trong những năm tiếp theo
* Tìm hiểu thực trạng nhân dân địa phương và phân tích thực trạng công tác điều tra và quản lý khu dân cư
* Đánh giá tổng kết và rút kinh nghiệm trong công tác PCGD
* Đề ra các giải pháp và đề xuất với chính quyền địa phương nhằm nâng cao hiệu quả của công tác duy trì số lượng và làm tốt công tác PCGD
I.3 Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh trường Tiểu học Tô Hiệu và toàn bộ dân cư 3 buôn: Buôn Bling; Buôn Trắp; Buôn Dhung xã Cư Mgar, huyện Cư Mgar, Đắc Lắc
I.4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu giới hạn công tác PCGD thông qua việc phân công nhóm giáo viên phụ trách khu dân cư nhằm làm tốt công tác duy trì số lượng của nhà trường trong 3 năm học 2010-2011, 2011- 2012; 2012-2013
I.5 Phương pháp nghiên cứu:
* Nghiên cứu TT 14 TT/BGD&ĐT ngày 5/8/1997 về việc kiểm tra đánh giá kết quả chống mù chữ và phổ cập giáo dục Tiểu học Quyết đinh số
Trang 628/1999 QĐ- BGD&ĐT ngày 23/6/1999 về kiểm tra đánh giá công nhận PCGD Tiểu học đúng độ tuổi Tài liệu tập san giáo dục Tiểu học
* Phương pháp quan sát và trãi nghiệm thực tế: Quan sát các hoạt động liên quan đến số lượng, trãi nghiệm trong nhân dân để nắm bắt tình hình
* Phương pháp hỏi đáp: Trao đổi trực tiếp với giáo viên, học sinh, phụ huynh về những vấn đề có liên quan đến học sinh nghĩ học, bỏ học và có ý định bỏ học
* Phương pháp thống kê, phân tích số liệu, phương pháp tổng kết đúc rút kinh nghiệm
II Phần nội dung
II.1 Cơ sở lý luận của đề tài:
Giáo dục tiểu học là điều kiện cơ bản để nâng cao dân trí, là cơ sở ban đầu hết sức qua trọng cho việc đào tạo trẻ em trở thành công dân tốt của đất nước Giáo dục tiểu học ở nước ta đã và đang thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học đối với tất cả trẻ em trong độ tuổi từ 6 đến 14 tuổi theo điều 1, điều 2, điều 3 của Luật phổ cập giáo dục tiểu học số 56-LCT/HĐNN* ngày 12/08/1991 Chính vì vậy người làm công tác quản lý giáo dục luôn quan tâm đến việc đổi mới công tác quản lý, duy trì thành tựu phổ cập giáo dục, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mà trước hết là nâng cao chất lượng
2 mặt giáo dục
Duy trì tốt công tác số lượng để làm tốt công tác PCGD và XMC là một chiến lược quan trọng trong việc hình thành nhân cách phát triển toàn diện con người nhằm mục đích: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho sự nghiệp CNH- HĐH đất nước”.(Nghị quyết TW2 khóa VIII của BCH TW Đảng)
Người quản lý giáo dục đóng vai trò quyết định then chốt trong việc đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường, trong đó có công tác số lượng gắn liền với PCGD Muốn nâng cao chất lượng đại trà, nâng cao dân trí toàn dân thì cái quan tâm đầu tiên đó là công tác số lượng, vậy để làm tốt công tác số lượng thì nhà quản lý cần phối kết hợp tốt 3 môi trường giáo dục “Nhà trường - Gia đình - Xã hội” Để nhà trường phối kết hợp tốt với gia đình và
xã hội thì công tác PCGD phải đi vào chiều sâu, phải thực sự thâm nhập vào tâm huyết của từng người dân, từng phụ huynh có như vậy thì công tác
số lượng hàng năm và công tác PCGD địa phương mới bền vững
II.2 Thực trạng
a Thuận lợi- khó khăn:
Thuận lợi: Trường TH TÔ HIỆU chỉ có một điểm trường, nằm vùng trung
tâm 3 buôn với tổng số CNV: 23 người (Trường hợp đồng 1 nhân viên YTHĐ) Trong đó Nữ: 20 người
Trang 7Đội ngũ có tinh thần đoàn kết thống nhất, trong công tác nhiệt tình có trách nhiệm, có bề dày về kinh nghiệm trong công tác chuyên môn
Quy mô lớp đảm bảo, học sinh nhìn chung ngoan ngoãn, chăm chỉ trong học tập, lao động và các hoạt động khác
Có chi bộ trường học với tổng số: 9 Đảng viên
Trường luôn được sự quan tâm của phòng Giáo dục & Đào tạo, Đảng uỷ, UBND xã Cư Mgar, Chi bộ, các đoàn thể ở địa phương, Hội cha mẹ học sinh
Cơ sở vật chất đảm bảo, có đủ phòng học để cho 7/11 lớp học 1 buổi/ngày
