Do vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để Luật thuế giá trị gia tăng được thực hiện đúng quy định, đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước đồng thời đảm bảo quyền lợi chính đáng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tác giả Số liệu trong luận văn là trung thực Nội dung của luận văn chƣa đƣợc công
bố tại bất cứ công trình khoa học nào
Hưng Yên, ngày tháng Năm 2016
Tác giả
Chu Thị Ánh Thơ
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến Cán bộ nhân viên, Thầy cô giáo trong Khoa Sau Đại Học trường Đại học Thương Mại, đã giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường, để tôi có được nền tảng kiến thức
vững chắc phục vụ quá trình nghiên cứu đề tài luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ rất tận tình, chu đáo và khoa học của Thầy giáo PGS.TS.Phạm Đức Hiếu, giảng viên khoa Kế Toán – Kiểm Toán, Trường đại học
Thương mại, người trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ của kế toán trưởng, giám đốc, nhân viên kế toán tại Công ty may Hưng Yên - Công ty cổ phần, Công ty cổ phần
may Hưng Long II, Công ty Cổ phần may và dịch vụ Hưng Long đã hỗ trợ tôi rất
nhiều trong quá trình điều tra, khảo sát, thu thập và cung cấp thông tin của đơn vị
làm cơ sở cho việc phân tích, tổng hợp và hoàn thành luận văn cao học này
Trân trọng cảm ơn!
Hà nội, ngày tháng Năm 2016
Tác giả
Chu Thị Ánh Thơ
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề thuộc đối tượng và khách thể nghiên cứu đề tài 4
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài 7
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Ý nghĩa của nghiên cứu 9
7 Kết cấu của luận văn 10
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN THUẾ GIÁ TRỊ GIA 11
TĂNG TRONG DOANH NGHIỆP 11
1.1.Một số định nghĩa và khái niệm cơ bản 11
1.1.1 Thuế và vai trò của Nhà nước 11
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của thuế 12
1.2 Chức năng của thuế 14
1.2.1 Chức năng đảm bảo nguồn thu cho NSNN 14
1.2.2 Chức năng phân phối lại nhằm đảm bảo công bằng xã hội 14
1.2.3 Chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế hay khắc phục những bất cân bằng của thị trường 15
1.3 Phân loại thuế 15
1.3.1 Phân loại theo tính chất hành chính 15
1.3.3 Thủ tục kê khai, thu nộp, quyết toán thuế 20
1.4 Tổng quan về thuế GTGT 21
1.4.1.Thuế GTGT 21
Trang 61.4.2 Nội dung phương pháp xác định thuế GTGT và đăng ký kê khai nộp thuế,
hoàn thuế GTGT 24
1.5 Kế toán thuế GTGT theo quy định hiện hành 36
1.5.1 Nguyên tắc chung 36
1.5.2 Chứng từ sử dụng 38
1.5.3 Vận dụng tài khoản 39
1.5.4 Kế toán kê khai, quyết toán thuế GTGT, hoàn thuế GTGT 44
1.6 Kế toán thuế GTGT theo mô hình kế toán Pháp và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 48
1.6.1 Kế toán thuế GTGT tại Pháp 48
1.6.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 51
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 52
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TẠI CÁC CÔNG TY MAY TRÊN ĐỊA BÀNTỈNH HƯNG YÊN 53
2.1 Tổng quan về các Công ty may trên địa địa bàn tỉnh Hưng Yên 53
2.1.1 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý 53
2.1.2 Đặc điểm quy trình sản xuất kinh doanh của các công ty 57
2.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán 59
2.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng tới kế toán thuê GTGT tại các doanh nghiệp may trên địa bàn tỉnh Hưng Yên 63
2.3 Thực trạng kế toán thuế giá trị gia tăng tại các Công ty may trên địa bàn tỉnh Hưng Yên 64
2.3.1 Vận dụng chứng từ: 64
2.3.2 Vận dụng tài khoản: 66
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 80
CHƯƠNG 3: CÁC KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN KẾ TOÁN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TẠI CÁC CÔNG TY MAY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN 81
Trang 73.1 Các kết luận về thực trạng kế toán thuế GTGT tại các công ty may trên địa bàn
tỉnh Hưng Yên 81
3.1.1 Ưu điểm 81
3.1.2 Tồn tại và nguyên nhân 83
3.2 Yêu cầu hoàn thiện kế toán thuế GTGT tại các Công ty may trên địa bàn tỉnh Hưng Yên 90
3.3 Một số giải pháp hoàn thiện kế toán thuế GTGT tại các Công ty may trên địa bàn tỉnh Hưng Yên 91
3.3.1 Hoàn thiện công tác tập hợp, xử lỷ và lưu trữ chứng từ 91
3.3.2 Hoàn thiện hạch toán thuế GTGT 92
3.3.3 Hoàn thiện số kế toán 93
3.3.4 Hoàn thiện kê khai, khấu trừ thuế GTGT 94
3.3.4 Giải pháp khác 97
3.4 Điều kiện thực hiện các giải pháp hoàn thiện 98
3.4.1 Về phía Nhà nước 98
3.4.2 Về phía doanh nghiệp 100
3.5 Các hạn chế và hướng nghiên cứu trong tương lai 101
3.5.1 Các hạn chế 101
3.5.2 Hướng nghiên cứu trong tương lai 101
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 103
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2 1: Mô hình tổ chức bộ máy quản lý điển hình tại các Công ty may trên địa
bàn tỉnh Hưng Yên 54
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của 03 Công ty khảo sát Công ty cổ phần may và dịch vụ Hưng Long, Công ty cổ phần may Hưng Long II, Công ty may Hưng Yên – Công ty cổ phần 55
Sơ đồ 2.3: Sơ đồ khái quát quy trình 57
Sơ đồ 2.4: Sơ đồ tổ chức quy trình sản xuất trải qua các bước sau 58
Sơ đồ 2.5: Sơ đồ về cơ cấu bộ máy của công ty 59
Sơ đồ 6: Trình tự kế toán trên máy vi tính tại 62
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thuế không chỉ là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước mà còn trở thành công cụ quản lý, điều tiết vĩ mô, thúc đẩy sản xuất, mở rộng lưu thông hàng
hóa và nâng cao hiệu quả kinh tế Vì vậy nghiên cứu về thuế nói chung và thuế giá
trị gia tăng (GTGT) nói riêng là rất cần thiết
Nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và quốc tế Trước tình hình đó, đòi hỏi Nhà nước phải nỗ lực sử dụng các công
cụ quản lý khác nhau nhằm tác động đến nền kinh tế để đưa đất nước đổi mới, phù
hợp với tiến trình hội nhập kinh tế thế giới Một trong những công cụ đắc lực để
quản lý nền kinh tế và cũng là một trong số các nguồn tài chính quan trọng phục vụ
cho công cuộc đổi mới đó là thuế Trong đó, thuế GTGT là loại thuế chủ yếu, ảnh
hưởng và liên quan mật thiết đến doanh nghiệp, tới hoạt động sản xuất kinh doanh
và tới toàn bộ nền kinh tế Theo số liệu công bố của Bộ Tài chính trong tổng số thu
nội địa của Ngân sách giai đoạn 2011- 2015 chiếm 68%, năm 2015 chiếm 74%
trong tổng thu Ngân sách nhà nước từ các khoản thuế, phí và lệ phí đạt tỷ lệ huy
động từ thuế, phí vào NSNN bình quân khoảng 20-21% GDP, trong đó thu từ thuế
GTGT là nguồn thu quan trọng
Vì vậy thuế là một vấn đề hết sức quan trọng được nhà nước quan tâm Bộ Tài chính đã không ngừng ban hành, sửa đổi, bổ sung các Nghị định, Thông tư, Chuẩn
mực kế toán sao cho phù hợp với Chuẩn mực kế toán thế giới giúp cho các doanh
nghiệp trong và ngoài nước dễ dàng áp dụng
Đối với bất kỳ quốc gia nào thì hoạt động thu Ngân sách Nhà nước cũng có vai trò đặc biệt quan trọng, đóng vai trò quyết định đến mọi hoạt động của quốc gia
trong từng thời kỳ khác nhau Thuế là công cụ thu Ngân sách Nhà nước chủ yếu,
nguồn thu từ thuế chiếm phần lớn trong tổng thu ngân sách của một quốc gia Chính
vì vậy mà các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng luôn đặc biệt chú trọng tới
việc ban hành, sửa đổi, bổ sung quản lý chặt chẽ việc thực hiện các sắc thuế, đảm
Trang 11bảo tính hợp lý và hiệu quả của mỗi sắc thuế được ban hành Thuế giá trị gia tăng là
một trong những sắc thuế quan trọng trong hệ thống thuế của nước ta
Nhận thức được tầm quan trọng của thuế GTGT, tại kỳ họp lần thứ 11 Quốc hội khóa IX, Quốc hội nước ta đã lần đầu tiên thông qua Luật thuế giá trị gia tăng
vào ngày 10/5/1997, Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1999 Tiếp theo
đó, nhằm không ngừng hoàn thiện Luật thuế GTGT phù hợp với tình hình thực tế
của nền kinh tế đất nước, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi vào ngày 17/6/2003
Tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XI ngày 03/6/2008 đã thông qua Luật thuế giá trị
