1. Trang chủ
  2. » Tất cả

BÙNG NỔ DÂN SỐ ẢNH HƯỞNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG NGƯỜI DÂN TẠI TP. HCM.111

19 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở nước ta hiện nay vấn đề dân nhập cư đang trở thành vấn đề nóng bỏng trên phạm vi toàn quốc nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng – được biết đến là một thành phố lớn nhất cả nướ

Trang 1

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ

Mục tiêu của đề tài: 3

Nhiệm vụ của đề tài : 3

I Cơ sở lí luận và thực tiễn về dân số, biến động dân số: 4

1 Các khái niệm cơ bản: 4

2 Cơ sở lý luận về di dân dẫn đến bùng nổ dân số: 4

2.1 Phân loại di dân: 4

2.2 Đặc trưng của di dân: 5

2.3 Phân loại các hình thức di dân: 6

II Hiện trạng nhập cư ở TP HCM và ảnh hưởng của nó đến bùng nổ dân số:……… 8

1 Hiện trạng dân nhập cư tại tp Hồ Chí Minh: 8

2 Nguyên nhân 11

III Bùng nổ dân số gây sức ép lên môi trường, an ninh, kinh tế - xã hội tại TP Hồ Chí Minh: 12

IV Hướng giải quyết – đề xuất biện pháp: 14

V Kết luận và kiến nghị: 16

1 Một số kiến nghị của nhóm: 16

2 Kết luận: 19

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Như chúng ta đã biết dân số là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của một địa phương, một đất nước Dân số vừa có tư cách như một chủ thể làm ra của cải

xã hội, vừa có tư cách như một đối tượng thụ hưởng của cải vật chất và dịch vụ xã hội.Chỉ tiêu quy mô dân số ,cơ cấu dân số là những chỉ tiêu cơ bản làm nền tảng tính toán xây dựng các phương án quy hoạch và kế hoạch kinh tế xã hội trung dài hạn

Ở nước ta hiện nay vấn đề dân nhập cư đang trở thành vấn đề nóng bỏng trên phạm vi toàn quốc nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng – được biết đến là một thành phố lớn nhất cả nước về quy mô dân số và tiềm lực kinh tế, là trung tâm kinh tế, văn hoá, chính trị, khoa học kĩ thuật, trung tâm công nghiệp, đầu mối giao thông vận tải và giao dịch quốc tếThực tiễn từ thành phố Hồ Chí Minh thấy sự phát triển của thành phố nhất là

từ sau khi có chính sách đổi mới có thể coi là một ví dụ điển hình về sự phát triển kinh tế

xã hội- đô thị lớn mạnh nhờ nguồn lực di dân.Và dễ hiểu rằng di dân là một việc tất yếu của quá trình đô thị hóa Hiện nay hai thách thức nổi bật của việc phát triển đô thị ở thành phố Hồ Chí Minh là quy mô dân số quá lớn (khoảng 7,2 triệu người theo kết quả điều tra năm 2009) Thời gian qua dân số thành phố Hồ Chí Minh gia tăng nhanh chóng, trong đó chủ yếu do gia tăng dân số cơ học

Người nhập cư tự do từ các vùng, các khu vực khác nhau của cả nước đổ về thành phố

để học tập, lao động, sinh sống Hiện tượng này đã tác động sâu sắc đến biến động dân số

thành phố Hồ Chí Minh Đề tài “ Bùng nổ dân số ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống người dân tại TP Hồ Chí Minh”sẽ dẫn chứng cụ thể hơn về hiện trạng nhập cư vào TP.