và 4 lóp học 2b/ ngày
Khó khăn: Trường Tiểu học Tô Hiệu nơi mà bản thân tôi đang công tác
chủ yếu là học sinh đồng bào dân tộc Trường nằm giữa 3 buôn nên đường
sá đi lại rất khó khăn, một số hộ gia đình tách hộ dựng nhà mới rải rác ngoài rẫy cà phê, số lượng học sinh người dân tộc thiểu số chiếm trên 96
% (218/227) Hộ nghèo chiếm tỷ lệ cao so với các trường khác trong huyện, trường chủ yếu là học sinh đồng bào dân tộc đời sống nhân dân trên địa bàn gặp nhiều khó khăn, kinh tế chủ yếu là trồng lúa nước và hoa màu, thu nhập thấp và không đều Một số ít phụ huynh chưa nhận thấy rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với con em, chỉ muốn các em ở nhà phụ giúp công việc đồng áng, công việc gia đình mà không nghĩ đến tầm quan trọng của việc học tập Một điều đáng chú ý nữa là một số hộ gia đình thường di dân tự do đi làm theo mùa vụ và một số gia đình có cả 2 nơi sinh sống vừa ở xã Cư Mgar vừa ở xã E Hding nên khi di chuyển họ thường đưa con cái đi theo mà không nghĩ đến việc học của học sinh Vì thế việc đến trường của các em cũng hay gián đoạn do phải phụ giúp công việc gia đình, thêm vào do điều kiện kinh tế khó khăn không có điều kiện cho con
em theo học, thời gian đầu tư cho học tập của các em hạn chế dẫn đến kết quả học tập yếu kém nên dễ bị chán nản, vắng mặt ngày càng nhiều rồi bỏ học giữa chừng
b Thành công- hạn chế:
Với nhiều năm trước đây làm công tác giảng dạy và làm công tác quản lý giáo dục, phụ trách công tác PCGD địa phương, sống gần gủi với phụ huynh là người đồng bào dân tộc thiểu số Ê Đê tại chỗ bản thân tôi luôn gặt hái được những thành công và đúc rút được nhiều kinh nghiệm đáng
kể, luôn tạo được lòng tin trong nhân dân, hàng năm huy động đạt 100 % học sinh đúng độ tuổi ra lớp Công tác duy trì số lượng đạt 100%, không
có học sinh bỏ học giữa chừng Luôn gần gủi nhân dân và được nhân dân tin yêu, quý mến
Trang 8Đội ngũ CBGV – CNV đoàn kết tôn trọng lẩn nhau và có tâm huyết với công tác, luôn làm tốt công tác duy trì số lượng hàng năm Mặt khác đội ngủ đã nhận thức được trách nhiệm của việc một hội đồng 2 nhiệm vụ: Dạy học và Phổ cập giáo dục Vì vậy đội ngủ đã làm tốt công tác điều tra hàng năm và quản lý khu dân cư, nắm bắt tình hình từng gia đình và từng học sinh thuộc khu dân cư mình chịu trách nhiệm quản lý lâu dài rất tốt Tạo sự thân thiện giữa giáo viên và gia đình, địa phương, tạo điều kiện cho giáo viên khi xuống gia đình vận động các em đến lớp khi các em nghĩ học
do ốm đau hay có ý định bỏ học Hàng năm đến gia đình điều tra không gây bở ngỡ, ngại ngùng cho các hộ dân
Tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế đó là đội ngủ CBGV khi xuống gia đinh phụ huynh tiếp xúc với nhiều lứa tuổi nhưng không biết tiếng địa phương nên khi trao đổi thông tin có lúc còn nhờ học sinh phiên dịch, khó khăn cho việc truyên truyền thông tin hai chiều
c.Mặt mạnh- mặt yếu:
Trong những năm gần đây, sự phát triển về kinh tế đã mang lại không ít những thuận lợi cho công tác trong nhà trường Sự quan tâm của Đảng, nhà nước đầu tư cho giáo dục Cơ sở vật chất, trang thiết bị giáo dục của nhà trường ngày một khang trang, đầy đủ đảm bảo cho việc dạy và học Bên cạnh đó sự phát triển mạnh về công nghệ thông tin như điện thoại, internet, máy vi tính đã hỗ trợ rất nhiều cho giáo viên và phụ huynh trao đổi nắm bắt thông tin về việc học tập của con em họ
Mặt mạnh đáng nêu ra là đối với dân tộc thiểu số họ thường ngại tiếp xúc với người lạ, nhiều lúc họ biết nhưng cũng không muốn trả lời có lúc trả lời qua loa cho xong Vì vậy khi giáo viên xuống địa bàn quen thuộc của mình hàng năm họ hiểu từng hộ gia đình, quen từng hộ gia đình, được các gia đình Đồng bào coi như người thân nên dân không ngại khi tiếp xúc với
gv khi đi điều tra cũng như đến vận động các em đến lớp
