Đề bài: Phân tích các nguyên tắc riêng của dẫn độ, các trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc riêng đó và thực tiễn áp dụng những nguyên tắc này trong hoạt động dẫn dộ.Đề bài: Phân tích các nguyên tắc riêng của dẫn độ, các trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc riêng đó và thực tiễn áp dụng những nguyên tắc này trong hoạt động dẫn dộ.
Trang 1Danh mục các cụm từ viết tắt:
5
Trang 2Đề bài: Phân tích các nguyên tắc riêng của dẫn độ, các trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc riêng đó và thực tiễn áp dụng những nguyên tắc này trong hoạt động dẫn dộ
I Phần mở đầu
Ngày nay, với xu thế toàn cầu hóa cũng như hội nhập quốc tế, không một quốc gia nào có thể đứng ngoài một cách độc lập tuyệt đối Vì lẽ đó, các quốc gia ngày càng tăng cường hợp tác quốc tế trên hầu hết lĩnh vực kinh tế- chính trị- văn hóa,… theo đó mà tình hình tội phạm xảy ra ngày càng nhiều với tính chất, mức độ nguy hiểm ngày càng cao và phức tạp đòi hỏi các quốc gia phải mở rộng sự hợp tác
và trao đổi trên nhiều phương diện Trong những hình thức hợp tác quốc tế thì dẫn
độ mang lại hiệu quả rõ rệt Dẫn độ tuy là một chế định đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử nhưng vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau Những quan điểm này khiến việc thực thi chế định dẫn độ còn gặp nhiều khó khăn và mâu thuẫn Chính vì lẽ đó, cần có những nguyên tắc chung đóng vai trò là ngọn đèn dẫn đường cho quá trình hợp tác giữa các quốc gia về vấn đề dẫn độ Những nguyên tắc này được ghi nhận
và mang tính chất bắt buộc đối với các chủ thể khi tiến hành dẫn độ Vì vậy, nó đóng vai trò quan trọng quan trọng hài hòa hóa quan hệ giữa các chủ thể tiến hành dẫn độ Dó đó, nghiên cứu vấn đề “Nguyên tắc….” là cần thiết
II Phần nội dung
1 Khái quát chung về dẫn độ và các nguyên tắc dẫn độ
1.1 Khái niệm
Theo Khoản 1 Điều 32 Luật tương trợ tư pháp 2007 có thể thấy, dẫn độ được
luật định như sau: “Dẫn độ là việc một nước chuyển giao cho nước khác người có
hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang có mặt trên lãnh thổ nước mình để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người đó” 1
1 Khoản 1 Điều 32 Luật tương trợ tư pháp 2007
Trang 3Tuy nhiên, dựa vào bản chất, mục đích của hoạt động dẫn độ, có thể đưa ra khái niệm dẫn độ một cách cụ thể, rõ ràng và dễ hiểu như sau:
“Dẫn độ là một hình thức tương trợ tư pháp giữa các quốc gia Trong đó,
quốc gia được yêu cầu dẫn độ, dựa trên cơ sở của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, chuyển giao người có hành vi phạm tội hoặc người đã bị kết án bằng một bản án có hiệu lực pháp luật đang có mặt trên lãnh thổ của quốc gia được yêu cầu
để quốc gia yêu cầu tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành bản án đối với người đó.” 2
Việc chuyển giao người có hành vi phạm tội hoặc người đã bị kết án bằng một bản án có hiệu lực pháp luật đang có mặt trên lãnh thổ của quốc gia được yêu cầu để quốc gia yêu cầu tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành bản
án phải đáp ứng đầy đủ những nguyên tắc về dẫn độ cũng như tuân thủ nguyên tắc chung của pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia, Điều ước quốc tế,… Từ đó có thể hiểu:
Nguyên tắc của hoạt động dẫn độ là những tư tưởng chính trị - pháp lý có tính chất chỉ đạo, xuyên suốt, bao trùm toàn bộ hoạt động của các chủ thể khi tiến hành dẫn độ Các quốc gia khi tiến hành các hoạt động hợp tác đấu tranh phòng, chống tội phạm bằng hình thức dẫn độ phải tuân theo các nguyên tắc đó 3
1.2 Cơ sở pháp lý
Quá trình hình thành và phát triển lâu đời của chế định dẫn độ tội phạm trong luật hình sự quốc tế đã xây dựng lên hệ thống các nguyên tắc pháp lý có tính chỉ đạo trong toàn bộ lộ trình thực hiện các hoạt động dẫn độ Về sau này, dẫn độ và các chế định liên quan đã được luật hóa trong các văn bản quốc tế và trong nước
2 Nguyễn Quốc Việt ( Chủ biên), Giáo trình Luật tương trợ tư pháp Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Nxb Chính trị
quốc gia sự thật, Hà Nội, 2016, trang 139
3 Nguyễn Quốc Việt ( Chủ biên), Giáo trình Luật tương trợ tư pháp Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Nxb Chính trị
quốc gia sự thật, Hà Nội, 2016, trang 144
Trang 4Vấn đề nguyên tắc của hoạt động dẫn độ không được cụ thể hóa tại một điều luật riêng biệt mà được quy định rải rác trong pháp luật của đại đa số các quốc gia trên thế giới, và được thể hiện ở các điều ước quốc tế song phương và đa phương ngoài
ra còn thể hiện ở các nguyên tắc được hình thành trong thực tiễn pháp luật hình sự quốc tế, mà trên cơ sở đó các quốc gia có thể yêu cầu, thực hiện yêu cầu dẫn độ Cụ thể đối với Việt Nam, các nguyên tắc này được quy định rải rác tại Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Luật tương trợ tư pháp 2007, … Những quy định này tạo cơ sở cho việc áp dụng pháp luật được minh bạch, rõ ràng và có căn cứ hơn
1.3 Ý nghĩa
Mỗi nguyên tắc về dẫn độ lại mang một ý nghĩa đặc trưng cho từng trường hợp Các nguyên tắc này nhìn chung không chỉ góp phần làm sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình thực thi chế độ dẫn độ mà còn là chế định giúp dung hòa quyền lợi của các quốc gia Việc các quốc gia yêu cầu tuân thủ nghiêm túc các nguyên tắc thể hiện sự cần thiết phải tôn trọng quyền chủ quyền của các quốc gia Để hiểu rõ hơn
về ý nghĩa của các nguyên tắc dẫn độ, cần đi sâu phân tích từng nguyên tắc cụ thể
và ý nghĩa của từng nguyên tắc đó
2 Quy định của pháp luật về các nguyên tắc dẫn độ
Về cơ bản, khi tiến hành hoạt động dẫn độ, các quốc gia phải tuân thủ các nguyên tắc: Nguyên tắc có đi có lại, nguyên tắc không dẫn độ công dân nước mình, nguyên tắc không dẫn độ tội phạm chính trị và nguyên tắc tội phạm kép Việc quy định những nguyên tắc này dựa trên thực tiễn áp dụng và thi hành hoạt động dẫn độ
từ trước tới nay
Trang 52.1 Nguyên tắc có đi có lại
- Cơ sở pháp lý: Trong quan hệ quốc tế, “có đi có lại” là nhu cầu xuất phát từ
thực tiễn khách quan, trở thành thông lệ quốc tế bảo đảm sự ổn định cho một trật tự pháp lý trên thế giới Trong hoạt động dẫn độ người phạm tội, nguyên tắc có đi có lại bảo đảm sự hợp tác, bình đẳng giữa các quốc gia Nguyên tắc này được ghi nhận trong luật pháp của đại đa số các quốc gia trên thế giới như: Luật về dẫn độ tội phạm năm 1958 của Tây Ban Nha, đạo luật năm 1870 của Đại công quốc Lúc xăm bua, đạo luật năm 1954 của Ixraen, Luật Tố tụng hình sự của Ba Lan,… và được thể hiện trong các điều ước quốc tế song phương và đa phương Cụ thể với Việt
Nam, nguyên tắc này được quy định tại BLTTHS 2007: “Trường hợp Việt Nam
chưa ký kết hoặc chưa tham gia ĐƯQT có liên quan thì việc hợp tác quốc tế trong
tố tụng hình sự được thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái với pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế” 4 Ngoài ra,
Luật TTTP cũng có quy định: “
- Nội dung của nguyên tắc có đi có lại: Nguyên tắc này thể hiện các quốc gia
được yêu cầu dẫn độ chỉ tiến hành các hoạt động dẫn độ tội phạm, nếu nhận được
sự bảo đảm chắc chắn từ phía quốc gia yêu cầu rằng trong trường hợp dẫn độ tương
tự phát sinh thì quốc gia này cũng sẽ đảm bảo chắc chắn trong thực tế sẽ thực hiện dẫn độ tội phạm cho quốc gia đối tác hữu quan theo yêu cầu của quốc gia này Nguyên tắc có đi có lại xác lập nghĩa vụ phải tuân thủ các điều kiện của nguyên tắc này trong mối quan hệ pháp lý quốc tế về dẫn độ giữa các quốc gia hữu quan
- Ý nghĩa của nguyên tắc có đi có lại: Đây là nguyên tắc pháp lý quan trọng
thể hiện sự bình đẳng và tôn trọng chủ quyền quốc gia trong quan hệ quốc tế
Ngoài ra, nguyên tắc có đi có lại có vai trò quan trọng trong hoạt động dẫn độ tội phạm, là cơ sở thay thế các ĐƯQT trong việc dẫn độ tội phạm và thực hiện dẫn độ tội phạm, nguyên tắc này vẫn có ý nghĩa quan trọng trong cả trường hợp có ĐƯQT
4 Khoản 2 Điều 492 Bộ luật tố tụng hình sự 2015
Trang 6về dẫn độ tội phạm Bên cạnh Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Tương trợ
tư pháp năm 2007 cũng quy định về vấn đề dẫn độ tội phạm tại Chương IV (từ Điều 32 đến Điều 48), trong đó đề cập tất cả những vấn đề liên quan đến dẫn độ tội phạm hiện nay Điều này có ý nghĩa quan trọng cả về lí luận và thực tiễn trong công tác chuyển giao người bị kết án nhằm phục vụ cho việc truy cứu TNHS, thi hành án nói riêng và công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung
2.2 Nguyên tắc tội phạm kép.
- Cơ sở pháp lý: Trong các đạo luật quốc gia cũng như văn bản pháp lý quốc
tế đều ghi nhận nguyên tắc này như là điều kiện tiên quyết để tiến hành dẫn độ tội phạm
- Nội dung của nguyên tắc tội phạm kép: Nguyên tắc này yêu cầu để yêu cầu
dẫn độ được chấp nhận thì hành vi phạm tội của người phạm tội phải cấu thành tội phạm ở quốc gia yêu cầu dẫn độ và quốc gia được yêu cầu dẫn độ Một cách dễ hiểu, một người chỉ có thể bị dẫn độ khi hành vi của người đó đều cấu thành tội phạm theo pháp luật hình sự của quốc gia yêu cầu và quốc gia được yêu cầu Để tránh tình trạng “xung đột danh pháp”5 vẫn thường xảy ra ở những quốc gia theo những hệ thống pháp luật khác nhau6 pháp luật quốc gia đã có những quy định linh động, mềm dẻo trong việc xác định hành vi phạm tội tại Khoản 2 Điều 33 Luật tương trợ tư pháp 2007: “Hành vi phạm tội không nhất thiết phải cùng một nhóm tội hoặc cùng một tội danh, các yếu tố cấu thành tội phạm không nhất thiết phải giống nhau theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước yêu cầu” Tương tự như vậy, Khoản 2 Điều 2 Hiệp định mẫu về dẫn độ của Liên hợp quốc
1990 cũng có quy định: “Việc khẳng định một tội phạm phải chịu TNHS ( hình phạt) theo luật của mỗi nước sẽ không ảnh hưởng khi: Luật pháp của các bên đều
đề cập các hành vi hoặc yếu tố cấu thành tội phạm trong cùng một loại tội phạm
5 Những quan điểm lý luận khác nhau về mặt pháp luật, khái niệm pháp lý, chế định cụ thể Trong khoa học luật hình
sự quốc tế các ý kiến, quan điểm nhìn chung không thống nhất với nhau khái niệm về phân loại hành vi tội phạm vì pháp luật của các quốc gia khác nhau có sự phân loại khác nhau về hành vi tội phạm Hoặc cùng một cấu thành tội phạm, những hành vi khách quan đó và cũng bị trừng trị bằng hình luật thì tên gọi không như nhau ở các quốc gia
6 Bộ Tư pháp: “Báo cáo tổng thuật cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng luật tương trợ tư pháp”, Tlđd
Trang 7hoặc phân loại tội phạm theo tội danh tương tự” Quy định góp phần giúp việc áp dụng pháp luật được linh động và chặt chẽ hơn, tránh bỏ lọt tội phạm vì lý do không đáng
- Ý nghĩa của nguyên tắc tội phạm kép: Nguyên tắc này có ý nghĩa đảm bảo
quyền lợi hợp pháp của cá nhân công dân Ngoài ra, đối với pháp luật của một số quốc gia, nguyên tắc này còn đảm bảo việc sống và làm việc theo pháp luật, tôn trọng và bảo vệ pháp luật, không xử lý những hành vi mà pháp luật không coi đó là tội phạm để đảm bảo được ý nghĩa của hình phạt trong hình luật
2.3 Nguyên tắc không dẫn độ công dân của nước mình
- Cơ sở pháp lý:
Nguyên tắc không dẫn độ công dân của nước mình được ghi nhận trong các văn bản quốc tế như: Tuyên bố chung của hội nghị quốc tế lần thứ III về thống nhất hóa luật quốc tế; Công ước của Hội đồng châu Âu năm 1957 về dẫn độ tội phạm,…
Cụ thể trong pháp luật Việt Nam, nguyên tắc không dẫn độ công dân nước mình được ghi nhận tại nhiều văn bản pháp luật, như Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam 2013 quy định: “Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất,
giao nộp cho nhà nước khác7”; Tại Điều 498 BLTTHS 2015 quy định: “Theo yêu
cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có trách nhiệm xem xét để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc cho thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ.”