gia tăng mới, số 13/2008/QH12, thay thế cho 2 Luật trên và chính thức có hiệu lực
thi hành từ ngày 01/01/2009 Từ đó đến nay, để giúp các cơ quan quản lý nhà nước
cũng như các doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc thực hiện Luật thuế GTGT,
Chính phủ cùng Bộ Tài chính không ngừng ban hành các Nghị định, Thông tư
hướng dẫn, quy định cụ thể về việc thực hiện Luật thuế GTGT này Cụ thể, Nghị
định số 123/2008/QH12 ngày 28/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12; Nghị định số
121/2011/NĐ-CP ngày 27/12/2011 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số
123/2008/NĐ-CP, Thông tư số 06/2012/TT-BTC ngày 11/01/2012 của Bộ Tài chính
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế GTGT, Nghị định số 123/2008/NĐ-
CP, Nghị định số 121/2011/NĐ-CP; Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày
18/12/2013; Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/2/2015; Thông tư số
65/2012/TT-BTC ngày 17/05/2013 sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại Thông tư
số 06/2012/TT-BTC, Thông tư số 219/2013/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật thuế
GTGT; Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/2/2015 Để phù hợp với tình hình
kinh tế hiện nay của đất nước, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khoá XI, kỳ họp thứ 5 đã tiếp tục thảo luận và thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một
số điểu của Luật thuế giá trị gia tăng số 31/2013/QH13 ngày 19/6/2013 Luật này
có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014
Trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi của Việt Nam, việc ra đời và áp dụng các Luật thuế mới trong đó có thuế GTGT là một trong những đổi mới căn bản Tuy
Trang 12nhiên việc áp dụng luật thuế mới cũng còn nhiều vướng mắc, bản thân những nhà
hoạch định chính sách cũng nhận thấy phải có lộ trình cho việc hoàn thiện luật thuế
Đặt vấn đề nghiên cứu trong bối cảnh đó có thể thấy sự khác biệt giữa cách tính
thuế của doanh nghiệp và của cơ quan thuế là một vấn đề luôn tồn tại
Đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế, thuế GTGT liên quan trực tiếp tới trách nhiệm cũng như quyền lợi của mỗi doanh nghiệp với Nhà nước Nó cũng ảnh
hưởng trực tiếp tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Do vậy,
vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để Luật thuế giá trị gia tăng được thực hiện
đúng quy định, đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước đồng thời đảm bảo
quyền lợi chính đáng của các doanh nghiệp.Với tư cách là công cụ quản lý kinh tế,
tài chính, kế toán thuế GTGT đóng vai trò quan trọng trong việc theo dõi, cung cấp
thông tin liên quan tới việc thực hiện quy định về thuế GTGT của mỗi doanh
nghiệp, góp phần không nhỏ trong việc nâng cao hiệu quả quản lý của Luật thuế
GTGT
Tuy nhiên qua thực tiễn khảo sát tại các doanh nghiệp kinh doanh may mặc trên địa bàn tỉnh Hưng Yên cho thấy việc thực hiện các quy định của Luật thuế giá
trị gia tăng và chế độ kế toán hiện hành còn nhiều vướng mắc về cách tính thuế,
việc ghi nhận, kê khai và quyết toán thuế GTGT gây khó khăn cho công tác kế toán
thuế GTGT Thực tế luôn tồn tại sự khác biệt trong cách tính thuế của doanh nghiệp
và cách tính thuế của cơ quan thuế Vậy khác biệt đó là như thế nào và do đâu? Làm
thế nào để kế toán thuế GTGT của các doanh nghiệp được hoàn thiện và phù hợp
với các chuẩn mực kế toán, với các luật thuế đã được ban hành?
Xuất phát từ tầm quan trọng của thuế GTGT cùng với yêu cầu cấp thiết của việc hoàn thiện nghiệp vụ hạch toán thuế GTGT trong các doanh nghiệp, tôi đã lựa
chọn đề tài: “Kế toán thuế giá trị gia tăng tại các Công ty may trên địa bàn tỉnh
Hưng Yên” để nghiên cứu góp phần giải quyết tính cấp thiết trên
Trang 132 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chủ
đề thuộc đối tượng và khách thể nghiên cứu đề tài
Kế toán thuế giá trị gia tăng là chủ đề nghiên cứu của rất nhiều công trình trong và ngoài nước Có thể nói, đây là đề tài được nhiều người lựa chọn do tầm
quan trọng của hoạt động này đối với mỗi doanh nghiệp Tuy nhiên, trong các đề tài
nghiên cứu trước đó chưa đi sâu vào nghiên cứu các doanh nghiệp may mặc Chính
vì vậy đề tài nghiên cứu này có ý nghĩa thiết thực về lý luận và thực tiễn áp dụng
các quy định về thuế giá trị gia tăng trong chính sách kế toán của các Công ty may
trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
Việc hoàn thiện công tác kế toán thuế GTGT không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả quản lý kinh doanh của doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng tới việc thực
hiện nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp với nhà nước Nhận thức được tầm quan
trọng đó, hầu hết các doanh nghiệp đã dành sự quan tâm thích hợp tới công tác kế
toán thuế GTGT Nhìn chung, công tác kế toán thuế GTGT tại các doanh nghiệp
hiện nay đã được thực hiện phù hợp với quy định pháp luật về thuế GTGT, chuẩn
mực, chế độ kế toán và đáp ứng được yêu cầu quản lý Tuy nhiên, do sự thay đổi
thường xuyên của pháp luật về thuế GTGT, sự khác nhau giữa quy định của thuế và
quy định của kế toán, cùng với việc hiểu không đúng một số quy định của Luật thuế
GTGT dẫn tới công tác kế toán thuế GTGT tại nhiều doanh nghiệp vẫn còn tồn tại
hiện năm 2011 tại Đại học Thương Mại Trong luận văn này, tác giả đã trình bày
khái quát những lý luận cơ bản liên quan tới thuế GTGT và kế toán thuế GTGT theo
quy định của Luật thuế GTGT và Chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa ban
hành kèm theo Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC của Bộ Tài chính Đồng thời, thông
qua quá trình khảo sát thực tế tại 3 doanh nghiệp điển hình thuộc đối tượng nghiên
Trang 14cứu, tác giả đã đưa ra được những nét khái quát nhất về đặc điểm tổ chức quản lý,
tổ chức bộ máy kế toán, tập trung khai thác được công tác kế toán thuế ghi nhận kế
toán thuế GTGT, kê khai thuế GTGT, quyết toán và hoàn thuế GTGT tại 3 doanh
nghiệp này Thông qua nghiên cứu lý luận kết hợp với khảo sát thực tiễn tác giả đã
đưa ra những nhận xét cả về chính sách thuế hiện hành cũng như thực trạng kế toán
thuế GTGT tại các doanh nghiệp khảo sát, lấy đó làm cơ sở đề xuất các giải pháp
hoàn thiện quy định về thuế GTGT hiện hành và công tác kế toán thuế GTGT tại
các doanh nghiệp khảo sát Tuy nhiên, công tác khảo sát thực tế của tác giả mới chỉ
dừng lại ở 3 Công ty thuộc nhóm công ty cổ phần trong lĩnh vực sản xuất VLXD
trên địa bàn Hà Nội dẫn đến việc áp dụng suy rộng ra cho các công ty sản xuất
VLXD nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội thiếu tính đại diện, không thể áp dụng chung
vào công tác kế toán thuế GTGT tại tất cả các công ty sản xuất VLXD trên địa bàn
Hà Nội Đây là hạn chế của đề tài
Luận văn thạc sỹ kinh tế đề tài “Kế toán thuế giá trị gia tăng tại các công ty
cổ phần xây lắp ở Hà Nội” của tác giả Trần Thị Thu Trang thực hiện tại Đại học
Thương Mại năm 2011 Luận văn cũng đã hệ thống hóa được lý luận liên quan tới
thuế GTGT và kế toán thuế GTGT theo Chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành kèm
theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC của Bộ Tài chính đồng thời, tác giả cũng đã
tiến hành nghiên cứu khảo sát thực tế tại 3 Công ty cổ phần xây lắp trên địa bàn Hà
Nội Thông qua nghiên cứu đã chỉ ra được những đặc điểm cơ bản về tổ chức bộ
máy quản lý, tổ chức bộ máy kế toán và thực trạng kế toán thuế GTGT tại các
doanh nghiệp trên các mặt: hạch toán ban đầu; tài khoản sử dụng và vận dụng tài
khoản với các nội dung chính: ghi nhận thuế GTGT đối với một số trường hợp cụ
thể, hạch toán thuế GTGT được khấu trừ, thuế GTGT phải nộp, đã nộp và thuế
GTGT đầu vào không được khấu trừ; các nội dung liên quan tới kê khai và quyết
toán thuế GTGT tại các đơn vị khảo sát Từ đó, thông qua đánh giá những ưu,
nhược điểm cùng với việc vận dụng lý luận vào thực tế, tác giả đã đưa ra giải pháp
hoàn thiện kế toán thuế GTGT tại các doanh nghiệp trên các mặt: nhân sự, xử lý và
luân chuyển chứng từ, hệ thống tài khoản sử dụng, trình tự kế toán thuế GTGT, tổ
Trang 15chức hệ thống sổ và hệ thống bảng kê trong doanh nghiệp xây lắp Các giải pháp tác
giả đưa ra hầu hết đều phù hợp với thực tế tại các doanh nghiệp nghiên cứu Tuy
nhiên, thời gian từ khi đề tài được thực hiện tới nay, đã có nhiều thay đổi liên quan
tới quy định về thuế GTGT, do đó, đề tài đã bị giảm đi tính thời sự về các vấn đề
đang được đổi mới và quan tâm
Bài viết ―Một số biện pháp chủ yếu góp phần hoàn thiện luật thuế giá trị gia tăng đến 2020 ‖ trên Tapchiketoan.com ngày 30/05/2009 Bài viết đã phân tích
được bối cảnh quốc tế và định hướng kinh tế - xã hội tác động đến xu hướng hoàn
thiện thuế GTGT ở nước ta trong giai đọạn 2009 - 2020 Theo đó, cùng với sự phát
triển toàn diện của nền kinh tế thì chính sách thuế GTGT của Việt Nam hiện nay
cần thiết phải có những thay đổi nhất định để phù hợp với mục tiêu định hướng phát
triển kinh tế xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2009 - 2020 Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa
ra những giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục hoàn thiện Luật thuế GTGT trong thời
gian tới
Để nói về thuế GTGT và kế toán thuế GTGT có khá nhiều công trình nghiên cứu Mỗi tác giả lại trình bày về những khía cạnh khác nhau với những cái nhìn rất
riêng của mình Mặc dù hiện tại đã có hệ thống hành lang pháp lý thống nhất về
thuế GTGT và kế toán thuế GTGT nhưng theo nhận xét của các tác giả vẫn còn tồn
tại một số vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện liên quan tới nộp, ghi nhận, kê khai và
quyết toán thuế GTGT Do đó, tôi đã lựa chọn đề tài ―Kế toán thuế giá trị gia tăng
tại các Công ty may trên địa bàn tỉnh Hưng Yên‖ để nghiên cứu nhằm giải quyết
các vấn đề liên quan tới lý luận và thực tiễn mà các công trình trước chưa giải quyết
triệt để và làm sáng tỏ hơn những nội dung trên thông qua việc khảo sát tại các
Công ty may trên địa bàn tỉnh Hưng Yên phát hiện nguyên nhân tồn tại về kế toán
thuế GTGT và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện kế toán thuế GTGT tại các Công
ty may trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
Trang 163 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Thông qua nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn, đề tài hướng đến các mục
đích sau:
- Về mặt lý luận: Nghiên cứu những vấn đề lý luận để làm rõ bản chất của thuế giá trị gia tăng; nghiên cứu các phương pháp kế toán thuế giá trị gia tăng theo
thông lệ và chuẩn mực kế toán quốc tế Tìm hiểu kế toán thuế giá trị gia tăng theo
một số mô hình kế toán tiên tiến của các quốc gia nhằm rút ra bài học kinh nghiệm
đối với việc hoàn thiện hệ thống kế toán Việt Nam
- Về mặt thực tiễn: Luận văn khảo sát thực trạng áp dụng Luật thuế giá trị gia tăng do Nhà nước ban hành trong những năm qua cũng như sự vận dụng chế độ kế
toán của các doanh nghiệp may trên địa bàn tỉnh Hưng Yên Đồng thời luận văn đề
cập đến những bất cập còn tồn tại trong quá trình áp dụng pháp luật về thuế GTGT
trên địa bàn tỉnh Hưng Yên Từ đó đề ra phương hướng và giải pháp nhằm hoàn
thiện kế toán thuế GTGT hiện hành áp dụng cho các doanh nghiệp may trên địa bàn
tỉnh Hưng Yên trong điều kiện hiện nay
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan tới thuế GTGT theo quy định hiện hành và kế toán thuế GTGT theo quy định của chế độ kế toán
hiện hành cùng với thực trạng của việc vận dụng những lý luận này vào thực tiễn tại
các Công ty may trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi về không gian: Các Công ty may trên địa bàn tỉnh Hưng Yên Ở đây, luận văn đi sâu tìm hiểu 3 Công ty sau:
1 Công ty Cổ phần may và dịch vụ Hưng Long
- Mã số thuế : 0900183772
- Vốn điều lệ: 75.000.000.000
- Địa chỉ: Xã Dị Sử, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên
Trang 172 Công ty Cổ phần may Hưng Long II
- Mã số thuế: 0900251990
- Vốn điều lệ 31.050.000.000
- Địa chỉ: Thôn Cao Xá, phường Lam Sơn, thành Phố Hưng Yên
3 Công ty may Hưng Yên - Công ty Cổ phần
- Mã số thuế: 0900108038
- Vốn điều lệ : 135.000.000.000
- Địa chỉ: Phường Minh Khai, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Số liệu sử dụng cho nghiên cứu đề tài được thu thập qua 2 năm: năm 2014, năm 2015
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
a Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Các dữ liệu thứ cấp được sử dụng nghiên cứu bao gồm:
- Các giáo trình, tài liệu có nội dung lý thuyết liên quan tới kế toán thuế;
- Các dữ liệu thứ cấp do Phòng kế toán 03 Công ty cung cấp: Cơ cấu tổ chức
bộ máy kế toán của công ty; Quy mô của công ty; Chế độ kế toán công ty đang sử
dụng; sổ sách kế toán sử dụng; Tờ khai thuế GTGT; quyết toán thuế GTGT; Báo
cáo tài chính; Thuyết minh báo cáo tài chính
b Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
* Phương pháp quan sát: cung cấp các thông tin về thái độ, giá trị và hành vi
tự thuật của đối tượng Quan sát, tìm hiểu những ưu điểm cũng như những tồn tại,
hạn chế trong bộ máy kế toán tại các công ty Các nội dung quan sát gồm:
- Môi trường làm việc tại Công ty
- Quá trình phân công công việc của Kế toán trưởng cho Trưởng bộ phận phụ trách phần hành kế toán
- Nhiệm vụ của từng kế toán viên thuộc các phần hành kế toán
- Cách thức tổ chức luân chuyển chứng từ
- Cách thức lập các sổ sách kế toán; lập các báo cáo tài chính,
Trang 18* Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: Giám đốc, Kế toán trưởng,Trưởng bộ
phận phụ trách các phần hành kế toán, nhân viên phòng kế toán để tìm hiểu thực
trạng kế toán thuế tại các Công ty may trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
* Phương pháp chọn mẫu: Các Công ty may nằm trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
Để tìm hiểu được kế toán thuế GTGT tại các Công ty này cần tiến hành phỏng vấn trực tiếp kết hợp gửi email bảng câu hỏi cho Giám Đốc, Kế toán trưởng,
Trưởng bộ phận phụ trách các phần hành kế toán, một số nhân viên kế toán am
hiểu về thuế và chính sách kế toán, đã từng làm việc trực tiếp hoặc tham gia chỉ đạo
công tác kế toán và thuế của doanh nghiệp
5.2 Phương pháp xử lý, phân tích dữ liệu
Do vấn đề nghiên cứu liên quan nhiều và mật thiết giữa thuế giá trị gia tăng và công tác kế toán thuế giá trị gia tăng, kết hợp giữa lý thuyết nghiên cứu có vận dụng
vào điều kiện thực tế tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên nên đề tài
chủ yếu được áp dụng là các nghiên cứu định tính
Đối với các dữ liệu thu thập được, tiến hành phân tích bằng phương pháp đối chiếu, so sánh thực tiễn kế toán thuế giá trị gia tăng tại 03 Công ty may với lý
thuyết; kiểm chứng qua thực tế hoạt động của bộ phận kế toán của Công ty để đưa
ra các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện kế toán giá trị gia tăng tại các Công ty
may trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
6 Ý nghĩa của nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ giúp cho doanh nghiệp nhận thức rõ ràng hơn về thuế giá trị gia tăng và kế toán thuế giá trị gia tăng, thông qua đó có được cái
nhìn rõ ràng và chính xác hơn về sự ảnh hưởng của thuế giá trị gia tăng đối với
công tác kế toán Đồng thời, việc nghiên cứu cũng giúp các doanh nghiệp thấy được
những điểm còn tồn tại để lựa chọn các giải pháp khắc phục hợp lý
Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài cũng giúp nâng cao năng lực nghiên cứu, nắm sâu hơn những kiến thức liên quan đến kế toán thuế giá trị gia tăng của học viên
thông qua quá trình nghiên cứu cùng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn
Trang 197 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn bao gồm ba chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về thuế giá trị gia tăng và kế toán thuế giá trị gia tăng
Chương 1 khái quát một số nội dung lý luận liên quan đến thuế GTGT và kế toán thuế GTGT trong các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trong chương này, tác giả đưa ra một số khái niệm cơ bản liên quan đến kế toán
thuế GTGT trong doanh nghiệp như: khái niệm về thuế giá trị gia tăng; trình bày
quy định hiện hành về thuế GTGT trên các nội dung: đối tượng áp dụng; căn cứ,
phương pháp tính thuế GTGT và các quy định về đăng ký, kê khai, nộp, hoàn thuế
GTGT Bên cạnh đó, Chương 1 cũng chỉ ra nội dung nghiên cứu của Luận văn là kế
toán thuế GTGT theo quy định của chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành; kế toán
thuế GTGT theo mô hình kế toán Pháp và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Chương 2: Thực trạng kế toán thuế giá trị gia tăng tại các Công ty may trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
Chương này đề cập đến tổng quan tình hình nghiên cứu kế toán thuế GTGT
Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh ảnh hưởng đến kế toán thuế GTGT tại các
doanh nghiệp may trên địa bàn tỉnh Hưng Yên Đồng thời, chương này cũng trình
bày thực trạng kế toán thuế GTGT tại các công ty may trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
các nội dung: chứng từ sử dụng; vận dụng tài khoản, sổ kế toán, kê khai, quyết toán,
khấu trừ và hoàn thuế GTGT
Chương 3: Các kết luận và giải pháp hoàn thiện kế toán thuế giá trị gia tăng tại các Công ty may trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
Nội dung chính của chương này đề cập tới các kết luận phát hiện qua nghiên cứu thực trạng kế toán thuế GTGT tại các công ty may trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
trên 2 phương diện: những kết quả đạt được và những mặt tồn tại, hạn chế cần giải
quyết cùng với nguyên nhân của chúng Từ đó, đưa ra những đề xuất kiến nghị
nhằm hoàn thiện kế toán thuế GTGT tại các Công ty may trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
Trang 20CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN THUẾ GIÁ TRỊ GIA
TĂNG TRONG DOANH NGHIỆP
1.1.Một số định nghĩa và khái niệm cơ bản
1.1.1 Thuế và vai trò của Nhà nước
Về lý luận, Mác đã viết “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy Nhà nước, là thủ
đoạn cơ bản để kho bạc thu được tiền hay sản vật mà người dân phải đóng góp để
dùng vào mọi chi tiêu của Nhà nước” 1 Ăng ghen cũng đã viết: “Để duy trì quyền
lực công cộng cần phải có sự đóng góp của công dân cho Nhà nước, đó là thuế” 2
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng thuế ra đời là một
sự cần thiết khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước
Để có nguồn lực vật chất bảo đảm cho sự tồn tại và thực hiện các chức năng, nhiệm
vụ của mình, Nhà nước phải dùng quyền lực chính trị vốn có để huy động một bộ
phận của cải của xã hội Việc huy động tập trung nguồn của cải xã hội vào trong tay
Nhà nước có thể thực hiện bằng nhiều cách khác nhau: đóng góp bắt buộc, vận động
dân đóng góp tự nguyện hoặc vay, trong đó, biện pháp huy động, tập trung của cải
có tính bắt buộc đối với mọi thành viên trong xã hội được gọi là thuế
Tóm lại, điểm qua quá trình phát triển của xã hội cho thấy: thuế và Nhà nước
là hai phạm trù lịch sử gắn bó hữu cơ với nhau: Nhà nước tồn tại tất yếu phải có
thuế; ngược lại, thuế bảo đảm cơ sở vật chất cho sự hoạt động và phát triển của Nhà
nước
Thuế gắn liền với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước và là một công cụ
quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng và nhiệm vụ
của mình Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước có khả năng sử dụng chính sách
thuế để điều tiết vĩ mô nền kinh tế xuất phát từ chức năng điều chỉnh của thuế Vì
lợi ích xã hội, Nhà nước có thể tăng thuế hoặc giảm thuế đối với các doanh nghiệp
để kích thích hoặc hạn chế sự phát triển của các lĩnh vực, các ngành nghề khác nhau
của nền kinh tế
1
Trang 211.1.2 Khái niệm và đặc điểm của thuế
Ra đời và tồn tại cùng với Nhà nước, từ đó đến nay, thuế đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài và khái niệm về thuế cũng không ngừng được hoàn thiện
Theo các nhà kinh điển, ―Thuế là cái mà Nhà nước thu của dân nhưng không
bù lại‖ và ―thuế cấu thành nên nguồn thu của Chính phủ, nó được lấy ra từ sản
phẩm của đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư
bản hay thu nhập của người chịu thuế” 3
niệm cổ điển nhất và cũng nổi tiếng nhất về thuế Theo tác giả, ―Thuế là một khoản
trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân
đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi
tiêu của Nhà nước‖ Theo thời gian, khái niệm cổ điển này đến nay đã được bổ
sung, chỉnh sửa và hoàn thiện như sau: ―Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có
tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà
nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước
trong việc thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước‖
Trên góc độ phân phối thu nhập, người ta đưa ra khái niệm thuế như sau: Thuế
là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân
nhằm hình thành nên quĩ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước (quỹ ngân sách
nhà nước) để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
của Nhà nước
Trên góc độ người nộp thuế thì thuế được định nghĩa như sau: thuế là khoản
đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà
nước theo Luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của Nhà nước; người đóng thuế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn
Trang 22Trên góc độ kinh tế học, thuế được định nghĩa như sau: thuế là biện pháp đặc
biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực
từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của
Nhà nước
Như vậy, đã có nhiều khái niệm khác nhau về thuế Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của thuế, khi nghiên cứu khái niệm về thuế cần chú ý các đặc điểm sau:
- Thứ nhất, thuế là khoản trích nộp bằng tiền: Về nguyên tắc, thuế là một
khoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ, điều này trái ngược với các hình thức thanh
toán bằng hiện vật đã tồn tại trước đây Sự phát triển của quan hệ hàng hoá - tiền tệ
tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thuế, đổi lại, nghĩa vụ của đối tượng
nộp thuế được thực hiện bằng tiền lại góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị
trường
- Thứ hai, thuế là khoản trích nộp bắt buộc được thực hiện thông qua con
đường quyền lực: Dù được thực hiện dưới hình thức nào, thuế vẫn thể hiện tính chất
bắt buộc, được thực hiện thông qua con đường quyền lực Nhà nước (qua hệ thống
pháp luật thuế) Do đó, đối tượng nộp thuế không có quyền trốn thuế hoặc mong
muốn tự mình ấn định hay thoả thuận mức đóng góp của mình mà chỉ có quyền
chấp thuận Những đối tượng nộp thuế vi phạm luật sẽ bị cơ quan nhà nước có thẩm
quyền xử lý vi phạm hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật để buộc
họ phải làm tròn nghĩa vụ nộp thuế Đây là điểm khác biệt giữa thuế với các khoản
đóng góp mang tính chất tự nguyện
- Thứ ba, thuế là khoản thu có tính chất xác định: Thuế là khoản thu xác định
của các tổ chức thụ hưởng, đó là Nhà nước, các cấp chính quyền địa phương Trái
ngược với vay, thuế không được hoàn trả trực tiếp
- Thứ tư, thuế là một khoản thu không có đối khoản cụ thể, không hoàn trả trực tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các
chức năng quản lý xã hội, chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước
Khác với khoản vay, thuế không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế (tuy nhiên, một phần thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua các
Trang 23khoản phúc lợi xã hội, phúc lợi công cộng) Sự không hoàn trả trực tiếp được thể
hiện ở cả trước và sau khi thu thuế
Thuế được thu nhằm đáp ứng mọi nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, thuế không
có đối khoản cụ thể Điều này thể hiện rõ ở chỗ nguồn thu từ mỗi loại thuế không
được quy định gắn với mục đích chi tiêu cụ thể nào cả mà đều được sử dụng để đáp
ứng nhu cầu chi tiêu chung của Nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng,
nhiệm vụ của Nhà nước
1.2 Chức năng của thuế
Lịch sử phát triển của thuế đã chứng minh rằng, thuế phải thực hiện được 3 chức năng cơ bản, đó là: chức năng bảo đảm nguồn thu cho NSNN nhằm đáp ứng
nhu cầu chi tiêu của Nhà nước; chức năng phân phối lại thu nhập và tài sản nhằm
đảm bảo công bằng xã hội và chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế
1.2.1 Chức năng đảm bảo nguồn thu cho NSNN
Bên cạnh các nguồn vay hoặc phát hành tiền tệ, thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Mức độ động viên các nguồn thu từ thuế vào ngân sách phần
lớn, gắn liền với tổng số chi tiêu của Nhà nước Mức độ động viên thu ngân sách
với tỷ lệ giữa thâm hụt ngân sách trên tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của mỗi nước
cho thấy mức độ huy động của Nhà nước để bù đắp cho các khoản chi này cả khoản
lãi phải trả khi hoàn trả nợ
1.2.2 Chức năng phân phối lại nhằm đảm bảo công bằng xã hội
Về nguyên tắc, gánh nặng về thuế phải được phân chia một cách công bằng;
thuế phải có vai trò sửa chữa những khiếm khuyết của sự phân phối lần đầu để đảm
bảo sự công bằng và bình đẳng Tuy nhiên, sự công bằng chỉ mang tính chất tương
đối và tuỳ thuộc vào quan niệm cho rằng sự phân phối phải công bằng hay không
trong việc phân chia quyền sở hữu diễn ra trên thị trường Chính vì vậy, đánh thuế
luỹ tiến, đối với một số người, có thể được coi như đồng nghĩa với sự công bằng,
với một số người khác, lại bị coi là tuỳ tiện
Trang 241.2.3 Chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế hay khắc phục những bất cân bằng của thị trường
Thuế là một công cụ của chính sách kinh tế có thể đóng vai trò khuyến khích, hạn chế hoặc ổn định kinh tế Thuế có thể được sử dụng để khắc phục những bất
cân bằng của thị trường, ví dụ, dựa trên cơ sở các phân tích kinh tế vi mô để quốc tế
hoá những tác động nội tại của nền kinh tế Thuế cũng có thể góp phần thực hiện
các cân bằng tổng thể trong khuôn khổ chính sách ngân sách dựa trên cơ sở các
phân tích kinh tế vĩ mô
Tóm lại, để phát huy được vai trò của thuế trong nền kinh tế, phải sử dụng thuế đúng với chức năng của nó Tuy nhiên, vai trò của thuế đối với nền kinh tế ở
mỗi quốc gia không giống nhau mà tuỳ thuộc vào ―nghệ thuật sử dụng‖ công cụ
thuế của mỗi quốc gia đó Vấn đề có tính nguyên tắc là thuế phải luôn luôn phù hợp
với mục tiêu, đường lối phát triển kinh tế - xã hội và là công cụ đắc lực cho việc
thực hiện đường lối, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trong
từng thời kỳ nhất định Đó cũng là lý do mà các quốc gia phải thường xuyên rà soát
mức độ phù hợp của hệ thống thuế với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của
mình, thực hiện các cải cách thuế kịp thời nếu thấy cần thiết
1.3 Phân loại thuế
Lợi ích của việc phân loại thuế là tạo ra một cách tiếp cận tổng hợp đối với cơ cấu thuế Căn cứ theo đặc điểm, công dụng, chức năng và vai trò của từng loại thuế
đối với quá trình phát triển kinh tế, xã hội và tuỳ theo mục tiêu, yêu cầu của quản lý
mà người ta có thể đưa ra các cách phân loại thuế khác nhau, từ đó nhằm sử dụng
phát huy vai trò tích cực của từng công cụ thuế trong quản lý, điều tiết vĩ mô nền
kinh tế Dưới đây là một số cách phân loại chủ yếu
1.3.1 Phân loại theo tính chất hành chính
Cách phân loại này thường được sử dụng trong kế toán quốc gia, theo đó, dựa vào cách tổ chức quản lý thu và cấp ngân sách thụ hưởng chúng: thuế được phân
thành hai loại: thuế nhà nước (quốc gia) và thuế địa phương
Trang 25Ở Việt Nam, Nhà nước được xây dựng theo nguyên tắc tập trung - dân chủ:
Trung ương thống nhất ban hành pháp luật, chính sách; các cấp chính quyền địa
phương không được phép ban hành và quản lý thu các loại thuế riêng Tất cả các
nguồn thu thuế do Nhà nước thống nhất quản lý và việc phân bổ nguồn lực cho các
địa phương, phân chia các nguồn thu từ thuế trên địa bàn được thực hiện theo quy
định của Luật Ngân sách Nhà nước Vì vậy, hiện hành ở nước ta không sử dụng
cách phân loại này
1.3.1.1 Phân loại theo tính chất kinh tế
Theo cách này, thuế có thể được phân loại dựa theo 3 tiêu thức chủ yếu: theo các yếu tố kinh tế bị đánh thuế; theo tác nhân kinh tế chịu thuế hoặc theo lĩnh vực
kinh tế bị đánh thuế
a) Nếu dựa theo yếu tố kinh tế bị đánh thuế, thuế được chia thành thuế đánh
vào thu nhập, thuế đánh vào tiêu dùng (sử dụng thu nhập) và thuế đánh vào tài sản
(thu nhập được tích luỹ)
b) Nếu dựa theo yếu tố và tác nhân kinh tế chịu thuế, có các loại: thuế đánh
vào doanh nghiệp, thuế đánh vào hộ gia đình và thuế đánh vào sản phẩm
c) Nếu dựa theo lĩnh vực, thuế được phân chia theo các lĩnh vực kinh tế bị
đánh thuế, Ví dụ: thuế đánh vào bảo hiểm, thuế đánh vào tiết kiệm, thuế đánh vào
bất động sản
1.3.1.2 Phân loại dựa theo tính chất kỹ thuật
Cách phân loại này được dựa vào các tiêu thức kỹ thuật trong việc đánh thuế, mang tính cổ điển, được sử dụng nhiều nhất và thường là trung tâm của các cuộc
tranh luận Theo cách này, thuế được phân thành các nhóm chủ yếu sau:
a) Thuế trực thu và thuế gián thu:
Thuế trực thu do người chịu thuế trực tiếp nộp thuế cho Nhà nước Thuế
trực thu trực tiếp điều tiết vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế, ví dụ như
thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân
Thuế gián thu do các nhà sản xuất, thương nhân hoặc người cung cấp dịch
vụ nộp cho Nhà nước thông qua việc cộng số thuế này vào giá bán cho người tiêu
Trang 26dùng chịu Ví dụ như: thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu
thụ đặc biệt Khác với thuế trực thu, người nộp thuế chính là người phải chịu thuế,
với thuế gián thu, người nộp thuế và người chịu thuế không đồng nhất
Ngày nay, sự phân biệt giữa hai loại thuế này đôi khi chỉ mang tính chất tương đối vì ngày càng khó phân biệt ranh giới giữa hai loại thuế, tuy nhiên, vẫn cần thiết
phải phân biệt hai loại thuế này vì trong thực tế, nhiều quốc gia vẫn còn hệ thống tổ
chức hành chính dựa trên sự phân biệt giữa thuế trực thu và thuế gián thu
b) Thuế tỷ lệ, thuế luỹ tiến:
Theo cách phân loại này, thuế tỷ lệ là loại thuế áp dụng một thuế suất như nhau đối với mọi đối tượng chịu thuế, còn thuế luỹ tiến là loại thuế áp dụng các thuế
suất tăng dần đối với các nhóm đối tượng chịu thuế hoặc toàn bộ đối tượng chịu
thuế Thông thường, đối với các sắc thuế tiêu dùng thường áp dụng thuế suất tỷ lệ;
đối với các sắc thuế thu nhập, thuế tài sản có thể áp dụng thuế suất luỹ tiến
c) Thuế theo mức riêng biệt và thuế tính theo giá trị:
Theo cách này, được xếp vào loại thuế có mức riêng biệt (cũng có thể được gọi là thuế đặc biệt, hay thuế tuyệt đối) nếu trong đó, mức thuế suất được xác định
bằng mức tiền riêng biệt trên một đơn vị vật chất của đối tượng bị đánh thuế (trọng
lượng, khối lượng, diện tích ), độc lập với giá trị tiền tệ của chúng Loại thuế này
có lợi thế là rất đơn giản, không cần phải xác định giá trị của đối tượng bị đánh thuế
nhưng lại có bất lợi là không thích ứng trong trường hợp tiền tệ bị mất giá Ở một số
nước, loại thuế này thường được áp dụng dưới hình thức thuế rượu, thuế thuốc lá,
thuế bia
Ngược lại, thuế tính theo giá trị là loại thuế được tính toán bằng cách áp dụng một tỷ lệ (hoặc tỷ lệ phần trăm) trên căn cứ tính thuế Ưu điểm của loại thuế này là
tính toán đơn giản, tiện lợi và được áp dụng chủ yếu đối với các loại thuế tiêu dùng
như thuế doanh thu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt Riêng thuế theo mức
riêng biệt ở nước ta ít sử dụng
Ngoài các cách phân loại trên đây, trong thực tế ở một số nước còn có những cách phân loại khác, ví dụ như: thuế phân tích và thuế tổng hợp; thuế phân bổ và
Trang 271.3.2 Các yếu tố cấu thành một sắc thuế
Mỗi sắc thuế được ban hành nhằm đáp ứng các mục tiêu riêng , song nhìn chung, mỗi sắc thuế đều được cấu thành bởi các yếu tố sau:
1.3.2.1 Tên gọi
Tên gọi của mỗi sắc thuế thể hiện đối tượng tác động của sắc thuế hoặc mục