Trách nhiệm, tự giác của giáo viên thuộc nhóm điều tra dược nâng lên Hàng năm vào tháng 8 từng nhóm xuống tiếp xúc với dân, cập nhật phiếu điều tra, sổ theo dõi, tìm hiểu tùng hộ gia đình của các nhóm điều tra, ban chỉ đạo PCGD không phân công lại, mà các nhóm tự giác đến khu dân cư mình quản lý để cập nhật phiếu điều tra, tổng hợp theo nhóm và rà soát công tác tuyển sinh trong tháng 7 và tháng 8 hàng năm để báo cáo cho ban chỉ đạo PCGD nhà trường biết
Trong năm học nếu có học sinh thuộc khu dân cư nhóm nào quản lý nghĩ học, bỏ học thì giáo viên liên hệ nhóm phụ trách dân cư cùng đến nhà các
em để động viên gia đình và vận động các em đến lớp Cách làm này thể hiện sự hiểu biết của từng nhóm, không mất thời gian tìm nhà, tìm hiểu gia
Trang 9đình học sinh, thời gian làm quen mà cách làm này gây được lòng tin rất
mạnh trong niềm tin của người đồng bào dân tộc thiểu số
Trong công tác tuyển sinh hàng năm nếu chưa tuyển sinh hết số trẻ 6 tuổi
vào lớp 1 hoặc vì lý do gì đó mà phụ huynh đưa con nhập học muộn thì
nhóm phụ trách khu dân cư sẽ phát hiện ra kịp thời thông qua sự hiểu biết
tiếp xúc khu dân cư của mình
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi kể trên, công tác quản lý học sinh,
duy trì tốt số lượng thông qua nhóm quản lý phụ trách địa bàn khu dân cư
cũng gặp không ít những khó khăn do một số hộ dân sống rãi rác ngoài
nương rẫy, đường sá đi lại khó khăn, các nhóm phải tranh thủ đến từng hộ
gia đình vào chiều tối hoặc sáng sớm mới gặp vì họ thường đi rẫy từ sáng
đến tối mới về
d Kết quả điều tra:
Qua điều tra và tìm hiểu thăm dò phụ huynh năm 2011 các nhóm đã cung
cấp và tổng hợp được các số liệu cần quan tâm như sau:
*Trên toàn địa bà xã:
SỐ
HỘ
Số gđ quan tâm học tập hàng ngày của con em
%
*Trên địa bàn trường Tô Hiệu
HỘ
NGHÈO
HỘ NGHÈO
%
Số gđ quan tâm học tập hàng ngày của con em
%
Trang 10TỔNG CỘNG 532 117 117 276 50.54
Học sinh khuyết tật: 2 em (Trí não + Vận động)
Số hộ gia đình hay di cư theo mùa: 2 hộ (có 3 học sinh
đi theo)
Học sinh hay nghĩ học, có nguy cơ bỏ học:
Năm 2010-2011: 14 em
Năm 2011-2012: 12 em
Năm 2012-2013: 4 em
e Nguyên nhân, các yếu tố tác động:
Do đất canh tác ít, một số hộ đồng bào phải đi canh tác ở các vùng khác,
vùng đất nơi cư trú là đất pha đá sỏi, sườn dốc và ruộng bậc thang nhiều
không phù hợp để trồng các cây cho năng suất cao đẫn đến điều kiện kinh
tế khó khăn Một số hộ gia đình khi tách hộ không có đất sản xuất, nhận
thức của một số hộ gia đình chưa cao Công việc làm không ổn định, Đặc
biệt là một số phụ huynh hay nát rượu, bê tha bỏ mặc con cái sống không
có định hướng
II.3 Giải pháp, biện pháp
a.Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:
Căn cứ vào tình hình thực tế địa phương và các chỉ tiêu chung của nhà
trường về duy trì 100 % công tác số lượng và làm tốt công tác PCGD địa
phương Từ đó xây dựng mục tiêu phấn đấu của nhà trường về các mặt
như: Duy trì tốt công tác số lượng, nâng cao chất lượng hai mặt giáo dục,
hoàn thành tốt công tác PCGD Từ đó đưa ra các giải pháp, biện pháp phừ
hợp như giảm thiểu số lượng học sinh bỏ không quá 1% Một giáo viên
chủ nhiệm ngoài việc giảng dạy, chủ nhiệm còn phải làm tốt công tác duy
trì số lượng, biết cách giúp đỡ học sinh siêng năng học tập, đi học đều đặn
và duy trì tốt số lượng bằng cách:
- Tổ chức điều tra nắm bắt hoàn cảnh từng học sinh Vận động học sinh
nghĩ học ra lớp.Vận động giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh khó khăn
- Tổ chức tốt ban cán sự lớp, thực hiện tốt giờ sinh hoạt lớp
- Làm tốt công tác quan hệ với gia đình, nhà trường và xã hội
- Sự phối hợp với nhóm phụ trách khu dân cư có học sinh mình đang cư
trú
- Sự phối kết hợp với liên đội, BGH nhà trường, hội cha mẹ học sinh, phụ
huynh học sinh
b.Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp: