1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam trong việc giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng trong tư pháp quốc tế.

18 642 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 36,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam trong việc giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng trong tư pháp quốc tế.Phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam trong việc giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng trong tư pháp quốc tế.

Trang 1

Mục lục

I Phần mở đầu: 2

II Phần nội dung 2

1 Khái quát chung về hợp đồng và xung đột pháp luật về hợp đồng trong tư pháp quốc tế 2

1.1 Khái niệm liên quan 2

1.2.Khái quát về các trường hợp xung đột về hợp đồng trong tư pháp quốc tế; .3 2 Quy định của pháp luật Việt Nam trong việc giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng trong tư pháp quốc tế; 5

2.1.Giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng; 6

2.2.Giải quyết xung đột pháp luật về nội dung hợp đồng; 8

2.3 Giải quyết xung đột pháp luật về năng lực ký kết hợp đồng; 12

3 Thực trạng và giải pháp cho việc giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng trong tư pháp quốc tế của Việt Nam 16

III Phần kết luận: 18

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: 19

1

Trang 2

Phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam trong việc giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng trong tư pháp quốc tế

I Phần mở đầu:

Hội nhập quốc tế đã và đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ và trở thành một xu thế không thể đảo ngược ở hầu hết các quốc gia trên thế giới – thế giới mà sự tồn tại của các quốc gia không thể tách rời nhau Hợp tác quốc tế giữa các quốc gia là hiện thực khách quan trong thời đại ngày nay và là động lực quan trọng thúc đẩy sự phồn vinh của mỗi đất nước Với một “thế giới phẳng” như vậy, các nhu cầu về hàng hóa, dịch dụ của các chủ thể dân sự cũng vượt qua biên giới quốc gia, xác lập với nhau những hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, với đặc thù về chủ quyền quốc gia và các hệ thống pháp luật khác nhau ứng với các kiến trúc thượng tầng khác nhau đã xuất hiện nhiều hiện tượng xung đột pháp luật

về hợp đồng khi có hai hay nhiều hệ thống pháp luật có thể cùng điều chỉnh một quan hệ hợp đồng Nhu cầu thiết yếu đòi hỏi mỗi quốc gia phải quy định những quy phạm pháp luật giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng này Hệ thống pháp luật Việt Nam cũng đã có những quy định nhằm giải quyết các xung đột pháp luật về hợp đồng trong tư pháp quốc tế Vậy, các quy định này được thể hiện như thế nào trong hệ thống pháp luật Việt Nam?

II Phần nội dung

1 Khái quát chung về hợp đồng trong và xung đột pháp luật về hợp đồng trong tư pháp quốc tế

1.1 Khái niệm về hợp đồng và xung đột pháp luật về hợp đồng trong tư

pháp quốc tế Hợp đồng theo quy định tại Điều 385 BLDS 2015 thì “hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”

2

Trang 3

Theo đó, hợp đồng trong tư pháp quốc tế chính là hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng

có yếu tố nước ngoài Hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng có thể hiểu là các loại hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh doanh thương mại, hợp đồng lao động, …

Yếu tố nước ngoài của một hợp đồng lao động được xác định tùy từng pháp luật của các quốc gia Đối với Việt Nam, theo quy định tại Khoản 2 Điều 663 Bộ luật dân sự 2015 thì: Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự a) Có

ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; b) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; c) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân

sự đó ở nước ngoài Theo đó, một hợp đồng được coi là hợp đồng trong tư pháp quốc tế khi một trong các bên chủ thể của quan hệ hợp đồng là người nước ngoài Hoặc các bên trong quan hệ hợp đồng đều không mang yếu tố nước ngoài nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài Hoặc các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài

Xung đột pháp luật về hợp đồng trong tư pháp quốc tế là hiện tượng có hai hay nhiều hệ thống pháp luật của các nước khác nhau cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh quan hệ hợp đồng Và giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng bằng cách lựa chọn áp dụng pháp luật nước cụ thể để xác định tính hợp pháp và các vấn

đề liên quan của hợp đồng đó

1.2 Khái quát về các trường hợp xung đột về hợp đồng trong tư pháp quốc tế;

Các yếu tố xác định tính hợp pháp của một hợp đồng trong tư pháp quốc tế cũng tương tự như hợp đồng dân sự thông thường Mỗi quốc gia quy định các yếu

tố xác định tính hợp pháp của hợp đồng khác nhau, tuy nhiên nhìn chung có ba yếu

tố chính sau:

3

Trang 4

Thứ nhất, về hình thức hợp đồng, hình thức hợp đồng có thể hiểu là cách thể

hiện, chứa đựng nội dung của hợp đồng bao gồm các điều khoản do các bên trong hợp đồng thỏa thuận Sự thỏa thuận này, tức hình thức hợp đồng được thể hiện ở nhiều dạng khác nhau trong đó có ba dạng chính là văn bản, hành vi và lời nói Hiện này, các quy định của pháp luật các nước về hình thức hợp đồng vẫn còn nhiều mâu thuẫn và quy định khác nhau Tuy nhiên, nhìn chung trên thế giới đều thừa nhận mọi hình thức hợp đồng thể hiện ở các điều ước quốc tế và số lượng các nước thành viên công nhận các điều ước quốc tế này1 Theo đó, hợp đồng có thể được thể hiện dưới bất cứ hình thức nào

Thứ hai, về nội dung hợp đồng Nội dung của hợp đồng là những gì các bên

đã thỏa thuận được ghi nhận trong hợp đồng được thể hiện dưới các điều khoản của hợp đồng mà các bên tham gia giao kết hợp đồng đã thỏa thuận Xung đột về nội dung hợp đồng là hiện tượng xảy ra khá phổ biến Xét về lý luận, có rất nhiều hệ thuộc luật có thể áp dụng như: Luật nơi có tài sản ( Lex rei sitae), Luật quốc tịch, Luật tòa án ( Lex fori ), Luật nhân thân của các bên giao kết hợp đồng ( Lex

personalis),…

Thứ ba, về năng lực giao kết hợp đồng của các bên chủ thể Trong tư pháp

quốc tế chỉ nghiên cứu về 3 loại chủ thể là người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài và quốc gia nước ngoài, các loại chủ thể còn lại đã được nghiên cứu trong Luật dân sự Tuy nhiên, xét tổng thể chủ thể tham gia vào các quan hệ dân sự nói chung và quan hệ hợp đồng trong tư pháp nói riêng bao gồm: Cá nhân, pháp nhân

và quốc gia Năng lực chủ thể ký kết hợp đồng của cá nhân bao gồm năng lực pháp

luật và năng lực hành vi Riêng pháp nhân, khi nhắc đến năng lực chủ thể ký kết hợp đồng thì chỉ xét về năng lực pháp luật của pháp nhân đó Theo đó, năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự phủ hợp với mục đích hoạt động của mình Quốc gia được coi là chủ thể đặc

1 Điều 11 Công ước Vienna 1980 của Liên hợp quốc; Điều 1.2 Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế ( PICC ) của Viện Thống nhất tư pháp quốc tế ( Phiên bản 2004)

4

Trang 5

biệt so với hai chủ thể còn lại của Tư pháp quốc tế Mặc dù được công nhận là một chủ thể của Tư pháp quốc tế nhưng pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của các nước trên thế giới cũng không đề cập đến vấn đề năng lực chủ thể ký kết hợp đồng Khi tham gia vào các quan hệ dân sự trong tư pháp quốc tế, quốc gia được hưởng những quy chế pháp lý đặc biệt như quyền miễn trừ tư pháp

2 Quy định của pháp luật Việt Nam trong việc giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng trong tư pháp quốc tế;

Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng là những yêu cầu pháp lý để đảm bảo cho hợp đồng được xác lập đúng với bản chất của hợp đồng đó Đây là những điều kiện nhằm đảm bảo cho hợp đồng được xác lập một cách hợp pháp và có hiệu lực thi hành giữa các bên tham gia giao kết hợp đồng Các điều kiện để hợp đồng có hiệu lực là những yêu cầu pháp lý bắt buộc khi tiến hành xác lập, giao kết hợp đồng phải đáp ứng nếu không có các điều kiện này thì hợp đồng đương nhiên vị vô hiệu hoặc có thể bị vô hiệu Hầu hết các hệ thống pháp luật trên thế giới đều xem các điều kiện về chủ thể, nội dung và ý chí tự nguyện của các bên tham gia hợp đồng là những yêu cầu bắt buộc phải tuân thủ khi tiến hành việc xác lập hợp đồng

Khi xảy ra xung đột pháp luật về hợp đồng trong tư pháp quốc tế, việc giải quyết xung đột này là tất yếu để chọn ra hệ thống pháp luật cụ thể điều chỉnh quan

hệ hợp đồng này Tùy vào cơ sở hạ tầng, trình độ phát triển, nền kinh tế,… của các nước khác nhau mà kiến trúc thượng tầng, tức hệ thống pháp luật điều chỉnh một vấn đề sẽ khác nhau Mỗi quốc gia lại có những quy định khác nhau về việc xác định một hợp đồng có hợp pháp hay không Đối với quy định của pháp luật Việt Nam, việc giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng trong tư pháp quốc tế cụ thể như sau:

2.1. Giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng;

Trước hết, bản chất của quan hệ dân sự là sự thỏa thuận giữa các chủ thể trong quan hệ dân sự đó Chính vì vậy, bất kỳ một quan hệ dân sự nào cũng đều

5

Trang 6

được ưu tiên trước hết là sự thỏa thuận của các bên trong quan hệ dân sự Quan hệ hợp đồng trong tư pháp cũng tương tự như vậy, trước hết pháp luật được áp dụng

để giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng trong tư pháp quốc tế là pháp luật của nước mà các bên trong quan hệ hợp đồng đó thỏa thuận xác định và có thể được thể hiện trong hợp đồng hoặc các hình thức khác

Tuy nhiên, vì lý do về chính trị cũng như các lý do khác đảm bảo tính chủ quyền của mỗi quốc gia mà một số trường hợp thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng của các bên không được công nhận Theo đó, Khoản 1,4,5,6 Điều 683 Bộ luật dân sự 2015 quy định về hợp đồng có ghi nhận: Các bên trong quan hệ hợp đồng được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng, trừ trường hợp 1) Hợp đồng có đối tượng là bất động sản thì pháp luật áp dụng đối với việc chuyển giao quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản, thuê bất động sản hoặc việc sử dụng bất động sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là pháp luật của nước nơi có bất động sản 2) Trường hợp pháp luật do các bên lựa chọn trong hợp đồng lao động, hợp đồng tiêu dùng có ảnh hưởng đến quyền lợi tối thiểu của người lao động, người tiêu dùng theo quy định của pháp luật Việt Nam thì pháp luật Việt Nam được áp dụng 3) Trường hợp thay đổi pháp luật áp dụng đối với hợp đồng thì việc thay đổi đó không được ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ

ba được hưởng trước khi thay đổi pháp luật áp dụng, trừ trường hợp người thứ ba đồng ý

Vậy, đối với pháp luật Việt Nam hình thức của hợp đồng trong tư pháp quốc

tế sẽ được coi là hợp pháp nếu hình thức đó đáp ứng được các điều kiện về hình thức và phù hợp với các quy định của pháp luật mà các bên đã thỏa thuận lựa chọn (trừ những trường hợp đặc biệt được quy định đã đề cập ở trên)

Tuy vậy, các chủ thể giao kết hợp đồng trong tư pháp quốc tế không phải trường hợp nào cũng thỏa thuận được pháp luật để áp dụng vì việc áp dụng hệ thống pháp luật nào còn liên quan đến những lợi ích của mỗi bên chủ thể Trong

6

Trang 7

trường hợp này, mỗi quốc gia lại quy định khác nhau về cách xác định pháp luật áp dụng2 tuy nhiên xét tổng thể, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều sử dụng nguyên tắc luật nơi ký kết hợp đồng để giải quyết xung đột pháp luật về hình thức của hợp đồng Bên cạnh đó cũng có nhiều quốc gia quy định bắt buộc về hình thức đối với một số loại hợp đồng nhất định mới được công nhận là hợp pháp, điển hình là hợp đồng liên quan đến đối tượng là bất động sản.3

Đối với pháp luật Việt Nam được ghi nhận như sau: “Hình thức của hợp đồng được xác định theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó Trường hợp hình thức của hợp đồng không phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó, nhưng phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng hoặc pháp luật Việt Nam thì hình thức hợp đồng đó được công nhận tại Việt Nam”. 4 Từ đó có thể thấy, pháp luật Việt Nam cũng áp dụng nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng là hình thức hợp đồng sẽ phải phù hợp với pháp luật nơi ký kết hợp đồng và nếu hình thức hợp đồng vi phạm quy định của luật nơi ký kết hợp đồng nhưng không trái với pháp luật Việt Nam thì hợp đồng đó vẫn được pháp luật Việt Nam thừa nhận có giá trị pháp lý

Ngoài ra, pháp luật Việt Nam cũng như các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên cũng quy định trong trường hợp đối tượng của hợp đồng là bất động sản thì sẽ tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản để điều chỉnh quan hệ hợp đồng này.5

2 Trong một số hệ thống pháp luật còn sử dụng Luật nơi cư trú của các bên chủ thể Ví dụ: Khoản 2 Điều 124 Bộ luật

tư pháp quốc tế Thụy Sỹ 1987 có quy định: “Hình thức của hợp đồng được giao kết giữa các cá nhân ở các nước khác nhau sẽ là hợp pháp nếu nó phù hợp với luật của một trong các nước đó”

3 Khoản 5 Điều 11 Quy tắc Roma I quy định "Hình thức của tất cả hợp đồng có đối tượng là quyền bất động sản và hợp đồng thuê bất động sản đều chịu sự điều chỉnh của pháp luật nơi bất động sản tồn tại" Tương tự với quy định của Pháp luật Nga tại Khoản 3 Điều 1209 Bộ luật dân sự Nga

4 Khoản 7 Điều 683 Bộ luật dân sự 2015

5 Khoản 4 Điều 683 Bộ luật dân sự 2015

Khoản 2 Điều 21 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Lào

Khoản 2 Điều 34 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Nga,…

7

Trang 8

Tóm lại, pháp luật Việt Nam theo quy định của Bộ luật dân sự hiện hành thì giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng xác định theo luật nơi ký kết hợp đồng dựa trên hệ thuộc luật nơi thực hiện hành vi (locus regit actum)

2.2 Giải quyết xung đột pháp luật về nội dung hợp đồng;

Trước hết, để xác định tính chính xác về một nội dung của hợp đồng, đa số các nước áp dụng nguyên tắc thỏa thuận Vì về mặt bản chất, hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên nhằm xác định quyền và nghĩa vụ của họ trong một giao dịch dân sự Theo nguyên tắc này, các bên có thể thỏa thuận luật áp dụng đối với quyền

và nghĩa vụ của mình phát sinh từ hợp đồng Trên thực tế các bên thường thỏa thuận áp dụng các hệ thống pháp luật có liên quan tới hợp đồng Việc lựa chọn này

áp dụng đối với hợp đồng được xây dựng trên nguyên tắc luật do các bên ký kết hợp đồng lựa chọn (lex voluntalis) Tức, các bên đã lựa chọn hệ thống pháp luật nào thì hệ thống pháp luật đó sẽ được lựa chọn để giải quyết xung đột pháp luật về nội dung của hợp đồng Việc lựa chọn luật áp dụng này cũng phải đáp ứng những điều kiện trong một số trường hợp đặc biệt do hệ thống pháp luật của quốc gia đó quy định Ngoài việc thỏa thuận áp dụng hệ thống pháp luật nào thì các bên còn có quyền thỏa thuận áp dụng tập quán quốc tế Các quan hệ dân sự trong tư pháp quốc

tế không chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia, điều ước quốc tế mà còn tập quán quốc tế tuy nhiên tập quán này phải đáp ứng được các điều kiện nhất định

Tuy nhiên, việc lựa chọn này cũng có giới hạn và không phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí các bên trong hợp đồng mà trong trường hợp việc lựa chọn pháp luật của các bên dẫn đến việc trái với pháp luật của quốc gia của một bên trong hợp đồng thì không được áp dụng Về mặt lý luận cũng như thực tiễn pháp lí, trong trường hợp các bên tự do lựa chọn pháp luật áp dụng cho nội dung hợp đồng nhưng việc áp dụng pháp luật do các bên lực chọn này vi phạm các nguyên tắc pháp lí của nước

có tòa án xét xử tranh chấp hợp đồng thì luật do các bên lựa chọn sẽ không được

8

Trang 9

chấp nhận6 Để loại trừ việc phải áp dụng pháp luật do các bên lựa chọn, cơ quan xét xử có thể áp dụng nguyên tắc “bảo lưu trật tự công” Theo nguyên tắc này, pháp luật của nước ngoài sẽ không được áp dụng nếu hậu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài vi phạm các nguyên tắc cơ bản của nước nơi có cơ quan xét xử7 Trong trường hợp này có thể áp dụng luật nước nơi giao kết hợp đồng (Lex loci

contractus), Luật nơi có Tòa án (Lex fori) hoặc Luật nơi có quan hệ gắn bó nhất với hợp đồng (Lex propria)8