tiêu của việc áp dụng sắc thuế đó Ví dụ, thuế ―giá trị gia tăng‖ cho ta thấy loại thuế
này chỉ đánh vào phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ sau mỗi lần chúng
được luân chuyển; thuế ―thu nhập doanh nghiệp‖ đánh trên thu nhập của doanh
nghiệp; thuế ―tiêu thụ đặc biệt‖ đánh vào việc tiêu dùng các hàng hoá, dịch vụ đặc
biệt được sản xuất hoặc nhập khẩu
1.3.2.2 Đối tượng nộp thuế và đối tượng được miễn thuế
Yếu tố này xác định rõ tổ chức, cá nhân nào có nghĩa vụ phải kê khai và nộp loại thuế này hoặc tổ chức, cá nhân nào không phải kê khai và nộp loại thuế này
(đối tượng được miễn nộp thuế) theo quy định của luật thuế
1.3.2.3 Cơ sở thuế (tax base)
Yếu tố này xác định rõ thuế được tính trên cái gì Tuỳ theo mục đích và tính chất của từng sắc thuế, cơ sở thuế có thể là các khoản thu nhập nhận được trong kỳ
tính thuế của một tổ chức, cá nhân nào đó (ví dụ, cơ sở tính thuế thu nhập doanh
nghiệp là tổng thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp trong kỳ); Cơ sở thuế có thể là
tổng trị giá hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ trong kỳ nếu là thuế đánh vào hàng hoá, dịch
vụ (ví dụ, cơ sở tính thuế doanh thu là tổng doanh thu nhận được trong kỳ tính thuế;
cơ sở tính thuế giá trị gia tăng đối với hàng hoá sản xuất trong nước là giá bán chưa
có thuế giá trị gia tăng )
1.3.2.4 Mức thuế, thuế suất:
Mức thuế, thuế suất là yếu tố quan trọng nhất của một sắc thuế, có thể nói, đó
là ―linh hồn‖ của một sắc thuế, phản ánh yêu cầu và mức độ động viên của Nhà
nước trên một cơ sở tính thuế, đồng thời cũng là mối quan tâm hàng đầu của người
nộp thuế Có các loại mức thuế - thuế suất sau đây:
Trang 28a) Mức thuế cụ thể (tuyệt đối):
Mức thu thuế được ấn định bằng một mức tuyệt đối dựa trên cơ sở thuế Ví dụ, thuế môn bài quy định thu theo mức 3.000.000 đ/năm đối với cơ sở kinh doanh
hạch toán độc lập có mức vốn đăng ký trên 10 tỷ đồng, thu theo mức 1.000.000
đ/năm đối với cơ sở kinh doanh có vốn đăng ký dưới 2 tỷ đồng
b) Thuế suất nhất định:
Thuế suất được xác định bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định trên cơ sở tính thuế, không thay đổi theo quy mô của cơ sở tính thuế Ví dụ, thuế suất thuế giá trị
gia tăng 10% quy định đối với dịch vụ kinh doanh ăn uống; thuế suất thuế thu nhập
doanh nghiệp là 22% trên thu nhập chịu thuế
c) Thuế suất luỹ tiến:
Thuế suất tăng dần theo sự tăng lên của cơ sở tính thuế (thường là thu nhập chịu thuế hoặc trị giá tài sản chịu thuế) Có hai loại thuế suất luỹ tiến: thuế suất luỹ
tiến từng phần và thuế suất luỹ tiến toàn phần
Thuế suất luỹ tiến từng phần: Biểu thuế gồm nhiều bậc, ứng với mỗi bậc
là một mức thuế suất tương ứng, theo đó, thuế suất tăng dần theo từng bậc thuế
Thuế được tính từng phần theo bậc thuế và mức thuế suất tương ứng của từng bậc,
số thuế phải nộp là tổng số thuế tính cho từng bậc Ví dụ, biểu thuế luỹ tiến từng
phần áp dụng đối với thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công trực tiếp theo
quy định tại Luật Thuế thu nhập cá nhân
Thuế suất luỹ tiến toàn phần: Biểu thuế cũng gồm nhiều bậc, ứng với mỗi
bậc là một mức thuế suất và thuế suất cũng tăng dần theo sự tăng của cơ sở tính
thuế Khác với thuế suất luỹ tiến từng phần, số thuế phải nộp được tính bằng cách
lấy toàn bộ cơ sở thuế áp dụng mức thuế suất tương ứng
Trang 291.3.2.6 Chế độ miễn, giảm thuế
Miễn, giảm thuế là yếu tố ngoại lệ được quy định trong một số sắc thuế, theo
đó, quy định cụ thế các trường hợp, đối tượng nộp thuế được phép miễn thuế hoặc
giảm bớt nghĩa vụ thuế so với thông thường (vì một số lý do khách quan bất khả
kháng như thiên tai, địch hoạ hoặc tai nạn bất ngờ, hoặc vì một số lý do nhằm thực
hiện chính sách xã hội của Nhà nước ) Trong mỗi loại thuế, chế độ cũng quy định
về điều kiện, thủ tục, thẩm quyền xét miễn, giảm thuế
1.3.2.7 Trách nhiệm, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế
Yếu tố này quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế trong quá trình thi hành luật thuế, ví dụ như, nghĩa vụ về đăng ký, kê khai, thu nộp thuế; nghĩa
vụ về thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ; nghĩa vụ về khai báo, cung cấp
các thông tin cần thiết cho việc tính và thu thuế Việc quy định trách nhiệm, nghĩa
vụ của đối tượng nộp thuế một mặt, nhằm nâng cao ý thức tự giác chấp hành luật
thuế, đưa việc thực thi luật thuế vào nề nếp, kỷ cương; mặt khác, là cơ sở pháp lý để
xử lý các vi phạm về thuế, đảm bảo sự kiểm soát, quản lý của cơ quan thuế đối với
quá trình chấp hành luật thuế được chặt chẽ, kịp thời
1.3.3 Thủ tục kê khai, thu nộp, quyết toán thuế
Quy định rõ hình thức thu nộp, thủ tục thu nộp, kê khai, quyết toán thuế, thời gian thu nộp nhằm đảm bảo sự minh bạch, rõ ràng của chính sách, tạo cơ sở pháp
phạm… trước đây được quy định trong các Luật thuế Tuy nhiên, các quy định này
đã được chuyển vào nội dung quy định của Luật quản lý thuế Luật số
78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 Quốc hội Khóa XIII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày
Trang 3020/11/2012 sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế Kể từ ngày Luật
Quản lý thuế có hiệu lực thi hành 01/7/2007 các nội dung hướng dẫn về thủ tục
hành chính về quản lý trong các Luật thuế hiện hành bị bãi bỏ và được thực hiện
thống nhất theo quy định của Luật quản lý thuế, Luật sửa đổi bổ sung một số điều
và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật quản lý thuế
vào dịch vụ và thuế địa phương đánh vào lưu thông bán lẻ thành một loại thuế
thống nhất chung thu ở giai đoạn bán lẻ (viết tắt theo tiếng Pháp là TVA) Từ đó
đến nay do tính ưu việt của mình, thuế GTGT ngày càng được sử dụng rộng ở nhiều
nước trên thế giới Thuế GTGT được sớm áp dụng ở Châu Âu, chỉ hơn hai mươi
năm sau khi ra đời hình thức sơ khai đầu tiên, nó đã được coi là một trong những
điều kiện tiên quyết để gia nhập khối EC (năm 1977)
Năm 1986, thuế GTGT ở Pháp được áp dụng rộng rãi với tất cả các ngành nghề sản xuất, lưu thông hàng hóa, dịch vụ nhằm đáp ứng hai mục tiêu quan trọng:
Bảo đảm số thu kịp thời, thường xuyên cho ngân sách nhà nước và khắc phục tình
trạng thu thuế trùng lặp của thuế doanh thu…
Khai sinh từ nước Pháp, thuế GTGT nhanh chóng được áp dụng rộng rãi trên thế giới, trở thành nguồn thu quan trọng của nhiều nước, đến nay đã có trên 130
nước áp dụng thuế GTGT, chủ yếu là các nước Châu Phi, Châu Mĩ Latinh, các nước
trong cộng đồng Châu Âu, Châu Á, trong đó có Việt Nam
Ở Việt Nam, thuế GTGT (viết tắt là VAT) được thi hành bắt đầu từ ngày 01/01/1999 theo Luật thuế GTGT ngày 10/5/1997 được thông qua tại kỳ họp lần thứ
11 Quốc hội khóa IX Tiếp đó, để phù hợp hơn với tình hình thực tế, Quốc hội cũng
đã thông qua Luật sửa đổi vào ngày 17/6/2003 và tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa
XII ngày 03/6/2008 đã thông qua Luật thuế GTGT mới số 13/2008/QH12, thay thế
Trang 31cho 2 Luật trên và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 Để phù hợp
với tình hình kinh tế hiện nay của đất nước, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 5 đã tiếp tục thảo luận và thông qua Luật,
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT số 31/2013/QH13 ngày
19/06/2013 Luật này sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014
Thuế GTGT là loại thuế gián thu, một yếu tố cấu thành trong giá hàng hoá, dịch vụ nhằm động viên sự đóng góp của người tiêu dùng như thuế doanh thu Tuy
nhiên, thuế GTGT có điểm cơ bản khác với thuế doanh thu là chỉ người bán hàng,
dịch vụ lần đầu phải nộp thuế GTGT trên toàn bộ doanh thu bán hàng hoặc cung
ứng dịch vụ, còn người bán hàng hoặc cung ứng dịch vụ ở các khâu tiếp theo đối
với hàng hoá, dịch vụ đó chỉ phải nộp thuế trên phần giá trị tăng thêm.Vì vậy, loại
thuế này có tên là ―Thuế GTGT‖ Nói cách khác, thuế GTGT là một loại thuế duy
nhất thu theo phân đoạn chia nhỏ, trong quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá
(hoặc dịch vụ ) từ khâu đầu tiên đến người tiêu dùng, khép kín một chu kỳ kinh tế