- Nội dung của nguyên tắc không dẫn độ công dân của nước mình: Nguyên
tắc này có thể hiểu là quốc gia được yêu cầu dẫn độ có quyền từ chối không thực hiện yêu cầu dẫn độ nếu cá nhân bị yêu cầu dẫn độ là công dân nước mình Nhưng điều này thường xảy ra trong trường hợp quốc gia đó có quyền lực lớn để truy tố công dân của mình về các tội ác gây ra ở nước ngoài
7 Khoản 2 Điều 17 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 8Tuy nhiên, nguyên tắc này dễ bỏ sót tội phạm hoặc sự xung đột giữa các quốc gia trong hoạt động dẫn độ, một số ĐƯQT cũng như pháp luật quốc gia quy định một cách linh động nguyên tắc “không dẫn độ thì truy tố” (“aut judicare, aut dedere”)
để giải quyết hạn chế của nguyên tắc này Đơn cử tại BLTTHS 2015 của Việt Nam
có quy định: Theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có trách nhiệm xem xét để truy cứu TNHS hoặc cho thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam
bị từ chối dẫn độ
- Ý nghĩa của nguyên tắc không dẫn độ công dân của nước mình: Nguyên tắc
không dẫn độ công dân nước mình là một chế định nhằm khẳng định hơn nữa vai trò và ý nghĩa của nhà nước đối với công dân nước mình, khẳng định quyền lực nhà nước đối với công dân nước mình là tuyệt đối không có giới hạn về cả thời gian lẫn không gian Ngoài ra, để bảo đảm quyền và lợi ích của công dân thì Nhà nước cũng không dẫn độ công dân tuy nhiên vẫn xử lý theo đúng quy định của pháp luật
2.4 Nguyên tắc không dẫn độ tội phạm chính trị
- Cơ sở pháp lý
Nguyên tắc này được ghi nhận trong các ĐƯQT đa phương, ĐUQT song phương, đơn cử Hiệp định mẫu của Liên hợp quốc về dẫn độ năm 1990 quy định:
“Việc dẫn độ sẽ không được chấp nhận nếu một tội phạm yêu cầu dẫn độ bị nước
được yêu cầu coi là tội phạm mang tính chính trị8”, và trong pháp luật quốc gia:
điểm d Khoản 1 Điều 35 Luật TTTP 2007 quy định: Cơ quan tiến hành tố tụng có
thẩm quyền của Việt Nam từ chối dẫn độ nếu yêu cầu dẫn độ thuộc trường hợp: Người bị yêu cầu dẫn độ là người đang cư trú ở Việt Nam vì lý do có khả năng bị truy bức ở nước yêu cầu dẫn độ do có sự phân biệt về chủng tộc, tôn giáo, giới tính, quốc tịch, dân tộc, thành phần xã hội hoặc quan điểm chính trị;
- Nội dung: Nguyên tắc này quy định các quốc gia sẽ không thực hiện yêu cầu
dẫn độ tội phạm chính trị Tuy nhiên, mặc dù đã có sự nhất trí chung công nhận
8 Điểm a Điều 3 Hiệp định mẫu của Liên hợp quốc về dẫn độ năm 1990
Trang 9nguyên tắc này trong luật quốc tế, nhưng khái niệm tội phạm chính trị đã gây ra nhiều tranh luận và trong thực tiễn quan hệ quốc tế chưa có sự thống nhất trong giải thích tính chất chính trị của tội phạm Trong các ĐƯQT cũng như pháp luật quốc gia và trong thực tiễn tương trợ tư pháp hình sự quốc tế chưa có cách hiểu thống nhất về khái niệm này
Vậy, việc xác định tội phạm chính trị này tùy thuộc vào quan điểm của các quốc gia Quốc gia được yêu cầu căn cứ vào các quy định hiện hành của pháp luật quốc gia đó mà xác định có phải là tội phạm chính trị hay không Việc này thực sự
không rõ ràng và thực chất là “vấn đề thuộc quan điểm và cách nhìn nhận của từng
quốc gia cũng như mục đích chính trị hóa đối với tội phạm9”
