1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lao động Đánh giá tình hình thực tế việc làm của nước ta trong giai đoạn hiện nay theo quy định pháp luật Việt Nam

18 434 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 134 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá tình hình thực tế việc làm của nước ta trong giai đoạn hiện nay theo quy định pháp luật Việt NamViệc làm là một trong những nhu cầu cơ bản của con người để đảm bảo cuộc sống và sự phát triển toàn diện.

Trang 1

Đề 4: Đánh giá tình hình thực tế việc làm của nước ta trong giai đoạn hiện nay theo quy định pháp luật Việt Nam

Việc làm là một trong những nhu cầu cơ bản của con người để đảm bảo cuộc sống và sự phát triển toàn diện Quyền lao động và đảm bảo việc làm của người lao động đã được khẳng định trong Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đã được cụ thể hoá trong Bộ luật Lao động ở nước ta Vì vậy, chính sách việc làm là một trong những chính sách cơ bản, quan trọng hàng đầu của mỗi quốc gia Chính sách việc làm thông qua việc tạo việc làm, đảm bảo việc làm, phân bố ngành kinh tế phù hợp nâng cao phúc lợi cho người dân, thực hiện công bằng xã hội, đảm bảo cho người dân hòa nhập xã hội, Chính sách việc làm ở nước ta thời gian qua đã từng bước thực hiện được mục tiêu đó tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập1 Do đó “Đánh giá tình hình thực tế việc

làm của nước ta trong giai đoạn hiện nay theo quy định pháp luật Việt Nam”

cần làm rõ để hiểu hơn về thực trạng việc làm ở nước ta hiện nay, những chính sách pháp luật quy định về việc làm để qua đó thấy được những thành tựu và những hạn chế trong vấn đề việc làm – giải quyết việc làm

1 Khái quát chung về vấn đề việc làm – giải quyết việc làm

1.1 Khái niệm việc làm

- Dưới góc độ kinh tế, xã hội

Việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất Người lao động được coi

1PGS.TS Trần Việt Tiến, Chính sách việc làm ở Việt Nam: Thực trạng và định hướng hoàn thiện, báo

kinh tế và phát triển

Trang 2

là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân

- Dưới góc độ pháp lí:

Theo quan niệm quốc tế:

ILO (International Labour Organization) đưa ra khái niệm người có việc làm là những người làm việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuân hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật Khái niệm này còn được đưa ra tại Hội nghịquốc tế lần thứ

13 của các nhà thống kê lao động ILO Còn người thất nghiệp là những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm hoặc đang chờ được trả lại làm việc

Theo quan niệm của Việt Nam:

“Việc làm là hoạt động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm2” Như vậy, dưới góc độ pháp lý, việc làm được cấu thành bởi 3 yếu tố:

 Là hoạt động lao động: thể hiện sự tác động của sức lao động vào tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ Yếu tố lao động trong việc làm phải

có tính hệ thống, tính thường xuyên và tính nghề nghiệp Vì vậy người có việc làm thông thường phải là những người thể hiện các hoạt động lao động trong phạm vi nghề nhất định và trong thời gian tương đối ổn định

 Tạo ra thu nhập: Là khoản thu nhập trực tiếp và khản năng tạo ra thu nhập

 Tính hợp pháp: hoạt động lao động tạo ra thu nhập nhưng trái pháp luật, không được pháp luật thừa nhận thì không được coi là việc làm Tùy theo điều kiện kinh tế-xã hội, tập quán, quan niệm về đạo đức của từng nước mà pháp luật

2 Khoản 1 Điều 9 Bộ luật lao động 2012

Trang 3

có sự quy định khác nhau trong việc xác định tính hợp pháp của các hoạt động lao động được coi là việc làm Đây là dấu hiệu thể hiện đặc trưng tính pháp lí của việc làm

Khái niệm về việc làm theo quy định của Việt Nam hiện hành mang tính khái quát cao, nhưng chúng ta cũng thấy rõ hai hạn chế cơ bản Thứ nhất, ví dụ như hoạt động nội trợ không được coi là việc làm, trong khi đó hoạt động nội trợ tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp tạo ra lợi ích vật chất không hề nhỏ Thứ hai, khó có thể so sánh tỷ lệ người có việc làm giữa các quốc gia với nhau

vì quan niệm về việc làm giữa các quốc gia có thể khác nhau, phụ thuộc vào luật pháp, phong tục tập quán Có những nghề ở quốc gia này thì được cho phép và được coi là việc làm, nhưng ở quốc gia khác, ví dụ mại dâm ở Việt Nam bị cấm, nhưng ở Mỹ và một số quốc gia khác lại được coi là một nghề Thậm chí nghề này rất phát triển, vì nó thu hút khá đông tầng lớp thượng lưu

1.2 Vai trò, ý nghĩa của việc làm

Việc làm có vai trò quan trọng không thể thiếu đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trong các hoạt động kinh tế,

có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã hội và chi phối toàn bộ mọi hoạt động của cá nhân và xã hội

Đối với người lao động: có việc làm đi đôi với có thu nhập để đảm bảo

cuộc sống của bản thân và gia đình, vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp và chi phối toàn bộ đời sống của cá nhân Ngoài ra, việc làm còn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển nhân cách, đạo đức con người sao cho đúng với chuẩn mực Theo đó, mỗi người khi có việc làm và những mối quan hệ việc làm sẽ dần hình thành nhân cách cũng như tâm hồn Việc không có việc làm có thể sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy như trộm cắp, ù lì, suy nghĩ tiêu cực,… Có việc làm, cuộc sống sẽ

có ý nghĩa hơn

Trang 4

Đối với người sử dụng lao động: Người sử dụng lao động thông qua việc

làm và mua sức lao động làm tăng năng suất lao động, chất lượng lao động và hiệu quả kinh tế Ngoài ra, việc làm còn là cơ sở đánh giá năng lực người lao động trong quan hệ lao động của mình

Đối với xã hội và quốc gia: bảo đảm việc làm là chính sách xã hội có hiệu

quả to lớn trong vấn đề phòng, chống, hạn chế các tiêu cực xã hội, giữ vững được kỉ cương, nề nếp xã hội Thất việc và việc làm không đầy đủ, thu nhập thấp là tiền đề của sự đói nghèo, thậm chí là điểm xuất phát của tệ nạn xã hội Các tệ nạn của xã hội như tội phạm, ma túy, mại dâm, có nguyên nhân cốt lõi là việc làm và thất nghiệp Ngoài ra khi không có vệc làm trong xã hội sẽ tạo ra các hố ngăn cách giàu nghèo là nguyên nhân nảy sinh ra các mâu thuẫn và ảnh hưởng đến tình hình chính trị Việc làm luôn gắn liền với vấn đề sản xuất Hiệu quả của việc giải quyết tốt vấn đề việc làm cũng chính là hiệu quả của sản xuất Kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện để giải quyết tốt vấn đề việc làm và ngược lại, nếu không giải quyết tốt vấn đề việc làm và thất nghiệp thì đó sẽ là những yếu tố kìm hãm sự tăng trưởng của kinh tế

2 Thực trạng vấn đề việc làm ở nước ta

Sau 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, vấn đề việc làm ở nước ta đã từng bước được giải quyết theo hướng tuân theo quy luật khách quan của kinh tế hàng hóa và thị trường lao động, góp phần đưa nền kinh tế nước ta phát triển đạt đưọc những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử

Tuy nhiên, thực trạng vấn đề việc làm ở nước ta hiện nay vẫn còn có nhiều bất cập, chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của nền kinh tế Năng suất lao động năm 2015 của Việt Nam tăng 23,6% so với năm 2010, nhưng vẫn thấp hơn so với mục tiêu đề ra là tăng 29%-32%.3

2.1 Thực trạng:

3 Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2015 của Tổng cục Thống kê

Trang 5

Tỷ lệ thất nghiệp tăng

Báo cáo của Tổng cục Thống kê cũng cho biết, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước tính đến thời điểm 01/01/2016 là 54,61 triệu người, tăng

185 nghìn người so với cùng thời điểm năm 2014, trong đó lao động nam chiếm 51,7%; lao động nữ chiếm 48,3% Đến thời điểm trên, lực lượng lao động trong độ tuổi lao động ước tính 48,19 triệu người, tăng 506,1 nghìn người so với cùng thời điểm năm trước Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế năm 2015 ước tính 52,9 triệu người, tăng 142 nghìn người so với năm

2014 Đặc biệt, tỷ lệ lao động trong độ tuổi đã qua đào tạo năm 2015 ước tính đạt 21,9%, cao hơn mức 19,6% của năm 2014, trong đó lao động qua đào tạo khu vực thành thị đạt 38,3% (Năm 2014 là 35,9); khu vực nông thôn đạt 13,9% (Năm 2014 là 12,0)

Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động, ở thanh niên là vấn đề đáng quan ngại Cụ thể, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2015

có sự gia tăng là 2,31% (Năm 2013 là 2,18%; năm 2014 là 2,10%), trong đó có

xu hướng tăng thất nghiệp ở khu vực nông thôn (năm 2015 là 1,83% so với năm

2013 là 1,54%; năm 2014 là 1,49%) Điều này được lý giải bởi nền kinh tế khởi sắc với sự phát triển mạnh của khu vực công nghiệp và dịch vụ là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị

Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (Từ 15-24 tuổi) năm 2015 lên tới 6,85% (Năm

2013 là 6,17%; năm 2014 là 6,26%) Tỷ lệ thất nghiệp của lao động từ 25 tuổi trở lên năm 2015 là 1,27% (Năm 2013 là 1,21%; năm 2014 là 1,15%)

Mặc dù vậy, một tín hiệu vui được nêu ra trong Báo cáo là tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi lao động năm 2015 giảm 1,82% (so với năm

2013 là 2,75%; năm 2014 là 2,40%), trong đó khu vực thành thị là 0,82% (Năm

2013 là 1,48%; năm 2014 là 1,20%); khu vực nông thôn là 2,32% (Năm 2013 là 3,31%; năm 2014 là 2,96%) Tỷ lệ thiếu việc làm có xu hướng giảm dần vào cuối năm (Quý I là 2,43%; quý II là 1,80%; quý III là 1,62%; quý IV là 1,66%)

Trang 6

và giảm chủ yếu ở khu vực nông thôn (Quý I là 3,05%; quý II là 2,23%; quý III

là 2,05%; quý IV là 2,11%)

Ước tính trong năm 2015 cả nước có 56% lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản có việc làm phi chính thức (Năm 2013

là 59,3%; năm 2014 là 56,6%), trong đó thành thị là 47,1% (Năm 2013 là 49,8%; năm 2014 là 46,7%) và nông thôn là 64,3% (Năm 2013 là 67,9%; năm

2014 là 66,0%)

Năng suất lao động chưa tăng như kỳ vọng

Báo cáo của Tổng cục Thống kê cũng cho thấy, năng suất lao động xã hội của toàn nền kinh tế năm 2015 theo giá hiện hành ước tính đạt 79,3 triệu đồng/lao động (tương đương khoảng 3.657 USD/lao động) Tính theo giá so sánh năm 2010, năng suất lao động toàn nền kinh tế năm 2015 ước tính tăng 6,4% so với năm 2014

Tính theo giai đoạn, năng suất lao động của Việt Nam thời gian qua đã có

sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm, bình quân giai đoạn 2006-2015 tăng 3,9%/năm, trong đó giai đoạn 2006-2010 tăng 3,4%/năm; giai đoạn 2011-2015 tăng 4,2%/năm Năng suất lao động năm 2015 tăng 23,6% so với năm 2010 Với những nỗ lực tăng năng suất lao động thời gian qua góp phần không nhỏ thu hẹp dần khoảng cách tương đối của năng suất lao động Việt Nam

so với nước ASEAN Tuy nhiên, Báo cáo cũng nêu rõ mức tăng 23,6% trong giai đoạn 2010-205 vẫn thấp hơn so với mục tiêu đề ra là tăng 29%-32%

Năng suất lao động của nước ta hiện nay vẫn còn ở mức thấp so với các nước trong khu vực và không đồng đều giữa các ngành và lĩnh vực Khoảng cách tương đối về năng suất lao động tuy đã giảm đáng kể, nhưng khoảng cách tuyệt đối (chênh lệch mức năng suất lao động) giữa Việt Nam với các nước

Trang 7

ASEAN có trình độ phát triển cao hơn như Xin-ga-po, Ma-lai-xi-a, Thái Lan, In-đô-nê-xi-a lại gia tăng4

Nguyên nhân chủ yếu của tình hình trên là do: Cơ cấu lao động chưa phù hợp với sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa

và hội nhập quốc tế Tỷ lệ lao động qua đào tạo và đào tạo nghề thấp Kỹ năng tay nghề, thể lực còn yếu, kỷ luật lao động, tác phong làm việc công nghiệp chưa cao Các văn bản của Nhà nước hướng dẫn thực hiện các luật về lao động, việc làm và thị trường lao động chưa được thực hiện đầy đủ và nghiêm minh, gây áp lực cho vấn đề giải quyết việc làm Khả năng cạnh tranh yếu, nhất là ở những lĩnh vực yêu cầu lao động có trình độ cao Cơ cấu ngành nghề đào tạo chuyên môn kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế đòi hỏi Hệ thống giao dịch trên thị trường lao động yếu kém

2.2 Các chính sách và quy định của pháp luật về việc làm ở nước ta

hiện nay

Về hoàn thiện thể chế phát triển thị trường lao động

Trong những năm đổi mới, hệ thống pháp luật kinh tế tiếp tục được hoàn thiện đã góp phần giải phóng sức sản xuất, tạo điều kiện cho thị trường lao động phát triển Bộ luật lao động năm 2012, Luật bảo hiểm xã hội, Luật dạy nghề, Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, các nghị định, thông tư liên quan tới lao động, thị trường lao động và việc làm đã hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường lao động phát triển, tăng cường cơ hội việc làm và hoàn thiện quan hệ lao động Các chế độ về tiền lương, thu nhập, trợ cấp ngày càng hoàn thiện, góp phần nâng cao năng suất lao động và cải thiện thu nhập của

Kênh thông tin điện tử Kinh tế và dự báo của Bộ kế hoạch và đầu tư.

Trang 8

người lao động Đặc biệt, Luật Việc làm được ban hành đã quy định cụ thể về chính sách việc làm của Nhà nước Trong đó, Nhà nước không chỉ có trách nhiệm tạo việc làm mà phải có trách nhiệm định hướng phát triển việc làm hướng tới thúc đẩy và bảo đảm việc làm bền vững cho người lao động; có những quy định về các giải pháp cụ thể của Nhà nước

Mặc dù vậy, nhiều ý kiến cho rằng, chính sách pháp luật về việc làm của nước ta hiện nay không còn phù hợp và khó thực hiện Các quy định chủ yếu điều chỉnh đối với lao động có quan hệ lao động, còn các đối tượng khác như việc làm ở khu vực phi chính thức, khu vực nông thôn chưa được quy định cụ thể Nhiều quy định mới chỉ được thể hiện bằng các văn bản dưới luật, tính pháp

lý chưa cao, chưa phù hợp với tình hình thực tiễn Các chính sách còn mang tính chung chung, chưa rõ ràng, cụ thể Còn thiếu các chính sách về bình đẳng việc làm, việc làm an toàn, các quy định về việc làm đầy đủ, việc làm bán thời gian; các khái niệm, định nghĩa về thị trường lao động chưa được xác định rõ; các giải pháp hỗ trợ của Nhà nước chưa đầy đủ, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn gây khó khăn trong hoạt động quản lý và tổ chức thực hiện trong lĩnh vực việc làm

Việc triển khai tại một số địa phương gặp nhiều lúng túng, vướng mắc do

cơ chế chồng chéo, không phân rõ trách nhiệm giữa các cơ quan thực hiện Một số địa phương, doanh nghiệp không thực hiện đầy đủ các chính sách đã được ban hành, ví dụ như: quy định về việc thành lập Quỹ Giải quyết việc làm địa phương; đảm bảo tỷ lệ lao động là người tàn tật; việc thực hiện các chế độ đối với người lao động; triển khai chương trình, dự án gắn với quy hoạch nguồn nhân lực cũng như kế hoạch tạo việc làm cho người lao động5

cứu lập pháp.

Trang 9

Về kết nối cung cầu lao động

Hệ thống dịch vụ việc làm rất phát triển trong những năm gần đây, đã tạo môi trường pháp lý phát triển dịch vụ kết nối cung-cầu về lao động, tăng cường

cơ hội để người lao động tiếp cận thông tin về việc làm, lựa chọn công việc Điều đó không những là chủ trương, kêu gọi của Nhà nước mà nó còn được cụ thể hóa trong luật như điều 13 và điều 14 Bộ Luật Lao động 2012 quy định:

Điều 13 Chương trình việc làm

1 Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) xây dựng chương trình việc làm của địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định

2 Cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và người sử dụng lao động khác trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tham gia thực hiện chương trình việc làm

Điều 14 Tổ chức dịch vụ việc làm

1 Tổ chức dịch vụ việc làm có chức năng tư vấn, giới thiệu việc làm và dạy nghề cho người lao động; cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động; thu thập, cung cấp thông tin về thị trường lao động và thực hiện nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật

2 Tổ chức dịch vụ việc làm bao gồm trung tâm dịch vụ việc làm và doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm

Trung tâm dịch vụ việc làm được thành lập, hoạt động theo quy định của Chính phủ

Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp và phải có giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh cấp

Trang 10

3 Tổ chức dịch vụ việc làm được thu phí, miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật về phí, pháp luật về thuế

Tuy vậy, trên thực tế tổ chức hoạt động dịch vụ việc làm chưa chuyên nghiệp, chưa khoa học Hoạt động của các trung tâm, doanh nghiệp giới thiệu việc làm còn quá chú trọng vào đào tạo nghề, còn hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm, thông tin thị trường lao động chưa được chú trọng đúng mức Sự phối hợp hoạt động giữa các trung tâm giới thiệu việc làm, giữa trung tâm với các doanh nghiệp, người sử dụng lao động còn hạn chế, đặc biệt trong lĩnh vực cung cấp thông tin thị trường lao động, do vậy thông tin thị trường lao động lao động chưa có sự kết nối giữa các vùng, các địa phương

Về tín dụng ưu đãi cho sản xuất, kinh doanh

Thông qua việc ban hành gần 20 chính sách tín dụng ưu đãi, sử dụng cơ chế cho vay tín dụng thông qua các chương trình, tổ chức, hội đoàn thể, Nhà nước hỗ trợ vốn sản xuất, kinh doanh cho các nhóm yếu thế như lao động nghèo, lao động nông thôn, lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, lao động vùng chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp, các tổ chức kinh doanh thu hút nhiều lao động

Đối với các cá nhân, tổ chức kinh doanh: điển hình trong chính sách hỗ trợ của nhà nước là Thành lập Quỹ quốc gia về việc làm để hỗ trợ cho vay ưu đãi tạo việc làm và để thực hiện các hoạt động khác theo quy định của pháp luật ( Khoản 5 Điều 12 Bộ Luật lao động 2012) Cụ thể Điều 4 nghị định 03/2014/NĐ-CP quy định :Quỹ quốc gia về việc làm

1 Nguồn hình thành Quỹ quốc gia về việc làm bao gồm:

a) Ngân sách nhà nước;

b) Nguồn hỗ trợ của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước;

c) Các nguồn hợp pháp khác

Ngày đăng: 01/06/2018, 16:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w