Đến cuối chu kỳ sản xuất, kinh doanh hoặc cung ứng dịch vụ, tổng số thuế thu được
ở các công đoạn sẽ khớp với số thuế tính trên giá bán hàng hoá hoặc dịch vụ cho
người tiêu dùng cuối cùng
Một trong những nguyên tắc cơ bản của thuế GTGT là sản phẩm hàng hoá dù qua nhiều khâu hay ít khâu, từ sản xuất đến tiêu dùng, đều chịu thuế như nhau,thuế
GTGT không phải do người tiêu dùng trực tiếp nộp mà do người bán sản phẩm (
hoặc dịch vụ ) nộp thay vào kho bạc, do đó trong giá bán hàng hoá, dịch vụ có cả
trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng Tổng số thuế thu được ở mỗi khâu chính
bằng với số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng Thuế GTGT do
người tiêu dùng cuối cùng chịu, cơ sở sản xuất, kinh doanh, nhà cung cấp hàng hóa,
Trang 32dịch vụ là người nộp thuế vào NSNN thay cho người tiêu dùng thông qua việc cộng
thuế vào giá bán mà người tiêu dùng phải thanh toán khi mua hàng hóa, dịch vụ
1.4.1.3 Ưu nhược điểm của thuế GTGT
a) Ưu điểm Thuế GTGT không thu trùng lặp nên góp phần khuyến khích chuyên môn hóa, hợp tác hóa để nâng cao năng suất chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, phù hợp với
nền kinh tế sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường
Thuế GTGT được áp dụng rộng rãi với mọi tổ chức cá nhân có tiêu dùng sản phẩm, hàng hóa hoặc được cung ứng dịch vụ Do đó, tạo nguồn thu lớn cho NSNN
Thuế GTGT chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm, không tính vào vốn nên góp phần khuyến khích các tổ chức cá nhân bỏ vốn góp phần đầu tư phát triển sản xuất
kinh doanh phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội
Thuế GTGT do không phải đi sâu xem xét, phân tích về tính hợp lý, hợp lệ của các khoản chi phí, làm cho việc quản lý thu tương đối dễ dàng hơn các loại thuế
trực thu
Thuế GTGT được hoàn đối với hoạt động xuất khẩu nên có tác dụng khuyến khích hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng xuất khẩu có thế
cạnh tranh thuận lợi trên thị trường quốc tế
Thuế GTGT đảm bảo công bằng giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa nhập khẩu Đồng thời nó còn kết hợp với thuế nhập khẩu làm tăng giá vốn của
hàng nhập khẩu nên có tác dụng bảo vệ sản xuất kinh doanh nội địa
Đối với cơ quan thuế, thuế GTGT góp phần chống thất thu thuế đạt hiệu quả cao, tạo ra sự kiểm soát lẫn nhau về thuế giữa các đơn vị có liên quan trong cung
Trang 33b) Nhược điểm của thuế GTGT Chi phí về quản lý thuế GTGT rất tốn kém; thuế GTGT có ít thuế suất nên tính chất điều tiết của thuế không cao Người tiêu dùng có thu nhập cao hay thấp thường
phải chịu thuế như nhau Thuế GTGT không đảm bảo yêu cầu công bằng trong
chính sách động viên giữa người giàu và người nghèo
1.4.2 Nội dung phương pháp xác định thuế GTGT và đăng ký kê khai nộp thuế, hoàn thuế GTGT
1.4.2.1 Nội dung và phương pháp xác định thuế GTGT phải nộp:
a)Nội dung tính thuế GTGT:
- Đối tượng chịu thuế GTGT: là hàng hoá ,dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh
doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế GTGT, trừ đối tượng không
chịu thuế GTGT( hoạt động văn hoá,biểu diễn nghệ thuật…)
- Đối tượng nộp thuế GTGT: là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng
hoá,dịch vụ chịu thuế (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác
nhập khẩu hàng hoá chịu thuế (gọi chung là người nhập khẩu) là đối tượng nộp thuế
GTGT
- Căn cứ tính thuế GTGT: Là giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ và thuế suất
của chính loại hàng hoá, dịch vụ đó Giá tính thuế được phân biệt cụ thể trong từng
trường hợp khác nhau Mức thuế suất thuế GTGT được quy định như sau
Giá tính thuế là một căn cứ quan trọng để xác định số thuế GTGT phải nộp, nguyên tắc chung xác định giá tính thuế GTGT là giá bán chưa có thuế GTGT được
ghi trên hóa đơn bán hàng của người bán hàng, cung cấp dịch vụ hoặc giá đã có
thuế TTĐB nhưng chưa có thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 7, Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12, giá tính
thuế GTGT cụ thể như sau:
chưa có thuế GTGT Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuể TTĐB là giá bán đã có
thuế TTĐB nhưng chưa có thuế GTGT;
Trang 34b) Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu (nếu có), cộng với thuế TTĐB (nếu có) Giá nhập tại cửa khẩu được xác định
theo quy định về giá tính thuế hàng nhập khẩu;
cho là giá tính thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại
thời điểm phát sinh các hoạt động này;
Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền cho thuê chưa có thuế GTGT;
Trường hợp cho thuê theo hình thức trả tiền thuê từng kỳ hoặc trả trước tiền thuê
cho một thời hạn thuê thì giá tính thuế là tiền cho thuê trả từng thời kỳ hoặc trả
trước cho thời hạn thuê chưa có thuế GTGT; Trường hợp thuê máy móc, thiết bị,
phương tiện vận tải của nước ngoài loại trong nước chưa sản xuất được để cho thuê
lại, giá tính thuế được trừ giá thuê phải trả cho nước ngoài
đ) Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp, trả chậm là giá tính theo giá bán trả một lần chưa có thuế GTGT của hàng hóa đó, không bao gồm khoản lãi
trả góp, lãi trả chậm;
e) Đối với gia công hàng hóa là giá gia công chưa có thuế GTGT;
g) Đối vói hoạt động xây dựng, lắp đặt là giá trị công trình, hạng mục công trình hay phần công việc thực hiện bàn giao chưa có thuế GTGT Trường hợp xây
dựng, lắp đặt không bao thầu nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị thì giá tính thuế là
giá trị xây dựng, lắp đặt không bao gồm giá trị nguyên vật liệu và máy móc, thiết bị;
h) Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản là giá bán bất động sản chưa có thụế GTGT, trừ giá chuyển quyền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất phải nộp ngân sách
1 + thuế suất của hàng hóa, dịch vụ (%)
Trang 35Giá tính thuế theo quy định trên bao gồm cả các khoản phụ thu và phí thu thêm mà doanh nghiệp kinh doanh được hưởng
Thời điểm để xác định thuế GTGT theo quy định tại Điều 8 Thông tư 219/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính:
1 Đối với bán hàng hoá là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hoá cho người mua, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được
tiền
2 Đối với cung ứng dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc cung ứng dịch vụ
hoặc thời điểm lập hoá đơn cung ứng dịch vụ, không phân biệt đã thu được tiền hay
chưa thu được tiền
Đối với dịch vụ viễn thông là thời điểm hoàn thành việc đối soát dữ liệu về cước dịch vụ kết nối viễn thông theo hợp đồng kinh tế giữa các cơ sở kinh doanh
dịch vụ viễn thông nhưng chậm nhất không quá 2 tháng kể từ tháng phát sinh cước
dịch vụ kết nối viễn thông
3 Đối với hoạt động cung cấp điện, nước sạch là ngày ghi chỉ số điện, nước tiêu thụ trên đồng hồ để ghi trên hoá đơn tính tiền
4 Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng nhà để bán, chuyển nhượng hoặc cho thuê là thời điểm thu tiền theo tiến độ
thực hiện dự án hoặc tiến độ thu tiền ghi trong hợp đồng Căn cứ số tiền thu được,
cơ sở kinh doanh thực hiện khai thuế GTGT đầu ra phát sinh trong kỳ
5 Đối với xây dựng, lắp đặt, bao gồm cả đóng tàu, là thời điểm nghiệm thu, bàn giao công trình, hạng mục công trình, khối lượng xây dựng, lắp đặt hoàn thành,
không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền
6 Đối với hàng hoá nhập khẩu là thời điểm đăng ký tờ khai hải quan
❖ Thuế suất thuế GTGT
Thuế suất là linh hồn của một sắc thuế, thể hiện mục đích điều chỉnh của mỗi sắc thuế, thuế suất được xây dựng trên cơ sở nền tảng là thực trạng nền kinh tế xã
hội của một đất nước, đồng thời thể hiện chính sách của Nhà nước trong từng thời
kỳ nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội Mỗi mức thuế suất khác
Trang 36nhau thể hiện sự động viên khuyến khích của Nhà nước đối với hàng hóa, dịch vụ
chịu mức thuế suất đó Việc áp dụng nhiều mức thuế suất sẽ đảm bảo tính công
bằng đối với thu nhập của người tiêu dùng