- Ý nghĩa: Xuất phát từ việc bảo vệ quyền con người, và xuất phát từ quan
điểm chính trị của từng quốc gia Quan điểm chính trị là những vấn đề tế nhị không thể thống nhất Tuy vậy những quan điểm này không giống nhau và có thể gây bất đồng, việc bất đồng này cùng với việc nhà nước nắm quyền lực chính trị lớn trong một quốc gia khiến người phạm tội có thể sẽ bị áp dụng những hình thức như tra tấn, cực hình hoặc những hình thức giã man khác dựa trên quyền lực nhà nước Để bảo vệ người phạm tội, nguyên tắc này đã được ra đời Ví dụ điển hình cho việc này là vụ việc của Lưu Hữu Ba bất đồng chính kiến với Trung Quốc và bị bỏ tù nhiều lần Sau đó ông đi qua Hoa Kỳ và Hoa Ký không chấp nhận yêu cầu dẫn độ của Trung Quốc vì đây là tội phạm chính trị Và thậm chí, Lưu Hiểu Ba còn được tặng giải Nobel Hòa bình năm 2010, được miêu tả là "biểu tượng quan trọng nhất" cho cuộc đấu tranh vì nhân quyền
2.5 Các ngoại lệ của nguyên tắc dẫn độ Thứ nhất, Nguyên tắc không dẫn độ tội phạm chính trị có ngoại lệ như sau:
Trong việc áp dụng nguyên tắc không dẫn độ tội phạm chính trị, luật quốc tế
có quy định ngoại lệ của nguyên tắc này: Thủ phạm giết hại nguyên thủ quốc gia, người đứng đầu chính phủ hoặc các nhà lãnh đạo cao cấp khác của quốc gia không
9 Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Việt Hồng, Phạm Văn Công: Dẫn độ - những vấn đề lý luận và thực tiễn, sdd, trang 34
Trang 10được hưởng quyền không bị dẫn độ sau khi đã thực hiện hành vi tội phạm Ngoại lệ này đảm bảo những cá nhân phạm tội nguy hiểm đe dọa sự ổn định của quốc gia phải gánh chịu sự trừng phạt công minh của pháp luật chính quốc gia đó 10
Thứ hai, Nguyên tắc không dẫn độ công dân nước mình: Nguyên tắc này
thể hiện quốc gia được yêu cầu có quyền từ chối không thực hiện yêu cầu dẫn độ của quốc gia nước ngoài, nếu cá nhân bị yêu cầu dẫn độ là công dân nước mình Tuy nhiên tại Khoản 11 Điều 16 Công ước LHQ về chống tội phạm có tổ chức
xuyên quốc gia thông qua tại Palermo 2003 cũng đã quy định: “Quốc gia được
phép dẫn độ và chuyển giao công dân của mình theo quy định của nội luật với điều kiện là sau khi xét xử công dân đó phải được trở về thi hành án ở quốc gia đó”
Tuy nhiên, Công ước này không mang tích chất bắt buộc và có hiệu lực với mọi thành viên, đơn cử là Việt Nam
Thứ ba, đối với nguyên tắc không dẫn độ công dân nước mình: Các cá nhân
phạm tội ác quốc tế (tội phạm quốc tế) như: Tội phạm chống hòa bình, tội phạm chống nhân lại, tội phạm chiến tranh, tội phạm diệt chủng, tội phân biệt chủng tộc phải bị dẫn độ cho dù cá nhân tội phạm là công dân của nước được yêu cầu Trong các trường hợp này, các nước phải có nghĩa vụ dẫn độ công dân nước mình cho ngước ngoài xét xử Ngoại lệ này được quy định do tính chất cực kỳ nghiêm trọng của loại hình tội phạm quốc tế đối với sự ổn định và phát triển của nhân loại Thực tiễn quan hệ quốc tế trong những thập niên gần đây đã khẳng định cho tính đúng đắn của ngoại lệ này, phù hợp với mong muốn chung của cộng đồng quốc tế.11
10 Nguyễn Thị Thuận: Luật hình sự quốc tế, sđd, trang 156.
11 Nguyễn Thị Thuận: Luật hình sự quốc tế, sđd, trang 154