Hồ Chí Minh nhằm rút ra những kết luận có ý nghĩa lí luận và thực tiễn về hiện tượng nhập cư nhằm tổ chức và sử dụng hợp lí nguồn lao động và nâng cao mức sống cho người dân Đề tài cũng tìm hiểu nguyên nhân của tình trạng này và tác động của nó đến dân số

TP HCM và đề ra phương hướng giải pháp về phân bố dân cư phù hợp hạn chế nhập cư

tự do vào thành phố ở mức hợp lí gắn liền với quá trình công nghiệp hóa, giảm bớt áp lực

về dân số đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

Trang 3

Mục tiêu của đề tài:

Tìm hiểu thực trạng dân nhập cư vào TP HCM và ảnh hưởng của nó đến biến động dân số thành phố, từ đó làm cơ sở khoa học để đề ra các chính sách thích hợp nhằm đạt tới quy mô dân số và phân bố dân cư phù hợp với quá trình công nghiệp hóa – đô thị hóa TP HCM, đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống cho dân số

TP HCM, giảm áp lực dân số lên cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội và môi trường đô thị

Nhiệm vụ của đề tài :

Tổng quan có chọn lọc cơ sở lí luận về dân số, biến động dân số và các nhân tố ảnh hưởng đến di dân Đánh giá nguyên nhân của hiện tượng nhập cư vào thành phố Thu thập số liệu thống kê, thông tin và nguồn tư liệu về dân số, sự gia tăng dân số

TP HCM Tìm hiểu hiện trạng nhập cư vào TP HCM, tình hình gia tăng dân số

TP HCM trong quá trình nhập cư vào TP HCM Phân tích nguyên nhân gia tăng dân số thành phố, tìm ra những thuận lợi và khó khăn, hạn chế của gia tăng dân dân số đến KT - XH, môi trường Đưa ra các giải pháp phát triển và phân bố dân

cư thành phố hợp lí hơn trong thời gian tới

Trang 4

I Cơ sở lí luận và thực tiễn về dân số, biến động dân số:

1 Các khái niệm cơ bản:

- Dân số là tập hợp của những con người đang sống ở một vùng địa lý hoặc một không gian nhất định, là nguồn lao động quý báu cho sự phát triển kinh

tế – xã hội, thường được đo bằng cuộc điều tra dân số và biểu hiện bằng tháp dân số

- Gia tăng dân số là số dân thay đổi chiều hướng đi lên theo thời gian trên một đơn

vị diện tích nhất định Tỉ suất gia tăng dân số bằng tổng số của tỉ suất gia tăng tự nhiên và tỉ suất gia tăng cơ học (đơn vị %)

- Gia tăng dân số tự nhiên:

 Tỉ suất sinh thô: Tương quan giữa số trẻ em được sinh ra trong năm so với số dân trung bình ở cùng thời điểm (đơn vị: ‰)

 Tỉ suất tử thô: Tương quan giữa số người chết trong năm so với số dân trung bình cùng thời điểm (đơn vị:‰)

 Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên (Tg): Là sự chênh lệch giữa tỉ suất sinh thô và

tử thô, coi là động lực phát triển dân số (đơn vị: %)

- Gia tăng dân số cơ học là Sự chênh lệch giữa số người xuất cư và nhập cư Có ý nghĩa quan trọng đối với từng khu vực, từng quốc gia, trên phạm vi toàn thế giới, không ảnh hưởng đến quy mô dân số

- Bùng nổ dân số là sự tăng trưởng của mật độ dân số ở mức cao khiến cho không gian, lương thực, thực phẩm, đất đai, nước uống và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác trong khoảng không gian hiện có không đủ để cung cấp cho nhu cầu của tất cả số dân

2 Cơ sở lý luận về di dân dẫn đến bùng nổ dân số:

2.1 Phân loại di dân:

- Trong cuộc sống, con người di cư bởi nhiều nguyên nhân với nhiều mục đích khác

nhau, với các khoảng cách xa gần khác nhau và vào các thời điểm khác nhau Quá

Trang 5

trình này chịu sự tác động bởi nhiều nhân tố kinh tế và xã hội, bởi vậy nó chứa đựng bản chất kinh tế - xã hội sâu sắc

- Di dân là sự di chuyển của người dân theo lãnh thổ với những giới hạn về thời gian

và không gian nhất định, kèm theo sự thay đổi nơi cư trú Hiểu về di dân theo cách tiếp cận trên đây dựa vào các đặc điểm chủ yếu sau:

Một là, con người di chuyển khỏi địa dư nào đó đến một nơi nào đó, với một

khoảng cách nhất định Nơi đi (nơi xuất cư) và nơi đến (nơi nhập cư) phải được xác định, có thể là vùng lãnh thổ hoặc một đơn vị hành chính Khoảng cách giữa hai điểm là độ dài di cư Hai là, con người khi di cư bao giờ cũng với những mục đích nhất định, họ đến một nơi nào đó và "ở lại" đó trong một thời gian nhất định

Hai là, nơi đi (xuất phát) là nơi ở thường xuyên, được quy định theo hình thức

đăng ký hộ khẩu hoặc đăng ký dân sự xác định của cấp quản lý hành chính có thẩm quyền và nơi đến là nơi ở mới Tính chất cư trú là điều kiện cần để xác định di dân

Ba là, khoảng thời gian ở lại nơi mới trong bao lâu là đặc điểm quan trọng xác

định sự di chuyển đó có phải là di dân hay không Tuỳ mục đích, thời gian "ở lại"

có thể là một số năm, một số tháng

2.2 Đặc trưng của di dân:

Một là, con người có thuộc tính là luôn vươn tới điều kiện sống tốt hơn về vật chất

và tinh thần Đặc trưng này cho phép nhìn nhận lại động cơ và mục đích di dân Nơi người ta dự định di cư đến, nhìn chung, phải có điều kiện sống tốt hơn về phương diện này hay phương diện khác

Hai là, di dân liên quan chặt chẽ với độ tuổi Các nghiên cứu chỉ ra rằng những

người trong khoảng tuổi từ 15 đến 30 chiếm đa số trong các dòng di dân Họ có cơ hội và triển vọng lớn hơn so với các độ tuổi còn lại trong đào tạo nghề, tìm kiếm việc làm

Ba là, trong lịch sử trước đây, nam giới có xu hướng di dân nhiều hơn phụ nữ Đây

có thể phần nào đó được giải thích do bản năng và sự phân công lao động theo giới tính Song trong điều kiện xã hội hiện nay, do cầu trong lĩnh vực dịch vụ tăng cao,

xu hướng nữ hóa các dòng di dân đã xuất hiện Ở một số vùng, với một số độ tuổi,

nữ giới có xu hướng di dân nhiều và mạnh hơn nam

Bốn là, trước thời kỳ “mở cửa” người nào có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và

trình độ lành nghề cao hơn thì khả năng di cư lớn hơn Họ có khả năng cạnh tranh tốt hơn về việc làm với người sở tại, dễ dàng tạo được các điều kiện định cư lâu dài

Trang 6

tại nơi mới Nhưng hiện nay, ngoài những người có trình độ học vấn và chuyên môn nghề nghiệp cao, còn có cả luồng di cư của những người có trình độ học vấn thấp đến tìm những việc mà người có trình độ học vấn cao không muốn làm hoặc không có thời gian làm, đặc biệt là di cư nông thôn - đô thị

Năm là, người nào ít bị ràng buộc vào tôn giáo, các yếu tố văn hoá truyền thống,

hoàn cảnh gia đình sẽ dễ dàng thích nghi hơn với điều kiện sống ở nơi mới do đó khả năng di cư sẽ cao hơn so với bộ phận dân số còn lại

2.3 Phân loại các hình thức di dân: Có nhiều cách phân loại di dân theo các giác

độ khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích phân tích Tuy nhiên cần hiểu rằng cách phân chia nào cũng chỉ là tương đối và có thể đan xen nhau trong các loại di dân Dưới đây là một số cách phân loại chủ yếu:

Theo độ dài thời gian cư trú:

 Di dân lâu dài, bao gồm người di chuyển đến nơi mới với mục đích sinh sống lâu dài, trong đó phần lớn những người di cư là do chuyển công tác, thanh niên tìm cơ hội việc làm mới lập nghiệp và tách gia đình Những người này thường không quay trở về quê hương cũ sinh sống

 Di dân tạm thời là sự thay đổi nơi ở gốc không lâu dài và khả năng quay trở lại

là tương đối chắc chắn Kiểu di dân này bao gồm các hình thức di chuyển làm việc theo thời vụ, đi công tác biệt phái, lao động và học tập có thời hạn

 Di dân chuyển tiếp là hình thức di dân mà không thay đổi nơi ở, do tính chất công việc họ phải di chuyển từ nơi này đến nơi khác, chẳng hạn như các công

ty xây dựng cầu đường, các công trình năng lượng điện, thăm dò địa chất, những người đi buôn bán từ các tỉnh lân cận đến các đô thị, Hình thức di dân này gợi ý cho các nghiên cứu điều tiết thị trường lao động, ổn định cuộc sống vật chất và tinh thần cho loại lao động này, không chỉ cho bản thân người làm

mà còn cho gia đình của họ, đặc biệt về cơ sở hạ tầng như điện nước, thông tin liên lạc, y tế, trường học, nơi vui chơi giải trí

Theo khoảng cách di dân:

 Người ta phân biệt di dân xa hay gần giữa nơi đi và nơi đến Di dân giữa các vùng, các đơn vị hành chính trong một quốc gia gọi là di dân nội địa

Di dân nội địa luôn là một nội dung được ưu tiên nghiên cứu đối với mỗi nước

nhằm phục vụ việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam,

do tính lịch sử của sự phân chia địa giới trong quá trình dựng nước và giữ

Trang 7

nước, có các hình thức di dân: giữa ba miền Bắc, Trung, Nam, giữa các vùng kinh tế và giữa các đơn vị hành chính

Theo tính pháp lý:

Người ta phân biệt di dân hợp pháp hay bất hợp pháp, di dân tự do hay có tổ chức, di dân tình nguyện hay bắt buộc Tuỳ thuộc vào mức độ can thiệp của

chính quyền trung ương hay địa phương mà người ta phân chia di dân theo loại này hay loại khác

 Trong giai đoạn hiện nay khi nước ta đang chuyển đổi cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường, với di dân nội địa, các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều tới hình thức di dân tự do Các kết quả điều tra cho thấy cường

độ di dân tự do ngày càng cao, hướng di chuyển đa dạng, quản lý phức tạp Di dân tự do được coi là một trong những phương tiện điều tiết thị trường lao động

Các hình thức di dân khác:

 Có thể liệt kê một số loại di dân đáng chú ý khác như di dân cá nhân hay hộ gia đình, di dân tản mạn nhiều hướng hay thành dòng di dân, nếu căn cứ vào

số lượng người di dân và hướng di dân từ nơi xuất phát đến nơi dừng

 Hình thức di dân khá quan trọng là di dân giữa hai khu vực thành thị và nông thôn Phân loại ở đây vừa theo lãnh thổ lại vừa theo trình độ phát triển kinh tế

- xã hội giữa hai khu vực

 Bốn hình thức di dân điển hình ở nước ta: nông thôn thành thị, nông thôn -nông thôn; thành thị - thành thị, thành thị - -nông thôn

Cần lưu ý rằng hình thức di dân con lắc (đi rồi lại về hàng ngày, không định

cư ở nơi đến) đang là hình thức di dân rất phổ biến hiện nay Ví dụ, di dân từ vùng lân cận như Phủ Lý đến Hà Nội, rồi lại quay từ Hà Nội về Phủ Lý Loại

di dân này là yếu tố rất tích cực để nâng cao đời sống cho người dân vùng nông thôn gần sát các vùng đô thị và góp phần điều tiết giá cả hàng hóa và giá

cả lao động phổ thông trên thị trường lao động tại các thành phố Nhưng đây cũng là nhân tố làm cho việc quản lý trật tự trị an trên địa bàn các thành phố rất khó khăn

 Một loại di dân phổ biến nữa hiện nay là di dân của những người ở nông thôn, đặc biệt là những người trẻ tuổi đến tìm việc ở khu vực phi chính thức tại các thành phố lớn Đặc điểm của những người này là không có chuyên môn nghề nghiệp, làm việc cho những chủ nhỏ hoặc cá thể, tiểu chủ Những người chủ

Trang 8

này thường không đăng ký sản xuất kinh doanh và không đăng ký chính thức tuyển dụng lao động Những người lao động tại khu vực phi chính thức, thường không ký hợp đồng lao động, nên thường không được hưởng các chế

độ như: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, không có chế độ nghỉ lễ và chủ nhật

Họ thường là những người gặp nhiều rủi ro trong cuộc sống như: dễ bị lạm dụng tình dục (đối với phụ nữ), bị đối xử không công bằng Họ thường phải sống trong những ngôi nhà thiếu tiện nghi sinh hoạt Nhiều nơi hình thức di dân này còn được gọi dưới cái tên “di dân trôi nổi”

II Hiện trạng nhập cư ở TP HCM và ảnh hưởng của nó đến bùng nổ dân số:

1 Hiện trạng dân nhập cư tại tp Hồ Chí Minh:

- Thành phố Hồ Chí (vẫn còn phổ biến với tên gọi cũ là Sài Gòn) là thành phố lớn

nhất Việt Nam về dân số và kinh tế, đứng thứ hai về diện tích, đồng thời cũng là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa, giáo dục quan trọng nhất của Việt Nam Hiện nay, Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố trực thuộc Trung ương được xếp loại đô thị loại đặc biệt của Việt Nam

- Thành phố Hồ Chí Minh có toạ độ 10°10' – 10°38' Bắc và 106°22' – 106°54' Đông,

phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang[63] Nằm ở miền Nam Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1.730 km theo đường bộ, trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50 km theo đường chim bay Với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, Thành phố Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một cửa ngõ quốc tế

Trang 9

Một góc nhìn nhỏ của TP Hồ Chí Minh

- Tình hình chung về dân số:

 Cứ mỗi năm trôi qua, dân số ở thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) mỗi tăng cao Sau năm 1975, dân số TP HCM chỉ có khoảng 3 triệu người thì đến nay

đã tăng lên hơn 8 triệu dân trên tổng diện tích 2095,5 km2, trong đó còn chưa

kể đến lượng dân số từ tỉnh khác đến học tập, làm việc có thời hạn tạm trú từ 6 tháng trở lên (theo báo cáo của saigonland 29/12/2017)

 Tốc độ tăng bình quân dân số TPHCM từ năm 1999 - 2009 cao hơn hẳn tốc độ tăng dân số các thời kỳ trước Đó là kết quả sơ bộ do Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở TPHCM 2009 báo cáo với UBND TPHCM ngày 23-10 (Theo báo Sài Gòn giải phóng Thứ Bảy, 24/10/2009 03:11)

 Ông Dư Quang Nam, Cục trưởng Cục Thống kê TPHCM cho biết, theo kết quả tổng hợp sơ bộ do Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở (TĐTDS-NƠ) Trung ương công bố, tổng dân số của TPHCM vào lúc 0 giờ ngày

1-4-2009 là 7.123.340 người, tăng 2.086.185 người, tăng 41,4% so với thời điểm 1-4-1999 (hơn 5 triệu người) Như vậy, trong 10 năm, tốc độ tăng dân số bình quân của TP là 3,5%/năm

Dân số Tp.HCM năm 1979 - 2009

 Mức tăng dân số TP trong thời kỳ 1999 - 2009 bằng 2 lần mức tăng dân số thời kỳ 1989 - 1999 và bằng 3,7 lần mức tăng dân số thời kỳ 1979 - 1989

“Bình quân một năm TPHCM tăng 208.000 người, gần bằng dân số của 1 quận trung bình tại TPHCM”

Trang 10

Tỷ lệ tăng dân số Tp.HCM qua các giai đoạn

 Theo bà Lê Thị Thanh Loan, Phó Cục trưởng Cục Thống kê TP, tốc độ tăng bình quân dân số TPHCM từ năm 1999 - 2009 cao hơn hẳn tốc độ tăng dân số các thời kỳ trước Nếu như thời kỳ 1979 - 1989 và 1989 - 1999 dân số tăng chủ yếu do yếu tố tăng tự nhiên (tỷ lệ tăng của 2 thời kỳ này lần lượt là 1,61%

và 1,52%) thì giai đoạn 1999 - 2009 dân số TP tăng chủ yếu do tăng cơ học

Ngày đăng: 01/06/2018, 21:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w