Hiện nay, nước ta có 3 mức thuế suất được áp dụng đối với từng loại hàng hóa, dịch vụ, sản xuất kinh doanh trong nước hoặc nhập khẩu là 0%, 5%, 10%
- Thuế GTGT đầu ra: là tổng số thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ bán ra,
được xác định bằng (=) giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế bán ra nhân
với (x) thuế suất thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ đó
- Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ: bằng tổng số thuế giá trị gia tăng ghi
trên hóa đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ (bao gồm cả tài sản cố định), chứng từ
nộp thuế GTGT của hàng hóa nhập khẩu, hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho
phía nước ngoài và đáp ứng đủ các điều kiện về khấu trừ thuế đầu vào theo quy
định của Luật thuế GTGT và các văn bản hướng dẫn thực hiện
* Phương pháp trực tiếp: áp dụng cho cơ sở kinh doanh chưa thực hiện đầy
đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ; hoạt động mua bán vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ
Trang 37Giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ
=
Giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ bán ra
-
Giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ mua vào tương ứng
1.4.2.2 Đăng ký, kê khai, nộp thuế, hoàn thuế giá trị gia tăng
* Đăng ký nộp thuế GTGT
- Cơ sở kinh doanh kể cả các cơ sở trực thuộc của cơ sở đó phải đăng ký nộp
thuế GTGT với cơ quan thuế trực tiếp quản lý theo hướng dẫn của cơ quan thuế
Đối với cơ sở kinh doanh mới thành lập, thời gian đăng ký nộp thuế GTGT chậm
nhất là 10 ngày, kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Trong
trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản hoặc thay đổi kinh
doanh cơ sở kinh doanh phải khai báo với cơ quan thuế chậm nhất là 5 ngày trước
khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản hoặc thay đổi kinh doanh
- Cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT nếu thực hiện đầy đủ chế độ chứng từ, hóa đơn, sổ kế toán, tự nguyện đăng
ký áp dụng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thì cơ quan thuế xem xét để thực
hiện
Theo quy định tại Thông tư số 156/2013/TT-BTC quy định về khai thuế GTGT là loại khai thuế theo tháng trừ các trường sau:
- Đối tượng khai thuế GTGT theo quý Khai thuế theo quý áp dụng đối với người nộp thuế giá trị gia tăng có tổng doanh thu bán hàng hoá và cung cấp dịch vụ của năm trước liền kề từ 20 tỷ đồng trở
xuống
-Thời kỳ khai thuế theo quý Việc thực hiện khai thuế theo quý hay theo tháng được ổn định trong năm dương lịch và ổn định theo chu kỳ 3 năm Riêng chu kỳ ổn định đầu tiên được xác
định tính kể từ ngày 01/7/2013 đến hết ngày 31/12/2016
Trang 38❖ Khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ a) Đối tượng khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ là người nộp thuế tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế theo quy định của
này (áp dụng đối với trường hợp người nộp thuế phân bổ số thuế giá trị gia tăng
được khấu trừ trong tháng, quý theo tỷ lệ (%) doanh thu hàng hoá dịch vụ bán ra
chịu thuế giá trị gia tăng trên tổng doanh thu hàng hoá dịch vụ bán ra của tháng,
quý)
- Bảng kê khai điều chỉnh thuế giá trị gia tăng đầu vào phân bổ được khấu trừ năm theo mẫu số 01-4B/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này (áp dụng đối với
trường hợp người nộp thuế tính phân bổ lại số thuế giá trị gia tăng được khấu trừ
trong năm theo tỷ lệ (%) doanh thu hàng hoá dịch vụ bán ra chịu thuế giá trị gia
tăng trên tổng doanh thu hàng hoá dịch vụ bán ra của năm) Số liệu điều chỉnh tăng,
giảm thuế giá trị gia tăng đầu vào phân bổ được khấu trừ được tổng hợp vào Tờ
khai thuế giá trị gia tăng tháng mười hai hoặc của quý 4 của năm
- Bảng kê số thuế giá trị gia tăng đã nộp của doanh thu kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai, chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh theo mẫu số 01-
Trang 39- Bảng phân bổ thuế GTGT cho địa phương nơi đóng trụ sở chính và cho các địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc không thực hiện hạch toán kế toán (nếu
có) theo mẫu số 01-6/GTGT kèm theo Thông tư này
- Bảng kê số lượng xe ô tô, xe hai bánh gắn máy bán ra theo mẫu số 01-7/GTGT (áp dụng đối với cơ sở kinh doanh xe ô tô, xe hai bánh gắn máy)
c) Trường hợp người nộp thuế thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư tại địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
cùng nơi đóng trụ sở chính, đang trong giai đoạn đầu tư thì lập hồ sơ khai thuế riêng
cho dự án đầu tư và phải bù trừ số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua
vào sử dụng cho dự án đầu tư với thuế giá trị gia tăng của hoạt động sản xuất kinh
doanh đang thực hiện Sau khi bù trừ nếu có số thuế giá trị gia tăng của hàng hoá,
dịch vụ mua vào sử dụng cho dự án đầu tư mà chưa được bù trừ hết theo mức quy
định của pháp luật về thuế GTGT thì được hoàn thuế giá trị gia tăng cho dự án đầu tư
a) Đối tượng khai thuế giá trị gia tăng tính theo phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng là người nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp trên giá trị
gia tăng theo quy định pháp luật về thuế GTGT
b) Hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng tháng/quý tính theo phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng là Tờ khai thuế giá trị gia tăng theo mẫu số 03/GTGT ban hành
theo Thông tư này
a) Đối tượng khai thuế giá trị gia tăng tính theo phương pháp trực tiếp trên doanh thu là người nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp trên doanh thu theo
quy định pháp luật về thuế GTGT
b) Hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng tháng/quý tính theo phương pháp trực tiếp trên doanh thu là Tờ khai thuế giá trị gia tăng mẫu số 04/GTGT và Bảng kê hoá đơn
hàng hoá dịch vụ bán ra theo mẫu số 04-1/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này
Trang 40c) Hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng theo từng lần phát sinh tính theo phương pháp trực tiếp trên doanh thu là Tờ khai thuế giá trị gia tăng mẫu số 04/GTGT ban
hành kèm theo Thông tư này
bán hàng vãng lai ngoại tỉnh và chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh được quy
định như sau
a) Người nộp thuế kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai, chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh thì khai thuế giá trị gia tăng tạm tính theo tỷ lệ 2%
đối với hàng hoá, dịch vụ chịu thuế suất thuế giá trị gia tăng 10% hoặc theo tỷ lệ 1%
đối với hàng hoá, dịch vụ chịu thuế suất thuế giá trị gia tăng 5% trên doanh thu
hàng hoá, dịch vụ chưa có thuế giá trị gia tăng với cơ quan Thuế quản lý địa
phương nơi kinh doanh, bán hàng
b) Hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai, chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh là Tờ khai thuế giá
trị gia tăng theo mẫu số 05/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này
c) Hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai, chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh được nộp theo từng
lần phát sinh doanh thu Trường hợp phát sinh nhiều lần nộp hồ sơ khai thuế trong
một tháng thì người nộp thuế có thể đăng ký với Cơ quan thuế nơi nộp hồ sơ khai
thuế để nộp hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng theo tháng
d) Khi khai thuế với cơ quan thuế quản lý trực tiếp, người nộp thuế phải tổng hợp doanh thu phát sinh và số thuế giá trị gia tăng đã nộp của doanh thu kinh doanh
xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai, chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh trong
hồ sơ khai thuế tại trụ sở chính Số thuế đã nộp (theo chứng từ nộp tiền thuế) của
doanh thu kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai, chuyển nhượng bất
động sản ngoại tỉnh được trừ vào số thuế giá trị gia tăng phải nộp theo tờ khai thuế
giá trị gia tăng của người nộp thuế tại trụ sở chính