Đối với hệ thống pháp luật Việt Nam, cách giải quyết xung đột pháp luật về nội dung của hợp đồng trong tư pháp quốc tế giữa Việt Nam và các nước trên thế giới hầu như không có sự khác nhau Về vấn đề này, Khoản 1 Điều 769 Bộ luật dân

sự 2005 quy định: "Quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng dân sự được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác" Bộ luật dân sự 2015 tuy không có điều khoản quy định rõ ràng cách xác định hệ thống pháp luật điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng,

tuy nhiên tại Khoản 1 Điều 683 Bộ luật dân sự 2015 có quy định “Các bên trong quan hệ hợp đồng được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều này Trường hợp các bên không có thỏa thuận về pháp luật áp dụng thì pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng đó được áp dụng.” Vậy, quy định của pháp luật Việt

Nam cũng cho phép các bên trong quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài được tự

do lực chọn luật áp dụng để điều chỉnh nội dung của hợp đồng trong tư pháp quốc

tế như các nước trên thế giới Các bên có thể lựa chọn luật nơi giao kết hợp đồng, luật nơi thực hiện hợp đồng hoặc luật nơi có đối tượng của hợp đồng,

Về quy định của pháp luật Việt Nam về giới hạn sự lựa chọn luật áp dụng

đối với hợp đồng Theo Khoản 3 Điều 759 Bộ luật dân sự 2005 có quy định: "Pháp

6 Điều 5 và Điều của Công ước Rome 1980

7 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2013, tr 64.

8 Việc xác định luật nào được coi là có quan hệ gắn bó nhất với hợp đồng do cơ quan xét xử xác định trên cơ sở thực tiễn của vụ việc cũng như các quy định của pháp luật

9

Trang 10

luật nước ngoài cũng được áp dụng trong các trường hợp các bên có thỏa thuận trong hợp đồng, nếu sự thỏa thuận đó không trái với quy định của Bộ luật này và các văn bản pháp luật khác của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" Bộ

luật dân sự 2015 hiện hành không có điều luật nào quy định về giới hạn sự lựa chon luật áp dụng của các bên trong quan hệ hợp đồng trong tư pháp quốc tế Tuy nhiên giới hạn lựa chọn này được quy định tại Khoản 2 Điều 5 Luật Thương mại, trong

đó quy định “Các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thoả thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” Khoản 4 Điều 4 Luật Đầu tư cũng có quy định “các bên

có thể thỏa thuận trong hợp đồng việc áp dụng pháp luật nước ngoài hoặc tập quán đầu tư quốc tế nếu thỏa thuận đó không trái với quy định của pháp luật Việt Nam.”

Tương tự, cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhằm khẳng định tính chủ quyền quốc gia của quốc gia mình, các bên trong hợp đồng không được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng pháp luật của quốc gia khác hoặc thỏa thuận đó không có giá trị pháp lý nếu đối tượng của hợp đồng đó liên quan đến bất động sản

ở Việt Nam hoặc liên quan đến việc chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp máy bay, tàu biển tại Việt Nam Về vấn đề này, Bộ luật dân sự 2005 có quy định tạiKhoản 2

Điều 765 "Hợp đồng liên quan đến bất động sản ở Việt Nam thì phải tuân thủ hoàn toàn theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam", quy định này đã được

Bộ luật dân sự 2015 kế thừa tại Khoản 4 Điều 683 Ngoài ra Bộ luật Hàng hải cũng

có ghi nhận Tóm lại, các bên giao kết hợp đồng liên quan đến những vấn đề trên không có quyền lựa chọn pháp luật nước ngoài để áp dụng

Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận việc lựa chọn hợp đồng.

Trước hết, các cơ quan tài phán tòa án hoặc trọng tài sẽ lựa chọn luật áp dụng theo các nguyên tắc của tư pháp quốc tế Trường hợp nếu trọng tài là cơ chế

10

Ngày đăng: 01/06/2018, 16:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w